Phân tích nguồn lực VIE 89/022” Dự án đã triển khai điều tra, nghiên cứu công phu với các phương pháp và cách tiếp cận khoa học trên mọi bình diện của công tác giáo dục và đào tạo ở Vi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
MAI HỒNG NHUNG
ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
MAI HỒNG NHUNG
ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
ThS TRẦN THỊ CHIÊN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo
phát triển giáo dục và đào tạo từ năm 2005 đến năm 2015” em đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ
Trước tiên cho phép em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Thạc sĩ Trần Thị Chiên - người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho em trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô trong Khoa Giáo dục Chính trị đã tạo điều kiện cho em hoàn thành đề tài nghiên cứu
Đồng thời, cho em gửi lời cảm ơn đến các cô, các chú tại các cơ quan trực thuộc tỉnh Nam Định đã giúp đỡ em trong quá trình khảo sát thực tế
Sau cùng em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ em trong quá trình làm khóa luận
Em rất mong nhận được những ý kiến nhận xét của quý thầy, cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 06 tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Mai Hồng Nhung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Đề tài khóa luận“Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo phát triển giáo
dục và đào tạo từ năm 2005 đến 2015” được thực hiện dưới sự hướng dẫn
của ThS Trần Thị Chiên Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng cá nhân tôi Kết quả thu được trong đề tài là hoàn toàn trung thực và không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!
Hà Nội, ngày 06 tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Mai Hồng Nhung
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở TỈNH NAM ĐỊNH 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.2 Cơ sở thực tiễn 17
Tiểu kết chương 1 23
Chương 2 QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015 24 2.1 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Nam Định 24
2.2 Quá trình Đảng bộ tỉnh Nam Định chỉ đạo phát triển giáo dục và đào tạo từ năm 2005 đến năm 2015 31
Tiểu kết chương 2 42
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 43
3.1 Một số nhận xét 43
3.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu 51
Tiểu kết chương 3 53
KẾT LUẬN 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
Kí hiệu viết tắt Nội dung viết tắt
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“Giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) từ lâu đã là một trong những yếu tố rất quan trọng, cần thiết trong sự phát triển của một đất nước Việc GD&ĐT là điều kiện giúp quyết định xã hội của đất nước đó có ổn định hay không, kinh
tế có phát triển”không Chính vì vậy, giáo dục và đào tạo đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển đất nước, đồng thời nó cũng lưu giữ và phát triển những giá trị truyền thống của dân tộc hay những kho tàng tri thức của nhân loại.Việt Nam đất nước ngàn năm văn hiến Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học từ lâu đời Do đó, theo chiều dài của lịch sử suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, qua những biến cố, giai đoạn thăng trầm của lịch
sử, giáo dục và đào tạo luôn là một lĩnh vực được đề cao và coi trọng
Trong thời kỳ tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH – HĐH) đất nước, giáo dục và đào tạo có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết.Nhận thức được vai trò của giáo dục và đào tạo, Đảng Cộng Sản Việt Nam ( ĐCSVN) đã khẳng định giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu
“Nằm ở phía Đông Nam vùng đồng bằng sông Hồng, tại đây đang lưu giữ và bảo tồn nhiều truyền thống văn hóa lâu đời về các phong tục, tín ngưỡng, làng nghề, lễ hội, di tích" lịch sử… Ngoài ra Nam Định là một trong những mảnh đất nổi danh cả nước về truyền thống hiếu học.Tại nơi này, nhân dân đặc biệt coi trọng việc học hành, nó đã trở thành nét đẹp văn hóa của mỗi gia đình, dòng họ, làng xã
Nối tiếp truyền thống của cha ông, dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN về phát triển giao dục và đào tạo, Đảng bộ tỉnh Nam Định đã tập trung đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo Quá trình đó đã gặt hái được nhiều thành công, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bên cạnh những thành tựu
đó vẫn còn một số mặt hạn chế về chương trình giáo dục, hệ thống giáo dục, quản lý giáo dục, đội ngũ giáo viên… Việc nhận thức đúng và thực hiện tốt chủ trương của Đảng về phát triển GD&ĐT vào từng địa phương sao cho phù
Trang 8hợp với điều kiện của từng khu vực là một vấn đề quan trọng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Nam Đinh
Do đó, việc nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo phát triển GD&ĐT từ năm 2005 đến năm 2015 nhằm đánh giá đúng thành tựu và hạn chế, đồng thời cũng rút ra những kinh nghiệm làm cơ sở cho chủ trương của Đảng cũng như Đảng bộ tỉnh Nam Định về phát triển GD&ĐT trong
những năm tiếp theo Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Đảng bộ
tỉnh Nam Định lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo từ năm 2005 đến năm 2015” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp, chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong đời sống xã hội, GD&ĐT là lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại, là nhân tố chìa khóa, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Vì vậy, đã có nhiều học giả trong và ngoài nước, dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau nghiên cứu về vấn đề
GD&ĐT Có thể kể đến một số nhóm công trình nghiên cứu sau:
Nhóm các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giáo dục và đào tạo ở Việt Nam:
Tổ chức Văn hoá - Khoa học - Giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO)
với dự án: “Nghiên cứu tổng thể về giáo dục - đào tạo Phân tích nguồn lực
VIE 89/022” Dự án đã triển khai điều tra, nghiên cứu công phu với các
phương pháp và cách tiếp cận khoa học trên mọi bình diện của công tác giáo dục và đào tạo ở Việt Nam và đã xác định được 7 vấn đề gay gắt của giáo dục Việt Nam cần được giải quyết là: suy giảm số lượng và suy thoái chất lượng mọi bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân; quan hệ chặt chẽ giữa giáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật với sản xuất và việc làm; việc giảng dạy và bố trí mạng lưới đại học không thích hợp với yêu cầu xã hội, quan hệ không chặt chẽ giữa đại học với nghiên cứu, sản xuất và việc làm; đội ngũ giáo viên có nhiều yếu kém và khó khăn trong công việc; nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục và đào tạo thiếu thốn, sử dụng không hiệu quả; hệ thống tổ chức, quản lý, pháp chế về GD&ĐT không thích hợp; sự phù hợp của giáo dục và đào tạo với xã hội chuyển đổi
Trang 9Dự án “Phương pháp giáo dục Vương quốc Anh giúp nâng cao khả
năng tuyển dụng cho sinh viên trong bối cảnh Việt Nam”, dự án được hỗ trợ
bởi Quỹ Hỗ trợ Hợp tác Giáo dục Đại học (HEP) của Hội đồng Anh Mục tiêu của Quỹ HEP là thúc đẩy và tăng cường chương trình hợp tác giữa các trường đại học Vương quốc Anh và Việt Nam; chia sẻ kinh nghiệm và trải nghiệm của Vương quốc Anh và xây dựng năng lực cho các trường đại học Việt Nam
để đạt được mục tiêu đổi mới của giáo dục đại học Việt Nam
Ngân hàng thế giới (WB) cùng với Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam
đã tổ chức hội thảo với chủ đề “Lựa chọn chính sách cải cách giáo dục đào
tạo” tại Hà Nội (8/1993) Buổi hội thảo đã nghiên cứu và chỉ ra sự tác động
của các nguồn lực, các chính sách lớn đến giáo dục và đặc biệt trong đó chú trọng đến vấn đề giáo dục của Việt Nam
Nhóm các nhà khoa học Việt Nam bàn đến vấn đề giáo dục và đào tạo ở Việt Nam:
Hồ Chí Minh, “ Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục”, Nxb Giáo dục, Hà
Nội, 1990 Tác phẩm đã tập hợp các bài viết, bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi học sinh, các giáo viên nhân ngày khai giảng Tác phẩm giúp chúng
ta hiểu rõ về tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh Người mong muốn xây dựng một nền giáo dục độc lập và tiến bộ, nhân dân có quyền tự do học hành, xây dựng nền GD&ĐT mang tính dân tộc, tiên tiến, hiện đại, để đưa nước nhà
“sánh vai với các cường quốc năm châu”
Võ Nguyên Giáp, “Mấy vấn đề về khoa học và giáo dục”, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1986 Với mục tiêu xây dựng con người Việt Nam mới xã hội chủ nghĩa, chủ trương phát triển toàn diện con người, tư tưởng chỉ đạo mạnh mẽ, việc, cải cách triệt để nội dung và phương pháp giáo dục đã được ông thể hiện xuyên suốt và nổi bật trong bài nói, bài viết của mình
Phạm Văn Đồng, Về vấn đề giáo dục đào tạo, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1989.Trong tác phẩm này, Phạm Văn Đồng tiếp tục khẳng định vai
trò của giáo dục và đào tạo, với ông giáo dục là nhân tố có tầm quan trọng góp phần làm nên sự nghiệp của một con người và là động lực làm nên lịch
sử của mỗi dân tộc, của cả nhân loại
Trang 10Nhóm công trình nghiên cứu về Nam Định và về giáo dục và đào tạo
ở tỉnh Nam Định:
Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, Quản lý hoạt động dạy học ở các lớp
bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục tại Trường cao đẳng Sư phạm Nam Định
của tác giả Nguyễn Thị Kim Hằng (2014) đã nghiên cứu thực trạng về quản lý giáo dục, đồng thời cũng đề xuất các phương hướng, biện pháp nhằm nâng cao công tác quản lý giáo dục
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Phát triển đội ngũ giáo viên tiểu
học huyện Nghĩa Hưng – tỉnh Nam Định theo hướng chuẩn hóa của tác giả
Trần Văn Nam (2015) đã nghiên cứu về vấn đề chuẩn hóa đội ngũ giáo viên
cả về chất lượng và số lượng, cơ cấu; trong đó chất lượng là trọng tâm Đồng thời tìm ra các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu
và nhiệm vụ giáo dục trong thời đại mới
Các công trình nghiên cứu về GD&ĐT ở trên, dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau đã làm rõ được vị trí, vai trò và thực tiễn GD&ĐT ở Việt Nam nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng Đây là nguồn tài liệu tham khảo cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và viết khóa luận
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ chủ trương, chính sách và quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nam Định về phát triển GD&ĐT từ năm 2005 đến năm 2015, tác giả rút ra một số kinh nghiệm góp phần vào việc phát triển GD&ĐT ở Nam định trong giai đoạn tiếp theo
3.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về GD&ĐT ở Nam Định
- Phân tích, làm rõ chủ trương và quá trình Đảng bộ tỉnh Nam Định vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng phát triển GD&ĐT ở Nam Định từ năm
2005 đến năm 2015
Trang 11- Đánh giá kết quả và hạn chế của sự nghiệp phát triển GD&ĐT từ năm
2005 đến năm 2015; đúc rút một số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Nam Định trong lãnh đạo phát triển GD&ĐT
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu về quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nam Định trong phát triển giáo dục và đào tạo từ năm 2005 đến năm 2015
- Về không gian: tác giả nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nam Định
5 Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận: khóa luận dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về GD&ĐT
- Khóa luận sử dụng chủ yếu là phương pháp lịch sử và logic: Phương pháp lịch sử nhằm trình bày đúng quan điểm, chính sách, sự chỉ đạo của Đảng
bộ tỉnh Nam Định về phát triển GD&ĐT Phương pháp logic nhằm phân tích, đánh giá, tổng kết kinh nghiệm của Nam Định trong quá trình lãnh đạo phát triển GD&ĐT từ năm 2005 đến 2015
- Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng một số phương pháp khác: thống
kê, tổng hợp dữ liệu, so sánh
6 Đóng góp khoa học của khóa luận
- Bước đầu khái quát những chủ trương, chính sách, sự chỉ đạo thực
hiện của ĐCSVN và Đảng bộ tỉnh Nam Định về sự phát triển GD&ĐT
Trang 12- Khóa luận có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề GD&ĐT ở Nam Định, từ đó giúp Đảng bộ tỉnh Nam Định thực hiện tốt hơn vai trò lãnh đạo của mình trong quá trình lãnh đạo thực hiện phát triển GD&ĐT trong giai đoạn tiếp theo
7 Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của khóa luận gồm 3 chương và 6 tiết
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO Ở TỈNH NAM ĐỊNH 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giáo dục
Trong quan điểm về giáo dục của C.Mác, C.Mác còn cho rằng, cùng với
sự phát triển của lực lượng sản xuất là sự phân công lao động Sự phân công lao động này làm cho con người ta ngày càng hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hẹp, mỗi người là một mắt khâu của quá trình sản xuất xã hội vì vậy nó sẽ dẫn đến sự phiến diện trong phát triển con người Do vậy, theo C.Mác: “công tác giáo dục sẽ làm cho người trẻ tuổi… có thể lần lượt chuyển từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất nọ tùy theo nhu cầu của xã hội hoặc tùy theo sở thích của bản than họ Do đó, công tác giáo dục sẽ làm cho họ thoát khỏi tình trạng một chiều mà sự phân công lao động hiện nay đang buộc mỗi một người phải theo” [2; tr.475]
C.Mác cho rằng, giáo dục không những làm cho con người thích nghi với xã hội, phục vụ cho xã hội tốt hơn, mà hơn thế, quan trọng hơn, giáo dục
là cách thức làm cho con người được phát triển toàn diện các năng lực của mình Về quan niệm này, C.Mác đã chỉ rõ: “nền giáo dục sau này sẽ là nền giáo dục làm cho mỗi một trẻ em, khi đến lứa tuổi nhất định, đều biết “kết hợp trí dục và thể dục với lao động chân tay và do đó, kết hợp lao động chân tay với trí dục và thể dục”, “kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thể dục”
và “coi đó không phải chỉ là một phương pháp để làm tăng thêm nền sản xuất
xã hội mà còn là một phương pháp duy nhất để sản xuất ra những con người phát triển toàn diện…” [2; tr.687- tr.688]
Kế thừa và phát triển quan điểm của Mác,V.I Lênin đã phân tích, phê phán sâu sắc tính chất giai cấp và những biểu hiện của nó trên lĩnh vực giáo dục và nhà trường qua các chế độ xã hội Đầu thế kỷ XX, trong bối cảnh nước Nga xây dựng chủ nghĩa xã hội, tại Đại hội Toàn Nga lần thứ nhất diễn ra vào ngày 28/8/1918 bàn về công tác giáo dục, V.I.Lênin đã khẳng định vai trò, chức năng, nhiệm vụ của GD&ĐT, coi đó là một trong những điều kiện quan
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
MAI HỒNG NHUNG
ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
ThS TRẦN THỊ CHIÊN
HÀ NỘI – 2019
Trang 14trọng đảm bảo thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội V.I.Lênin nói: “Sự nghiệp của nhà trường chúng ta cũng là đấu tranh đánh đổ giai cấp tư sản; chúng ta tuyên bố công khai rằng: nói nhà trường đứng ngoài cuộc sống, ngoài chính trị, là nối dối và lừa bịp” [30; tr.92 - tr.93]
V.I Lênin còn cho rằng: “Những người lao động khao khát có tri thức,
vì tri thức cần cho họ để chiến thắng Chín phần mười quần chúng lao động
đã hiểu rõ rằng tri thức là một vũ khí trong cuộc đấu tranh tự giải phóng của
họ, rằng sở dĩ họ thất bại là do thiếu học thức; rằng giờ đây việc làm cho mọi người có thể thực sự được học hành, là do bản thân họ quyết định Sự nghiệp của chúng ta sẽ thắng vì bản thân quần chúng đã bắt tay xây dựng một nước Nga mới, xã hội chủ nghĩa” [30; tr.92 - tr 93]
Để nâng cao năng suất lao động, thì điều kiện tiên quyết là nâng cao trình độ học vấn và nâng cao văn hóa cho quần chúng nhân dân lao động Điều này chỉ có đạt được hiệu quả tối ưu nhất đấy là thông qua giáo dục và bằng giáo dục Trong Dự thảo cương lĩnh của Đảng Cộng sản Nga vào tháng 2/1919 ở nội dung bàn về nền giáo dục quốc dân, V.I.Lênin viết:
“Trong lĩnh vực giáo dục quốc dân, Đảng Cộng sản Nga tự đặt cho mình nhiệm vụ phải hoàn thành sự nghiệp cách mạng tháng Mười 1917 đã bắt đầu nhằm biến nhà trường từ một công cụ thống trị giai cấp của giai cấp tư sản thành một công cụ để đập tan nền thống trị đó, cũng như để hoàn toàn xoá bỏ sự phân chia
xã hội thành giai cấp”
“Nhà trường phải trở thành một công cụ của chuyên chính vô sản, nghĩa là nhà trường không những phải truyền bá những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản nói chung, mà còn phải là một công cụ truyền bá ảnh hưởng về tư tưởng, về tổ chức và giáo dục của giai cấp
vô sản vào những tầng lớp nửa vô sản và không phải vô sản trong quần chúng lao động, nhằm hoàn toàn đập tan sự kháng cự của bọn bóc lột và thực hiện chế độ cộng sản, Kết hợp chặt chẽ công tác giáo dục với lao động sản xuất” [31; tr.141 - 142]
Trang 15“V.I.Lênin đã cho rằng, khi cách mạng bước sang hoà bình, xây dựng đất nước thì nhiệm vụ của giáo dục cũng phải có sự thay đổi theo cho phù hợp với xã hội và tình hình đất nước Sự thay đổi đó thể hiện ở các mặt: GD&ĐT phải luôn gắn liền, bám sát với thực tiễn cuộc sống, GD&ĐT là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, trở thành đòn bẩy, thành công cụ, thành nguồn nội lực bên trong của quá trình phát triển kinh tế -
xã hội và muốn phát triển kinh tế thì trước hết phải tập trung mọi nỗ lực để phát triển giáo dục, lấy giáo dục làm động”lực
Bên cạnh những quan điểm về GD&ĐT nêu trên, V.I.Lênin còn đưa
ra quan điểm: “Học, học nữa, học mãi!”,“câu nói này đã trở thành câu
châm ngôn, thành khẩu hiệu của hàng triệu các thế hệ không chỉ ở Nga, mà còn là khẩu hiệu của nền giáo dục ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có”Việt Nam
V.I.Lênin bàn về nội dung của giáo dục, để đào tạo con người phát triển toàn diện, theo quan điểm của C.Mác, cần đặc biệt quan tâm tới giáo dục trí tuệ, giáo dục thể chất, thẩm mỹ, tổ chức giáo dục lao động và giáo dục đạo đức:
Về giáo dục đạo đức
Trong hoàn cảnh mới, kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác về giáo dục đạo đức, V.I.Lênin cũng phân tích tính giai cấp, tính lịch sử của đạo đức một cách sâu sắc với tư cách nó là một hình thái ý thức xã hội.V.I.Lênin đã kiên quyết bác bỏ quan điểm cho rằng đạo đức là vĩnh hằng, bất biến Theo V.I.Lênin, mỗi thời kì lịch sử, mỗi giai cấp trong xã hội đều có những chuẩn mực đạo đức riêng biệt (tất nhiên có kế thừa những phần tốt đẹp).V.I.Lênin khẳng định việc giáo dục lòng yêu tổ quốc xã hội chủ nghĩa và tinh thần quốc
tế vô sản có ý nghĩa cực kì to lớn và cần thiết trong việc hình thành phẩm chất nhân cách con người xã hội chủ nghĩa.Giáo dục đạo đức cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, trước hết là trách nhiệm của nhà trường Xô Viết, của Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên tiền phong, của đội ngũ thầy cô giáo, cán bộ Đảng, cán bộ Đoàn, các thế hệ cách mạng lớn tuổi phải là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ
Về giáo dục trí tuệ (trí dục)
Trang 16Phát triển trên quan điểm của C.Mác về giáo dục cộng sản, V.I.Lênin coi trí dục là thành phần, là nội dung cơ bản Trang bị cho thế hệ trẻ những tri thức khoa học cơ bản, hệ thống, hiện đại, bồi dưỡng năng lực nhận thức, phát
triển trí tuệ là nhiệm vụ chủ yếu của nhà trường Xô Viết “Học, học nữa,
học mãi” đó là lời huấn thị của V.I.Lênin đối với chúng ta Lênin đòi hỏi thế
hệ trẻ hiểu chủ nghĩa cộng sản là những vấn đề, những kết luận mà tự chúng
ta rút ra chứ không phải là học thuộc lòng những khẩu hiệu về chủ nghĩa cộng sản mà người khác đặt ra V.I.Lênin nói rằng không thể tin vào việc dạy dỗ, GD&DDT nếu như nó chỉ đóng khung trong bốn bức tường của nhà trường, việc học tập tách khỏi cuộc sống thực tiễn và công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội của dân tộc
Dựa vào nhận thức luận của V.I.Lênin với tư cách là cơ sở phương pháp luận của mình, giáo dục học xã hội chủ nghĩa đã giải quyết những vấn đề về bản chất của quá trình dạy học, mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, vai trò của thực tiễn trong quá trình dạy học và rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ của các dạng lao động xã hội riêng biệt
Về nội dung của trí dục, những ý kiến của V.I.Lênin có tính chiến lược trong việc xây dựng nội dung tri thức các môn học trong nhà trường Tháng 2-
1919, Lênin nói rằng: “thiết lập nền giáo dục phổ thông để giới thiệu những tri thức lý luận và thực tiễn về tất cả các nghành chủ yếu của nền sản xuất xã hội”, tư tưởng trên của ông đã quán triệt sâu sắc trong quá trình dạy học, lựa chọn nội dung các môn học, nguyên tắc, phương pháp, hình thức dạy và học của nhà trường xã hội chủ nghĩa
Về giáo dục lao động và kĩ thuật tổng hợp
Trước hết, V.I.Lênin cho rằng giáo dục lao động, tổ chức lao động sản xuất, giáo dục kĩ thuật tổng hợp có mối quan hệ mật thiết với nhau, vừa là nội dung vừa là nguyên tắc giáo dục xã hội chủ nghĩa Quan điểm đó quán triệt toàn bộ quá trình giáo dục dạy học, tổ chức lao động sản xuất, giáo dục kĩ thuật, nó được coi như là một phương tiện đào tạo con người xã hội chủ nghĩa
Rèn luyện đạo đức, nhân cách qua lao động và hoạt động xã hội, tư tưởng này là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đào tạo thế hệ trẻ thành người lao
Trang 17động mới V.I.Lênin là người ý thức rất sâu sắc việc kết hợp quá trình giáo dục với lao động sản xuất và giáo dục kĩ thuật tổng hợp, nhờ vậy mới đào tạo được thế hệ lao động trẻ cho xã hội chủ nghĩa Những tư tưởng giáo dục của V.I.Lênin lại có ý nghĩa thời sự nóng bỏng đối với các quốc hiện nay trong quá trình cải cách giáo dục, bởi lẽ chúng không chỉ đơn thuần là nội dung giáo dục mà đó còn là những nguyên tắc của giáo dục xã hội chủ nghĩa
Ngoài ra, V.I.Lênin cũng rất quan tâm tới thể dục, quân sự, giáo dục thẩm mĩ Bản thân Lênin là một tấm gương trong việc kết hợp rèn luyện, tự hoàn thiện mọi mặt để trở thành người phát triển cân đối, hài hòa nhân cách, năng lực trí tuệ, thể chất, tình cảm, ý chí
Vậy C.Mác và V.I.Lênin đã khẳng định về vai trò của GD&ĐT đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như sự tác động của phát triển kinh tế, xã hội đối với GD&ĐT.“Đồng thời cũng chỉ rõ ý nghĩa của GD&ĐT đối với sự phát triển con người, nguồn nhân lực cho xã hội và sự nghiệp CNH - HĐH của mỗi quốc gia Những quan điểm đấy có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn đối với sự nghiệp GD&ĐT của các nước xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Điều này, có ý nghĩa thiết thực đối với các nước đang thực hiện sự nghiệp CNH - HĐH theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam hiện”nay
1.1.2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục
“Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đến việc nâng cao dân trí, chăm lo sự nghiệp GD&ĐT nước nhà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khai sinh tư tưởng chiến lược: “Giáo dục
và đào tạo là quốc sách hàng đầu” của Đảng và”Nhà nước
“Tư tưởng của Hồ Chí Minh về việc xây dựng và phát triển sự nghiệp GD&ĐT nước nhà được hình thành từ rất sớm Người đánh giá rất cao vai trò của GD&ĐT đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc, bởi GD&ĐT có nhiệm vụ quan trọng là nâng cao nhận thức, dân trí, mở mang tri thức, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, là động lực của sự phát triển, đưa mỗi quốc gia, dân tộc tiến tới văn minh, giàu”mạnh Người đã khẳng định “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” [ 20; tr.8] và “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước
Trang 18hết cần có con người xã hội chủ nghĩa” [20; tr.359].“Hồ Chí Minh mong muốn đào tạo những con người không chỉ có lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh anh dũng, có phẩm chất đạo đức, lí tưởng cách mạng mà còn phải có tri thức khoa học, khả năng lao động sản”xuất “Chủ tịch Hồ Chí Minh không những đã chỉ đạo Đảng và Nhà nước ta xây dựng một nền giáo dục mới, mang tính chất dân chủ nhân dân tiến tới xã hội chủ nghĩa, mà Người còn đề cập đến các nội dung liên quan đến giáo dục Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về GD&ĐT xuyên suốt gần 60 năm cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, tư tưởng ấy thể hiện mong muốn hướng tới của một xã hội văn minh, tiến bộ mà các thế hệ tiếp theo cần có trách nhiệm kế thừa và phát triển sao cho ngày một xứng đáng”hơn Tư tưởng ấy có thể khái quát thành một số luận điểm lớn sau
Xây dựng một nền giáo dục độc lập và tiến bộ, nhân dân có quyền tự
do học hành
Những năm hoạt động cách mạng tại Pháp, đồng chí Nguyễn Ái Quốc cực lực lên án “chính sách ngu dân” của thực dân Pháp đối với nhân dân ta Trong tác phẩm nổi tiếng “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1921-1925), Nguyễn Ái Quốc viết: “Nhân dân Đông Dương khẩn khoản đòi mở trường học, vì trường học thiếu một cách nghiêm trọng… Làm cho dân ngu để dễ trị,
đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất” Trong cuốn “Đường kách mệnh” (năm 1925) và “Chánh cương vắn tắt của Đảng” (2/1930), Nguyễn Ái Quốc cũng xác định rõ: Phải lập trường học cho công nhân, nông dân, cho con em họ và “Phổ thông giáo dục theo công nông hóa” Đặc biệt, ở “Chương trình Việt Minh” (1941), Bác Hồ chủ trương:
“Hủy bỏ nền giáo dục nô lệ Gây dựng nền quốc dân giáo dục Cưỡng bức giáo dục từ bậc sơ học Mỗi dân tộc có quyền dùng tiếng mẹ đẻ trong nền giáo dục của mình Lập các trường chuyên môn huấn luyện chính trị, quân sự, kỹ thuật để đào tạo các lớp nhân tài… Khuyến khích và giúp đỡ nền giáo dục quốc dân, làm cho nòi
giống ngày thêm mạnh” [17; tr.36]
“Ngay khi Cách mạng Tháng Tám – 1945 thành công, Hồ Chí Minh đã công bố những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng
Trang 19hòa, trong đó nhiệm vụ thứ hai là phải chống nạn dốt, vì nạn dốt là một trong những cách thức độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị nhân dân Việt Nam, hơn chín mươi phần trăm đồng bào mù”chữ Bác nhấn mạnh: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn
mù chữ” [17; tr.36]
Một tuần sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”,“ngày 8/9/1945, Người đã ký sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ, để giải quyết nạn mù chữ cho nhân”dân
Xây dựng nền giáo dục và đào tạo mang tính dân tộc, tiên tiến, hiện đại, để đưa nước nhà “sánh vai với các cường quốc năm châu”
Trong “Thư gửi cho học sinh” vào ngày 5/9/1945, Bác viết: “Ngày nay, các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em” [17; tr.37] Bác động viên, khích lệ học sinh chăm chỉ học tập để phát triển bản thân, làm rạng rỡ cho nước nhà:
“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp được hay không, dân tộc Việt Nam
có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” [17; tr 37]
“Cho đến bức thư cuối cùng Bác gửi cho ngành GD&ĐT vào ngày 15/10/1968, Bác lại nhấn mạnh nhiệm vụ của nền GD&ĐT nước ta là phải ra sức phấn đấu để theo kịp với trình độ và chất lượng của các nước văn minh, tiên tiến trên thế”giới: “Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn, nhằm giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra, và trong một thời gian không
xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật” [17; tr 257- 258]
Xây dựng một nền giáo dục về tư tưởng chính trị, đạo đức cách mạn, thể chất và sức khỏe, nguyên tắc giáo dục
Về giáo dục tư tưởng chính trị
“Theo Hồ Chí Minh, trong từng cấp học, ngành học việc giáo dục chính trị tư tưởng cần cụ thể, phù hợp với chương trình và mục tiêu đào tạo Hồ Chí
Trang 20Minh cho rằng, giáo dục chính trị, tư tưởng là phải làm cho mọi người hiểu hơn về cái học đích thực, cái học hữu dụng và khái niệm về tri thức hoàn toàn Người khuyên không được tách rời lý luận với thực tiễn, khi tiếp thu lý luận ta phải áp dụng nó vào”thực tiễn: “Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sang, một mắt mờ… Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông Dù xem được hàng vạn quyển lý luận nếu không biết đem ra thực hành thì khác nào một cái hòm đựng sách” [22; tr.234].“Người nhắc nhở phải coi trọng việc học lý luận vì lý luận là kim chỉ nam để tiến hành công việc trong thực”tiễn
Về giáo dục đạo đức cách mạng
Đạo đức là nền tảng trong giáo dục, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng là ở bất cứ cương vị nào, bất cứ cương vị gì đều không sợ khó, không sợ khổ, đều một long, một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội” [24; tr.216]
Đối với thanh niên, học sinh, thế hệ trẻ tương lai, Người đã xác định rèn luyện nhân cách, đạo đức theo mục tiêu:
Về giáo dục văn hóa, thẩm mỹ, trình độ chuyên môn
Tha thiết với sự nghiệp khai sáng dân tộc, nâng cao dân trí, trong “Lời
kêu gọi toàn quốc chống nạn thất học” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi động
cho toàn dân sự hiếu học theo phương châm mới: “Mọi người Việt Nam phải biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới… Trước hết phải biết đọc, biết viết… Người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi.Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không
biết thì con bảo, người ăn, người làm không biết thì chủ nhà bảo” [21; tr.37]
Về giáo dục thể chất và sức khỏe
“Hồ Chí Minh coi sức khỏe như là vốn sống của con người, là hạnh phúc của mỗi người, mỗi dân tộc Theo Người việc học tập nói chung và rèn luyện thể thao nói riêng, đều phải bắt đầu từ việc nhận thức về trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi cá”nhân Người viết: “Luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi một người yêu nước Việc đó không tốn kém, không khó
Trang 21khăn gì Gái, trai, già, trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được Mỗi ngày lúc ngủ dậy, tập một ít thể dục Ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khỏe” [21; tr.212]
Về nguyên tắc, phương pháp giáo dục, Hồ Chí Minh đề cập đến 4 nguyên tắc, phương pháp :
Một là, học phải đi đôi với hành
“Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ ý nghĩa to lớn của học kết hợp với hành trong công tác giáo dục Bởi theo Người, nó không chỉ là sự củng cố kiến thức mà nó còn mở rộng việc nhận thức thực tiễn và áp dụng thực tiễn, hình thành, định hướng nhân cách con người”mới Hồ Chí Minh khẳng định: “Học với hành phải đi đôi Học mà không hành thì vô ích Hành mà không học thì hành không trôi chảy”.“Lời dạy của Người có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp giáo dục của nước ta hiện nay Theo Người, nếu kết hợp được phương pháp này thì người học sẽ đạt được hiệu quả cao và Người khuyên không nên học tủ, học vẹt Khi kết hợp học với hành cùng một lúc sẽ hình thành cả tri thức lẫn kỹ năng thực”hành
Hai là, lý luận gắn liền với thực tiễn
Hồ Chí Minh thường nhắc nhở mọi người cần phải tránh bệnh lý luận trong quá trình giáo dục, Người nói: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác- Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [24; tr.496].“Người đã chỉ rõ, nếu lý luận kém hoặc coi thường lý luận, không gắn lý luận với thực tiễn thì chúng ta rất dễ bị chủ quan, duy ý”chí
Ba là, học tập kết hợp với lao động sản xuất
“Nếu như nhà trường của chế độ cũ đào tạo ra những con người mọt sách, tách rời lao động chân tay và coi thường lao động Thì ngược lại, nhà trường XHCN phải đào tạo ra lớp người mới, phải biết kết hợp lao động trí óc với lao động chân”tay, Người dạy: “Lao động chân tay cũng phải có văn hóa,
mà người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có trí óc thì đó là người bán thân bất toại” và “Nhà trường của
Trang 22chúng ta là nhà trường xã hội chủ nghĩa, đó là nhà trường học đi đôi với lao
Ở mỗi môi trường đều diễn ra quá trình giáo dục, giáo dưỡng con người Mặc
dù ở mỗi môi trường đều có những phương pháp giáo dục đặc thù, song tất cả đều góp vào hình thành nhân cách con người toàn”diện
Năm 1950, trong bài Nói về công tác chuẩn bị huấn luyện và học tập, trả lời câu hỏi “Học ở đâu”, Người nói: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau
và học nhân dân Không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn” [ 23; tr.98]
Năm là, gắn giáo dục với tự giáo dục
“Trong tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh, Người để lại những ý kiến rất quý báu về vấn đề tự học, tự đào”tạo Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở mọi người là phải thường xuyên tự học tập: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời… Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, đã biết hết rồi Thế giới ngày càng đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ cho nên chúng ta tiếp tục
học và hành để tiến bộ kịp nhân dân” [ 24; tr.215]
Vai trò của người thầy giáo trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Thầy giáo là nhân vật trung tâm của nhà trường, đồng thời là nhân vật trung tâm của sự nghiệp GD&ĐT Nhận thấy điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức đề cao sứ mệnh của người thầy giáo: “Có gì vẻ vang hơn là đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Người thầy giáo tốt – thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất…, những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh… Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây dựng chủ nghĩa xã hội được? Vì vậy, nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất
là vẻ vang” [17; tr.236]
Trang 23Để làm tròn sứ mệnh vẻ vang ấy, người thầy giáo phải có phẩm chất tốt Bác nhắc nhở: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức; tài là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức… Cho nên, thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con” [24; tr.492]
Đảng phải lãnh đạo và trực tiếp chăm lo cho sự phát triển của giáo dục và đào tạo
Trong 23 bức thư và bài nói với giáo viên các cấp, đặc biệt trong bức thư cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ngành GD&ĐTngày 15/10/1968, một lần nữa nêu rõ: “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta, do đó các ngành, các cấp Đảng và chính quyền địa phương phải thật sự quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta lên những bước phát triển mới” [17, tr.258]
Trong “Di chúc”, Bác đặc biệt nhấn mạnh về trách nhiệm của Đảng đối với việc chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ tương lai: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng” vừa “chuyên” Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về GD-ĐT nói lên lòng yêu nước, thương dân và Bác đặc biệt quan tâm đối với “sự nghiệp trồng người”, việc quan tâm tới giáo dục thể hiện tri thức uyên thâm và tầm nhìn xa trông rộng của Người Đấy là một trong những biểu hiện cốt lõi của người anh hung dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Nam Định
* Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
“Nam Định là một tỉnh ven biển phía Đông Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, phía Đông giáp tỉnh Thái Bình, phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình, phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía Bắc giáp tỉnh Hà”Nam
Trang 24“Nam Định có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội Đường sắt xuyên Việt đi qua tỉnh dài 42km với năm ga, rất thuận lợi cho việc vận chuyện hành khách và hàng hóa; đường quốc lộ 10, quốc lộ 21 dài 108km đã được đầu tư nâng cấp thành đường chiến lược ven biển Bắc Bộ: hệ thống sông Hông, sông Đào, sông Đáy, sông Ninh Cơ chảy qua địa phận tỉnh với chiều dài 251m cùng với hệ thống cảng sông Nam Định, cảng biển Thịnh Long mới được xây dựng rất thuận cho phát triển.”
Nam Định nằm trong vùng ảnh hưởng của khu vực tăng trưởng kinh tế
Hà Nội- Hải Phòng – Quảng Ninh, cách Thủ đô Hà Nội 90km, cách cảng Hải Phòng 100km, đó là hai thị trường lớn để giáo lưu, tiêu thụ hàng hóa, trao đổi
kỹ thuật, công nghệ, thông tin và kinh nghiệm quản lý kinh”doanh
“Trải qua nhiều thời kì và biến đổi, hiện nay tỉnh Nam Định gồm 10 đơn vị hành chính ( 1 thành phố, 9 huyện) : thành phố Nam Định, huyện Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc, Nam Trực, Trực Ninh, Nghĩa Hưng, Xuân Trường, Giao Thủy, Hải”Hậu Trên mảnh đất khoa cử này, việc học hành được nhân dân coi trọng, đạo lý “Tôn sư trọng đạo” dường như đã trở thành phạm trù đạo đức, phong cách sống để mỗi người, mỗi gia đình, dòng họ, làng xã noi theo Tại mảnh đất địa linh nhân kiệt phía Nam đồng bằng sông Hồng đã góp phần chung đúc nên tài năng nhiều bậc tiên hiền như: Nguyễn Hiền, Đào Sự Tích, Lương Thế Vinh, Vũ Tuấn Chiêu, cố tổng bí thư Trường Chinh
* Đặc điểm kinh tế - xã hội
Về kinh tế
Năm 1996, Nam Định được tách từ tỉnh Nam Hà Trải qua hơn hai thập
kỷ xây dựng và phát triển, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ tỉnh Nam Định đã không ngừng phấn đấu vươn lên, đề ra các chính sách, đường lối nhằm cải thiện đời sống của người dân, giúp dân có cuôc sống ấm
no, hạnh phúc Các chính sách về kinh tế đã được Đảng bộ tỉnh Nam Định đưa ra qua các kì đại hội XV, XVI, XVII, XVIII, XIX đã chỉ rõ các ưu, nhược điểm về tình hình kinh tế của tỉnh và đồng thời đưa ra các chính sách, giải pháp kịp thời làm tăng trưởng kinh tế, giúp người dân thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, nâng cao chất lượng cuộc sống
Trang 25Từ năm 2001 – 2006, kinh tế Nam Định tiếp tục phát triển, kết cấu hạ tầng được cải thiện, sản xuất lao động được nâng lên, đã tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo tiền đề cho bước phát triển ở giai đoạn tiếp theo.Đã có sự chuyển hướng tích cực về kinh tế: tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp từ 40,9% (năm 2000) giảm xuống còn 34,5% (năm 2005); công nghiệp xây dựng từ 20,94% (năm 2000) tăng lên 28,1% (năm 2005); ngành dịch vụ 37,4% (năm2005) Đến năm 2005, lao động trong ngàng nông nghiệp là 76,9%, lao động trong ngành công nghiệp 13,25% Năm 2005, ở nông thôn thì nhiều làng nghề truyền thống được khôi phục, có
80 làng nghề và giá trị sản xuất ước tính đạt 1.864 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần so với năm 2000
công nghiệp dịch vụ đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh Nam Định Đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện Tình hình chính trị ổn định, quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, giáo dục và đào tạo được nâng cao Tuy nhiên, so với các tỉnh trong cả nước thì tình hình kinh tế của tỉnh Nam Định vẫn là một tỉn nghèo, lạc hậu và chậm phát triển Ngành nông nghiệp thì vẫn chiếm tỷ trọng lớn, tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ còn thấp Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, sức cạnh tranh yếu, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, việc giáo
Với đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội đã tác động một phần không nhỏ tới giáo dục và đào tạo tỉnh Nam Định Bên cạnh đó, với vị trí địa lý như vậy, tỉnh Nam Định có vị trí quan trọng, tiếp giáp với nhiều đầu mối giao thông quan trọng, có tiềm năng phát triển đa dạng về kinh tế, du lịch; với những vị thế địa lý đó đã tạo nên một vùng địa linh nhân kiệt, một vùng giàu truyền thống văn hiến, hiếu học Tuy nhiên, bên cạnh những điều kiện thuận lợi đó, Nam Định vẫn còn nhiều mặt khó khăn và hạn chế, kinh tế của tỉnh vẫn còn chậm phát triển, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn nên việc quan tâm và đầu tư cho giáo dục còn hạn chế Việc đầu tư cho GD&ĐT không chỉ ảnh hưởng tới nền kinh tế mà nó còn là một trong những điều kiện phát triển kinh tế của tỉnh Chỉ có thông qua giáo
Trang 26dục mới phát huy được mọi nguồn lực xã hội, trước hết là nguồn lực con người cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững Hiểu rõ được điều đó, Đảng bộ tỉnh Nam Định đã không ngừng đổi mới, đưa ra các chính sách phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh, khắc phục những hạn chế, khó khăn còn gặp phải để ngày
càng nâng cao chất lượng GD&ĐT của tỉnh Nam Định
1.2.2 Tình hình giáo dục và đào tạo tỉnh Nam Định trước năm 2005
Nhận thức được tầm quan trọng của GD&ĐT, ngay khi Cách mạng tháng Tám thành công, nền giáo dục của Việt Nam trong đó có tỉnh Nam Định đã thực sự đổi mới, đó là một nền giáo dục của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Phong trào học chữ quốc ngữ ở Nam Định được đẩy mạnh Trường cấp I được xây dựng ở các xã và trường cấp II được xây dựng ở các huyện Trong những năm chiến tranh chống phá hoại của Mỹ lần thứ hai (1969 – 1972) sự nghiệp giáo dục của tỉnh phát triển không ngừng, phong trào thi đua “Hai tốt” tiếp tục được đẩy mạnh
“Số học sinh tham dự kì thi cuối khóa ở các cấp tăng hơn so với các năm trước có 86.379 học sinh phổ thông, 61.341 học sinh vỡ lòng, 44.448 học sinh mẫu giáo đến trường và có 18.085 thầy cô giáo đã đưa tỷ lệ học sinh đến trường tăng lên 32,51%” [1; tr.765]
Sau năm 1975, cả nước có hai chương trình giáo dục phổ thông, ở miền Nam là 12 năm, ở miền Bắc là 10 năm Năm 1979, tại Nghị quyết Đại hội IV,
Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ta Quyết định số 14 tiến hành về cải cách giáo dục, đây là nghị quyết đầu tiên về giáo dục sau khi đất bước thống nhất, các đề án, chính sách được thực hiện với hệ thống giáo dục phổ thông là 12 năm Đây là một nghị quyết quan trọng, nó
mở ra một cuộc cải cách về giáo dục của nước ta, nhằm xây dựng một nền
giáo dục phù hợp với nhu cầu thực tiễn
Năm 1996, Đại hội Đảng khóa VIII Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai ban chấp hành Trung ương đã khẳng định “cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, đồng thời cũng đề ra các mục tiêu: đa dạng hóa các loại hình trường lớp, đào tạo, hoàn thành phổ cập tiểu học và xóa nạn mù chữ,
Trang 27triển khai phổ cập trung học cơ sở (THCS), hoàn chỉnh củng cố hệ thống trường sư phạm, xã hội giáo dục
Với vai trò quan trọng của GD&ĐT đối với sự phát triển của đất nước nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng Sự quan tâm, chỉ đạo của TƯ Đảng đến GD&ĐT tạo ngay từ khi mới thành lập Đảng bộ tỉnh Nam Định đã vận dụng sáng tạo những chủ trương, đường lối của Đảng và đã đại được một số thành tựu:
Về Giáo dục mầm non:
“Tính đến năm 1999, toàn tỉnh Nam Định đã có 232 trường mầm non với 2.794 lớp, trong đó có 13 trường công lập, 219 trường dân lập, 10 lớp mầm non tư thục, 619 nhóm trẻ gia đình Năm 2000, theo thống kê sơ bộ từ
Tư liệu kinh tế - xã hội 61 tỉnh thành và thành phố, tỉnh Nam Định có
2.730 lớp mẫu giáo, với 83.400 số học sinh mẫu giáo và 3.282 giáo viên” [1; tr.768]
Về giáo dục tiểu học:
“Năm học 1998 – 1999, tỷ lệ học sinh hoàn thành bậc tiểu học là 92,33%, trong năm học này tỉnh Nam Định được Bộ Giáo dục và đào tạo công nhận đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi.Năm học 1999 – 2000, số học sinh bậc tiểu học là 217.000 em Tỷ lệ nhập học bậc tiểu học cao, tỷ lệ học sinh hoàn thành bậc tiểu học là 93,75%”
“Năm 1999, 100% phường, xã đều đạt tiêu chuẩn quốc gia về phổ cập
Có 190/226 xã, phường đạt tiêu chuẩn phổ cập đúng độ tuổi, chiếm tỷ lệ 84,07% Việc bồi dưỡng giáo viên được chú trọng và các phương pháp dạy học cũng được liên tục tiến hành đổi mới Tỷ lệ giá viên dào tạo đạt chuẩn là 87,90%” [1; tr.768]
Về Giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông:
Năm học 2000 – 2001, toàn tỉnh đã có 245 trường trung học cơ sở của
225 xã, phường, thị trấn với tổng số 3.736 lớp và 162.170 học sinh Năm học
2000 - 2001, khối trung học phổ thông toàn tỉnh đã có 40 trường (trong đó có
10 trường dân lập) với 54.739 học sinh “Số giáo viên trung học cơ sở tăng từ
Trang 285.338 (năm học 1996 - 1997) giáo viên lên 6.037 giáo viên (năm học 1999 - 2000) trong đó có 89,60% giáo viên đạt trình độ tiêu chuẩn và trên chuẩn Bậc trung học phổ thông có 1.421 giáo viên (năm học 2000 - 2001), trong đó có 96,88% giáo viên đạt tiêu chuẩn và trên chuẩn” [1; tr.769]
Về giáo dục thường xuyên:
“Năm 1997 - 1998, giáo dục thường xuyên được củng cố, ổn định, với nhiều loại hình học tập Đến năm 1999, toàn tỉnh đã có 100% huyện, thành phố có trung tâm giáo dục thường xuyên với hai trường bổ túc trung học trực thuộc, có 24.287 học viên” [1; tr.770]
Về giáo dục chuyên nghiệp:
Nam Định có 03 trường cao đẳng, sáu trường trung học chuyên nghiệp, trung học nghề, 07 trường đào tạo nghề, một trung tâm đào tạo tại chức, 01 trung tâm kĩ thuật tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề và 02 trung tâm ngoại ngữ, tin học (năm 1999) “Năm học 2000 - 2001 số học sinh học hệ dài hạn đại học và cao đẳng là 5.597 người Tỷ lệ sinh viên đại học tăng 3,3% so với tổng số sinh viên năm 1995” [1; tr.770]
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, ngành giáo dục và đào tạo tỉnh
cũng còn những hạn chế: Việc thực hiện phân cấp quản lý ngành về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo ở các địa phương thực hiện chưa đồng bộ Công tác phổ cập về giáo dục bậc trung học tiến hành còn chậm hơn so với lộ trình và mục tiêu đề ra, kết quả đạt được chưa vững chắc Chất lượng giáo dục toàn diện, trước hết là chất lượng trí dục còn chưa đồng đều giữa các trường, giữa các loại hình trường Chất lượng giáo dục đạo đức học sinh, nhất là học sinh các trường dân lập, các trung tâm giáo dục thường xuyên còn là điều trăn trở, khó khăn của các nhà giáo Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu xã hội còn thấp Kết quả về đổi mới phương pháp dạy - học và phương pháp giáo dục còn hạn chế Cơ sở vật chất kỹ thuật trường học ở nhiều địa phương còn thiếu thốn và lạc hậu
Để khắc phục những hạn chế trên, đòi hỏi tỉnh Nam Định cần phải có mục tiêu, biện pháp để phát triển giáo dục mới cả về nội dung, chương trình
Trang 29và phương pháp giáo dục Trong điều kiện đó, khó khăn đề ra cho Đảng bộ và
Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh cần có những chủ trương, giải pháp chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong những giai đoạn tiếp theo đáp ứng nhu cầy xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tiểu kết chương 1
Từ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề GD&ĐT cùng với thực tiễn hoàn cảnh lịch sử, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh mà Đảng bộ tỉnh Nam Định cần có cái nhìn toàn diện, sâu sắc để
từ đó thấy được những điểm mạnh và hạn chế trong các giai đoạn trước Trên
cơ sở nhận thức đó giúp Đảng bộ tỉnh Nam đưa ra những chỉ thị, nghị quyết, chương trình hành động cụ thể phù hợp với từng hoàn cảnh, điều kiện của từng địa phương Qua đó phát huy những thế mạnh về truyền thống hiếu học, lịch
sử, con người, đồng thời khắc phục những khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh
tế ảnh hưởng đến việc phát triển GD&ĐT Làm tiền đề cho sự phát triển ngành GD&ĐT tỉnh Nam Định một cách toàn diện, khoa học, đảm bảo thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, mục tiêu đề ra
Trang 30Chương 2 QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
2.1 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Nam Định
2.1.1 Chủ trương của Đảng
Trong đổi mới về nhận thức, ĐCSVN đã thấy rõ vai trò của GD&ĐT trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa GD&ĐT không“chỉ góp phần nâng cao dân trí, bảo vệ chế độ chính trị của mỗi quốc gia dân tộc mà nó còn góp phần xây dựng đội ngũ lao động có trình độ cao, làm giàu của cải vật chất cho
xã hội đồng thời có bản lĩnh chính trị vững vàng để chống lại các cuộc xâm lăng về văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu” Từ những đòi hỏi cho quá trình hội nhập quốc tế, cũng như phát triển đất nước theo hướng CNH - HĐH, ĐCSVN đã đề ra những chủ trương để phát triển GD&ĐT trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015 Những chủ trương đó được thể trong các kì đại hội của Đảng:
Tại đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001) khi bàn về vấn
đề GD&ĐT, Nghị quyết nêu rõ:
“Phát triển GD&ĐTlà một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện để phát huy nguồn lực con người
- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá” [9; tr.95]
Tại Đại hội này đã xác định rõ mục tiêu giáo dục là nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ, đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, có tinh thần hiếu
học, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “học đi đôi với hành, giáo dục kết
hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội” [9; tr.102] Coi trọng
công tác hướng nghiệp của học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, trong nước
Trang 31“Năm 2002, tại Hội nghị Trung ương 6 (khoá IX), Đảng đã ban hành Kết
luận Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII về giáo dục - đào
tạo Kết luận nêu rõ: Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá
VIII), nền giáo dục nước nhà có những chuyển biến tích cực, nước ta đã đạt chuẩn quốc gia về xoá mù chữ và phổ cập giáo dục mầm non, tiểu học, tiến hành phổ cập trung học ở một số tỉnh, thành phố, trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao, giáo dục toàn diện có chuyển biến Sự nghiệp giáo dục và đào tạo có vị trí và trai trò quan trọng, được toàn xã hội quan tâm.”
“Tuy nhiên, nền giáo dục nước ta vẫn còn đứng trước nhiều hạn chế, khó khăn nhất là về chất lượng và quản lý nhà nước về giáo dục Thi cử còn nặng nề, việc thương mại hoá một số hoạt động giáo dục đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn Còn mất cân đối giữa đào tạo nghề với đại học, giữa các ngành nghề, có sự chênh lệch lớn giữa các địa phương, vùng; nhiều nhu cầu nhân lực của nền kinh tế chưa được đáp ứng.”
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) chủ trương: “Đổi mới toàn
diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”, đặc biệt
quan tâm và nhấn mạnh hơn nữa mục tiêu giáo dục con người phát triển toàn
diện, nhất là thế hệ trẻ Văn kiện Đại hội tiếp tục khẳng định: “Giáo dục và
đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng
và là động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [10; tr.94 - 95] Để cụ
thể hóa mục tiêu trên, Đảng và Nhà nước đã chủ trương phát triển giáo dục một cách tổng thể và toàn diện bắt đầu từ chủ trương phát triển giáo dục mầm non; đổi mới cơ cấu tổ chức cơ chế quản lý nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”; chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các các cấp học, ngành học, tạo ra nhiều cơ hội khác nhau cho người học, đảm bảo công bằng trong xã hội
Trước cơ hội và thách thức của thời đại, để Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp với mục tiêu đó, giáo dục và đào tạo phải thực hiện được nhiệm vụ “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài” cho đất
Trang 32nước “Sản phẩm” của giáo dục chính là con người Muốn tạo ra thế hệ công dân mới có năng lực và bản lĩnh, để có thể gánh vác được trọng trách của lịch
sử, ngành giáo dục và đào tạo phải thực sự đổi mới, phải kiên quyết chống tiêu cực Vì vậy, ngày 8/9/2006, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số
33/2006/CT-TTg “về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo
dục” Từ năm học 2006 - 2007, thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Bộ
Giáo dục & Đào tạo phát động cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong
thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” (gọi tắt là cuộc vận động “Hai
không”) Trong không khí sôi nổi của toàn ngành tích cực thực hiện cuộc vận
động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”và cuộc vận động “Hai không”, Công đoàn Giáo dục Việt Nam phát động cuộc vận động
“Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học, sáng tạo”, nhấn
mạnh vai trò gương mẫu, những phẩm chất tốt đẹp cần có của đội ngũ nhà giáo, những nhân tố trực tiếp tạo nên thành công của các cuộc vận động và phong trào thi đua của ngành
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011), một lần nữa
Đảng khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa
học và công nghệ là quốc sách hàng đầu” [11; tr.77] Ngày 4/11/2013, Tổng
Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội Nghị lần 8, Ban
Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29- NQ/TW) về “Đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Trong nghị quyết đã đưa ra 7 quan điểm về định hướng đổi mới căn
bản, phát triển toàn diện giáo dục và đào tạo cụ thể:
“Thứ nhất, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự
nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”
“Thứ hai, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới
những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến