Từ ngữ tiếng Anh trên các phương tiện truyền thông tiếng Việt (từ tư liệu của một số báo mạng tiếng Việt)Từ ngữ tiếng Anh trên các phương tiện truyền thông tiếng Việt (từ tư liệu của một số báo mạng tiếng Việt)Từ ngữ tiếng Anh trên các phương tiện truyền thông tiếng Việt (từ tư liệu của một số báo mạng tiếng Việt)Từ ngữ tiếng Anh trên các phương tiện truyền thông tiếng Việt (từ tư liệu của một số báo mạng tiếng Việt)Từ ngữ tiếng Anh trên các phương tiện truyền thông tiếng Việt (từ tư liệu của một số báo mạng tiếng Việt)Từ ngữ tiếng Anh trên các phương tiện truyền thông tiếng Việt (từ tư liệu của một số báo mạng tiếng Việt)
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN MINH HÙNG
TỪ NGỮ TIẾNG ANH TRÊN CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG TIẾNG VIỆT (TỪ TƯ LIỆU CỦA MỘT SỐ BÁO MẠNG TIẾNG
VIỆT)
Ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 9229020
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS TS NGUYỄN VĂN KHANG
HÀ NỘI - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác Nội dung luận án có tham khảo và sửdụng ngữ liệu được trích dẫn từ các tác phẩm và nguồn tư liệu đăng tải trêncác trang thông tin điện tử theo danh mục tài liệu tham khảo của luận án
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trần Minh Hùng
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN 8
1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 8
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu hiện tượng từ ngữ vay mượn trên thế giới 8 1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu hiện tượng từ ngữ vay mượn ở Việt Nam và các từ ngữ Anh trên các phương tiện truyền thông 14
1.1.3 Nhận xét và hướng triển khai của luận án 24
1.2. Cơ sở lí thuyết của luận án 26
1.2.1 Cơ sở lí thuyết về vay mượn từ vựng 26
1.2.2 Tổng hợp về từ mượn và từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Việt 42
1.2.3 Một số vấn đề về chuẩn hóa ngôn ngữ 45
1.2.4 Một số vấn đề về báo mạng tiếng Việt 51
1.3. Tiểu kết 54
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ NGỮ TIẾNG ANH TRÊN MỘT SỐ BÁO MẠNG TIẾNG VIỆT 56
2.1. Đặt vấn đề 56
2.2 Đ ặc điểm về hình thức xuất hiện từ ngữ tiếng Anh trên một số báo mạng tiếng Việt 57
2.2.1. Sử dụng nguyên dạng từ ngữ tiếng Anh 58
2.2.2. Phiên (Phiên chuyển) 64
2.2.3. Rút gọn âm tiết 69
2.2.4. Viết tắt 70
2.2.5. Nhận xét 72
2.3. Đặc điểm nghĩa của các từ ngữ tiếng Anh trên báo mạng tiếng Việt 74
2.3.1. Đặc điểm chung 74
2.3.2. Giữ nguyên nghĩa 78
2.3.3. Biến động nghĩa 79
2.4. Đặc điểm từ loại của các từ ngữ tiếng Anh trên báo mạng 85
2.5. Đặc điểm của các cụm từ tiếng Anh trên báo mạng 87
Trang 42.6. Tiểu kết 91
CHƯƠNG 3: TỪ NGỮ TIẾNG ANH TRÊN BÁO MẠNG TIẾNG VIỆT VỚI VIỆC GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT 93
3.1. Những vấn đề chung về “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” 93
3.1.1. Đặt vấn đề 93
3.1.2 K hái niệm và nội dung của khái niệm “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” 94 3.1.3. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt với chuẩn hóa tiếng Việt 97
3.1.4. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt đối với từ ngữ vay mượn 97
3.1.5 V ấn đề đặt ra về giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt đối với từ ngữ vay mượn
99 3.2 Cá c văn bản quy định liên quan đến việc sử dụng từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Việt 100
3.2.1. Các văn bản quy định 100
3.2.2. Nhận xét 107
3.3 Kh ảo sát ý kiến xung quanh việc sử dụng từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Việt và trên báo mạng tiếng Việt 111
3.3.1. Giới hạn khảo sát 111
3.3.2. Các khảo sát cụ thể 112
3.3.3. Khảo sát các ý kiến của những người liên quan 120
3.4. Nhận xét và kiến nghị đề xuất 136
3.4.1. Nhận xét 136
3.4.2. Kiến nghị đề xuất 138
3.5. Tiểu kết 143
KẾT LUẬN 146
TÀI LIỆU THAM KHẢO 149
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 163
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 163 PHỤ LỤC
Trang 5CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
1 CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Từ ngữ tiếng Anh nguyên dạng không dịch nghĩa 60
Bảng 2.2 Từ ngữ tiếng Anh nguyên dạng có dịch nghĩa 63
Bảng 2.3 Tổng hợp hình thức của từ tiếng Anh trên báo mạng
Bảng 2.4 Các cụm từ tiếng Anh trên báo mạng tiếng Việt 87
Bảng 3.1 Lựa chọn cách viết của các từ tiếng Anh trên báo mạng
Bảng 3.2 Lựa chọn cách viết của các từ tiếng Anh trên báo mạng
2 CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Từ ngữ tiếng Anh nguyên dạng không dịch nghĩa 60
Biểu đồ 2.2 Từ ngữ tiếng Anh nguyên dạng có dịch nghĩa 64
Biểu đồ 2.3 Tỉ lệ sử dụng cụm từ tiếng Anh trên báo mạng
Biểu đồ 2.4 Tỉ lệ sử dụng cụm từ tiếng Anh trong các chuyên mục
Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ lựa chọn cách viết của từ tiếng Anh trên báo mạng
Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ lựa chọn cách viết của từ tiếng Anh trên báo mạng
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong các nguồn bổ sung từ vựng cho một ngôn ngữ, bên cạnh các
phương thức tạo từ mang tính nội lực thì vay mượn với tư cáchngoại lực là một nguồn bổ sung có vai trò hết sức quan trọng Vìthế, vay mượn từ vựng trở thành hiện tượng phổ biến của mọi ngônngữ Có thể nói, hầu như không có vốn từ của một ngôn ngữ nàolại không có các từ ngữ vay mượn Tuy nhiên, mặc dù là cùng mộthiện tượng vay mượn từ ngữ nhưng có sự khác nhau giữa các ngônngữ ở lí do vay mượn, nguồn vay mượn (ngôn ngữ cho vay), sốlượng từ ngữ vay mượn, con đường vay mượn và cách xử lí các từngữ vay mượn, v.v Ngay trong một ngôn ngữ thì cũng có cách ứng
xử khác nhau đối với các từ ngữ vay mượn từ các nguồn ngôn ngữkhác nhau, thậm chí ở các thời kì khác nhau, ở các nhóm xã hộikhác nhau đối với cùng một ngôn ngữ đi vay
1.2 Nằm trong quy luật trên, trong vốn từ vựng của tiếng Việt có một
số lượng không nhỏ các từ ngữ vay mượn Các nguyên nhân về xãhội như chính trị, chiến tranh, giao thương cũng như giao lưu vănhóa và các nguyên nhân về ngôn ngữ như sự tiếp xúc trực tiếp hoặcgián tiếp giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác, đã làm cho có sựxuất hiện các từ ngữ nước ngoài trong tiếng Việt Trong số đó, cómột số lượng không nhỏ các đơn vị từ vựng đã được Việt hóa, trởthành những từ ngữ Việt gốc ngoại; một số khác thì vẫn “chântrong chân ngoài”, tức là chỉ được Việt hóa một phần, hoặc đượcdùng mang tính lâm thời mà chưa Việt hóa
Tạm gác lại vấn đề tiếng Việt lịch sử liên quan đến cội nguồn của tiếngViệt, nhắc đến từ ngữ mượn hiện nay trong tiếng Việt là nhắc đến ba nguồn
Trang 72vay mượn chủ yếu: nguồn từ ngữ mượn từ tiếng Hán mà trung tâm là từ ngữ
Trang 8Hán - Việt, nguồn từ vựng mượn từ tiếng Pháp và nguồn từ vựng mượn từtiếng Anh.
1.3 Tiếng Anh hiện nay đang nổi lên với tư cách là ngôn ngữ giao tiếp
quốc tế với trên 85% thông tin trên thế giới bằng ngôn ngữ này.Nhất là từ đầu thế kỷ XXI đến nay, tiếng Anh đang như một cơnlốc tràn vào tất cả các ngôn ngữ trên thế giới và theo đó là các từngữ Anh được sử dụng trong các ngôn ngữ Tiếng Việt cũng nằmtrong vòng xoáy đó Các từ ngữ tiếng Anh xuất hiện ngày mộtnhiều, liên tục và đi vào mọi ngõ ngách của đời sống tiếng Việthiện nay
Một trong những lí do cơ bản để cho từ ngữ tiếng Anh được sử dụngnhiều trong tiếng Việt hiện nay là vai trò của truyền thông, trong đó có báomạng (hay còn gọi là báo online) Điều đáng chú ý là, vì báo mạng là báo cậpnhật tin tức nhanh nhất cho nên cách tiếp nhận và xử lí thông tin nói chung,trong đó có việc xử lí ngôn ngữ, cụ thể là các từ ngữ mượn (tiếng Anh) cũngchịu áp lực của thời gian đưa tin (nhanh nhất) và không gian đưa tin (khônggian mạng) Đây là lí do dẫn đến nhiều cách tiếp nhận và xử lí khác nhau đốivới các từ ngữ tiếng Anh Hệ quả là, các từ ngữ tiếng Anh xuất hiện trongtiếng Việt ở nhiều dạng biến thể như biến thể cách viết, biến thể cách đọc,
biển thể cách dùng Đây chính là lí do chúng tôi chọn “Từ ngữ tiếng Anh trên các phương tiện truyền thông tiếng Việt (từ tư liệu của một số báo mạng tiếng Việt)” làm đề tài luận án.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu, khảo sát đặc điểm của việc sử dụng từ ngữ tiếngAnh trên các báo mạng hiện nay, đồng thời lí giải các nhân tố ngôn ngữ - xãhội tác động đến việc sử dụng chúng Từ đó, luận án góp phần vào nghiên cứuvấn đề từ ngữ mượn nói riêng, tiếp xúc ngôn ngữ nói chung từ góc độ ngôn
Trang 9ngữ học xã hội; góp phần vào giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và chuẩn hóa tiếng Việt.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích trên, luận án đề ra nhiệm vụ như sau:
2.1 Tổng quan có đánh giá, nhận xét những nội dung nghiên cứu liên quan đến đềtài luận án;
2.2 Xây dựng cơ sở lí thuyết để làm cơ sở triển khai luận án;
2.3 Nghiên cứu, khảo sát thực trạng, đặc điểm của các từ ngữ tiếng Anh được sử dụng trên một số báo mạng;
2.4 Nghiên cứu, khảo sát thái độ ngôn ngữ của các tầng lớp xã hội đối với việc sửdụng các từ ngữ tiếng Anh được dùng trên các báo mạng;
2.5 Lí giải và đề xuất kiến nghị việc sử dụng các từ ngữ tiếng Anh trên các báo mạng gắn với việc giữ gìn sự trong sáng và chuẩn hóa tiếng Việt
3 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một số phương pháp sau:
3.1 Phương pháp thống kê ngôn ngữ học.
Phương pháp này dùng để thống kê các từ ngữ tiếng Anh xuất hiện trênmột số báo mạng tiếng Việt, chỉ ra số lượng cũng như tần suất xuất hiện củachúng Cụ thể: tiến hành thống kê các từ ngữ tiếng Anh xuất hiện trên một sốbáo mạng nhưng không phải bằng cách ghi lại các từ ngữ đơn lẻ mà ghi trọnvẹn cả câu, tức là ngữ cảnh xuất hiện của chúng Việc ghi bối cảnh xuất hiệnnhư vậy sẽ giúp cho việc giải thích vì sao các từ ngữ tiếng Anh này lại đượcxuất hiện (do tiếng Việt chưa có từ biểu thị hay xuất hiện với tư cách là mộtthuật ngữ mang tính quốc tế hay nhằm nhấn mạnh, ) Đồng thời, việc ghitrọn vẹn ngữ cảnh sẽ giúp cho việc giải thích lí do vì sao từ ngữ tiếng Anhnày lại xuất hiện ở dạng nguyên dạng, từ ngữ tiếng Anh kia lại xuất hiện ở
Trang 10dạng biến thể như phiên âm, có khi là xuất hiện vừa ở dạng phiên âm vừanguyên dạng,
3.2 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học.
Phương pháp này dùng để miêu tả đặc điểm về hình thức (hình thái, cấutrúc) cũng như đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ tiếng Anh được sử dụng trênmột số báo mạng tiếng Việt Cụ thể: các từ ngữ tiếng Anh xuất hiện trên báomạng tiếng Việt có giữ nguyên hình thái cấu trúc như trong nguyên ngữ hay
đã thay đổi theo đặc điểm cấu trúc hình thái của từ tiếng Việt; các từ ngữtiếng Anh xuất hiện trên báo mạng tiếng Việt có giữ nguyên nghĩa như trongtiếng Anh hay đã thay đổi và mức độ của sự thay đổi trong nội bộ một từ cũngnhư giữa các từ ngữ với nhau
3.3 Phương pháp điều tra của ngôn ngữ học xã hội.
Phương pháp này chủ yếu được sử dụng ở chương 3 để xem xét “thái
độ ngôn ngữ”, hay nói một cách giản dị là ý kiến của người đọc/độc giả đốivới việc sử dụng từ ngữ tiếng Anh trên báo mạng
- Sử dụng các câu hỏi đóng và câu hỏi mở thăm dò ý kiến của người sử dụngđồng ý hay phản đối, thích hay không thích cách sử dụng các từ ngữ tiếngAnh trên báo mạng
- Thực hiện phỏng vấn sâu để có được câu trả lời rõ ràng cũng như nêu được lí
do về ý kiến của người sử dụng đối với các từ ngữ tiếng Anh xuất hiện trênbáo mạng
Cùng với các phương pháp nêu trên, luận án còn sử dụng một sốphương pháp và các thủ pháp quen thuộc trong nghiên cứu như diễn, dịch,quy nạp Luận án cũng sử dụng cách tiếp cận liên ngành, các tri thức về vănhóa, xã hội để nghiên cứu việc sử dụng các từ ngữ tiếng Anh trên báo mạng
4 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu
Đối tượng là các từ ngữ tiếng Anh được dùng trên một số báo mạng hiện nay
Trang 11Phạm vi và tư liệu được giới hạn trong một số trang báo như Dân trí,Vnexpress, Báo mới và một số báo mạng khác từ năm 2013 trở lại đây.
Sở dĩ chúng tôi tập trung vào ba tờ báo mạng này là vì: đây là những tờbáo mạng thuần túy, tức là không có báo giấy đi kèm nên các bài viết trong ba
tờ báo này ít nhiều không chịu ảnh hưởng của báo giấy Tuy nhiên, cũng khótránh khỏi điều này Chẳng hạn, Báo mới là tờ đưa tin khá tổng hợp, dẫn từnhiều nguồn thông tin khác nhau, nên rất có thể có một số bài “có nguồn gốc”
từ báo giấy
Do nguồn tư liệu được thu thập trên các báo mạng số lượng khá lớn nênchúng tôi tiến hành thu thập theo cách chọn mẫu chủ ý có kết hợp với ngẫunhiên Cụ thể: theo quan sát của chúng tôi, các từ ngữ tiếng Anh xuất hiệntrên báo mạng tập trung vào một số lĩnh vực lớn như: khoa học công nghệ, thểthao, kinh doanh, giáo dục, giải trí, du lịch Vì thế, cùng với việc thống kêtheo chiều rộng, chúng tôi tập trung vào thống kê các từ ngữ tiếng Anh xuấthiện thường xuyên trong một số chuyên mục này
5 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
5.1 Ý nghĩa lí luận
Kết quả của việc khảo sát, nghiên cứu các từ ngữ tiếng Anh xuất hiệntrên báo hiện nay góp phần vào lí luận tiếp xúc ngôn ngữ và hệ quả của sựutiếp xúc này Như đã biết, thế giới hiện nay có xu hướng là thế giới của đangữ do quá trình toàn cầu hóa, trong đó di dân là một tác nhân quan trọng.Đây chính là điều kiện thuận lợi để các ngôn ngữ tiếp xúc với nhau Khi cácngôn ngữ tiếp xúc với nhau thì hệ quả của chúng là rất lớn, tác động khôngchỉ đến hệ thống cấu trúc của mỗi ngôn ngữ mà còn đến cả các vấn đề củagiao tiếp Nếu như trước đây, ngôn ngữ học cấu trúc luận chỉ chú ý đến cácnội dung của cấu trúc hệ thống thì ngày nay, ngôn ngữ trong sử dụng được
Trang 12đặc biệt chú ý Vì thế, thiết nghĩ kết quả nghiên cứu khảo sát từ ngữ tiếng Anhđược sử dụng trên báo mạng tiếng Việt góp phần minh chứng, làm rõ thêmmột số vấn đề lí thuyết này.
Kết quả này cũng góp phần vào lí luận của ngôn ngữ học xã hội, tức là,
sự tác động của nhân tố xã hội đối với việc sử dụng ngôn ngữ Đối với xã hộihiện nay thì đó là nhân tố toàn cầu hóa với vai trò của tiếng Anh đối với tất cảcác ngôn ngữ nói chung, tiếng Việt nói riêng Một cách cụ thể hơn, toàn cầuhóa đang góp phần mở rộng chức năng của tiếng Anh, theo đó, các yếu tố củatiếng Anh, trong đó có từ vựng đang tác động mạnh vào các ngôn ngữ trên thếgiới
6 Cấu trúc của luận án
Luận án, ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục,được cấu trúc thành 3 chương:
Trang 13Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của luận án
Chương này, trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu về từ ngữ vaymượn, xây dựng cơ sở lí thuyết cho luận án Các nội dung lí thuyết tập trungvào lí thuyết vay mượn từ vựng và chuẩn hóa ngôn ngữ liên quan đến việc xử
lí, tiếp nhận từ ngữ nước ngoài trong ngôn ngữ nói chung, tiếng Việt nóiriêng Đồng thời, chương này cũng dành một phần giới thiệu về đặc trưng vàđặc điểm ngôn ngữ của báo mạng nói chung, trong đó có các báo mà luận ánthống kê tư liệu
Chương 2 Đặc điểm từ ngữ tiếng Anh trên báo mạng tiếng Việt
Chương này, từ tư liệu thống kê được tiến hành phân loại, tổng hợp các
từ ngữ mượn từ tiếng Anh; chỉ ra thực trạng cách dùng chúng trên các trangbáo này từ các góc độ ngữ âm - chính tả, ngữ nghĩa, từ loại; chỉ ra các biếnthể từ ngữ tiếng Anh trên báo mạng hiện nay, đồng thời lí giải lí do của việc
xử lí chúng
Chương 3 Từ ngữ tiếng Anh trên báo mạng với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Chương này khảo sát ý kiến hay nói theo cách của ngôn ngữ học xã hội
là thái độ ngôn ngữ của các tầng lớp xã hội đối với việc sử dụng từ ngữ nướcngoài trên báo mạng Từ việc phân tích những cái “được”, “mất” của mỗicách sử dụng, luận án đề xuất một số giải pháp cho việc sử dụng từ ngữ tiếngAnh trên báo mạng nói riêng, trong tiếng Việt nói chung
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu hiện tượng từ ngữ vay mượn trên thế giới
a Khẳng định “có lẽ không có ngôn ngữ nào trên thế giới hoàn toànkhông có các từ mượn", các nhà nghiên cứu cho rằng, khi các ngôn ngữ tiếpxúc với nhau thì tất phải vay mượn của nhau Sự vay mượn có thể diễn ra ởmọi bình diện ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, ở mọi cấp độ của ngôn ngữ (cấp độdưới từ, cấp độ từ, cấp độ trên từ) Tuy nhiên, trong các bình diện vay mượn,
sự vay mượn từ vựng là “phổ biến nhất” Chẳng hạn:
Trong vốn từ của tiếng Anh có rất nhiều từ ngữ vay mượn Thống kêgần đây cho thấy, trong tiếng Anh: các từ ngữ mượn từ tiếng Latinh chiếmkhoảng 29%, mượn từ tiếng Pháp chiếm 29%, mượn từ tiếng Đức chiếmkhoảng 26%, mượn từ tiếng Hy Lạp 6%, mượn từ các ngôn ngữ khác khoảng10% [nguồn: Wikipedia]
Bối cảnh xã hội cũng tác động mạnh đến sự vay mượn từ ngữ trongtiếng Anh Chẳng hạn, lùi lại lịch sử cho thấy, vào những năm 1500, 1600,
1700, trong tiếng Anh có các từ ngữ mượn từ tiếng Italia, tiếng Tây Ban Nha,tiếng Hà Lan; vào những năm 1800, các từ ngữ của tiếng Latinh, tiếng Pháp,tiếng Hy lạp, tiếng Đức nhập vào tiếng Anh; còn ngày nay lại thấy xuất hiệncác từ ngữ tiếng Nhật, ví dụ: judo, sushi, tsunami “sóng thần” Đây là lí dogiải thích vì sao R.L.Track đưa ra nhận xét thú vị về hiện tượng vay mượn từngữ trong tiếng Anh "người nói tiếng Anh thuộc về trong số những người
mượn nhiệt tình nhất (the most enthusiastic borrowers) từ ngữ của các dân tộc
Trang 15trên thế giới"; "Nếu như giở một trang bất kì của cuốn từ điển tiếng Anhnhằm chỉ ra nguồn gốc của từ, bạn có thể khám phá ra quá già nửa các từ cónguồn gốc từ ngôn ngữ khác" [Dẫn theo 52].
gốc từ tiếng Ba Tư cổ Šer: 狮子(sư tử).
Các từ ngữ Phật giáo có nguồn gốc từ tiếng Phạn: 阿 弥 驼 佛 弥 驼 佛 驼 佛 佛 A di đà phật (Amitàbha), 菩萨 Bồ tát (Bodhisattva), 阎王 Diêm vương (Yama-ràja)
b Xung quanh vấn đề vay mượn, các tác giả như Haugen Einar, Grzega Joachim(2003) Weinreich Uriel (1953), Zuckerman Ghil (2003), [121] đã đưa ranhiều vấn đề, nội dung nghiên cứu khảo sát Có thể quy thành thành 5 câu hỏilớn như sau:
(i) Khái niệm thế nào là từ mượn? Làm thế nào để có thể phân biệt với các hiệntượng khác như là chuyển mã hay trộn mã?
(ii)Vì sao phải vay mượn từ ngữ?
(iii) Làm thế nào để cho các từ ngữ mượn có thể thích nghi với ngônngữ đi vay về ngữ âm, ngữ pháp (hình thái - cấu trúc) và ngữ nghĩa?
(iv) Làm thể nào để cho các từ ngữ mượn có thể phát triển ở các ngônngữ đi vay?
Trang 16(v)Vai trò của các nhân tố ngoài ngôn ngữ đối với các từ ngữ mượn như bối cảnhchính trị xã hội, thái độ ngôn ngữ của cộng đồng,
Trên đây là những câu hỏi chung cho mọi ngôn ngữ khi xử lí các từ vaymượn Còn cách xử lí ra sao thì lại phụ thuộc vào từng ngôn ngữ
Có thể tóm tắt những nội dung đã và đang được nghiên cứu về từ vaymượn như sau:
Thứ nhất, các tác giả tập trung vào làm rõ các khái niệm như: Alien word, Borrowed/borrowing word, Foreign word, Hybrid word, Loan word, Loan blends, Loan translation/calque.
Alien word: chỉ các từ ngữ đến từ ngôn ngữ khác nói chung.
Borrowed/borrowing word: chỉ những từ ngữ được mượn từ ngôn ngữ
khác bằng cách để nguyên dạng hay đã thay đổi ít nhiều
Foreign word: chỉ các từ ngữ đến từ ngôn ngữ khác.
Hybrid word: chỉ các từ ngữ hình thành từ các thành phần có nguồn gốc
từ ngôn ngữ cho vay và ngôn ngữ đi vay
Loan word: là những từ ngữ được mượn từ ngôn ngữ khác bằng cách
dịch âm, phỏng âm
Loan blend: là những từ ngữ được mượn từ ngôn ngữ khác bằng cách
pha giữa một phần ngữ âm mượn và một phần ngữ âm của ngôn ngữ đi vay
Loan translation/calque: là những từ ngữ được mượn từ ngôn ngữ khác
Trang 17Về nhân tố xã hội, đáng chú ý là ý kiến của E.Sapir: "Cũng như các nềnvăn hoá, các ngôn ngữ ít khi tự chúng đã đầy đủ"; "nhu cầu giao lưu đã khiếncho những người nói một ngôn ngữ nào đó tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp vớinhững người nói những ngôn ngữ lân cận hay có ưu thế về mặt văn hoá Sựgiao lưu có thể có tính chất hữu nghị hay thù địch Nó có thể diễn ra trên bìnhdiện bình thường của những quan hệ kinh doanh hay buôn bán, hoặc có thể làmột sự vay mượn hay trao đổi những giá trị tinh thần, nghệ thuật, khoa học,tôn giáo" [140, tr 237].
Về nhân tố ngôn ngữ, в.и.беликов và л.б.николский cho rằng, vaymượn từ vựng có thể diễn ra do thiếu thì vay nhưng cũng có thể là có nhưngvẫn vay [Dẫn theo 52] Theo đồng tác giả, hiện tượng này chỉ bắt gặp ở cácngôn ngữ phương Đông như tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Việt Lí do là vì,các ngôn ngữ phương Đông trước đây như tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Việtchỉ là các ngôn ngữ thấp (L) so với tiếng Hán là ngôn ngữ cao (H), do vậy,trong các ngôn ngữ này rất thích mượn các từ ngữ của tiếng Hán mặc dù đã có
[Dẫn theo 52, tr 23]
Trang 18Ngày nay, hiện tượng “có từ ngữ biểu thị rồi mà vẫn còn vay mượn, sửdụng từ ngữ của ngôn ngữ khác” xem ra càng ngày càng phổ biến Chẳng hạn,trong tiếng Việt, có nhiều khái niệm đã có từ biểu thị và trở nên rất quenthuộc với người Việt nhưng vẫn sử dụng từ tiếng Anh Ví dụ:
chất lượng quốc gia – national accreditation
“Mũ nồi (beret) có cú trở lại ngoạn mục, thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa thời trang và xã hội”.
(12 trào lưu mốt thống trị đường phố năm qua,
Vnexpress, 23/12/2017)
“Chìa khóa dẫn tới thành công khi học tiếng Anh chính
là “vocabulary” (từ vựng) ”.
(Bạn đã tìm ra bí kíp học tiếng Anh đúng cách chưa?
Trang 19mượn ở các bình diện ngữ âm, ngữ pháp (hình thái), ngữ nghĩa và chữ viết.Chẳng hạn:
Trang 20Về ngữ âm, các từ ngữ được vay mượn phải đồng hóa về ngữ âm saocho phù hợp với ngữ âm của ngôn ngữ đi vay Ví dụ:
Tiếng Nhật không có âm /v/ nên các từ ngữ nước ngoài có âm /v/ đều
chuyển thành /b/, ví dụ: video thành bideo; 文 化 化 wen hua (văn hóa) thành bunka).
Về hình thái, các từ ngữ vay mượn phải thay đổi hình thái sao cho phùhợp với ngôn ngữ đi vay Ví dụ:
Các từ tiếng Anh du nhập vào tiếng Đức phải thay đổi theo giống, số,cách:
weg: wege (số nhiều); blume: blumen (số nhiều); pilot: piloten (số
Thứ tư, các nghiên cứu tập trung vào vai trò của từ ngữ mượn trong các
ngôn ngữ Xung quanh vấn đề này có hàng loạt các câu hỏi đặt ra, chẳng hạnnhư, trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ thì mượn bao nhiêu từ ngữ? Mức
độ mượn đến đâu thì bị coi là “lạm dụng”, bị coi là ô nhiễm (language pollution; 语言污染)? Đây chính là một nội dung thường được nhắc đến
trong ngôn ngữ học xã hội của xã hội (ngôn ngữ học xã hội vĩ mô) mà trực
Trang 21tiếp là vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ - một nội dung của kế hoạch hóa bản thểngôn ngữ.
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu hiện tượng từ ngữ vay mượn
ở Việt Nam và các từ ngữ Anh trên các phương tiện truyền thông
1.1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu hiện tượng từ ngữ vay mượn ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hiện tượng vay mượn trở thành một nội dung lớn, xuyênsuốt lịch sử nghiên cứu tiếng Việt Được coi là một trong những hệ quả quantrọng của sự tiếp xúc giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác, từ ngữ vay mượntrong tiếng Việt thu hút được sự quan tâm đặc biệt của giới Việt ngữ học
a Từ góc độ nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, các nhà nghiên cứu như Nguyễn TàiCẩn [7], Trần Trí Dõi [20], Phan Ngọc, Phạm Đức Dương [68], Nguyễn NgọcSan [78], đã nghiên cứu sự tiếp xúc giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ Nam Á
và các từ ngữ của tiếng Việt có nguồn gốc từ các ngôn ngữ này Thông quamối quan hệ về ngữ âm lịch sử giữa các từ ngữ tiếng Việt với các ngôn ngữNam Á để tìm hiểu về cội nguồn của tiếng Việt Cũng liên quan đến lịch sửtiếng Việt, không thể không kể đến các công trình nghiên cứu về tiếp xúc Hán
- Việt để hình thành nên cách đọc Hán - Việt, một phần quan trọng của hệthống ngữ âm tiếng Việt của Wang Li/Vương Lực, Nguyễn Tài Cẩn Trongcông trình của mình, Vũ Đức Nghiệu [67] đã thu thập và chỉ ra được 362 từ
có nguồn gốc Việt - Mường, 145 từ có nguồn gốc Proto Việt - Mường, 520 từ
có nguồn gốc Proto Mon - Khmer và khoảng 90 từ có sự tương ứng với cácngôn ngữ Nam Á khác Xin được nhấn mạnh là, mặc dù, đây không phải làhướng nghiên cứu của luận án này, nhưng thiết nghĩ không thể không nhắcđến vì chúng liên quan đến các khái niệm về lí thuyết mà chúng tôi sẽ trìnhbày dưới đây
Trang 22b Liên quan đến hiện tượng vay mượn từ vựng trong tiếng Việt, các nghiên cứu đều tập trung vào 3 nguồn chính:
- Nguồn vay mượn từ tiếng Hán;
- Nguồn vay mượn từ tiếng Pháp;
- Nguồn vay mượn từ tiếng Anh
Các nội dung trên luôn luôn xuất hiện và trở thành một phần không thểthiếu trong các giáo trình cũng như chuyên khảo về từ vựng tiếng Việt nhưNguyễn Văn Tu (1976), Đỗ Hữu Châu (2005), Nguyễn Thiện Giáp (1985),Lưu Văn Lăng (1987), Nguyễn Như Ý (1989), Vũ Quang Hào (1991), BùiĐức Tịnh (1976), Phan Ngọc (1983), Nguyễn Đức Dân (1999),
Cho đến nay, có đến hàng trăm bài viết và nhiều luận án, luận văn,khóa luận về nội dung này Trong đó đáng chú ý là hai cuốn chuyên khảo:
"Từ ngoại lai trong tiếng Việt" của Nguyễn Văn Khang (2007) nghiên cứu
toàn diện cả ba nội dung về vay mượn từ vựng trong tiếng Hán, tiếng Pháp và
tiếng Anh; Từ gốc Pháp trong tiếng Việt của Vương Toàn (1992) nghiên cứu,
khảo sát về hiện tượng vay mượn từ vựng trong tiếng Pháp
Dưới đây, chúng tôi tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu các từngữ vay mượn từ ba nguồn này
Do khối lượng công trình nghiên cứu rất nhiều nên chúng tôi trình bàytổng quan theo nội dung vấn đề nghiên cứu và tập trung vào một số nội dunglớn
Một là, có thể nhận thấy, khi nghiên cứu về từ vay mượn trong tiếng
Việt, các nhà Việt ngữ học tập trung vào các nội dung chủ yếu như sau:
(i) Nghiên cứu khả năng Việt hóa của các từ mượn trong tiếng Việt ở các bình diện ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng - ngữ nghĩa
(ii)Nghiên cứu về khả năng hoạt động của các từ mượn ở cấp độ tạo từ cũng như
ở khả năng hoạt động độc lập
Trang 23(iii) Nghiên cứu sự tương ứng giữa từ ngữ mượn với các đơn vị tương đương trong tiếng Việt.
(iv) Nghiên cứu về vai trò của các từ mượn từ góc độ phong cách học.(v) Nghiên cứu các từ mượn trong tiếng Việt từ góc độ chuẩn hóa, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Hai là, xung quanh việc sử dụng thuật ngữ vẫn còn các ý kiến khác
nhau Hiện tiếng Việt đang sử dụng các thuật ngữ liên quan như: “từ mượn”,
“từ vay mượn”, “từ gốc ngoại”, “từ ngoại lai”, “từ thuần Việt” (Phan Văn Các(1981); Nguyễn Văn Khang (2007); Nguyễn Thiện Giáp (2015) Mặc dù cóthể là tên gọi giống nhau nhưng cách lí giải, quan niệm khác nhau, nhất làcách lí giải “từ thuần Việt” trong sự đối lập với “từ mượn” Chẳng hạn:
Nguyễn Thiện Giáp (2015) cho rằng: "Những từ gốc Hán cổ ( ) đã đivào khẩu ngữ của nhân dân, được nhân dân Việt Nam chấp nhận như lànhững yếu tố của tiếng Việt Như vậy, những từ gốc Nam Á, gốc Tày - Thái,gốc Nam Đảo, gốc Hán đã có mặt khi tiếng Việt hình thành thì đều được coi
là những từ thuần Việt Chỉ nên coi là từ mượn những từ mà tiếng Việt tiếpnhận của các ngôn ngữ khác sau khi tiếng Việt đã hình thành Đó chính lànhững từ ngữ mà tiếng Việt mượn của tiếng Hán, của các ngôn ngữ Ấn - Âu
và các ngôn ngữ khác Vấn đề đặt ra là, có nên đồng nhất từ mượn với từngoại lai, đối lập với từ thuần Việt được coi là từ bản ngữ hay không?" Tácgiả đã giải thích như sau: "Nếu xác định từ thuần Việt không chỉ căn cứ vàonguồn gốc mà căn cứ cả vào quá trình vận động và phát triển của tiếng Việtthì từ thuần Việt không đối lập với từ mượn mà đối lập với từ ngoại lai Từngoại lai trong tiếng Việt là những từ mượn của các ngôn ngữ khác nhưng vẫncòn giữ dấu ấn của ngoại ngữ Những từ mượn của ngôn ngữ khác nhưng có
sự đồng hóa cao thường được coi là từ bản ngữ, thuần Việt" [32]
Trang 24Nguyễn Văn Khang trong cuốn "Từ ngoại lai trong tiếng Việt" [52] cócách nhìn khác như sau:
- "Nhìn từ góc độ vay mượn từ vựng, vốn từ vựng của một ngôn ngữ, về líthuyết, sẽ được phân làm hai: những từ bản ngữ và những từ vay mượn Thuật
ngữ từ vay mượn, cũng vì thế, thường được dùng trong sự đối lập với từ bản ngữ Với cách nhìn này, về mặt lí thuyết, có thể hình dung hệ thống từ vựng tiếng Việt sẽ được lưỡng phân một bên là từ thuần Việt và một bên là từ vay mượn hay từ ngoại lai".
- Khái niệm “từ ngữ thuần Việt” được nhắc đến cũng là nhằm để đối lập vớikhái niệm “không thuần Việt”, “phi thuần Việt”, nói cách khác, đây là những
từ không phải gốc tiếng Việt Tuy nhiên, trên thực tế, rất khó có thể vạch rađược ranh giới này Cũng theo Nguyễn Văn Khang, liên quan đến nội dungnày, trong tiếng Việt còn sử dụng "từ gốc ngoại" hay "từ Việt gốc ngoại":cách dùng này để chỉ các đơn vị từ vựng của tiếng nước ngoài được du nhậpvào tiếng Việt (như các từ ngữ của tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh và một số
ít đơn vị từ ngữ tiếng Nga)
- Có thể xem xét các từ mượn trong tiếng Việt từ các góc độ khác nhau:+ Xét từ góc độ nguồn gốc: gồm các từ ngữ tiếng Việt gốc ngoại cónguồn gốc khác nhau
+ Xét từ góc độ sử dụng: gồm các từ ngữ được đồng hóa ở các mức độkhác nhau Nói cách khác, các từ mượn được Việt hóa ở các mức độ khácnhau
+ Xét từ góc độ thời kì vay mượn: gồm các từ ngữ tuy cùng một gốc mượn nhưng lại được vay mượn ở các thời kì khác nhau
+ Xét từ bình diện cấu trúc hệ thống: các từ vay mượn có thể phân loại thành các tiểu loại khác nhau
Trang 25+ Xét từ góc độ kiểu vay mượn: gồm các từ ngữ bảo lưu như trongnguyên ngữ và các từ ngữ thay đổi khác với nguyên ngữ.
Từ đó, Nguyễn Văn Khang đi đến nhận định rằng: "Điểm qua vài nétnhư trên để thấy bức tranh của từ mượn trong tiếng Việt rất đa dạng Có thể từnhiều góc độ khác nhau để tiếp cận từ mượn trong tiếng Việt" [52, tr 62-66]
Ba là, hiện tượng vay mượn từ ngữ trong tiếng Việt cũng giống như
phần lí thuyết nêu ở trên: từ ngữ mượn có thể mang khái niệm mới mà tiếngViệt chưa có từ ngữ biểu thị và có thể là các từ ngữ tiếng Việt đã có từ ngữbiểu thị Chứng minh và làm sâu sắc thêm cho quan điểm này, Nguyễn VănKhang (2007) đã đưa ra một thống kê thú vị về vay mượn các đơn vị Hántrong tiếng Việt:
- Những đơn vị Hán mang khái niệm mới mà tiếng Việt chưa có từ biểu thị chỉ
chiếm 15% Ví dụ: thánh-thánh, hiền-hiền, tiên-tiên, phật-phật.
- Những đơn vị mượn Hán mang khái niệm mà tiếng Việt đã có từ biểu thịchiếm tới 85% Đây chính là lí do tạo nên hiện tượng đồng nghĩa rất lớn trong
tiếng Việt Ví dụ: dài-trường, chó-cẩu, trăng-nguyệt-sóc-vọng, chết-tử- hi sinh-mãn cảnh trần, cây-thụ,
Bốn là, đối với từ ngữ mượn Hán:
Trong các hiện tượng vay mượn từ ngữ thì vay mượn từ ngữ tiếng Hán
là phức tạp nhất và được nghiên cứu nhiều nhất Lí do là vì, các từ ngữ mượnHán trong tiếng Việt "vừa nhiều vừa đa dạng về số lượng, phong phú về chấtlượng", "hoạt động trong tiếng Việt hiện đại ở tất cả cấp độ", "tham gia vàocác phong cách chức năng giao tiếp tiếng Việt, hòa nhập vào tiếng Việt thànhcác tầng các lớp"; "có tầng nổi lên trên bề mặt có thể dễ dàng bóc tách riêng
ra được, lại có tầng phải nhờ đến thao tác ngôn ngữ học lịch sử mới có thể chỉ
ra được, nhưng lại có cả những tầng mà cho đến nay vẫn là những điều bí ẩnchưa thể khám phá" [52, tr 67]
Trang 26(i) Thảo luận và làm rõ các khái niệm cũng như cách phân loại từ mượn Hántrong tiếng Việt Có thể thấy, xung quanh cách gọi và phân loại từ mượn Háncòn có những cách nhìn khác nhau, chẳng hạn, các tác giả đã phân loại theocách gọi tên như sau: từ gốc Hán, từ mượn Hán (Phan Văn Các, 1981); từ gốcHán trong tiếng Việt với các từ Hán đọc theo âm Hán - Việt của NguyễnThiện Giáp (1985); nhóm Hán Việt cổ, nhóm Hán - Việt và nhóm từ mượnqua tiếng địa phương (Nguyễn Văn Thạc, 1968); từ Hán cổ, từ gốc Hán mượncủa đời Đường, từ gốc Hán đã Việt hoá (Nguyễn Văn Tu, 1976); từ tiền Hán -Việt, từ Hán - Việt, từ hậu Hán - Việt (Nguyễn Quang Hồng, 1994); Cáccách gọi khác nhau này không phải chỉ để gọi tên mà bao hàm cả quan niệm,cách ứng xử đối với các từ mượn Hán.
(ii) Qua cách gọi tên ở trên cũng như cách nhìn nhận về từ ngữ mượnHán, các tác giả đều cho rằng, từ ngữ Hán - Việt là bộ phận quan trọng nhấtcủa từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán, vì thế, các nội dung nghiên cứuđều hướng vào Hán - Việt Có thể tổng hợp các nội dung và kết quả nghiêncứu về từ ngữ Hán - Việt như sau:
- Phân biệt giữa từ Hán - Việt (những từ Hán - Việt đã và đang được dùngtrong tiếng việt) và từ Hán chỉ có cách đọc Hán - Việt (chưa được nhập vàotiếng Việt) Như vậy, chỉ khi nào các từ Hán có cách đọc Hán - Việt đượcdùng trong tiếng Việt mới được coi là từ Hán - Việt Còn các từ Hán chỉ cócách đọc Hán - Việt chưa được nhập vào tiếng Việt sẽ có tiềm năng trở thành
từ Hán - Việt khi có điều kiện
- Từ ngữ Hán - Việt được nghiên cứu từ các góc độ khác nhau, như: từ góc độnguồn gốc tìm hiểu lịch sử của từ Hán - Việt; từ góc độ thời gian của sự vaymượn để tìm hiểu tác động của bối cảnh xã hội đối với từ ngữ Hán - Việt; từgóc độ con đường vay mượn để thấy được việc tạo ra các biến thể Hán - Việttrong tiếng Việt; từ góc độ đồng hóa để thấy được khả năng Việt
Trang 27hóa của các từ ngữ Hán - Việt; từ góc độ sử dụng, từ góc độ chức năng đểthấy được vai trò của từ ngữ Hán - Việt trong tiếng Việt.
Khả năng Việt hóa các bình diện ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, như: ởbình diện ngữ âm là khả năng tạo ra các biến thể Hán - Việt do tác động củayếu tố phương ngữ; ở bình diện nội dung của các từ ngữ Hán - Việt là khảnăng giữ nguyên nghĩa hay thay đổi, phát triển nghĩa; sự phân bố lại nghĩa khigặp các từ đồng nghĩa
Các từ Hán - Việt đã thay đổi nghĩa so với nghĩa trong tiếng Hán:
khốn nạn 困难 trong tiếng Hán có nghĩa là "khó khăn"; vì trong tiếng Việt đã có khó khăn nên khốn nạn có nghĩa là “có nhân cách kém, tồi”.
cốt 骨 trong tiếng Hán có nghĩa là "xương"; vì trong tiếng Việt đã có
xương nên cốt có nghĩa là “xương của người, động vật đã chết từ lâu”.
thuyết 说 trong tiếng Hán có nghĩa là "nói"; vì trong tiếng Việt đã có
nói nên thuyết có nghĩa là “giảng giải, nói lí lẽ để người ta nghe theo”.
tử tế 仔细 trong tiếng Hán có nghĩa là “tỉ mỉ”; vì trong tiếng Việt đã có
tỉ mỉ nên tử tế có nghĩa là “đứng đắn, đàng hoàng trong việc làm, hành xử”.
Ở bình diện diện ngữ pháp: giữ nguyên cương vị là từ hoặc thay đổicương vị ngữ pháp, tức là chuyển từ cương vị từ xuống cương vị hình vị Ví
dụ: nhân (người), bất (không), thụ (cây), hà (sông) trong tiếng Việt chỉ là yếu
tố tạo từ (nếu có dùng độc lập thì cũng chỉ mang tính lâm thời)
Trang 28- Các từ ngữ Hán - Việt có phong cách chức năng khác nhau, như: có sắc tháitrang trọng, khái quát, trừu tượng, do đó, thường được dùng trong ngôn ngữvăn chương, trong cấu tạo thuật ngữ.
- Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt khi sử dụng từ Hán - Việt: sử dụng đúng
từ Hán - Việt, tránh lạm dụng từ Hán - Việt
Năm là, đối với các từ ngữ mượn Ấn - Âu
Đối với từ ngữ mượn Ấn - Âu, gồm từ ngữ mượn của tiếng Pháp và từngữ mượn của tiếng Anh, các tác giả như Vương Toàn, Nguyễn Đức Dân, LêVăn Thới, Lê Quang Thiêm, Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Thúy Nga, ĐỗPhương Lâm, tập trung vào nghiên cứu các vấn đề như sau:
(i) Các cách vay mượn từ ngữ Ấn - Âu, gồm:
- Phiên chuyển Ví dụ:
xắc-cốt/xà-cột: sacoche, xốt-vang: sauce au vin, áp-phe: affaire, xiếc: cirque); cao bồi (cowboy), số (show).
- Dịch sang tiếng Việt Ví dụ:
đường sắt: chemin de fer; phớt ăng-lê/phớt tỉnh ăng-lê: Le flegme
d'anglais), giết thì giờ: tuer le temps); vay bắc cầu: bridge loan; nút cổ chai:
bottle neck
(ii) Cách Việt hóa ngữ âm đối với các từ Ấn - Âu Do sự khác nhau vềđặc điểm loại hình học, nên không ít các từ ngữ tiếng Pháp, tiếngAnh khi sử dụng trong tiếng Việt đã được Việt hóa theo cấu trúc âmtiết của tiếng Việt [Vương Toàn, 1992; Nguyễn Văn Khang, 2007;
Đỗ Phương Lâm, 2017] Đó là xu hướng rút gọn cấu trúc âm tiết của
từ như đơn tiết hóa, song tiết hóa:
-Những từ có cấu trúc ngữ âm ngắn được rút gọn thành từ đơn tiếngViệt Ví dụ:
bombe: bom
pompe:
Trang 29bơm
Trang 30container: công (đầu công, xe công)
copy: cóp (sao chép dữ liệu).
-Rút gọn các từ đa tiết thành song tiết Ví dụ:
Caleçon: xà lỏn
remote control: rì mù (cái điều khiển từ xa).
(iii) Gán thanh điệu cho các âm tiết Các ngôn ngữ Ấn - Âu không cóthanh điệu trong khi tiếng Việt lại có 6 thanh Vì thế, các từ ngữ tiếngPháp, tiếng Anh đã được gán thêm thanh điệu cho các âm tiết Ví dụ:
+ Các từ ngữ mượn Pháp có nội dung ngữ nghĩa liên quan đến: trangphục, trang điểm, xây dựng, nhà cửa, đời sống văn hoá (như nghệ thuật, âmnhạc, giải trí), phương tiện giao thông, in ấn, chiến tranh, giáo dục, y học, Giải thích điều này, Nguyễn Văn Khang cho rằng, "các từ Pháp xuất hiện khi
mà trong tiếng Việt đã có một lượng lớn các từ Hán - Việt Vì thế, các từ
Trang 31Pháp nhập vào tiếng Việt chủ yếu chỉ các khái niệm mới về lối sống, văn hóa,văn minh của Pháp nói riêng, của phương Tây nói chung" [52].
+ Các từ ngữ mượn Anh có nội dung ngữ nghĩa liên quan đến: giải trí(gồm âm nhạc, điện ảnh, thể thao), công nghệ điện tử - viễn thông - thông tin,trang phục, thời trang, ẩm thực, kinh tế thị trường,
1.1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu hiện tượng các từ ngữ tiếng Anh trên các
phương tiện truyền thông
Cho đến nay, đã có không ít công trình nghiên cứu các từ ngữ tiếngAnh được sử dụng trong tiếng Việt gồm các bài viết, chương sách, luận văn
và một phần trong các luận án Đáng chú ý là các công trình như: NguyễnThiện Giáp (2000), Nguyễn Văn Khang (2000), Nguyễn Thúy Nga (2013),Nguyễn Tài Thái (2013), Vương Toàn (2013), Đỗ Thùy Trang (2015), TrầnVăn Phước (2017), Trần Thị Thu Hà (2017) Dưới đây, chúng tôi xin nêu một
số kết quả và kết luận liên quan trực tiếp đến các từ ngữ tiếng Anh sử dụngtrên báo mạng:
- Các từ ngữ tiếng Anh hiện được sử dụng khá phổ biến trên báo và ở nhiềuchuyên mục: “Các lĩnh vực có nhiều từ tiếng Anh được sử dụng nhất phải kểđến là các lĩnh vực âm nhạc, thể thao, công nghệ thông tin hoặc các ngànhkhoa học Những từ tiếng Anh này, một phần làm phong phú và sinh độngcho nội dung bài viết, mặt khác cũng cho thấy xu hướng quốc tế hóa đang dầndần hình thành trong đời sống của người Việt Nam” [84, tr 817]
- Có 4 cách viết: 1/Viết theo nguyên dạng (viết nguyên dạng không chú thíchtiếng Việt và viết nguyên dạng có chú thích tiếng Việt); 2/Viết theo cách đọc/phỏng âm (viết theo chính tả tiếng Việt: ma két tinh, viết có gạch nối); 3/ Rútgọn từ tiếng Anh; 4/Kết hợp vừa Anh vừa Việt
Về mức độ sử dụng các cách viết, theo Nguyễn Tài Thái, trong 762 từngữ tiếng Anh thống kê từ các báo như: Tiền phong, Hoa học trò, Thể thao,
Trang 32Kinh tế, Vietnamnet.vn, Vnexpress.vn, Dân trí.vn: viết nguyên dạng: 67.5%;viết theo tiếng Việt có dấu: 16.7%; viết theo tiếng Việt không dấu: 13.3%;viết theo tiếng Việt có gạch nối: 2.5% [84, tr 817].
Nguyễn Thúy Nga, trên cơ sở khảo sát từ báo Hoa học trò đã đưa ranhận xét: “Các từ gốc tiếng Anh có thể được phiên chuyển hoặc mượnnguyên dạng Xu hướng viết nguyên dạng đang trở thành phổ biến Từ mượngốc Anh được sử dụng phổ biến ở nhiều lĩnh vực của xã hội Việc mượnnguyên dạng đang là một xu hướng chiếm ưu thế Tuy nhiên, khá nhiều từmượn được Việt hóa cách viết với nhiều biến thể khác nhau và chưa có sựnhất quán Để có sự chuẩn hóa về cách sử dụng, cách viết các từ mượn gốcAnh, cần có những văn bản chính thức quy định về cách viết, cách phiênchuyển các từ nước ngoài” [66]
1.1.3 Nhận xét và hướng triển khai của luận án
a Có thể đi đến một nhận xét chung là, vì là cách để bổ sung vốn từ cho mộtngôn ngữ, cho nên, vay mượn từ vựng là hiện tượng phố biến và trở thành đốitượng nghiên cứu ở các bình diện của cấu trúc - hệ thống cũng như ở các bìnhdiện của sử dụng: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng - ngữ nghĩa, phong cách và giaotiếp
b Đối với tiếng Việt, với một số lượng lớn trên 65% là từ ngữ mượn Hán,khoảng trên dưới 3000 từ ngữ mượn Pháp và rất nhiều các từ ngữ tiếng Anhđang được sử dụng trong tiếng Việt, các từ ngữ nước ngoài đã và đang làmphong phú vốn từ tiếng Việt cả về số lượng và chất lượng Vì thế, các từ ngữvay mượn hay có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài trở thành một vấn đề quantrọng của Việt ngữ học, theo đó, chúng luôn là vấn đề thời sự, “nóng” củaViệt ngữ học
c Tuy nhiên, từ các kết quả nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôithấy có mấy vấn đề đáng chú ý là:
Trang 33- Các từ mượn Hán đều được Việt hóa về cả ngữ âm và cách viết, trong đó đóngvai trò trung tâm là từ ngữ Hán - Việt có hệ thống cách đọc Hán - Việt.
- Các từ ngữ mượn Pháp đều được Việt hóa về ngữ âm (và cách viết)
- Riêng các từ ngữ tiếng Anh thì có tình hình như sau:
+ Chúng chủ yếu được viết nguyên dạng và có cách đọc “phỏng âm”
với nhiều biến thể Ví dụ: từ worldcup được viết nguyên dạng:
Tại World Cup 2014 trên đất Brazil, trong trận đấu giữa Pháp và Nigeria, ống kính truyền hình cũng ghi lại được hình ảnh quốc kỳ Việt Nam với cờ đỏ sao vàng rực rỡ tung bay.
(Báo Bóng đá, 2015)
Còn cách đọc thì “tùy ý”: uôn cúp, uôn cắp, vơn cúp, vơn căp, oăn cúp, oăn cắp.
+ Trong nhiều trường hợp, các từ ngữ Anh được viết bằng cách phiên
âm mang tính chính thức và phi chính thức:
Mang tính chính thức thường thấy trên các trang đầu của các báo inchính thống như báo Nhân Dân, Hà Nội Mới, Quân Đội Nhân dân, Mangtính phi chính thức thường xuất hiện trên các trang mạng cá nhân Ví dụ:
Cố gắng hơn trong H 2 hí h p bi bớt đ y! (h p bi bớt đ y: happy birthday)
Se liền này (se: share)
Tranh thủ lên phây trong lúc chờ đợi! (phây: facebook)
Nhớ meo cưng nhá! (meo: email)
Thực tế này càng trở nên phức tạp khi chúng xuất hiện trên báo mạngvới số lượng ngày một nhiều Ví dụ:
Dàn mẫu nam khoe body chuẩn tại trung tâm mua sắm hút vô số khách
nữ Trung tâm mua sắm đã mời 16 nam người mẫu điển trai, body chuẩn 6 múi người nước ngoài đến tạo không khí sôi động mùa Giáng sinh
(Mua sắm, 26/12/2016)
Trang 34TBM đã sẵn sàng để sáng mai 26-5 bắt đầu khoan đường ngầm metro đầu tiên và lớn nhất Việt Nam.
(Thanh niên, 28/5/2017)
Vậy, câu hỏi đặt ra là: các từ ngữ tiếng Anh body, TBM, break, show
này là gì? Chúng đã là từ ngữ mượn chưa hay chỉ là hiện tượng của trộn mã,chuyển mã? Phải chăng đây cũng chính là lí do mà Nguyễn Văn Khang(2012) trong khi gọi từ mượn Hán, từ mượn Pháp, nhưng đã không gọi là "từngữ mượn Anh" mà chỉ là "từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Việt" Còn NguyễnThúy Nga (2013) gọi là “nguyên dạng từ gốc Anh” (các yếu tố tác động đến
xu hướng sử dụng nguyên dạng từ gốc Anh trong báo tiếng Việt)
Luận án của chúng tôi đi theo hướng này, tức là, khảo sát thực tế sửdụng từ ngữ Anh trên các báo mạng tiếng Việt Từ đó, lí giải hiện tượng nàytrong tiếng Việt dưới góc độ của ngôn ngữ học xã hội
1.2 Cơ sở lí thuyết của luận án
1.2.1 Cơ sở lí thuyết về vay mượn từ vựng
1.2.1.1 Các khái niệm “vay mượn ngôn ngữ”, “vay mượn từ vựng” “từ vay mượn”
Cho đến nay, trong ngôn ngữ học đang có một số tên gọi liên quan đến
vay mượn, như: language borrowing (vay mượn ngôn ngữ), lexical
Trang 35borrowing (vay mượn từ vựng), loan word/borrowed word (từ mượn, từ vay mượn), foreign word (từ ngoại lai) Theo đó, trong tiếng Việt với ba nguồn
vay mượn chủ yếu về từ ngữ từ tiếng nước ngoài là tiếng Hán, tiếng Pháp vàtiếng Anh đã xuất hiện các tên gọi tương ứng với các nguồn vay mượn như:
từ ngoại lai: Nguyễn Văn Khang (2007); từ gốc Hán: Phan Văn Các (1981),Bùi Đức Tịnh (1981), Trương Chính (1981), Nguyễn Thiện Giáp (1985); từmượn Hán: Phan Văn Các (1981), Nguyễn Văn Thạc (1968), Nguyễn Văn Tu(1976); từ gốc Pháp: Vương Toàn (1992); từ mượn Pháp: Bùi Đức Tịnh(1976), Nguyễn Văn Khang (2007); từ mượn Anh, từ mượn tiếng Anh: PhạmVăn Tình (2014), Nguyễn Thiện Giáp (2015); từ tiếng Anh trong tiếng Việt:Nguyễn Văn Khang (2007)
Theo thống kê, thế giới hiện nay có khoảng 6800 ngôn ngữ Mỗi ngônngữ lại có các phương ngữ Tuy nhiên, với tư cách là công cụ giao tiếp, cácngôn ngữ cũng như các phương ngữ không tồn tại và hành chức một cách độclập mà luôn có sự tiếp xúc, tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau Có thể nói, tiếpxúc ngôn ngữ là hiện tượng thường thấy trong sử dụng cũng như trong quátrình phát triển của ngôn ngữ loài người
Tuy nhiên, bản thân các ngôn ngữ (hay phương ngữ) không thể có khảnăng tự tiếp xúc với nhau mà phải thông qua sử dụng Việc sử dụng có thểdiễn ra ở giao tiếp nói trong môi trường đa ngữ, được gọi là tiếp xúc trực tiếp
và giao tiếp viết (hay còn gọi là sách vở), được gọi là tiếp xúc gián tiếp vàngày nay với sự xuất hiện của internet, tiếp xúc ngôn ngữ được mở rộng vàđang đóng vai trò chủ lực là tiếp xúc qua các phương tiện truyền tin bằnginternet
Khi các ngôn ngữ có điều kiện tiếp xúc với nhau thì giữa chúng có sựtương tác, ảnh hưởng lẫn nhau Hệ quả tất yếu dẫn đến là sản sinh ra các sản
Trang 36phẩm ngôn ngữ, như: giao thoa (interference), vay mượn (borrowing), chuyển
mã (code switching), trộn mã (code mixing).
Như vậy, vay mượn ngôn ngữ (language borrowing) là một hệ quả của
sự tiếp xúc ngôn ngữ, cụ thể là hệ quả của sự ảnh hưởng từ ngôn ngữ cho vaysang ngôn ngữ đi vay Cụ thể hơn, vay mượn ngôn ngữ là chỉ chung cho hiệntượng vay mượn cả ở ngôn ngữ và ở phương ngữ, thuộc các bình diện ngữ
Các phát âm (dz) vốn chỉ có trong phương ngữ Nam bộ, nhưng nay
được dùng khá phổ biến trong tiếng Việt toàn dân để phát âm “dzô” (trongcác buổi liên hoan nâng cốc) Đây là kết quả của sự vay mượn giữa cácphương ngữ
Ngữ pháp: hiện tượng tiếng Việt dùng khá phổ biến các cấu trúc ngữ pháp như “đến từ…” thay cho “từ…đến”, “được (thực hiện) bởi ” thay cho
“do…(thực hiện)” là kết quả của sự vay mượn cấu trúc cú pháp tiếng Anh (come from…;…by…).
Từ vựng: trong hệ thống từ vựng tiếng Việt hiện đang có hàng loạt các
từ ngữ mượn từ tiếng Hán (Hán - Việt cổ, Hán - Việt, Hán - Việt Việt hóa), từtiếng Pháp cũng như các từ tiếng Anh (như các từ ngữ mượn từ tiếng Anh:
cao bồi, sô, fan, worldcup,…).
Xung quanh khái niệm “borrowing” (vay mượn) hiện vẫn còn có
những ý kiến khác nhau
Trang 37E.Haugen [121] cho rằng, dùng “borrowing” (vay mượn) xem ra có vẻ
không phù hợp và tác giả diễn đạt một cách hài hước rằng, khi ngôn ngữ nàymượn một thành phần nào đó của ngôn ngữ khác thì đâu có được hỏi ý kiến
và cũng không cần có sự đồng ý của ngôn ngữ cho vay (source language: ngôn ngữ nguồn), nếu không muốn nói đây là hành vi ăn cắp (stealing) Vì thế, E.Haugen đã lấy hai thuật ngữ để so sánh là adoption (tiếp nạp) và diffusion (khuếch tán).
Adoption (tiếp nạp): khi người sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp có tiếp
nhận một thành tố nào đó của ngôn ngữ nước ngoài và làm cho nó trở thànhmột thành phần của ngôn từ giao tiếp
Diffusion (khuếch tán): dùng theo cách của nhân chủng học, đó là sự
giao lưu giữa các nền văn hóa
Nguyễn Văn Khang (2012) đã lí giải chi tiết hơn, theo nghĩa của từmượn là "nhận được hoặc được (cái gì) tạm thời (từ ai/cái gì) với lời hứa hoặc
ý định sẽ trả lại nó" thì về nguyên tắc, khi thực hiện hành vi này phải là: có
"hai bên", gồm một bên cho vay và một bên đi vay; cái mà vốn có ở bên chovay sẽ không còn nữa do chuyển sang bên cho vay; bên đi vay phải trả lại bêncho vay (đã vay thì phải trả) Nhưng vay mượn từ vựng ở trong ngôn ngữ thìlại hoàn toàn khác: vay không những không trả mà bên cho vay cũng không
hề mất đi đơn vị từ vựng đó Vì thế, khi bàn về tên gọi này (borrowed word),
Ray đã đề nghị nên thay vay mượn từ vựng (từ vay mượn) bằng "sao chép"
(copying) Tác giả cho rằng, chỉ như vậy mới có thể thể hiện chính xác được
nội dung của khái niệm vừa nêu” [52, tr 26]
Cuối cùng, E.Haugen cho rằng, vẫn nên dùng từ vay mượn vì nó
không có nghĩa xấu xa gì; còn Ray thì cho rằng, vay mượn vẫn được dùng
và dùng quen đến mức nếu "tìm cách thay đổi nó đi là chuyện vô nghĩa"[Dẫn theo 52]
Trang 38Chúng tôi tán đồng với ý kiến này, bởi theo Sapir Ed, "cũng như cácnền văn hoá, các ngôn ngữ ít khi tự chúng đã đầy đủ", "nhu cầu giao lưu đãkhiến cho những người nói một ngôn ngữ nào đó tiếp xúc trực tiếp hay giántiếp với những người nói những ngôn ngữ lân cận hay có ưu thế về mặt vănhóa Sự giao lưu có thể có tính chất hữu nghị hay thù địch Nó có thể diễn ratrên bình diện bình thường của những quan hệ kinh doanh hay buôn bán, hoặc
có thể là một sự vay mượn hay trao đổi những giá trị tinh thần, nghệ thuật,
khoa học, tôn giáo" [140, tr 237] André Martinet trong Lời tựa cuốn
“Language in contact: Findings and Prpblems” của U.Weinreich đã khẳng
định rằng, bất kì ngôn ngữ nào cũng không tự tồn tại (self-contained) và
không hoàn thiện hoàn mỹ [André Martinet] Vay mượn ngôn ngữ “được xem
là hiện tượng tất nhiên, khó tránh khỏi, dù muốn hay không” [Dẫn theo 52]
Khái niệm “vay mượn ngôn ngữ” được E.Haugen giới hạn như sau:
a Mỗi một người sử dụng ngôn ngữ, trong tiềm thức đã vận dụng mô hình ngôn
ngữ (language pattern) mà mình nắm vững để sáng tạo, tái sinh (reproduce)
lời nói, nhằm đáp ứng bối cảnh ngôn ngữ không ngừng đổi mới
b Những mô hình sản sinh mới không chỉ là thành phần tương đồng hoặc khôngngừng tương đồng trong mô hình ngôn ngữ mà người nói nắm vững mà cònđược người nói có ý thức vận dụng nó để tạo ra các mô hình mới hơn
c Nếu như các mô hình ngôn ngữ mới do người nói sáng tạo ra này không thuộc
về hệ thống ngôn ngữ vốn có của người sử dụng mà thuộc về hệ thống củangôn ngữ khác thì điều đó có nghĩa rằng, người nói đã đem mô hình từ một
hệ thống ngôn ngữ này mượn sang một hệ thống ngôn ngữ khác
Hạt nhân của khái niệm vay mượn mà E.Haugen đề xuất là tiềm thứctận dụng yếu tố của hệ thống ngôn ngữ này để sáng tạo ra các mô hình ngônngữ mới Kết hợp các ý kiến của Thomason và Kaufman (1988), Y.Matras
Trang 39and J.Sakel, R.Hickey (2013) có thể thấy, vay mượn ngôn ngữ (language borrowing) là một khái niệm rộng với các nội dung cơ bản như sau:
- Ngôn ngữ cho vay với các cách gọi: ngôn ngữ nguồn (source language), ngôn ngữ cho/tặng (donor language).
- Ngôn ngữ đi vay với các cách gọi: ngôn ngữ nhận (recipient language), ngôn ngữ đích (target language), ngôn ngữ mượn (borrowing language), ngôn ngữ sao/chép (replica language).
Ngoài các cặp tương ứng nêu ở trên như “ngôn ngữ nguồn” (source language) - “ngôn ngữ đích” (target language), còn có thể gặp các cặp thuật ngữ khác như “ngôn ngữ thượng tầng” (superstrate language) - “ngôn ngữ hạ tầng” (substrate language).
- Vay mượn ngôn ngữ là một khái niệm rộng: ở mặt cấu trúc hệ thống bao gồm
cả ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng; ở mặt cấp độ bao gồm cả cấp độ âm vị, hình
vị, từ và câu; ở mặt vay mượn bao gồm cả các đơn vị nguyên khối, các đơn vị
đã được đồng hóa, các mô hình và các đơn vị được tạo ra từ các mô hình,chuyển đổi, thay thế, phát triển
Với tư cách là một phần quan trọng của vay mượn ngôn ngữ, vay mượn
từ vựng (lexical borrowing) có thể được hiểu là sự tiếp nhận các đơn vị từ
vựng từ ngôn ngữ cho vay sang ngôn ngữ đi vay, nhằm bổ sung, làm giàu cho
vị từ vựng vay mượn
Trang 401.2.1.2 Vay mượn từ ngữ với các khái niệm liên quan
Như ở trên đã đề cập, vay mượn chỉ là một trong những hệ quả của sựtiếp xúc ngôn ngữ, trong đó vay mượn từ ngữ là một phần của vay mượn bêncạnh vay mượn ngữ âm, vay mượn ngữ pháp Liên quan trực tiếp đến kháiniệm vay mượn từ ngữ là ba sản phẩm của sự tiếp xúc ngôn ngữ: giao thoa,chuyển mã và trộn mã
a Giao thoa và vay mượn từ ngữ
Giao thoa là thuật ngữ vật lí, được hiểu là hiện tượng xảy ra khi haichấn động có tần số bằng nhau chồng lên nhau, có thể làm cho ánh sáng hay
âm mạnh lên, hoặc yếu đi đến triệt tiêu
Trong ngôn ngữ học, giao thoa được định nghĩa là “Sự chuyển biếntrong một ngôn ngữ do ảnh hưởng từ ngôn ngữ khác Đây là hệ quả của sựtiếp xúc ngôn ngữ Hệ quả của sự tiếp xúc có thể khác nhau Ở mức đơn giảnnhất, người nói có thể tiếp nhận một số từ của ngôn ngữ bên cạnh Đó lànhững từ mượn Sự giao thoa về từ vựng còn thể hiện ở từ sao phỏng (saophỏng cấu tạo từ và sao phỏng ngữ nghĩa), từ ghép lai Nhưng sự giao thoa cóthể đi xa hơn, đụng chạm đến ngữ pháp và ngữ âm” [52, tr 78] “Một cách cụthể hơn, ở bình diện từ vựng, giao thoa được biểu hiện ở sự mượn từ, tạo từmới cho một ngôn ngữ bằng yếu tố của ngôn ngữ giao thoa và sự chuyển dingữ nghĩa của từ” [52, tr 40]
Như vậy có thể thấy, giữa giao thoa và vay mượn từ vựng có điểmtrùng nhau là sự vay mượn các từ hoặc các yếu tố tạo từ để tạo ra từ mới hoặccác từ mượn có thể thay đổi nghĩa hoặc tạo ra nghĩa mới Ví dụ:
Các từ như lốp (envelope), ca-vát, cà-vạt, cra-vát (cravate ), ga (gas) là
kết quả của sự giao thoa giữa tiếng Pháp và tiếng Việt
b Hiện tượng chuyển mã, trộn mã và vay mượn từ ngữ