Trong chương trình giáo dục phổ thông, chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ đối với người học được thể hiện, cụ thể hóa ở các chủ đề của chương trình môn học theo từng lớp và ở[r]
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Mục lục 1
Mở đầu 2
Chương 1 Sơ lược về chuẩn kiến thức, kĩ năng 5
1.1 Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông 5
1.2 Các mức độ về kiến thức, kĩ năng 7
1.3 Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông vừa là căn cứ, vừa là mục tiêu của giảng dạy, học tập, kiểm tra đánh giá 11
1.4 Yêu cầu kiểm tra, đánh giá bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng 14
1.5 Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương mol và tính toán hóa học 18
Chương 2: Tìm hiểu về chương mol và tính toán hóa học 20
2.1 Cơ sở lí thuyết 20
2.2 Kiến thức 21
2.3 Bài tập hóa học 22
Chương 3: Thiết kế nội dung dạy học chương mol và tính toán hóa học 35
Kết luận và đề xuất 57
Tài liệu tham khảo 59
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hóa học là khoa học nghiên cứu về chất, phương pháp biến đổi chất và ứng dụng của chất đó trong cuộc sống Hóa học nói về các nguyên tố, hợp chất, nguyên tử, phân tử, và các phản ứng hóa học xảy ra giữa những thành phần đó Hóa học nghiên cứu về tính chất của các nguyên tố và hợp chất, về các biến đổi có thể có từ một chất này sang một chất khác, tiên đoán trước tính chất của những hợp chất chưa biết đến cho tới nay, cung cấp các phương pháp để tổng hợp những hợp chất mới và các phương pháp đo lường hay phân tích để tìm các thành phần hóa học trong những mẫu thử nghiệm
Mặc dù tất cả các chất đều được cấu tạo từ một số loại "đá xây dựng" tương đối
ít, tức là từ khoảng 80 đến 100 nguyên tố trong số 118 nguyên tố được biết đến nhưng
sự kết hợp và sắp xếp khác nhau của các nguyên tố đã mang lại đến vài triệu hợp chất khác nhau, những hợp chất mà đã tạo nên các loại vật chất khác nhau như nước, cát (chất), mô sinh vật và mô thực vật Thành phần của các nguyên tố quyết định các tính chất vật lý và hóa học của các chất và làm cho hóa học trở thành một bộ môn khoa học rộng lớn
Cũng như trong các bộ môn khoa học tự nhiên khác thí nghiệm trong hóa học là cột trụ chính Thông qua thí nghiệm các lý thuyết về cách biến đổi từ một chất này sang một chất khác được phác thảo, kiểm nghiệm, mở rộng và khi cần thiết thì cũng được phủ nhận Nghiên cứu trong hóa học đã phát triển trong thời kỳ chuyển tiếp sang thế kỷ 20 đến mức các nghiên cứu sâu về cấu tạo nguyên tử đã không còn là lĩnh vực của hóa học nữa mà thuộc về vật lý nguyên tử hay vật lý hạt nhân Mặc dù vậy các công trình nghiên cứu này đã mang lại nhiều nhận thức quan trọng về bản chất của sự biến đổi chất hóa học và của các liên kết hóa học Các động lực quan trọng khác bắt nguồn từ những khám phá trong vật lý lượng tử thông qua mô hình quỹ đạo điện tử
Trang 3Tiến bộ trong các chuyên ngành khác nhau của hóa học thường là các điều kiện tiên quyết không thể thiếu cho những nhận thức mới trong các bộ môn khoa học khác, đặc biệt là trong các lĩnh vực của sinh học và y học, cũng như trong lĩnh vực của vật lý (ví
dụ như việc chế tạo các chất siêu dẫn mới) Hóa sinh, một chuyên ngành rộng lớn, đã được thành lập tại nơi giao tiếp giữa hóa học và sinh vật học và là một chuyên ngành không thể thiếu được khi muốn hiểu về các quá trình trong sự sống, các quá trình mà
có liên hệ trực tiếp và không thể tách rời được với sự biến đổi chất
Đối với y học thì hóa học không thể thiếu được trong cuộc tìm kiếm những thuốc trị bệnh mới và trong việc sản xuất các dược phẩm Các kỹ sư thường tìm kiếm vật liệu chuyên dùng tùy theo ứng dụng (vật liệu nhẹ trong chế tạo máy bay, vật liệu xây dựng chịu lực và bền vững, các chất bán dẫn đặc biệt tinh khiết, ) Ở đây bộ môn khoa học vật liệu đã phát triển như là nơi giao tiếp giữa hóa học và kỹ thuật
Công nghiệp hóa là một ngành kinh tế rất quan trọng Công nghiệp hóa sản xuất các hóa chất cơ bản như axít sunfuric hay amoniac, thường là nhiều triệu tấn hằng năm,
để thí dụ như dùng trong sản xuất phân bón và chất dẻo Mặt khác công nghiệp hóa cũng sản xuất rất nhiều hợp chất phức tạp, đặc biệt là dược phẩm Nếu không có các hóa chất được sản xuất trong công nghiệp thì cũng không thể nào sản xuất máy tính hay nhiên liệu và chất bôi trơn cho công nghiệp ô tô
Ở bậc THCS, môn hóa học cung cấp những hệ thống kiến thức cơ bản bao gồm kiến thức về cấu tạo chất, phân loại chất, tính chất và ứng dụng các loại chất quan trọng nhất Bắt đầu tiếp xúc và làm quen là học sinh lớp 8 và lớp 9, vì thế việc hình thành và phát triển khái niệm cơ bản hóa học cho học sinh là rất quan trọng và đặc biệt là hình thành khái niệm mol và tính toán hóa học Những khái niệm và công thức tính toán là
cơ sở hiểu biết ban đầu về mol, chuyển đổi giữa khối lượng, thể tích và lượng chất, tỉ khối của chất khí, là nền tảng để hình thành kĩ năng giải bài tập của học sinh Các dạng bài tập không ngừng ở đó mà tiếp tục được phát triển cụ thể hơn khi học lên các cấp
Trang 4học sinh hiểu thêm về bản chất, tầm quan trọng, ý nghĩa của các khái niệm, tính toán trong hóa học nói riêng và trong sản xuất nói chung
Chương mol và tính toán hóa học giữ một vị trí và vai trò rất quan trọng trong việc dạy và học hóa học ở hóa học 8 Các khái niệm và công thức tính toán được đưa vào chương trình nhằm cung cấp các khái niệm cơ bản và đánh giá trình độ nắm vững kiến thức cơ bản của học sinh Tất cả những vấn đề trên nhằm phát triển năng lực tư duy, lôgic, sáng tạo, giúp học sinh lĩnh hội kiến thức hóa học một cách hiệu quả nhất Với lí do đó tôi đi sâu nghiên cứu mảng đề tài: “Vận dụng chuẩn kiến thức kĩ năng thiết kế nội dung dạy học chương mol và tính toán hóa học trong chương trình hóa học lớp 8 THCS”
2 Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở tìm hiểu chương trình SGK hóa học, chuẩn kiến thức và kỹ năng môn hóa học để thiết kế nội dung dạy học chương mol và tính toán hóa học
Vận dụng chuẩn kiến thức, kỹ năng môn hóa học để đề ra mục tiêu, phương pháp phù hợp với kiến thức trọng tâm từng bài, qua đó thiết kế nội dung dạy học chương mol và tính toán hóa học
3 Nhiệm vụ của đề tài
Tìm hiểu cấu trúc, nội dung chương trình SGK hóa học lớp 8 và tài liệu chuẩn kiến thức, kỹ năng môn hóa học để nghiên cứu nội dung dạy học chương mol và tính toán hóa học
4 Phương pháp nghiên cứu
Thu thập thông tin, tài liệu có liên quan, nghiên cứu SGK, SGV và sách bài tập hóa học lớp 8
Phỏng vấn, trao đổi với những giáo viên có kinh nghiệm trong giảng dạy hóa học
5 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học hóa học ở trường THCS
- Đối tượng nghiên cứu: SGK, bài tập hóa học ở trường THCS
Trang 5Chương 1: SƠ LƯỢC VỀ CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
1.1 Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông
Chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ của chương trình giáo dục phổ thông được thể hiện cụ thể trong các chương trình môn học, hoạt động giáo dục (gọi chung là môn học) và các chương trình cấp học
Đối với mỗi môn học, mỗi cấp học, mục tiêu của môn học, cấp học được cụ thể hóa thành chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình môn học, chương trình cấp học
1.1.1 Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình môn học
Là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của môn học mà học sinh cần phải và có thể đạt được sau mỗi đơn vị kiến thức (mỗi bài, chủ đề, chủ điểm, mô đun)
Chuẩn kiến thức, kĩ năng của một đơn vị kiến thức là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của đơn vị kiến thức mà học sinh cần phải và có thể đạt được
Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng thể hiện ở mức độ cần đạt về kiến thức, kĩ năng Mỗi yêu cầu về kiến thức, kĩ năng có thể được chi tiết hơn bằng những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng cụ thể, tường minh hơn; minh chứng bằng những ví dụ thể hiện được cả nội dung kiến thức, kĩ năng và mức độ cần đạt về kiến thức, kĩ năng
1.1.2 Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình cấp học
Là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của các môn học mà học sinh cần phải và có thể đạt được sau từng giai đoạn học tập trong cấp học
Chuẩn kiến thức, kĩ năng ở chương trình các cấp học đề cập tới những yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kĩ năng mà học sinh cần và có thể đạt được sau khi hoàn thành
Trang 6chương trình giáo dục của từng lớp học và cấp học Các chuẩn này cho thấy ý nghĩa quan trọng của việc gắn kết, phối hợp giữa các môn học nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của cấp học
Việc thể hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng ở cuối chương trình cấp học thể hiện hình mẫu mong đợi về người học sau mỗi cấp học và cần thiết trong công tác quản lý, chỉ đạo, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
Chương trình cấp học đã thể hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng không phải đối với từng môn học mà đối với từng lĩnh vực học tập Trong văn bản về chương trình của các cấp học, các chuẩn kiến thức, kĩ năng được biên soạn theo tinh thần:
- Các chuẩn kiến thức, kĩ năng không được đưa vào cho từng môn học riêng biệt
mà cho từng lĩnh vực học tập nhằm thể hiện sự gắn kết giữa các môn học và hoạt động giáo dục trong nhiệm vụ thực hiện mục tiêu của các cấp học
- Chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ được thể hiện trong chương trình cấp học là các chuẩn của cấp học, tức là những yêu cầu cụ thể mà học sinh cần đạt được ở cuối cấp học Cách thể hiện này tạo một tầm nhìn về sự phát triển của người học sau mỗi cấp học, đối chiếu với những gì mà mục tiêu của cấp học đã đề ra
1.1.3 Những đặc điểm của chuẩn kiến thức, kĩ năng
Chuẩn kiến thức, kĩ năng được chi tiết, tường minh bằng các yêu cầu cụ thể, rõ ràng về chuẩn kiến thức, kĩ năng
Chuẩn kiến thức, kĩ năng có tính tối thiểu, nhằm đảm bảo mọi học sinh cần phải và có thể đạt được những yêu cầu cụ thể này
Chuẩn kiến thức, kĩ năng là thành phần của chương trình giáo dục phổ thông Trong chương trình giáo dục phổ thông, chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ đối với người học được thể hiện, cụ thể hóa ở các chủ đề của chương trình môn học theo từng lớp và ở các lĩnh vực học tập; đồng thời chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu
về thái độ cũng được thể hiện ở phần cuối của chương trình mỗi cấp học
Trang 7Chuẩn kiến thức, kĩ năng là thành phần của chương trình giáo dục phổ thông Việc chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng sẽ tạo nên sự thống nhất; làm hạn chế tình trạng dạy học quá tải, đưa thêm nhiều nội dung nặng nề, quá cao so với chuẩn kiến thức, kĩ năng vào dạy học, kiểm tra, đánh giá; góp phần làm giảm tiêu cực của dạy thêm, học thêm; tạo điều kiện cơ bản, quan trọng để có thể tổ chức giảng dạy, học tập, kiểm tra, đánh giá và thi theo chuẩn kiến thức, kĩ năng
1.2 Các mức độ về kiến thức, kĩ năng
Các mức độ về kiến thức, kĩ năng được thể hiện cụ thể trong Chuẩn kiến thức,
kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông
Về kiến thức: Yêu cầu HS phải nhớ, nắm vững, hiểu rõ các kiến thức cơ bản
trong chương trình, sách giáo khoa, đó là nền tảng vững vàng để có thể phát triển năng lực nhận thức ở cấp cao hơn
Về kĩ năng: Biết vận dụng các kiến thức đã học để trả lời câu hỏi, giải bài tập,
làm thực hành; có kĩ năng tính toán, vẽ hình, dựng biểu đồ,
Kiến thức, kĩ năng phải dựa trên cơ sở phát triển năng lực, trí tuệ HS ở các mức
độ, từ đơn giản đến phức tạp; nội dung bao hàm các mức độ khác nhau của nhận thức
Mức độ cần đạt được về kiến thức được xác định theo 6 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo
1.2.1 Nhận biết
Là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây; nghĩa là có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp Đây là mức độ, yêu cầu thấp nhất của trình độ nhận thức, thể hiện ở chỗ HS có thể và chỉ cần nhớ hoặc nhận ra khi được đưa ra hoặc dựa trên những thông tin có tính đặc thù của một khái niệm, một sự vật, một hiện tượng
Trang 8HS phát biểu đúng một định nghĩa, định lí, định luật nhưng chưa giải thích và vận dụng được chúng
Có thể cụ thể hóa mức độ nhận biết bằng các yêu cầu:
- Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lí, định luật, tính chất
- Nhận dạng được (không cần giải thích) các khái niệm, hình thể, vị trí tương đối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản
- Liệt kê, xác định các vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu tố, các hiện tượng
1.2.2 Thông hiểu
Là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng; giải thích, chứng minh được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng; là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà HS đã học hoặc đã biết Điều đó có thể được thể hiện bằng việc chuyển thông tin từ dạng này sang dạng khác, bằng cách giải thích thông tin (giải thích hoặc tóm tắt) và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng)
Có thể cụ thể hóa mức độ thông hiểu bằng các yêu cầu:
- Diễn tả bằng ngôn ngữ cá nhân các khái niệm, định lí, định luật, tính chất, chuyển đổi được từ hình thức ngôn ngữ này sang hình thức ngôn ngữ khác (ví dụ: từ lời sang công thức, kí hiệu, số liệu và ngược lại)
- Biểu thị, minh họa, giải thích được ý nghĩa của các khái niệm, hiện tượng, định nghĩa, định lí, định luật
- Lựa chọn, bổ sung, sắp xếp lại những thông tin cần thiết để giải quyết một vấn
đề nào đó
Trang 9- Sắp xếp lại các ý trả lời câu hỏi hoặc lời giải bài toán theo cấu trúc lôgic.
1.2.3 Vận dụng
Là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới: vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi hỏi HS phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó
Yêu cầu áp dụng được các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lí, định lí, định luật, công thức để giải quyết một vấn đề trong học tập hoặc của thực tiễn Đây là mức độ thông hiểu cao hơn mức độ thông hiểu trên
Có thể cụ thể hóa mức độ vận dụng bằng các yêu cầu:
- So sánh các phương án giải quyết vấn đề
- Phát hiện lời giải có mâu thuẫn, sai lầm và chỉnh sửa được
- Giải quyết được những tình huống mới bằng cách vận dụng các khái niệm, định lí, định luật, tính chất đã biết
- Khái quát hóa, trừu tượng hóa từ tình huống đơn giản, đơn lẻ quen thuộc sang tình huống mới, phức tạp hơn
1.2.4 Phân tích
Là khả năng phân chia một thông tin ra thành các phần thông tin nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng
Yêu cầu chỉ ra được các bộ phận cấu thành, xác định được các mối quan hệ giữa các bộ phận, nhận biết và hiểu được nguyên lý cấu trúc của các bộ phận cấu thành Đây
là mức độ cao hơn vận dụng vì nó đòi hỏi sự thấu hiểu cả về nội dung lẫn hình thái cấu trúc của thông tin, sự vật, hiện tượng
Trang 10Có thể cụ thể hóa mức độ phân tích bằng các yêu cầu:
- Phân tích các sự kiện, dữ kiện thừa, thiếu hoặc đủ để giải quyết được vấn đề
- Xác định đươc mối quan hệ giữa các bộ phận trong toàn thể
- Cụ thể hóa được những vấn đề trừu tượng
- Nhận biết và hiểu được cấu trúc các bộ phận cấu thành
1.2.5 Đánh giá
Là khả năng xác định giá trị của thông tin: bình xét, nhận định, xác định được giá trị của một tư tưởng, một nội dung kiến thức, một phương pháp Đây là một bước mới trong việc lĩnh hội kiến thức được đặc trưng bởi việc đi sâu vào bản chất của đối tượng, sự vật, hiện tượng Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định; đó có thể là các tiêu chí bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chí bên ngoài (phù hợp với mục đích)
Yêu cầu được xác định được các tiêu chí đánh giá (người đánh giá tự xác định hoặc được cung cấp các tiêu chí) và vận dụng được để đánh giá
Có thể cụ thể hóa mức độ đánh giá bằng các yêu cầu:
- Xác định được các tiêu chí đánh giá và vận dụng để đánh giá thông tin, sự vật, hiện tượng, sự kiện
- Đánh giá, nhận định giá trị của các thông tin tư liệu theo một mục đích, yêu cầu xác định
- Phân tích những yếu tố, dữ kiện đã cho để đánh giá sự thay đổi về chất của sự vật, sự kiện
- Đánh giá, nhận định được giá trị của nhân tố mới xuất hiện khi thay đổi các mối quan hệ cũ