1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài báo cáo: Môn: cơ sở văn hoá Việt Nam Chủ đề: Tín ngưỡng

110 11K 35
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tín Ngưỡng
Tác giả Nhóm 1
Người hướng dẫn Lâm Thị Thu Hiền
Trường học Trường Đại Học Trà Vinh
Chuyên ngành cơ sở văn hoá Việt Nam
Thể loại Báo cáo môn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Trà Vinh
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 9,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nội dung chính: Tín ngưỡng phồn thực. Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên. Tín ngưỡng sùng bái con người.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

KHOA KINH TẾ-LUẬT- NGOẠI NGỮ

BỘ MÔN LUẬT

Bài báo cáo:

Môn: cơ sở văn hoá Việt Nam

Chủ đề: Tín ngưỡng

GVHD: Lâm Thị Thu Hiền

Trang 2

GVHD: Lâm Thị Thu HiềnThành Viên nhóm 1

1.Phạm Lương Kiều Trinh

Trang 3

Các nội dung chính:

I. Tín ngưỡng phồn thực.

II. Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên.

III. Tín ngưỡng sùng bái con người.

Trang 4

I//

I// Tín ngưỡng phồn thực: Tín ngưỡng phồn thực:

Trong lịch sử, Việt Nam được biết đến

là một trong những cái nôi của nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước với

những nét sinh hoạt văn hoá, tâm linh đặc sắc của cư dân làm nông nghiệp

truyền thống, trong đó là sự phát sinh, phát triển của tín ngưỡng phồn thực

Đối với con người, duy trì và phát triển

sự sống là một nhu cầu thiết yếu

Trang 5

Trong văn hoá nông nghiệp, vấn đề này

được thể hiện bằng sự mong ước của

người dân về sự sinh sôi nãy nở của mùa màng, đưa đến các vụ mùa bội thu, duy trì

sự sống cho con người Từ đó con người

tôn thờ sự sinh sôi nãy nở của cây trồng, vật nuôi & trải qua quá trình phát triển lâu dài, nhờ sự tôn thờ đó đã hình thành tín

ngưỡng cổ xưa nhất của cư dân nông

nghiệp trong đó có Việt Nam.

Trang 6

Ở Việt Nam, tín ngưỡng phồn thực tồn tại dưới hai dạng biểu hiện: thờ cơ quan sinh dục và thờ hành vi giao phối:

1 / Thờ cơ quan sinh dục:

Thờ sinh thực khí (sinh = đẻ, thực

= nảy nở, khí = công cụ) là hình

thái đơn giản của tín ngưỡng phồn

thực Nó phổ biến ở hầu hết các

nền văn hóa nông nghiệp trên thế

giới Nhưng khác với hầu hết các

nền văn hóa khác là chỉ thời sinh

thực khí nam, tín ngưỡng phồn

thực Việt Nam thờ sinh thực khí

Trang 7

Việc thờ sinh thực khí được tìm thấy

ở trên các cột đá có niên đại hàng

ngàn năm trước Công nguyên Ngoài

ra nó còn được đưa vào các lễ hội, lễ hội ở làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh) có tục rước cặp sinh thực khí bằng gỗ vào

ngày 6 tháng giêng, sau đó chúng

được đốt đi, lấy tro than chia cho mọi người để lấy may.

Trang 8

Tượng đá, hình nam nữ với bộ phận sinh dục phóng to có niên đại hàng nghìn năm trước công nguyên được tìm thấy ở Văn Điển (Hà Nội), ở Sa

Pa (Lào Cai), nhà mồ ở Tây Nguyên

Trang 9

Ở Phú Thọ, Hà Tỉnh và nhiều nơi khác

có tục thờ cúng nõ (nõn) nường (nõ= cái nêm, tượng trưng cho sinh thực khí nam; nường= nang, mo nang, tượng

trưng cho sinh thực khí nữ.

“Nõ” biểu hiện tính dương được làm

bằng gỗ - thường là gỗ mít và sơn đỏ,

“Nường” biểu hiện tính âm thường

được làm bằng mo cau và được vẽ

bằng vôi và mực tàu “y như thật”

Trang 10

Thờ “Nõ”, “Nường” là nghi lễ thiêng

liêng của làng xã được gọi là “lễ mật”

cử hành trong miếu vào nửa đêm, chỉ

có chủ tế, ông từ và một vài cặp trai

gái hành lễ Trai cầm “Nõ”, gái cầm

“Nường” đứng hai bên bàn thờ, chủ tế điều khiển cho trai gái chọc nõ vào

nhau và hát “cái sự làm sao? Cái sự

làm vậy! Cái sự thế nào? Cái sự thế

này!” Cũng có nơi chỉ có ông từ và chủ

tế thực hiện mà không có trai gái

tham gia Thờ Nõ Nường có thể coi là biểu hiện của tục thờ Linga - Yoni phổ biến ở Nam Á và Đông Nam Á mà

Trang 11

Việc thờ sinh thực khí còn thể hiện ở việc thờ các

loại cột đá và các loại hốc cây:

Trang 12

Ngư phủ ở Sở đầm Hòn Đỏ ( Khánh Hoà) thờ

một kẽ nứt trên một tảng đá mà nhân dân gọi là

Lỗ Lường ( âm đọc chệch đi của sinh thực khí

nữ, vị nữ thần này được nhân dân gọi là bà

Lường.

Trang 13

người, cả các loài động vật như cá sấu, gà, cóc,

cũng được khắc trên mặt trống đồng Hoàng Hạ (Hòa Bình).

Trang 15

Ở Sở đầm Hòn Đỏ, khi nhiều ngày

liên tục không đánh được cá, đích

thân người cầm đầu sở phải tới cầu xin, lạy 3 lạy và cầm vật tượng trưng cho sinh thực khí nam đâm vào Lổ

Trang 16

Ở vùng La sơn, La Cả (Hà Tây) có tục khi

rã hội, tan đám), vị bô lão chủ trì đánh 3 hồi trống 3 hồi chiêng, trong khoảng thời gian đó, mọi cấm kị được huỷ bỏ, thanh

niên nam nữ được tự do Ý nghĩa của tục này là ở chổ sự hợp thân của nam nữ trên đất cỏ được xem như là một hành đông

mang tính ma thuật, có tác dụng kích

động thiên nhiên đất trời ( giống như việc rắc tro sinh thực khí ra ruộng)

Trang 17

Phong tục"giã cối đón dâu" cũng là một

biểu hiện cho tín ngưỡng phồn thực, chày

và cối là biểu tượng cho sinh thực khí nam

và nữ Còn việc giả gạo là tượng trưng cho

hành động giao phối

Nam nữ giả gạo

- Thấy được mối

liên hệ giữa giã gạo

với tín ngưỡng

Trang 18

Ngoài ra một số nơi còn vừa giã cối (rỗng) vừa hát giao duyên, thể hiện ước mong trai gái sẽ thành lứa đôi và sinh con đẻ cái Trò chơi cướp cầu ( Phú Thọ): hai phe tranh nhau một quả cầu nàu đỏ (dương) ai cướp được thì đem vào hố (âm) của bên mình Với cùng ước mong phồn thực, cầu may, cầu hạnh phúc là hàng loạt trò

chơi như tung còn, ném cầu, đánh phết, đánh đáo,…

Trang 20

3/ Trống đồng- biểu hiện cao nhất của

tín ngưỡng phồn thực:

Vai trò của tín ngưỡng phồn thực lớn tới mức ngay cả chiếc trống đồng- một biểu tượng sức mạnh của quyền lực của người xưa , cũng là biểu tượng toàn

diện của tín ngưỡng phồn thực:

Hình dáng của trống đồng phát triển từ cối giã gạo

Cách đánh trống theo lối cầm chày dài

mà đâm lên mặt trống mô phỏng động tác giã gạo

Trang 21

Tâm mặt trống là hình Mặt Trời biểu trưng cho sinh thực khí nam, xung quanh là hình

lá có khe rãnh ở giữa biểu trưng cho sinh thực khí nữ

Xung quanh mặt trống đồng có gắn tượng cóc, một biểu hiện của tín ngưỡng phồn

thực.

Trống đồng rền vang là theo mô phỏng âm thanh của tiếng sấm- cùng mang ý nghĩa trên.

Trang 23

Cách đánh trống đồng

Trang 25

Ngay cả những hiện tượng tưởng chừng rất xa xôi

như chùa Một Cột (dương) trong cái hồ vuông (âm), tháp Bút (dương) và đài Nghiên (âm) ở cổng đền

Ngọc Sơn (Hà Nội), cửa sổ tròn (dương) trên gác

Khuê Văn (tượng trưng cho sao Khuê) soi mình xuống

hồ vuông (âm) Thiên Quang Tỉnh trong Văn

Miếu,.v v., cũng đều liên quan tới tín ngưỡng phồn thực.

Trang 26

 Cũng không phải ngẫu nhiên mà ở các nơi thờ cúng thường gặp thờ ở bên trái là cái mõ và bên phải là cái chuông: Sự việc đơn giản này là biểu hiện của

cả lí luận Ngũ hành lẫn tín ngưỡng phồn thực - cái

mõ làm bằng gỗ (hành Mộc) đặt ở bên trái (phương Đông) là dương, cái chuông làm bằng đồng (hành Kim) đặt ở bên phải (phương Tây) là âm Tiếng mõ trầm phải hòa với tiếng chuông thanh nếu không có nam nữ, âm dương hòa hợp thì làm sao mà có cuộc sống vĩnh hằng được

Trang 27

Tín ngưỡng phồn thực đôi khi thâm nhập vào cả chốn cung đình : Theo Việt sử thông giám cương mục trong yến tiệc do vua Trần Thái Tông đãi

quần thần năm 1252, đứng chỉ huy hiệu lệnh uống rượu là một người

đầu đội mo nang(sinh thực khí nữ), tay cầm dùi đục (sinh thực khí nam)!

Trang 28

II./ Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên

Sùng bái tự nhiên là một giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của con người Với người Việt sống bằng nghề lúa nước, thì sự gắn bó tự nhiên lại

càng lâu dài bền chặt Việc đồng thời

phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của tự nhiên dẫn đến hậu quả trong

lĩnh vực nhận thức là lối tư duy tổng

hợp, và trong lĩnh vực tín ngưỡng là tín ngưỡng đa thần

Trang 29

Chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến hậu quả trong quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng nữ, và trong tín

ngưỡng là tình trạng các nữ thần chiếm ưu thế Và vì cái đích mà nông nghiệp hướng

tới là sự phồn thực, cho nên các nữ thần của

ta không phải là các cô gái trẻ đẹp, mà là

các Bà mẹ, các Mẫu Tục thờ Mẫu ( đạo

mẫu) đã trở thành tín ngưỡng Việt Nam

điển hình.

Trang 30

1/ Thờ Tam Phủ, Tứ Phủ.

- Trước hết là các Bà Trời, Ba Đất, bà Nước- các Mẫu cai quản những lĩnh vực quan trọng nhất của một xã hội nông nghiệp Về sau, do ảnh

hưởng của văn hóa Trung Hoa nên có thêm

Ngọc Hoàng, Thổ Công và Hà Bá Tuy nhiên các bà vẫn song song tồn tại:

Bà Trời dưới dạng mẫu Cửu Trùng hay Cửu Thiên Huyền Nữ; ở Huế là Thiên Mụ, Thiên

Yana Nhiều nhà ở góc sân vẫn có một bàn thờ gọi là bàn thờ Bà Thiên

Trang 32

Bà Trời (hay Mẫu

Thượng Thiên): cai

quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây

mưa, gió bão, sấm chớp

mưa, gió bão, sấm chớp

Trang 33

Bà Chúa Thượng (hay Mẫu Thượng Ngàn):

trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho

chúng sinh .

Trang 35

- Bà Đất tồn tại dưới tên Mẹ Đất ( địa mẫu) Bà Nước tồn tại dưới tên bà Thủy Nhiều vùng Bà Đất và Bà Nước còn tồn tại dưới dạng thần khu vực như Bà Chúa Xứ, Bà Chúa Sông, Bà Chúa Lạch Ba bà này được thờ phụng chung như

một bộ tam tài dưới dạng Tam Phủ cai quản 3 vùng Trời- Đất – Nước: Mẫu Thượng Thiên-

Mẫu Thượng Ngàn- Mẫu Thoải (âm đọc chệch

đi của chữ Thủy).

Trang 37

Ngoài Tam Phủ còn có Tứ Phủ Tứ Phủ gòm 3 vị mẫu trên cộng thêm Mẫu Địa Phủ.

Trang 38

pháp : Pháp Vân ( thần Mây) thờ ở chùa Bà Dâu, Pháp Vũ ( Thần Mưa thờ ở chà Bà Đậu, Pháp Lôi ( thần Sấm) ở chùa Bà Tướng, Pháp Điện (thần

Chớp) ở chùa Bà Dàn Lòng tin vào tứ pháp mạnh đến nổi vào thời Lí, nhiều lần triều đình phải rước tượng Pháp Vân vào Thăng Long cầu đảo, thậm

Trang 39

Tượng Pháp Vân và Chùa Bà Dâu

Trang 40

Tượng Pháp Vũ và Chùa Bà

Đậu

Trang 41

Tượng

Pháp Lôi

Trang 42

Pháp Điện và Chùa Bà Dàn

Trang 43

Người Việt còn thờ các hiện tượng tự nhiên khái quát như không gian và thời gian

Thần không gian được hình dung theo ngũ hành: Ngũ hành Nương Nương, rồi có Ngũ Phương chi thần coi sõ phương trời, Ngũ

đạo chi thần trông coi ngã đường Theo địa chi, người ta thờ thần thời gian là Thập Nhị hành khiển Thời gian kéo dài, bảo tồn sự

sống vô tận, nên 12 nữ thần này đồng thời có

Trang 44

Ngũ Hành nương nương và thập nhị hành khiển

Trang 45

3/ Thờ động vật và thờ thực vật

a) Thờ động vật

Khác với văn hóa phương Tây là thờ các con vật

có sức mạnh như hổ, sư tử, chim ưng, Tín

ngưỡng Việt Nam thờ các con vật hiền lành hơn như trâu, cóc, chim, rắn, cá sấu,… đó là những con vật phổ biến ở vùng sông nước và do vậy

thuộc loại được sùng bái hàng đầu Người Việt

có câu: Nhất điểu, nhì xà, tam điêu, tứ tượng

Trang 46

Theo truyền thuyết thì tổ tiên người Việt thuộc

họ Hồng Bàng và là giống Rồng Tiên ( “con Hồng cháu Lạc”, “con Rồng cháu Tiên”), trong đó Tiên được trừu tượng hóa từ giống chim, Rồng được

trừu tượng hóa từ 2 loài rắn và cá sấu có rất

nhiều ở vùng đất Đông Nam Á Đó cũng là hai

loài vật biểu của phương Đông và phương Nam Trong Ngũ hành.

Trang 48

Hình tượng con rồng vốn xuất phát từ vùng

Đông Nam Á- đó là điều được giới khoa học

khẳng định D.V Deopik viết “ Rồng là con vật đặc thù chung cho tất cả các dân tộc Việt và

chính từ đây nó đã đi vào văn hóa Trung Hoa”, còn Chesnov thì cho biết “hình tượng con rồng phát sinh từ Đông Nam Á đã thâm nhập đến

vùng xa xôi nhất của Châu Âu” Nếp sống hiếu hòa của người nông nghiệp đã biến con cá sấu

ác thành con rồng hiền Hình cá sấu là mô típ trang trí phổ biến trong các đồ đồng Đông Sơn

Trang 50

Cá sấu- rồng được coi là chúa tể vùng sông nước với tên gọi Bua Khú (vua sấu) ở người Mường, Long Vương, Long Quân ở người Việt Chữ Rồng (Việt) và chữ Long ( Hán- Việt) đều bắt nguồn từ krong, krông, klong trong tiếng Đông Nam Á cổ có nghĩa là

“sông nước”

Trang 51

Miếu thờ rắn

Trang 52

Con rồng mang đầy đủ nét đặc trưng cơ bản của

tư duy nông nghiệp là tổng hợp và linh hoạt: là kết hợp của cá sấu và rắn, sinh ra từ nước và bay lên trời, bay lên trời mà không cần phải có cánh,

miệng vùa phun nước vừa phun lửa Rất nhiều địa danh Việt nam được đạt tên “Rồng”: Hàm Rồng, Hàm Long, Thăng Long, Hạ Long, Cửu Long,

Bạch Long Vĩ, Long Đỗ, Long Điền, Long Môn,… Người dân Nam Bộ ( vùng này đến đầu thế kỉ XX vẫn rất nhiều cá sấu) tin rằng cá sấu tu lâu năm

(nằm im một chổ cho đất các phủ lên thành cù lao) tới ngày đắt quả sẽ hóa thành rồng bay lên trời.

Trang 53

Khi đưa từ Đông Nam Á đến Trung Hoa và Châu Âu, con rồng đã bị dương tính hóa Ở Trung Hoa, thân hình rồng thu ngắn lại và giống thú, còn tính khí độc ác và dữ tợn

Trang 54

Khi tới Việt Nam vào thời Hán, người Trung Hoa lần đầu tiên thấy loài cá sấu, thuồng luồng hung

dũ nên đã đồn nhất nó với con rồng đã biết qua tưởng tượng bèn gọi nó là Giao Long

Trang 55

Đến phương Tây rồng được xem như các con vật hung hãn, chuyên canh giữ các kho báo, không chỉ thế xứ này còn cho thêm đôi cánh bởi lối tư duy không thể chấp nhậ được việc rồng không có cánh mà lại biết bay.

Trang 56

b) Thờ Thực vật:

Thờ thực vật là tín ngưỡng có tính tối cổ phổ biến khắp các châu lục, trên thế giới cho đến ngày nay Nó là biểu hiện sự gắn bó mật thiết giữa con người với sinh thái tự nhiên.

Trang 57

Ở mỗi quốc gia, vùng miền, hội giáo ý nghĩa việc thờ cây có những nội dung khác nhau Ý nghĩa thờ cây giữa phương Đông và phương Tây cũng có nhiều nét khác biệt Phật giáo

thờ cây bồ đề như một sự tôn kính hình ảnh của đức Thích Ca ngồi tu hành và cây bồ đề - nơi Đức Phật ngộ là biểu tượng của tư tưởng

và lòng đại từ bi Ở Châu Âu, cây thông cây tùng được Cơ đốc giáo thờ để trừ ma quỷ

Người Ai Cập thờ cây cọ Người La Mã và

Hy Lạp thờ cây linh sam Người Đức thờ cây sồi

Trang 58

Ở việt Nam, thực vật được tôn sùng nhất là cây Lúa: khắp nơi- dù là vùng người Việt hay vùng ác dân tộc – đều có tín ngưỡng thờ

Thần Lúa, Hồn Lúa, Mẹ Lúa,… Thứ đến là ác loài cây xuất hiện sớm ở vùng này như cây

Đa, cây Cau, cây Dâu, quả Bầu,…

Trang 59

Trong văn hóa Việt Nam, tục thờ thực vật

cũng rất phổ biến và sự tôn kính đã đi vào

tiềm thức chưa phai của dân Việt "Đẻ đất đẻ nước” của người Mường Việt nhắc đến cây si Người Mường coi cây si như một loại cây cội nguồn Người Chàm có tục thờ dừa, thờ cau Người Việt có hẳn chuyện Mộc tinh trong

Lĩnh Nam chích quái Người Việt thờ mẫu

thượng ngàn và thờ cây đa, cây gạo ở mọi

làng quê, đình chùa, miếu mạo Nhiều gia

Trang 60

Người Dao thờ cây đa, cây sấu Người Nùng, người Mường, Người Dao có hẳn lễ mở cửa rừng với bàn thờ thần cây sau những ngày xuân…Lúa gạo được coi là loại cây lương

thực được tôn vinh truyền thống Sản phẩm

từ nó luôn được đưa vào vật phẩm thờ của người Việt trong các nghi lễ cúng tế nông

nghiệp

Trang 62

Đối với người Việt, cây cối là loại sinh thể đặc biệt, có đời sống trực giác tâm linh y như con

người; có năng lượng phát ra và tương tác được với năng lượng của con người Vì vậy, cây cối được người Việt sử dụng trong phép điều hòa môi trường sống (phong thủy) như là những nội dung chủ đạo (cùng đá, nước, núi, phương

hướng ) Mặt khác, cây còn được coi là nơi trú ngụ của các vị thần linh hay ma quỷ.

Trang 63

Dân gian người Việt có câu:

"Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề

Cây thị có ma, cây đa có thần

Ở cho phải phải phân phân Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa”.

Trang 64

III/ Tín ngưỡng sùng bái con người:

1/ Hồn vía:

Trong con người có cái vật chất và cái

tinh thần Cái tinh thần trừu tượng, khó nắm bắt nên người xưa đã thần thánh

hóa nó thành khái niệm “linh hồn” và

linh hồn trở thành đầu mối của tín

ngưỡng Người Việt và một vài dân tộc Đông Nam Á còn tách linh hồn ra thành

hồn và vía Người Việt cho rằng người có

3 hồn, nhưng vía thì nam có bảy, nữ có

Trang 65

Hồn vía là sản phẩm của trí tuệ bình dân với

những con số 3-7-9 ước lệ (sản phẩm của truyền thống coi trọng những con số lẻ của người Việt) Tuy nhiên, dần dần người ta tìm ra cách giải

thích ý nghĩa của các khái niệm và những con số này Theo đó , vía là cái làm hoạt động các quan năng - những nơi có thể tiếp xúc với môi trường xung quanh Đàn ông có 7 vía cai quản 7 lỗ trên mặt : hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và miệng Phụ

nữ thì có thêm hai cái vía cai quản nơi sinh đẻ

Trang 66

Tinh là sự tinh anh trong nhận thức

(nhờ các quan năng, các vía mang lại) Khí là khí lực, là năng lượng làm cho cơ thể hoạt động Thần là thần thái, là sự sống nói chung Như vậy, từ xác đến

vía, từ vía đến tinh, từ tinh đến khí, từ khí đến thần là cả một chuỗi xích với

mức độ trừu tượng và tầm quan trọng tăng dần.

Ngày đăng: 22/11/2013, 08:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w