1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra mức độ gây hại, thành phần tuyến trùng hại su su (sechium edule swartz) tại tam đảo vĩnh phúc và đề xuất biện pháp phòng trừ

53 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành phần loài tuyến trùng kí sinh gây hại trong đất trồng và rễ cây Su su.. Trong quá trình sống kí sinh và sinh sản trên hoặc trong cơ thể thực vật, tuyến trùng có thể gây ra nhiều bi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA SINH – KTNN

======

HOÀNG THỊ HẢO

ĐIỀU TRA MỨC ĐỘ GÂY HẠI, THÀNH PHẦN

TUYẾN TRÙNG HẠI SU SU (SECHIUM EDULE

SWARTZ) TẠI TAM ĐẢO, VĨNH PHÚC VÀ ĐỀ XUẤT

BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Sinh học ứng dụng

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

ĐIỀU TRA MỨC ĐỘ GÂY HẠI, THÀNH PHẦN

TUYẾN TRÙNG HẠI SU SU (SECHIUM EDULE

SWARTZ) TẠI TAM ĐẢO, VĨNH PHÚC VÀ ĐỀ XUẤT

BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Sinh học ứng dụng

Người hướng dẫn khoa học

TS Dương Tiến Viện

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi cũng nhận được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường

Đặc biệt, đề tài này được hoàn thành dưới sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn tận tình của TS Dương Tiến Viện và TS Trịnh Quang Pháp-Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong khoa Sinh-KTNN, trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2, các cán bộ trong phòng thí nghiệm sinh học ứng dụng, phòng tuyến trùng học Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật-Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ xã Hồ Sơn huyện Tam Đảo đã cung cấp những thông tin và số liệu rất cụ thể và chính xác trong quá trình chúng tôi điều tra thực địa

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, anh chị khóa trên và bạn

bè đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2019 Sinh viên

Hoàng Thị Hảo

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những gì viết trong khóa luận này đều là sự thật Đây làkết quả của riêng tôi Tất cả các số liệu trong bảng biểu và hình ảnh đều được thuthập từ thực nghiệm, qua xử lý thống kê, không có số liệu sao chép hay bịa đặt, không trùng với kết quả của bất kỳ tác giả nào đã công bố dưới sự hướng dẫn của TS Dương Tiến Viện

Trong đề tài, tôi có sử dụng một số dẫn liệu của một số tác giả khác, tôi xin phép các tác giả được trích dẫn để bổ sung cho khóa luận của mình Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Xin trân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2019 Sinh viên

Hoàng Thị Hảo

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thành phần loài tuyến trùng ký sinh gây hại cây Su su tại Tam Đảo

Vĩnh Phúc 30

Bảng 3.2 Tần suất xuất hiện loài tuyến trùng ký sinh gây hại cây Su su tại Tam Đảo Vĩnh Phúc 31

Bảng 3.3 Mật độ tuyến trùng phân lập được trên vườn trồng Su su 36

Bảng 3.4a Số lượng các loài tuyến trùng ở các tầng đất khác nhau 36

Bảng 3.4b Số lượng loài tuyến trùng ở các tầng đất khác nhau 37

Bảng 3.5: Tỷ lệ diện tích trồng Su su tại xã Hồ Sơn thuộc huyện Tam Đảo bị tuyến trùng gây hại 38

Bảng 3.6 Hiệu lực của thuốc phòng trừ tuyến trùng hại Su su Tam Đảo 38

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Cấu tạo chung của tuyến trùng kí sinh thực vật 7

Hình 1.2 Các kiểu miệng của tuyến trùng [17] 16

Hình 1.3 Các hình thức ký sinh của tuyến trùng 17

Hình 2.1 Tách tuyến trùng bằng khay 25

Hình 2.2 Lọc tuyến trùng bằng phễu 26

Hình 2.3 Lọc tuyến trùng theo phương pháp Whitehead 28

Hình 3.1 Hirschmanniella mucronata 33

Hình 3.2 Helicotylenchus dihystera 34

Hình 3.3 Tylenchorhynchus annulatus 35

Trang 7

MỤC LỤC:

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đính của nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

1.1 Tổng quan về cây Su su 2

1.1.1 Lịch sử phát triển cây Su su 3

1.1.2 Đặc điểm của cây Su su 4

1.1.3 Kĩ thuật canh tác cây Su su Chăm sóc cây su su 5

1.2 Đại cương về tuyến trùng kí sinh thực vật 6

1.2.1 Cấu tạo hình thái tuyến trùng 6

1.2.2 Sinh sản của tuyến trùng 9

1.2.3 Vòng đời của tuyến trùng 11

1.2.4 Sự lột xác của tuyến trùng 12

1.2.5 Dinh dưỡng của tuyến trùng 12

1.2.6 Phản ứng của cây chủ 13

1.2.7 Di chuyển và phát tán của tuyến trùng 14

1.2.8 Phân loại tuyến trùng trong nông nghiệp 15

1.2.9 Các nhóm tuyến trùng ký sinh gây hại quan trọng 17

1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu tuyến trùng kí sinh thực vật 20

1.3.1 Trên thế giới 20

1.3.2 Tại Việt Nam 21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 24

Trang 8

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.1.2 Địa điểm và thời gian 24

2.2 Nội dung nghiên cứu 24

2.3 Phương pháp nghiên cứu 24

2.3.1 Phương pháp điều tra và lấy mẫu 24

2.3.2 Phương pháp kiểm tra mẫu bệnh 25

2.3.3 Phương pháp phân lập tuyến trùng 25

2.3.3.1 Mẫu đất 25

2.3.3.2 Mẫu cây bệnh 27

2.3.4 Phương pháp đếm và tính số lượng tuyến trùng 28

2.3.5 Thử nghiệm biện pháp phòng trừ bằng thuốc hóa học 29

2.3.6 Phương pháp phân tích thống kê 29

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30

3.1 Thành phần loài tuyến trùng kí sinh gây hại trong đất trồng và rễ cây Su su 30

3.2 Mật độ các tuyến trùng phân lập được trên vườn trồng Su su 36

3.3 Đánh giá hiệu lực của thuốc Velum Primer 400 SC sử dụng để phòng trừ tuyến trùng……….38

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tuyến trùng kí sinh thực vật là nguyên nhân gây thiệt hại kinh tế lớn đối

với nền nông nghiệp toàn cầu, chỉ tính riêng nhóm tuyến trùng Meloidogyne

spp đã gây thiệt hại khoảng 100 tỷ USD mỗi năm (Oka và cs., 2000) [16] Đặc biệt ở các nước đang phát triển do trình độ canh tác thấp, mức độ đầu tư

có hạn và công tác phòng trừ sâu bệnh còn chưa được quan tâm đúng mức thì thiệt hại do tuyến trùng kí sinh thường cao hơn 14,5% so với ở các nước phát triển là 8% (Luc, Sikora & Bridge, 1990) [9]

Tuyến trùng thực vật đa số sống ở rễ, vùng đất quanh rễ của cây trồng và

có khả năng kí sinh ở tất cả các bộ phận bao gồm rễ, thân, lá và hoa Chúng

có những tập tính dinh dưỡng rất khác nhau, một số loài dinh dưỡng trên bề mặt những mô ngoài của thực vật, một số khác thâm nhập vào bên trong các

mô để kí sinh và một số khác có thể làm cho cây chủ tạo ra những nguồn dinh dưỡng phù hợp tại nơi chúng kí sinh Trong quá trình sống kí sinh và sinh sản trên hoặc trong cơ thể thực vật, tuyến trùng có thể gây ra nhiều biến đổi theo chiều hướng bất lợi đối với cây chủ: biến đổi cơ học như phá hủy mô thực vật, tạo các vết thương; biến đổi sinh lý như làm gián đoạn hoặc phá hủy quá trình trao đổi chất, quá trình hút và vận chuyển chất dinh dưỡng của rễ, thân

và sự quang hợp của lá; các biến đổi sinh hóa do tuyến trùng tiết ra các enzyme tiêu hóa làm thay đổi các quá trình sinh hóa bình thường của cây Ngoài tác hại trực tiếp như trên, chúng còn là tác nhân gián tiếp tạo ra những vết thương trên rễ làm cho nấm, vi khuẩn bệnh trong đất xâm nhập và gây hại cho cây trồng [9]

Tam Đảo không chỉ được du khách biết tới với những khu du lịch nổi tiếng mà Tam Đảo còn được du khách gần xa nhắc tới với cây su su đặc sản Không chỉ là cây đặc sản đối với du khách mà cây Su su ở Tam Đảo đang trở thành sản phẩm nông nghiệp chủ lực góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp của huyện phát triển, cải thiện đời sống của người dân, đặc biệt là ở thị trấn Tam Đảo, cây Su su được gắn liền với quá trình phát triển của thị trấn Tam Đảo và được người dân nơi đây xem là cây xóa đói giảm nghèo tại địa phương Hiện nay mỗi năm, người dân thị trấn Tam Đảo cung cấp cho thị

Trang 10

trường từ 700 đến 900 tấn ngọn rau Su su, thu về 7-9 tỷ đồng Đây cũng chính

là nguồn thu chính đối với sản xuất nông nghiệp ở thị trấn Tam Đảo [45] Tuy nhiên, Su su thường rất mẫn cảm và bị hại nặng bởi tuyến trùng, nhất là ở những vùng trồng rau tập trung Ngoài ra khả năng gây hại trực tiếp cây trồng, nhiều loài tuyến trùng còn là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng các bệnh hại do nấm, vi khuẩn từ đất và truyền bệnh virus gây hại cây trồng dẫn đến thiệt hại nặng năng suất Tại đây, hầu hết người trồng Su su chưa nhận biết được triệu chứng gây hại của tuyến trùng do sự gây hại diễn ra âm thầm trong đất nên chưa thực hiện các biện pháp phòng trừ

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: " Điều tra mức độ gây

hại, thành phần tuyến trùng hại Su su (Sechium edule Swartz) tại Tam Đảo - Vĩnh Phúc và đề xuất biện pháp phòng trừ”

2 Mục đính của nghiên cứu

Xác định thành phần loài tuyến trùng, mức độ tuyến trùng ký sinh gây hại cây Su su tại Tam Đảo, Vĩnh Phúc và đề xuất biện pháp phòng trừ

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học:

Góp phần tìm hiểu thành phần tuyến trùng và biện pháp kỹ thuật phòng trừ tuyến trùng hại Su su

- Ý nghĩa thực tiễn:

Là tài liệu tham khảo về tuyến trùng hại Su su và biện pháp phòng trừ

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cây Su su

Trang 11

1.1.1 Lịch sử phát triển cây Su su

Chi Su su (Sechium) có nguồn gốc ở Trung và Nam Mỹ với khoảng 5-6

loài

Cây Su su (Sechium edule) có nguồn gốc ở Brazil Loài cây này là loài

dây leo vùng núi đã được giới thiệu như là một loại cây trồng trên khắp Châu

Mỹ La Tinh, và trên toàn thế giới

Cây su su được trồng ở đảo Reunion từ năm 1836, sau đó được truyền đến các nước miền Nam Châu Âu và ở vùng cao của các nước vùng nhiệt đới thuộc Châu Á và Châu Úc

Do loài cây này thân, lá, quả và hạt mềm dể phân hủy nên không có bằng chứng khảo cổ cho biết được trồng khi nào và có một số loài bản địa ở Nam

Mỹ được xem là đã bị tiệt chủng

Các vùng trồng chính là Brazil , Costa Rica và Veracruz , Mexico Costa chayotes Rica chủ yếu xuất khẩu sang Liên minh Châu Âu, trong khi Veracruz là nước xuất khẩu chính quả Su su sang Hoa Kỳ

Đây là loài rau dây leo thích nghi vùng địa hình cao từ 800-2000 m ở các nước nhiệt đới

Từ tiếng Anh gọi cây Su su là “Chayote” có nguồn gốc từ tiếng Tây Ban Nha “chayohtli” được người thổ dân Mexico ở Nahuatl Trung Mỹ gọi loài cây

này và chính thức được Viện nghiên cứu gen thực vật quốc tế (International

Plant Genetic Resources Institute) đặt tên là “Chayote” (Rafael Lira Saade

-1996) [43]

Tên cây “Su su” ở Việt Nam bắt nguồn từ tiếng Pháp dùng ở hải ngoại

như “Chouchou” (Réunion, Île Maurice), hoặc "chouchoute"

(Nouvelle-Calédonie, Polynésie thuộc Pháp), có lẽ đây là nguồn gốc tên tiếng Việt “ Su su” của loại quả này

Cây Su su hay Su le được người Pháp du nhập vào Việt Nam vào đầu thế

kỷ XX

Đây là loài rau dây leo thích nghi vùng khí hậu mát ở cao nguyên, vùng núi Ở Việt Nam cây Su su được trồng ở những vùng có khí hậu mát như Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo , Núi Sam (An giang) Có 2 giống Su su gai và Su su trơn [44]

Trang 12

1.1.2 Đặc điểm của cây Su su

Su su là loài dây leo sống dai, có rễ phình thành củ, thích nghi vùng núi cao

- Thân: Dây dài 6-8 m, có thể đến 12 m

- Rễ: Rễ phình dạng củ, chứa nhiều tinh bột và ăn như khoai lang Nó có thể được sử dụng làm thức ăn cho gia súc rất tốt Sau khi thu hoạch rất dễ bị thối, khó bảo quản nên phải dùng ngay Rễ phơi khô còn được dùng làm thuốc

- Lá: Lá to, bóng, hình chân vịt, có 5 thùy, tua cuốn chia 3-5 nhánh

- Hoa: Hoa nhỏ, đơn tính, cùng gốc, màu trắng, vàng ; hoa đực hợp thành chùy, hoa cái đơn độc ở nách lá ; chỉ nhị dính nhau ; bầu 1 ô, 1 noãn

- Quả: Quả thịt hình quả lê có cạnh lồi dọc và sần sùi, to bằng quả lê 15x5-10 cm), da mỏng màu xanh nhạt, thịt quả dày, trong ruột quả chứa một hạt lớn

(10 Hạt: Mỗi quả có 1 hạt lớn hình oval dẹp Hạt non có hương vị ngon, làm rau ăn được như một phần của quả

Cây Su su có ưu điểm là ít sâu bệnh, quả dễ cất trữ, vận chuyển, năng suất cao Nhiệt độ thích hợp 12-13oC Ở miền Bắc, trồng tháng 8-11 (tốt nhất

là tháng 9-10) thu hoạch tháng 1-2, rộ nhất tháng 3-4 Trồng nơi cao ráo đủ

ẩm, đào hố bón lót, mật độ trồng 2,5x3 m hay 3x3 m Chăm sóc, che nắng sau khi trồng

Cây cao 1-1,5 m, cắm que cho leo giàn, phủ đất kín hốc, bón phân cách gốc 40-50 cm, hoặc hoà nước tươi Sau 2-3 tháng, bắt đầu được thu hoạch, 5-

7 ngày hái một lần Năng suất trung bình 300-500 tạ quả/ha [38,44-49]

1.1.3 Kĩ thuật canh tác cây Su su

Su su ưa lạnh, hoa đơn tính, thụ phấn đậu quả nhờ ong bướm, nếu trồng không đúng thời vụ, chăm sóc không đúng cách năng suất quả sẽ không cao

Thời vụ trồng su su

Tốt nhất là trồng su su vào tháng 9 âm lịch để cho thu hoạch quả từ tháng 12 đến đầu tháng 3 năm sau Nếu trồng sớm quá (tháng 8) hoặc trồng

Trang 13

muộn quá (tháng 10, 11) thời tiết bất lợi cho su su ra và đậu quả, năng suất quả sẽ không cao

Làm đất, bón lót và trồng

Những chân đất thích hợp với bầu bí cũng thích hợp với su su, làm đất như đối với trồng mướp Trồng su su bằng quả giống đã có mầm Quả giống

to, nây đều, gai cứng, mầm to khỏe mới nhú là quả giống tốt

Đào hố rộng 80-100 cm, sâu 40-50 cm, đổ nhiều mùn rác, phân bón vào

hố và để chừng một tuần mới đặt quả giống xuống Các hố được đào thẳng hàng, cách nhau 2,5-3,0 m Mỗi hố bón 10-15 kg phân chuồng và 1 kg supe lân, 1 kg kali sunfat (không kể đổ thêm các chất mùn bã)

Trồng mỗi hốc 3-4 quả, cách nhau 30-40 cm, sau đó lấp đất phủ kín quả, chỉ để hở mầm Một ha phải trồng từ 250-360 kg quả giống để đảm bảo mật

độ 1.000-1.500 cây/ha

Chăm sóc cây su su

Công việc chăm sóc su su gồm các thao tác sau: Che nắng cho quả giống lúc mới trồng Kiểm tra sau khi mọc để khỏi bị mất khoảng Khi cây đã mọc đều phải làm giàn theo kiểu giàn mướp, cao 1,8-2 m Khi su su mọc dài 1-1,5

m thì cắm dóc cho cây leo lên giàn

Bố trí, san dây cho đều, tuyệt đối không được đánh cành bấm ngọn của

su su như đối với bầu bí Khi nương dây lên giàn cũng là lúc vét đất xung quanh phủ lên gốc cây su su

Bón phân thúc cho su su vào hai giai đoạn: Khi cây vừa lên giàn, dùng phân tưới nước quanh gốc để rễ ăn rộng, có thể rải một lượt bùn sông, bùn cống rãnh lên mặt luống Khi được thu hoạch, lại thúc bằng phân nước hoặc phân đạm có hòa lẫn kali, làm cho quả sáng mã và chắc, chống rụng quả Vùng núi cao có khí hậu mát như Sa Pa, Tam Đảo, Lạng Sơn,v.v su su

ra quả vào mùa hè, còn đến mùa Đông (tháng 10 trở đi) do rét nên su su tàn lụi Tại những vùng này, giữ giống bằng cách cắt dây, chỉ để lại 2 m phần sát gốc rồi khoanh vòng thúng quanh gốc, lấp hỗn hợp phân, đất phủ đầy cho cây

ấm gốc để có thể tiềm sinh trong đất qua đông

Trang 14

Sang Xuân, vào quãng tháng 3 khi tiết trời đã ấm, su su sẽ nảy mầm và tái sinh Xới đất và bón phân thúc rồi đưa dây lên giàn Tháng 6 sẽ cho quả và thu hoạch cho tới tháng 8, đến tháng 10 thì su su đã già, có thể dùng làm quả giống mới cho các vùng đồng bằng không giữ được giống [44]

1.2 Đại cương về tuyến trùng kí sinh thực vật

1.2.1 Cấu tạo hình thái tuyến trùng

Tuyến trùng là nhóm động vật không xương sống có khả năng thích nghi với điều kiện sống ở tất cả các nơi khác nhau trên hành tinh Sự đa dạng về môi trường sống dẫn đến sự đa dạng về cấu tạo hình thái

Cơ thể của hầu hết các loài tuyến trùng có dạng chỉ hoặc dạng hình thoi Đối với tuyến trùng sống tự do và kí sinh trên cây trồng thường có chiều dài 0,2-2 mm với đường kính cơ thể từ 15-400 µm, một số loài kích thước cơ thể dài hơn 3mm hoặc đến 10 mm Con cái trưởng thành của một số nhóm ký sinh có dạng hình quả bầu, quả bí xanh, quả lê hay quả chanh Cơ thể của tuyến trùng thực vật bao gồm đầu, thân và đuôi

Phần đầu :

Đầu còn gọi là vùng môi Mặt trước vùng môi có cấu tạo dạng tấm tròn

và chia thành thùy điển hình, ở giữa là lỗ miệng, xung quanh là các cơ quan xúc giác, bao gồm cơ quan cảm giác hóa học Đầu có thể tách biệt và không tách biệt với cơ thể và thường được phân biệt với phần thân bằng một eo thắt

và tạo thành các dạng khác nhau : đầu cao thường có dạng hình bán cầu, hình thang ; đầu thấp thường là dạng đầu bẹt

Trang 15

Hình 1.1 Cấu tạo chung của tuyến trùng kí sinh thực vật

A Toàn bộ cơ thể ; B Phần đầu cơ thể ; C-F Cấu tạo đuôi

(Theo Nguyễn Vũ Thanh, 1981) [9]

Vỏ cutin vùng đầu thường phân đốt ngang Ở một số tuyến trùng, trên vỏ cutin còn có các rãnh dọc Bên trong vùng môi còn chứa một bộ khung hóa kitin có vai trò nâng đỡ các cấu trúc đầu và gắn cơ vận động của kim hút Mức độ kitin hóa của đầu rất khác nhau ở các loài tuyến trùng

Phần thân :

Phần thân tuyến trùng bao gồm gần hết chiều dài cơ thể, từ eo thắt ở phần đầu đến lỗ hậu môn con cái hoặc đến huyệt sinh dục ở con đực

- Cấu tạo thành cơ thể :

Cơ thể tuyến trùng bao bọc bằng vỏ cutin, có cấu tạo phân đốt ngang hoặc có thêm các cấu tạo trang điểm, đặc biệt điều này dễ quan sát thấy ở

nhóm giun vòng (criconematid) Cấu tạo vân dọc trên vỏ cutin cũng gặp ở

một số loài tuyến trùng Dưới vỏ cuticle là một lớp dưới da (cấu trúc hạ bì) và tiếp theo hạ bì là lớp cơ dọc Nằm xen kẽ giữa cấu trúc hạ bì và lớp cơ dọc là

hệ thần kinh (với dây sống-chords) là phần dày lên và chạy dọc cơ thể Đối

Trang 16

với tuyến trùng, hệ thần kinh trung ương tương đối đơn giản, chúng gồm hệ thần kinh trung ương (vòng thần kinh cổ), xung quanh vòng thần kinh cổ có các tế bào thần kinh chạy dọc khác (hạch thần kinh) Từ vòng thần kinh cổ có

6 đường thần kinh chạy về phía trước cơ thể, ở dây mỗi đường lại chia thành

3 nhánh và đi vào các cơ quan cơ thể phía trước như nhú môi, cảm giác, xúc giác,… Cũng từ vòng thần kinh cổ có 8-12 đường thần kinh chạy về phía sau

và phân bố như sau : 1 bụng, 1 lưng, 4 gân giữa và 1-3 đường bên hông Xoang cơ thể nằm ở trung tâm của tuyến trùng gọi là giả xoang chứa dịch đặc quánh có vai trò nâng đỡ các bộ phận bên trong bao gồm 3 cơ quan chính là

hệ tiêu hóa, hệ sinh sản và hệ bài tiết

- Cơ quan cảm giác :

Bao gồm các cơ quan xúc giác và cảm giác hóa học như amphid, phasmid, deirid, hemizonid, hemizonion và cephalid, chúng được nối trực tiếp tới các đầu dây thần kinh trong cơ thể tuyến trùng

- Hệ tiêu hóa :

Hệ tiêu hóa bao gồm miệng đã được biến thành kim hút, thực quản, ruột

và trực tràng Kim hút có cấu tạo hình ống, phần trước có cấu tạo dạng chóp vuốt nhọn về phía trước và có một lỗ dạng vát, phần giữa là thân có cấu tạo hình trụ, phần sau là gốc thường có dạng 3 núm nhỏ dạng tròn hoặc vát tròn Thực quản gồm phần trước hình trụ hẹp, diều giữa phình rộng có cấu tạo cơ

và có các tấm van ở giữa, có chức năng co bóp và đẩy thức ăn vào ruột ; phần thắt hẹp là eo thực quản và phần sau kéo dài là thực quản tuyến gồm 3 tuyến :

1 tuyến nằm phía thắt lưng và 2 tuyến nằm phía bụng và bên bụng bên Thực quản tuyến có thể có dạng hành, có ngăn cách rõ ràng với ruột hoặc dạng thùy kéo dài về phía sau, bao phủ lên phần đầu của ruột Ranh giới giữa thực quản tuyến và ruột thường có cấu tạo van, gọi là van thực quản-ruột Ruột là một ống lớn không phân hóa chạy từ thực quản đến phần sau cơ thể, ống tiêu hóa được mở ra ngoài qua trực tràng tại hậu môn hoặc huyệt ở con đực Con đực

ở một số giống tuyến trùng thực vật hệ tiêu hóa có thể tiêu giảm hoặc không

có chức năng

- Hệ sinh sản :

Trang 17

Ở cả 2 giống đực, cái đều có cấu tạo dạng ống : ở con cái hệ sinh dục có thể có 2 nhánh sinh dục đối xứng gọi là kiểu sinh dục đôi, hoặc chỉ có một nhánh gọi là kiểu sinh dục đơn Mỗi nhánh sinh dục cái gồm có 4 phần chính

là : buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung và âm đạo Ngoài ra thường có một cấu trúc chuyên hóa tại tử cung để chứa tinh trùng gọi là túi chứa tinh Âm đạo được mở ra ngoài qua âm hộ Âm hộ có dạng khe ngang nằm ở phía bụng

ở giữa hoặc phần sau của cơ thể Hệ sinh dục đực là một ống sinh dục đơn gồm noãn hoàn, ống sinh tinh dịch và ống dẫn tinh được mở ra bên ngoài qua một lỗ huyệt chung với hậu môn Cơ quan giao cấu gồm gai sinh dục dạng đôi, máng dẫn hoặc trợ gai Gai sinh dục được kitin hóa mạnh để mở âm đạo của con cái và phóng tinh vào hệ sinh dục cái Đuôi con đực ở phần lớn số loài thường có cấu tạo cánh đuôi trợ giúp khi giao phối

- Hệ bài tiết :

Gồm một tế bào tuyến đơn nhất thông qua ống tiết nối với lỗ bài tiết nằm

ở phía bụng phần trước cơ thể, lỗ này thường nằm tương ứng với vùng thực

quản nhưng cũng có trường hợp nằm ở phía sau (ở Tylenchulus)

Phần đuôi :

Phần đuôi là phần cơ thể tính từ hậu môn con cái hoặc lỗ huyệt sinh dục con đực tới mút đuôi Đuôi có cấu tạo rất đa dạng và là một trong các đặc điểm hình thái quan trọng trong việc xác định vị trí của các loài và các taxon cao hơn [9]

1.2.2 Sinh sản của tuyến trùng

Tuyến trùng ký sinh thực vật thường sinh sản hữu tính và sinh sản phân tính, có con đực, con cái riêng biệt và đẻ trứng, trứng được đẻ và phát triển bên ngoài cơ thể Trứng được thụ tinh bằng tinh trùng chứa trong túi chứa tinh nằm ở phần đầu buồng trứng, nơi tiếp giáp giữa ống dẫn trứng và tử cung hoặc đối với các dạng chỉ có buồng trứng đơn thì tinh trùng thường được giữ

ở túi tử cung sau Mặc dù hiện tượng sinh sản ngoài vẫn được xem là rất phổ biến ở tuyến trùng, song hiện tượng sinh sản bên trong cũng đôi khi xảy ra Khi vỏ trứng không được hình thành trong quá trình tạo thành phôi và ấu trùng vẫn được giữ lại bên trong tử cung cho đến lúc đẻ ra ngoài được gọi là hiện tượng đẻ con

Trang 18

Kiểu sinh sản phổ biến nhất ở tuyến trùng là sinh sản hữu tính bắt buộc hay còn gọi là song phôi, nghĩa là sự sinh sản phải do sự kết hợp của 2 tế bào sinh sản đực và cái

Kiểu sinh sản đơn tính được coi là kiểu sinh sản phổ biến thứ 2 ở tuyến trùng và kiểu sinh sản này rất đặc trưng và chỉ phổ biến ở các loài tuyến trùng

ký sinh thực vật: có 3 kiểu khác nhau của kiểu sinh sản đơn tính là:

1 Sinh sản tự giao giảm phân: quá trình sinh sản xảy ra khi bổ sung nhiễm sắc thể lưỡng bội được phục hồi ở giai đoạn noãn bào được giảm bằng

sự tổ hợp của thể cực thứ 2 với trứng tiền nhân

2 Sinh sản đơn tính giảm phân: Quá trình sinh sản mà trong đó sự tiếp hợp xảy ra và giảm số lượng nhiễm sắc thể xuất hiện ở pha tiền giảm nhiễm đầu tiên Số lượng nhiễm sắc thể soma (lưỡng bội, tứ bội…) được phục hồi bằng cách nhân đôi nhiễm sắc thể ở giai đoạn phân kỳ cuối lần 1, lúc này không có sự phân chia kiểu giảm phân lần 2

3 Sinh sản đơn tính nguyên phân: Quá trình sinh sản xảy ra không có sự ghép đôi của các nhiễm sắc thể tương đồng ở tiền kỳ và do đó số lượng nhiễm sắc thể soma được giữ nguyên Kết quả là sự hình thành thể phân cực thứ nhất

và noãn bào đơn bội tiền nhân ; từ thời điểm này quá trình phát triển phôi xảy

ra bình thường

Tuyến trùng ký sinh thực vật thường có kiểu sinh sản đơn tính hoặc lưỡng tính, không bao giờ sinh sản vô tính Trong các loài tuyến trùng có sự hiện diện của con đực, tỷ lệ đực-cái thường không cân bằng là phổ biến và xu hướng chung là tăng tỷ lệ cái khi quần thể phải chịu sức ép của môi trường Ở

một số tuyến trùng ký sinh di động tăng theo mùa (như Pratylenchus spp.)

trứng được đẻ ra và thường được nở ngay lập tức, con cái có thể sống sau khi

ngừng đẻ, trong khi đó các loài tuyến trùng bào nang cái Helerodera spp sẽ

chết khi thành thục hoàn toàn

Ở đa số tuyến trùng ký sinh thực vật, trứng được đẻ từng quả ra ngoài đất hoặc vào trong mô thực vật, nhưng đối với nhóm nội ký sinh cố định thì tuyến trùng cái đẻ hàng loạt vào một túi gelatin do nó tự tiết ra khi đẻ trứng :

ở các loài tuyến trùng thuộc giống Heterodera trứng được giữ lại bên trong cơ

thể mẹ và con cái tạo thành một cái bọc chứa trứng Có thể coi túi trứng và bọc chứa trứng là các cấu tạo tiến hóa để bảo vệ trứng khỏi các điều kiện bất

Trang 19

lợi của môi trường Thông thường con cái đẻ trứng, nhưng trong một số trường hợp trứng có thể nở bên trong cơ thể của con cái và thường thì con mẹ

sẽ chết sau đó Cho đến khi trưởng thành, ấu trùng thường có cấu tạo hình thái giống như con cái trưởng thành ngoại trừ chưa có hệ sinh dục và sự khác nhau

về số đo cũng như tỷ lệ các phần của cơ thể Đối với một vài nhóm tuyến trùng, tại một giai đoạn phát triển nhất định, ấu trùng có khả năng kháng lại những áp lực của môi trường và có khả năng vận động và di chuyển mạnh hơn các giai đoạn khác Ấu trùng ở giai đoạn này đặc biệt có khả năng phát tán và chúng có thể tồn tại trong điều kiện không có vật chủ và được gọi là giai đoạn cảm nhiễm của tuyến trùng ký sinh [9]

1.2.3 Vòng đời của tuyến trùng

Tuyến trùng thường có vòng đời bao gồm 6 giai đoạn : giai đoạn đầu trứng không phân hóa, 4 giai đoạn ấu trùng và giai đoạn trưởng thành Ở lớp

tuyến trùng Adenophorea ấu trùng tuổi 1 nở ra từ trứng, còn ở tuyến trùng thuộc lớp Secementca, các loài tuyến trùng ký sinh thực vật bộ Tylenchida, ấu

trùng tuổi 1 phát triển trong trứng và khi nở ra ngoài là ấu trùng tuổi 2 Vòng

đời có thể thay đổi từ ít hơn 5 ngày như ở một số Neotylenchids hoặc đến một năm và lâu hơn như ở một số loài tuyến trùng họ Longidoridae Sự khác nhau

này được giải thích bởi các đặc tính sinh học : ảnh hưởng cơ bản của nhiệt độ

và chất lượng chất nền như một nguồn cung cấp thức ăn tới tuyến trùng Các chu kì phát triển của hầu hết các quần thể tuyến trùng trong đất và sự phát triển của rễ cây chủ yếu có sự xen kẽ các thế hệ

Các loài tuyến trùng thực vật như Rotylenchulus reniformis và

Meloidogyne incognita có thể nở tự do trong nước ở nhiệt độ thích hợp Tuy

nhiên, tỷ lệ nở của chúng sẽ tăng lên đáng kể khi có mặt của một vật chủ Một

số loài khác như tuyến trùng bào nang ánh vàng Globodera rostochiensis cần

tín hiệu chuyên biệt của vật chủ mới nở, một số loài tuyến trùng khác lại có thể trải qua một giai đoạn ngủ dài trong trứng như tuyến trùng bào nang

Heterodera avenae, tuyến trùng sần rễ Meloidogyne naasi (Evans, 1987)

Thậm chí sự có mặt tự nhiên của một loại chất hóa học được tiết ra từ cây đậu

thận đã kích thích sự nở trứng của Heterodera glycines (Masamune et al.,

Trang 20

1982), tuy nhiên sự kích thích chuyên hóa này và cơ chế hoạt động của chúng như thế nào ở trong đất cho đến nay khoa học còn chưa xác định được [9]

1.2.4 Sự lột xác của tuyến trùng

Ở hầu hết các loài tuyến trùng kí sinh, quá trình lột xác thường xảy ra qua 4 lần, trước khi thành tuyến trùng ở giai đoạn trưởng thành Tuy nhiên, trong một số trường hợp ở một số nhóm tuyến trùng có vòng đời ngắn chỉ

qua 3 lần lột xác Ở loài tuyến trùng Deladenus siricidicola, con trưởng thành

không lột xác được coi là trường hợp ngoại lệ

Ở loài tuyến trùng thuộc bộ Tylenchida và Diplogasterida, từ trứng nở ra

ấu trùng tuổi 2 là rất phổ biến Hiện có 2 quá trình lột xác khác nhau đã được tổng kết : lột toàn bộ vỏ cutin với tất cả các lớp bị rũ bỏ và một quá trình khác

là chỉ lột một phần biểu bì của vỏ cutin trong khi các lớp khác thì bị tan Trước khi lột bỏ hoặc hòa tan các lớp cutin chuyên biệt thì các lớp biểu bì mới được phân lớp hoàn chỉnh

Sự lột xác làm tách biệt từng giai đoạn từ ấu trùng tuổi 1 cho đến giai đoạn trưởng thành ở tất cả tuyến trùng kí sinh được tóm tắt như sau : sự bong, tách vỏ cutin từ phần hạ bì; tạo thành vỏ cutin và bóc lớp vỏ cũ

Tuyến trùng ký sinh thực vật thuộc họ Longidoridae vẫn giữ lại dạng

hình chỉ trong suốt vòng đời của chúng, còn ở các loài tuyến trùng bộ

Tylenchida thì có thể có một số biến thái trong các giai đoạn ấu trùng và ở

tuổi trưởng thành Mặc dù hầu hết các loài tuyến trùng ký sinh thuộc bộ này vẫn giữ cơ thể dạng chỉ song ở một số loài nội ký sinh quan trọng, do để thích nghi với môi trường sống, con cái phình ra ở giai đoạn tạo thành vỏ cutin và tiếp tục phình lên thành hình cầu, hình quả chanh ở giai đoạn trưởng thành,

đại diện là các loài thuộc giống Meloidogyne và Heterodera [9]

1.2.5 Dinh dưỡng của tuyến trùng

Tuyến trùng ký sinh thực vật dinh dưỡng bằng một cơ quan chuyên hóa

là kim hút, đây là một cái ống rỗng mà qua đó các chất men tiêu hóa (proteaza, pectinaza…) tiết từ tuyến thực quản tiêm vào trong các tế bào thực vật và làm tan các thành tế bào, tạo điều kiện để tuyến trùng dễ dàng hút các chất dinh dưỡng cần thiết từ cây chủ vào cơ thể chúng Các men tiêu hóa

Trang 21

(enzym) có thể tiêu hóa một phần tế bào chất trước khi tiêu hóa bên trong cơ thể tuyến trùng, dẫn tới sự hình thành các điểm dinh dưỡng chuyên hóa tại vùng tuyến trùng ký sinh

Đa phần tuyến trùng thực vật ký sinh ở các phần dưới mặt đất, ngoài một

ít nhóm ký sinh chuyên hóa ở phần trên mặt đất của thực vật Tập tính dinh dưỡng của tuyến trùng thường được mô tả như ngoại hoặc nội ký sinh, ở mỗi phạm trù trên lại được chia ra: ký sinh di chuyển và ký sinh tại chỗ Ngoài ra một khái niệm nữa là bán nội ký sinh và ngoại ký sinh Thực tế, tuyến trùng ngoại ký sinh có thể dinh dưỡng biểu bì hoặc các mô ở sâu hơn, phụ thuộc vào chiều dài kim hút và các yếu tố khác, mặc dù cơ thể của chúng vẫn nằm ngoài cơ thể thực vật Tuyến trùng nội ký sinh xâm nhập toàn bộ cơ thể vào bên trong mô Trong dễ thực vật, hầu hết các loài nội ký sinh di chuyển dinh

dưỡng ở phần trụ bì, mặc dù có một vài loài thuộc giống Pratylenchus có thể

xâm nhập vào phía sau nội bì và thậm chí sâu hơn vào những mô đã hóa gỗ Các loài tuyến trùng ký sinh di chuyển thường gây nên vết thương dẫn đến sự hoại tử mô thực vật xung quanh điểm dinh dưỡng của chúng Tuyến trùng dinh dưỡng lá thường dinh dưỡng mô thịt lá và có thể theo kiểu ngoại hoặc

nội ký sinh ( Aphelenchoides spp.) Tuyến trùng nội ký sinh tại chỗ và một vài

loại tuyến trùng ngoại ký sinh dinh dưỡng sâu sử dụng enzym của mình tạo ra

sự phát triển của các vùng dinh dưỡng chuyên hóa ở các mô bên cạnh tới mô trung trụ, hòa tan các thành mô, tế bào và tạo ra các tế bào khổng lồ nhiều nhân [9]

1.2.6 Phản ứng của cây chủ

Phản ứng của cây chủ trước sự xâm hại của tuyến trùng được thể hiện từ mẫn cảm đến kháng chịu, thậm chí “miễn dịch” trước sự ký sinh của các loài tuyến trùng Thực chất các phản ứng của cây chủ liên quan trực tiếp đến khả năng sinh sản của tuyến trùng bên trong ký chủ Các loài tuyến trùng ký sinh

ở các phần phía trên mặt đất của cây trồng đều có thể gây ra sự hình thành các loại u đặc trưng ở nhiều bộ phận khác nhau trên cây chủ như lá, thân, rễ, đọt,… Một số loài tuyến trùng ký sinh ở các phần dưới mặt đất cũng có thể gây ra một số hiện tượng tương tự ở thực vật nhhuw quá trình sần rễ do tuyến

trùng Meloidogyne spp gây nên

Trang 22

Hiện tượng cong cổ rễ và gẫy ngang thân lúa nước ở khu vực Đông Nam

Á còn được gọi là bệnh tiêm đột sần do tuyến trùng Ditylenchus angustus

graminicola là hiện tượng đặc trưng ở rễ lúa nước Tuy nhiên, phải nhìn nhận

rằng, hầu hết các loài tuyến trùng ký sinh ở phần rễ dưới mặt đất thường gây

ra những triệu chứng bệnh không chuyên hóa Ở nhiều loài tuyến trùng ký sinh thực vật quan trọng, sự biến đổi di truyền trong mối quan hệ qua lại với vật chủ tạo ra các chủng sinh học và có thể được tách thành các bậc dưới loài riêng [9]

1.2.7 Di chuyển và phát tán của tuyến trùng

Đối với tất cả các loài tuyến trùng ký sinh thực vật, các giai đoạn di chuyển chính của chúng thường được thực hiện ở trong đất Với tất cả tuyến trùng thực vật, vòng đời của chúng có ít nhất một giai đoạn di chuyển được

Sự vận động của tuyến trùng được tạo ra bằng các sóng lệch pha của các cơ

co giãn ở mặt phía lưng và mặt phía bụng dẫn đến chuyển dòng uốn khúc ngoằn nghoèo giống kiểu rỗng hơn là kiểu rắn Tuy nhiên ở các loài tuyến

trùng thuộc họ Criconematida các sóng này được tạo ra cùng một pha vì vậy

sự vận chuyển của nó tương tự kiểu giun đất di chuyển Khả năng vận động của tuyến trùng thực vật ở trong đất rất hạn chế, chúng chỉ có thể di chuyển

từ một vài mét đến 5-7cm trong một năm Tuy nhiên, một số nhóm tuyến trùng nội ký sinh di chuyển lại có khả năng di chuyển nhanh trong mô thực vật Tuyến trùng ký sinh thực vật thường có biểu hiện chậm chạp, lờ đờ hơn

là tuyến trùng ăn vi khuẩn Nhìn chung, khả năng vận động của tuyến trùng trong đất phụ thuộc phần lớn vào cấu trúc cơ giới của đất; khả năng di chuyển của chúng nhanh hơn khi chiều dài cơ thể của chúng bằng khoảng 3 lần đường kính của các hạt đất (Nicholas, 1954) [9] Bản chất của tuyến trùng là động vật nước nên sự di chuyển của chúng ở trong đất thực ra là trong pha nước và bị ảnh hưởng bằng độ ẩm và cấu trúc của đất (kích thước hạt, cấu trúc, độ ẩm, độ dốc, lượng mưa, độ lèn chặt của đất,…)

Tuyến trùng thực vật có thể được dẫn dụ bằng các sản phẩm trao đổi chất trong đất canh tác hoặc các khoáng chất khác được tiết ra từ rễ, tuy nhiên loại chất dẫn dụ đặc biệt này cũng được xác định Tuyến trùng dinh dưỡng rễ có

thể vận động đến các đỉnh rễ như các điểm xâm nhập (Meloidogyne spp.), đến

Trang 23

các mô non ở xa hơn về phía sau của rễ (Prattylenchus spp.) Nhiệt độ và khí

carbonic được xem như là có khả năng hấp dẫn tuyến trùng thực vật trong việc làm tăng sự chênh lệch nồng độ Thông thường rễ chứa các chất dinh dưỡng hoặc tiết ra các độc tố khác nhau có ảnh hưởng đến sự dẫn dụ hoặc xua đuổi tuyến trùng ký sinh

Khả năng phát tán của tuyến trùng mà thực chất là sự di chuyển thụ động

ở cự ly dài có thể xảy ra bằng nhiều con đường khác nhau như hoạt động canh tác của người hoặc các yếu tố tự nhiên gây ra như sự vận chuyển đất hoặc các phần của thực vật đã bị nhiễm tuyến trùng, bằng các máy móc, công cụ nông nghiệp, bằng người, động vật hoặc bằng gió, nước,… Có sự khác nhau nổi bật

về thành phần loài tuyến trùng ở các cây trồng đang phát triển trong một vùng

có khí hậu đặc trưng giống nhau Sự giống nhau của cây trồng vượt qua giới hạn tự nhiên do hoạt động của con người gây ra sự xáo trộn đến tuyến trùng thực vật (Niblack, 1989, Norton, 1978) Ngoài ra, tuyến trùng có thể được mang trong ruột của chuột, chim hoặc các động vật khác Sự phát tán là hiện tượng tự nhiên và khó tránh khỏi Tuy nhiên, nó có thể sẽ được hạn chế bằng các biện pháp nghiệp vụ như kiểm dịch thực vật,…[9]

1.2.8 Phân loại tuyến trùng trong nông nghiệp

Tuyến trùng trong nông nghiệp chia làm 2 loại: tuyến trùng có lợi và tuyến trùng có hại còn gọi là nhóm tuyến trùng ký sinh thực vật

Dựa vào phần miệng của tuyến trùng người ta chia tuyến trùng thành 5 nhóm:

Bacterophagous (hình a) - Sử dụng vi khuẩn làm nguồn dinh dưỡng

chính;

Fungiphagous (hình b) - Sử dụng nấm làm nguồn dinh dưỡng chính; Herviphagous (hình c) - Ký sinh trên thực vật để hút chất dinh dưỡng; Predator (hình d) - Sử dụng chủ yếu là nguồn đạm động vật;

Omiphagous (hình e) - Tuyến trùng ăn tạp, có đời sống phức tạp và linh

hoạt biến đổi kiểu dinh dưỡng

Trang 24

Hình 1.2 Các kiểu miệng của tuyến trùng [17]

Dựa vào hình thức ký sinh, chia tuyến trùng thành 3 nhóm:

- Nội ký sinh: Là những tuyến trùng chui sống trong rễ và chích hút gây hại tế bào rễ làm cho rễ cây bị u sưng (u bướu), phình to so với những rễ phát triển bình thường Tuyến trùng gây hại ở nhiều bộ phận trong rễ gây ra những nốt sần trên rễ Nhóm tuyến trùng gây hại theo kiểu này chủ yếu là giống

Meloidogyne spp., nội ký sinh Bên cạnh gây hại rễ, tuyến trùng thuộc nhóm

này còn tạo tổn thương cho các loại nấm đất như: Fusarium spp., Phytopthora spp., Rhizoctonia spp., Pythium spp có cơ hội tấn công gây hại và phá hủy bộ

rễ gây hiện tượng vàng lá, thối rễ của cây

- Ngoại ký sinh: Là những tuyến trùng sống bên ngoài rễ và sử dụng kim chích hút ngoài rễ, sinh sống, di chuyển bên ngoài môi trường đất và nước

Nhóm tuyến trùng gây hại theo kiểu này chủ yếu là giống Pratylenchus,

Xiphinema… Bên cạnh gây hại bộ rễ cây trồng, chúng còn truyền bệnh virus

cho nhiều loại cây trồng, đặc biệt thanh long, cà phê, hồ tiêu…

-Bán nội ký sinh: Là những tuyến trùng có kiểu sinh sống mà một phần

cơ thể (phần đầu) chui vào bên trong rễ nhưng phần còn lại vẫn ở ngoài môi trường đất Nhóm tuyến trùng này cũng gây ra nốt sần cho rễ cây Nhóm

tuyến trùng gây hại theo kiểu này chủ yếu là giống Tylenchulus spp.,

Rotylenchu- lus spp

Trang 25

Hình 1.3 Các hình thức ký sinh của tuyến trùng 1- Nội ký sinh; 2- Ngoại ký sinh; 3- Bán nội ký sinh [17]

1.2.9 Các nhóm tuyến trùng ký sinh gây hại quan trọng

* Tuyến trùng sần rễ Melodogyne spp

Tuyến trùng sần rễ được coi là tuyến trùng ký sinh quan trọng nhất cho nền nông nghiệp trên toàn thế giới Chúng làm giảm sản lượng thu hoạch cũng như chất lượng sản phẩm cây trồng Cho đến nay đã thống kê khoảng gần 80 loài ký sinh thuộc giống này, trong đó có 4 loài ký sinh gây hại quan

trọng nhất là: M incognita, M arenaria, M javanica và M hapla [7]

M incognita: Là loài phổ biến nhất, ký sinh gây hại trên nhiều cây trồng

khác nhau và phân bố trên một vùng địa lý rộng từ 40 vĩ độ Bắc đến 33 vĩ độ Nam trên phạm vi toàn thế giới Đây cũng là loài ký sinh gây hại phổ biến nhất trến cây trồng Việt Nam, trong đó ký sinh gây hại phổ biến nhất ở hồ tiêu, cà phê, cà chua, bí đỏ, đu đủ, các cây họ cà, họ đậu, chuối…

M javanica: Là loài phổ biến thứ 2 sau loài trên và có dải phân bố tương

tự Đây lòa loài có khả năng chịu đựng mùa hè khô hạn trong thời gian 3-6 tháng Ở Việt Nam loài này ký sinh tương đối phổ biến trên các cây đậu, lạc…

M arenaria: Là loài phổ biến thứ 3 Đây cũng là loài ký sinh phổ biến

trên các cây đậu, lạc…

M hapla: Phân bố chủ yếu ở vùng lạnh (34-43 vĩ Bắc) Ở vùng nhiệt đới

và cận nhiệt đới loài này thường phân bố vùng cao (>1000 m), ở cực Nambans cầu có thể gặp ở vùng thấp hơn Loài này có phổ cây chủ rộng

Trang 26

* Tuyến trùng bào nang Globodera spp và Heterodera spp

Tuyến trùng bào nang cũng được coi là một trong những nhóm ký sinh quan trọng trong nông nghiệp, phân bố rộng khắp thế giới, đặc biệt ở vùng ôn đới Hiện nay đã phát hiện khoảng 60 loài trên thế giới, trong đó có các loài quan trọng như:

H sacchari: Loài này có phổ vật chủ rất lớn nhưng chủ yếu liên quan

với các cây Belta vulgaris và củ cải đường Đây cũng là đối tượng gây hại trên các cây thuộc giống Spinacea, Brassica và các cây thuộc họ

Brassicaceae và Crusifereae Đây là loài phân bố phổ biến ở vùng ôn đới

nhưng lại có phổ chống chịu rộng về mặt khí hậu

H trifolii: Ký sinh phổ biến ở nhiều cây trồng họ Fabaceae Phân bố

rộng ở Châu Âu, Nga, Mỹ và India

H glycine: Loài này được xác định có nguồn gốc từ Nhật Bản, Triều

Tiên và hiện nay đã du nhập tới các vùng khác như Mỹ, Canada, Ai Cập, Đài Loan… Loài này còn được gọi là tuyến trùng bào nang đậu tương do được coi như một loài ký sinh rất quan trọng trên cây đậu tương Ngoài đậu tương cong

có một phổ rất rộng các cây chủ khác, đặc biệt là cây họ đậu

H oryzae: Còn gọi là tuyến trùng bào nang ngô, phân bố rộng ở Ấn Độ,

Pakistan và lưu vực sông Nile, Ai Cập, Mỹ Các cây trồng kinh tế bị loài này gây hại như ngô, lúa mạch, yến mạch, lúa kê, lúa mì và mía

H avenae: Là loài ký sinh ở các vùng khí hậu khác nhau, do có khả năng

thích nghi đặc biệt với điều kiện môi trường khác nhau Ký sinh chủ yếu ở các cây trồng như: yến mạch, lúa mì, lúa mạch và lúa mạch đen Ngoài ra cũng gặp trên một số cây cỏ không phải cây hạt khác Loài này có khoảng 20 kiểu bệnh khác nhau

G rostochiensis và G papilla: Là loài tuyến trùng bào nang khoai tây

Nguồn gốc phân bố của tuyến trùng bào nang khoai tây là từ Nam Mỹ, được

du nhập sang châu Âu và sau đó đi khắp nơi Phổ vật chủ của loài này hạn chế trong các cây khoai tây và cà chua [7]

Ngày đăng: 30/03/2021, 16:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Thị Kiều An, Hoàng Ngọc Duyên, Nguyễn Văn Nam (2014), Sàng lọc và đánh giá khả năng đối kháng của một số chủng vi nấm đối với tuyến trùng Meloidogyne incognita gây hại hồ tiêu, Trường Đại học Tây Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sàng lọc và đánh giá khả năng đối kháng của một số chủng vi nấm đối với tuyến trùng Meloidogyne incognita gây hại hồ tiêu
Tác giả: Đỗ Thị Kiều An, Hoàng Ngọc Duyên, Nguyễn Văn Nam
Năm: 2014
2. Tạ Thị Mai Anh, Nguyễn Ngọc Châu (2015), Dẫn liệu về Tuyến trùng ký sinh lạc ở Hưng Yên, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hội nghị Khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật lần thứ 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn liệu về Tuyến trùng ký sinh lạc ở Hưng Yên
Tác giả: Tạ Thị Mai Anh, Nguyễn Ngọc Châu
Năm: 2015
3. Lê Ngọc Báu, Đinh Thị Tiến Oanh, Lê Đăng Khoa (2013) , Nghiên cứu chọn tạo dòng cà phê vối có khả năng kháng đối với loài tuyến trùng gây hại chính dùng làm gốc ghép cho các giống cà phê thương mại, Viện KHKT Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên, Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng lần thứ nhất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chọn tạo dòng cà phê vối có khả năng kháng đối với loài tuyến trùng gây hại chính dùng làm gốc ghép cho các giống cà phê thương mại
4. Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Vũ Thanh (1990), Hiệu lực của một số loại thuốc trừ tuyến trùng hại hồ tiêu và biện pháp xử lý thuốc hợp lý, Tạp chí Bảo vệ Thực vật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu lực của một số loại thuốc trừ tuyến trùng hại hồ tiêu và biện pháp xử lý thuốc hợp lý
Tác giả: Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Vũ Thanh
Năm: 1990
5. Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Vũ Thanh (1990), Tuyến trùng ký sinh ở cây hồ tiêu và các bệnh do chúng gây ra, Tuyển tập các công trình nghiên cứu sinh thái và tài nguyên sinh vật (1990-1992), Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật (1993), 265-270 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyến trùng ký sinh ở cây hồ tiêu và các bệnh do chúng gây ra
Tác giả: Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Vũ Thanh (1990), Tuyến trùng ký sinh ở cây hồ tiêu và các bệnh do chúng gây ra, Tuyển tập các công trình nghiên cứu sinh thái và tài nguyên sinh vật (1990-1992), Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật (1993)
Năm: 1993
6. Nguyễn Ngọc Châu(1995), Thành phần sâu bệnh hại hồ tiêu ở Tân Lâm- Quảng Trị, Tạp chí Bảo vệ Thực vật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần sâu bệnh hại hồ tiêu ở Tân Lâm- Quảng Trị
Tác giả: Nguyễn Ngọc Châu
Năm: 1995
7. Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Vũ Thanh (2000), Động vật chí Việt Nam, Tập 4: Tuyến trùng kí sinh thực vật Việt Nam. NXB KHKT Hà Nội, 403 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật chí Việt Nam, Tập 4: Tuyến trùng kí sinh thực vật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Vũ Thanh
Nhà XB: NXB KHKT Hà Nội
Năm: 2000
8. Nguyễn Mạnh Chinh (1984), Kết quả phòng trừ bệnh tuyến trùng thân lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long, Tạp chí KHKTNN, 266: 348-351 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả phòng trừ bệnh tuyến trùng thân lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Mạnh Chinh
Năm: 1984
9. Vũ Quang Côn (2002), Tuyến trùng kí sinh cây ăn quả và biện pháp phòng trừ, NXB Nông nghiệp, 177 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyến trùng kí sinh cây ăn quả và biện pháp phòng trừ
Tác giả: Vũ Quang Côn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
10. Nguyễn Thị Thu Cúc, Nguyễn Trọng Nhâm, Nguyễn Thanh Sơn, Trần Minh Trung, Nguyễn Văn Tràng, Lâm Minh Đăng và MarcPilon (2010), Hiệu quả của nước nóng trong phòng ngừa bệnh chai bông do tuyến trùng Aphelenchoides Besseyi gây ra trên cây huệ trắng vùng đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí Khoa học 2010: 16098-106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của nước nóng trong phòng ngừa bệnh chai bông do tuyến trùng Aphelenchoides Besseyi gây ra trên cây huệ trắng vùng đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Cúc, Nguyễn Trọng Nhâm, Nguyễn Thanh Sơn, Trần Minh Trung, Nguyễn Văn Tràng, Lâm Minh Đăng và MarcPilon
Năm: 2010
11. Nguyễn Thị Thu Cúc, Trương Thị Nga (1981), Một số nhận xét về thành phần tuyến trùng ký sinh trên thân lúa ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí KHKTNN, 229: 405-407 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về thành phần tuyến trùng ký sinh trên thân lúa ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Cúc, Trương Thị Nga
Năm: 1981
12. Ngô Văn Dũng, Phạm Thị Vượng, Đặng Thị Lan Anh, Phạm Văn Sơn, Hà Thị Kim Thoa (2014), Kết quả ứng dụng một số chế phẩm sinh học trong phòng chống tuyến trùng hại cà rốt, Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng lần thứ hai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả ứng dụng một số chế phẩm sinh học trong phòng chống tuyến trùng hại cà rốt
Tác giả: Ngô Văn Dũng, Phạm Thị Vượng, Đặng Thị Lan Anh, Phạm Văn Sơn, Hà Thị Kim Thoa
Năm: 2014
13. Nguyễn Thị Duyên, Lê Thị Mai Linh, Nguyễn Hữu Tiền, Trịnh Quang Pháp (2016), Bước đầu điều tra thành phần loài tuyến trùng ký sinh gây hại trên cây cà rốt ở Hải Dương, Tạp chí Sinh học 2016, 38(1): 6-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu điều tra thành phần loài tuyến trùng ký sinh gây hại trên cây cà rốt ở Hải Dương
Tác giả: Nguyễn Thị Duyên, Lê Thị Mai Linh, Nguyễn Hữu Tiền, Trịnh Quang Pháp
Năm: 2016
14. Ngô Thị Thu Hà (2013), Nghiên cứu phân lập nấm Purpureocillium Lilacinum để phòng trừ tuyến trùng bướu rễ Meloidoguyne sp., Luận văn thạc sĩ Sinh học, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phân lập nấm Purpureocillium Lilacinum để phòng trừ tuyến trùng bướu rễ Meloidoguyne sp
Tác giả: Ngô Thị Thu Hà
Năm: 2013
15. Nguyễn Thị Mai Hương (2011), Nghiên cứu đặc điểm của tuyến trùng nốt sưng meloidogyne graminicola golden birchfield 1965, hại rễ lúa, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm của tuyến trùng nốt sưng meloidogyne graminicola golden birchfield 1965, hại rễ lúa
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Hương
Năm: 2011
16. Nguyễn Huy Khánh, Trần Thị Phúc, Bùi Bích Lương, Hồ Mạnh Hùng và cs (2018), Kết quả phân tích bước đầu chất lượng đất và vi sinh vật gây hại trong đất trồng cam tại huyện Quỳ Hợp, Tạp chí KH-CN Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả phân tích bước đầu chất lượng đất và vi sinh vật gây hại trong đất trồng cam tại huyện Quỳ Hợp
Tác giả: Nguyễn Huy Khánh, Trần Thị Phúc, Bùi Bích Lương, Hồ Mạnh Hùng và cs
Năm: 2018
17. Nguyễn Huy Khánh (2018), Tuyến trùng hại cây trồng và biện pháp quản lý, Tạp chí Khoa học - Công nghệ Nghệ An, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tuyến trùng hại cây trồng và biện pháp quản lý
Tác giả: Nguyễn Huy Khánh
Năm: 2018
18. Chu Trung Kiên, Đinh Thị Lam, Nguyễn Uông Kim Bình, Lê Thị Thanh (2014-2015), Điều tra thành phần loài tuyến trùng gây hại khổ qua tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Viện Khoa học kĩ thuật Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thành phần loài tuyến trùng gây hại khổ qua tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
19. Lester W. Burgess Timothy E. Knight Len Tesoriero Phan Thúy Hiền (2009), Cẩm nang chuẩn đoán bệnh cây ở Việt nam, Sách 85 trang, Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Australia (ACIAR) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chuẩn đoán bệnh cây ở Việt nam
Tác giả: Lester W. Burgess Timothy E. Knight Len Tesoriero Phan Thúy Hiền
Năm: 2009
20. Trần Thị Minh Loan, Phùng Nhộc Vằn, Nguyễn Văn Kết, Phạm Thị Vượng (2016), Ảnh hưởng phân hữu cơ đến tuyến trùng nốt sưng (Meloidogyne Incognita) hại cà tím (Solanum Melongena L.) tại Lâm Đồng, Tạp chí Khoa học Kĩ thuật Nông Lâm Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng phân hữu cơ đến tuyến trùng nốt sưng (Meloidogyne Incognita) hại cà tím (Solanum Melongena L.) tại Lâm Đồng
Tác giả: Trần Thị Minh Loan, Phùng Nhộc Vằn, Nguyễn Văn Kết, Phạm Thị Vượng
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w