1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề chung về quản lý di sản văn hóa với phát triễn du lịch ở Việt Nam hiện nay.

20 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 383,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật Di sản đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kì họp thứ 9 thông qua này 29 tháng 6 năm 2001, trong đó nêu lên cách hiểu về các thuật ngữ có liên quan đến

Trang 1

MỞ ĐẦU

Du lịch đã và đang trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, được coi là một ngành kinh tế mang tính tổng hợp, góp phần thúc đẩy

sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, tạo công ăn việc làm, mở rộng giao lưu văn hoá và xã hội giữa các địa phương, giúp nâng cao hiểu biết, tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị, hoà bình giữa các dân tộc, vùng miền Đối với nước ta hiện nay, du lịch góp phần không nhỏ vào việc thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Thu nhập từ hoạt động Du lịch Việt Nam ngày càng cao, trong thời gian gần đây, hàng năm tổng thu bình quân từ ngành du lịch đạt hơn 300.000 tỷ đồng, đóng góp trên 7% GDP/năm và tạo ra 2,5 triệu việc làm cho người lao động Du lịch đang dần trở thành một ngành “công nghiệp không khói”, đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Nắm bắt được xu thế đó, trong quá trình đổi mới và hội nhập, Đảng và nhà nước ta

đã đề ra những chủ trương, quan điểm hết sức đúng đắn để phát triển du lịch Xác định quan điểm phát triển du lịch bền vững, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, qua đó góp phần thực hiện Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước, từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch có tầm cỡ của khu vực

Trong những năm gần đây, hòa nhịp với công cuộc đổi mới đất nước tiến trình hội nhập quốc tế, ngành du lịch cả nước đã nỗ lực vượt qua khó khăn, huy động nội lực và tranh thủ nguồn lực quốc tế để phát triển Nhờ đó đã góp phần tích cực vào việc tăng trưởng kinh tế, giữ gìn và phát huy sức sống bản sắc văn hóa cũng như giá trị truyền thống của dân tộc, giải quyết các vấn đề xã hội của đất nước

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn có một số vấn đề về quản lý di sản văn hóa với phát triễn du lịch ở Việt Nam còn bộc lộ những hạn chế, bất cập trên nhiều mặt Chính vì vậy, sau đây tôi xin đề cập đến với mọi người “những vấn đề chung về quản lý di sản văn hóa với phát triễn du lịch ở Việt Nam hiện nay”

Trang 2

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận 1.1 Khái niệm về di sản và quản lý di sản

Di sản là những giá trị văn hóa, lịch sử của các thế hệ trước để lại cho thế hệ sau

Di sản gồm có các di sản vật thể và các di sản phi vật thể

Quản lý di sản văn hóa là quản lý các hoạt động của con người/ cộng đồng xã hội (nghiên cứu, kiểm kê, xếp hạng, tu bổ, tôn tạo, phát huy giá trị,…) có thể tác động ở cả hai chiều thuận và nghịch tới di sản văn hóa Có thể hiểu, quản lý di sản văn hóa là thiết lập mối quan hệ gắn bó giữa cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và cộng đồng dân cư địa phương nơi có di sản cần được bảo vệ, phát huy

Luật Di sản đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X,

kì họp thứ 9 thông qua này 29 tháng 6 năm 2001, trong đó nêu lên cách hiểu về các thuật ngữ có liên quan đến di sản văn hóa, gồm:

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác

Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học

Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học

Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học

Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên

Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học

Bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là sản phẩm được làm giống như bản gốc

về hình dáng, kích thước, chất liệu, màu sắc, trang trí và những đặc điểm khác

Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội

Theo Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên thế giới được Hội nghị toàn thể Tổ chức Liên hợp quốc về Giáo dục Khoa học và Văn hóa thông qua tại kì họp thứ

17 họp tại Paris, thì Di sản văn hóa được hiểu là “Di tích: các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa hoành tráng, các yếu tố hay cấu trúc có tính chất khảo cổ, các văn tự, các hang động và các công trình có sự kết hợp nhiều đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hay khoa học”

Trang 3

Từ trước đến nay khi nói đến di sản, chúng ta đều hiểu là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần mà cha ông để lại cho chúng ta Tuy nhiên bên cạnh những di sản tích cực còn có không ít những di sản tiêu cực tạo thành những thói quen, tập tục truyền thống mà không phải ngày một ngày hai có thể khắc phục được

Trong từng giai đoạn của lịch sử việc nhìn nhận vấn đề di sản văn hóa có khác nhau, tuy nhiên bằng cách này hay cách khác, di sản văn hóa dân tộc vẫn được bảo vệ

Kể cả những lúc khó khăn nhất trong chiến tranh như khi giặc Minh sang xâm lược nước ta, với chính sách hủy diệt văn hóa: phá sạch, đốt sạch thì người dân bằng nhiều cách khác nhau vẫn cố gắng giữ gìn đến mức cao nhất các di sản văn hóa của cha ông như việc chôn giấu bia kí, tượng hay các tài liệu… sau chiến tranh thì lại tìm cách khôi phục cho các thế hệ sau này Quan trọng hơn là cách gìn giữ di sản bằng con đường truyền khẩu qua những truyền thuyết, chuyện cổ tích dã sử, hương ước, luật tục, lễ hội, tín ngưỡng, ca dao, tục ngữ, dân ca… Chính vì gìn giữ được các di sản văn hóa mà nước Việt đã tồn tại vững vàng trong các cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm

Trong quá khứ, nước ta phần lớn mới chỉ khai thác di sản văn hóa ở các giá trị lịch

sử và truyền thống yêu nước của ngàn năm văn hiến để giáo dục, động viên, khích lệ toàn dân vào công cuộc chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước mà chưa có sự khai thác để phục vụ kinh tế Để khắc phục những thiếu sót ấy, quan điểm cơ bản về

di sản văn hóa của chúng ta được thể hiện rõ trong Nghị quyết V của Ban chấp hành Trung ương khóa VIII:

+ Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

+ Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

+ Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

+ Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ tri thức giữ vai trò quan trọng

+ Văn hóa là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng

Có thể nói dưới ánh sáng của các quan điểm của Đảng và Nhà nước những năm gần đây chúng ta mới chú trọng đến việc khai thác các giá trị văn hóa nhằm mục đích kinh tế Quan điểm kinh tế trong văn hóa, dùng văn hóa làm kinh tế đang được tiến hành ngày càng mạnh mẽ trong xu thế hội nhập hiện nay Một trong những hướng để thực hiện chiến lược ấy chính là khai thác di sản văn hóa phục vụ cho việc phát triển

du lịch, biến văn hóa thành những sản phẩm du lịch góp phần vào sự phát triển của đất nước

1.2 Khái niệm về du lịch

Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến Hội đồng

Lữ hành và Du lịch quốc tế (World Travel and Tourism Council - WTTC) đã công bố

du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới, vượt trên cả ngành sản xuất ôtô, thép, điện tử và nông nghiệp Đối với một số quốc gia, du lịch là nguồn thu ngoại tệ quan

Trang 4

trọng nhất trong ngoại thương Nhiều nước đã lấy chỉ tiêu đi du lịch của dân cư là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng của cuộc sống

Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của loài người Theo kết quả điều tra của các nhà khảo cổ học, họ đã tìm thấy những di tích của người giống Homo Erectus ở Trung Quốc và Java, mà giống người này theo lịch sử của loài người có nguồn gốc ở miền Đông và Nam Châu Phi cách đây khoảng 1 triệu năm Các chuyên gia cho rằng để di chuyển được một khoảng cách như vậy, loài người thời bấy giờ phải mất khoảng 15.000 năm Đã có nhiều giả thuyết được đưa ra về những động lực tạo ra những cuộc hành trình trường kì như vậy Một giả thuyết cho rằng những người cổ xưa đi du mục để tìm thức ăn và trốn tránh nguy hiểm Một giả thuyết khác cho rằng con người quan sát sự di chuyển của loài chim và muốn biết chúng từ đâu đến và chúng bay đi đâu nên họ đã di chuyển mặc dù họ không thiếu ăn nơi họ sinh sống Tức là từ xa xưa, con người đã luôn có tính tò mò muốn tìm hiểu thế giới xung quanh, bên ngoài nơi sinh sống của họ Con người luôn muốn biết những nơi khác có cảnh quan ra sao, muốn biết về các dân tộc, nền văn hóa, các động vật, thực vật và địa hình ở những vùng khác hay quốc gia khác

Mặc dù hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và phát triển với tốc độ rất nhanh, song cho đến nay khái niệm “du lịch” được hiểu rất khác nhau tại

các quốc gia khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau Berneker cho rằng: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”.

Các định nghĩa về du lịch được liệt kê sơ lược gồm: Năm 1811, lần đầu tiên có định nghĩa về du lịch tại Anh như sau:

Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của cuộc hành trình với mục đích giải trí Ở đây, giải trí là động cơ chính

Năm 1930, ông Glusman người Thụy Sĩ định nghĩa: “Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường xuyên”

Hai giáo sư, tiến sĩ Hunziker và Krapf được coi là những người đặt nền móng cho

lý thuyết về cung du lịch đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch là tập hợp các mối quan

hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kiếm lời” Đại hội lần thứ 5 của Hiệp hội quốc tế những nhà

nghiên cứu khoa học về du lịch đã chấp nhận định nghĩa này làm cơ sở cho môn khoa học du lịch

Khoa Du lịch và Khách sạn trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội có đưa

ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và nhu cầu khác của khách du lịch Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp”.

Trong Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam, tại điều 10, thuật ngữ du lịch được

hiểu như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.

Trang 5

Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa xã hội

1.3 Sự phát triễn của du lịch Việt Nam

Mặc dù có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, song ngành du lịch, chủ thể của du lịch Việt Nam cũng mới chỉ ra đời cách đây được hơn 40 năm (thành lập ngày 9/7/1960 theo Nghị định 26/CP của Chính phủ), từ Công ty du lịch Việt Nam ngày ấy đến Tổng cục du lịch Việt Nam hiện nay, ngành du lịch Việt Nam đã trải qua bao thăng trầm và từng bước trưởng thành và có nhiều chuyển biến đáng kể

Trong giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1975 thì ngành du lịch không có điều kiện

để phát triển vì đất nước đang trong tình trạng chiến tranh Cơ sở vật chất ban đầu có một vài khách sạn cũ với 20 chiếc giường phục vụ khách quốc tế, phương tiện vận chuyển gồm 1 xe Zill và một xe Simca cũ Số lượng công nhân viên tính đến cuối năm

1961 là 112 người với trình độ nghiệp vụ khác nhau, nhưng chưa ai hiểu biết gì về du lịch Nhiệm vụ chủ yếu của ngành du lịch Việt Nam (miền Bắc) trong giai đoạn này là phục vụ các đoàn khách quốc tế, chủ yếu của các nước xã hội chủ nghĩa, ngoài ra còn phục vụ khách du lịch nội địa

Khách du lịch nội địa là những công dân có thành tích trong chiến đấu, lao động, học tập được đi nghỉ mát, điều dưỡng Với ý nghĩa đó, khái niệm kinh doanh du lịch chưa xuất hiện và chưa được biết đến ở thời kì này Còn ở miền Nam, chính quyền cũ cũng không chú trọng đầu tư để phát triển du lịch, cơ sở vật chất kĩ thuật chủ yếu là cơ

sở lưu trú, ăn uống phục vụ binh lính Mỹ và lính đánh thuê

Ngày 9/7/1960, thủ tướng Chính phủ ra quyết định 26/CP thành lập công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương Về mặt ý nghĩa, tổ chức này đã đặt nền móng cho sự hình thành một ngành kinh tế mới mẻ của đất nước Chính vì vậy ngày 9/7 được coi là ngày thành lập ngành du lịch Việt Nam

Do lượng khách ngày một tăng và nhu cầu tham quan du lịch đã xuất hiện nên ngày 16/3/1963, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương đã quyết định giao cho công ty du lịch Việt Nam làm nhiệm vụ kinh doanh nhằm thu thêm ngoại tệ cho đất nước

Đến ngày 12/9/1969, ngành du lịch được giao cho Bộ Công an và Văn phòng Thủ tướng trực tiếp quản lý và đến năm 1977 du lịch được giao cho toàn bộ ngành Công

an quản lý

Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1989, sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

toàn thắng vào mùa xuân 1975, đất nước Việt Nam chuyển sang một kỷ nguyên mới Đây chính là điều kiện và cơ hội thuận lợi cho ngành du lịch Việt Nam Ngày 27/6/1978, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nghị định số 282/NQ – QHK6 thành lập Tổng cục du lịch trên cơ sở một vụ của Bộ Nội vụ Do đó, Tổng cục du lịch trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Sự kiện này đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong quá trình phát triển của ngành du lịch Việt Nam

Đến năm 1981, Du lịch Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Du lịch thế giới WTO Cơ sở vật chất kĩ thuật của ngành cũng được mở rộng bằng việc xây dựng khách sạn mới ở miền Bắc, tiếp quản các khách sạn của chế độ cũ sau ngày miền Nam giải phóng

Trang 6

Do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại và do bối cảnh quốc tế lúc đó, cộng thêm

cơ chế quản lý kinh tế còn mang nặng tính bao cấp, cấp phát của thời chiến vẫn còn nên nền kinh tế nói chung và du lịch nói riêng chưa có động lực để phát triển Đến khi Đại hội VI diễn ra, với chính sách mở cửa, Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước,

du lịch mới có điều kiện khởi sắc

Giai đoạn từ 1990 đến nay, cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước, ngành du

lịch Việt Nam đã từng bước khắc phục những khó khăn để ra sức phấn đấu thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước

Trải qua nhiều thay đổi về tổ chức của ngành, từ chỗ ngành du lịch được giao cho

Bộ Văn hóa – Thông tin – Thể thao và Du lịch quản lý Nhà nước theo quyết định số 244/QĐ – HĐNN của Hội đồng Nhà nước ngày 31/3/1990 cho đến tháng 12/1991 Chính phủ quyết định chuyển sang chức năng quản lý nhà nước đối với ngành du lịch sang Bộ Thương mại và Du lịch Tới ngày 26/10/1992 Chính phủ có nghị định 05/CP

về việc thành lập Tổng Cục du lịch Bắt đầu từ đây, du lịch Việt Nam chuyển sang trang mới, đó là công tác quản lý nhà nước về du lịch được tăng cường, quy hoạch tổng thể về du lịch được triển khai thực hiện

Trang 7

CHƯƠNG 2: Quản lý di sản văn hóa với phát triễn du lịch ở việt nam hiện

nay 2.1 Tác động qua lại giữa di sản với du lịch

2.1.1 Tích cực

Thực tế minh chứng di sản văn hóa tạo sức hấp dẫn vô cùng tận cho điểm đến du lịch Di sản văn hóa là động cơ, là duyên cớ thôi thúc chuyến đi, là môi trường tương tác và là những trải nghiệm đáng giá cho du khách, qua đó trở thành tài nguyên, nguồn lực chiến lược cho phát triển du lịch Cũng chính sức cuốn hút ấy của di sản văn hóa

đã tạo nên những làn sóng đầu tư vào du lịch di sản, những dòng khách du lịch tấp nập

đổ về; người người, nhà nhà làm du lịch Điều đó mang lại không chỉ những kết quả tăng trưởng lan tỏa nhiều mặt về kinh tế-xã hội, mà còn bảo tồn chính di sản văn hóa Nhưng cũng chính quá trình vận động du lịch ồ ạt thiếu kiểm soát ở nhiều nơi đang gieo rắc không ít những tác động tiêu cực tới di sản văn hóa trở thành những hệ lụy phải trả giá đắt Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay đòi hỏi các bên cùng hành động, có những biện pháp kiểm soát thích đáng để bảo tồn và phát huy bền vững đối với di sản văn hóa trong phát triển du lịch

Di sản văn hóa tạo động lực cho du lịch: Di sản văn hóa là tài nguyên du lịch có

sức hấp dẫn mạnh mẽ, là động lực thu hút ngày càng nhiều khách tham quan trong nước và khách du lịch quốc tế đến Việt Nam Hiện nay, ngành du lịch xem đây là nền tảng, trụ cột quan trọng để phát triển kinh tế du lịch bên cạnh các yếu tố về hạ tầng, cơ

sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành và nguồn nhân lực Di sản văn hóa cũng là công cụ

hỗ trợ tích cực trong việc định vị hình ảnh, xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam Chúng ta có quyền tự hào về bề dày lịch sử ngàn đời của đất nước với 54 dân tộc anh em đã để lại cho hôm nay một kho tàng di sản văn hóa đồ sộ, vô cùng phong phú,

đa dạng và độc đáo Đến nay đã có 24 di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và di sản thiên nhiên được UNESCO vinh danh là di sản thế giới; trong đó có 8 di sản thiên nhiên và di sản văn hóa vật thể (Vịnh Hạ Long, Hoàng Thành Thăng Long, quần thể danh thắng Tràng An, Thành Nhà Hồ, Phong Nha Kẻ Bàng, Cố đô Huế, Phố cổ Hội

An, Di tích Mỹ Sơn); 12 di sản văn hóa phi vật thể (Nhã nhạc Cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ, Lễ hội Gióng, Ca Trù, Hát Xoan, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam, Dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh, Nghi lễ kéo co, Đờn ca Tài tử Nam Bộ; Bài Chòi Trung Bộ); và 4 di sản tư liệu (Bia Tiến sỹ Văn Miếu Quốc Tử Giám, Mộc bản Triều Nguyễn, Châu bản Triều Nguyễn, Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm tỉnh Bắc Giang) Cùng với đó là hàng vạn di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được công nhận di sản Chỉ tính riêng di sản văn hóa vật thể ước tính có hơn 3.000 di sản cấp quốc gia và khoảng 7.500 di sản cấp tỉnh và nhiều công trình di tích vẫn đang được thống kê; hệ thống các lễ hội, làng nghề truyền thống; văn hóa ẩm thực của các vùng miền, của các dân tộc; các di sản văn hóa văn nghệ dân gian…

Trang 8

Trên cơ sở phát huy các giá trị di sản văn hóa đặc trưng riêng có của mỗi loại hình

di sản, những năm gần đây, du lịch di sản đã phát triển mạnh mẽ, lượng khách tham quan trong nước và quốc tế không ngừng gia tăng, đặc biệt di sản sau khi được Nhà nước lập hồ sơ công nhận và được UNESCO vinh danh Sức hấp dẫn của di sản đã tạo động lực cho phát triển du lịch mang lại nhiều lợi ích về thu nhập, việc làm và phát triển kinh tế-xã hội địa phương Cụ thể như Quần thể di tích cố đô Huế, năm 2017 đón

3 triệu lượt khách du lịch, trong đó 1,8 triệu khách du lịch quốc tế, thu được 320 tỷ đồng riêng từ vé tham quan; Phố cổ Hội An đón 1,96 triệu lượt khách, thu về 219 tỷ đồng riêng từ vé tham quan Các di sản nổi tiếng như Hạ Long, Phong Nha-Kẻ Bàng, Tràng An, Yên Tử, Núi Bà Đen… những năm gần đây không ngừng được đầu tư phát triển Qua đó, du lịch di sản đã đóng góp to lớn vào sự phát triển vượt bậc của ngành

du lịch thời gian qua Cụ thể giai đoạn từ 2010 đến nay, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng gấp hơn 2,5 lần, từ 5 triệu lượt năm 2010 lên 12,9 triệu lượt năm 2017, trung bình tăng 14,5% năm (đặc biệt năm 2017 tăng tới 29,1% so với 2016) Khách du lịch nội địa tăng gấp 2,6 lần, từ 28 triệu lượt năm 2010 lên 73,2 triệu lượt năm 2017, tăng trung bình 14,6% Tổng thu du lịch tăng trên 5 lần, từ 96.000 tỷ năm 2010 lên 510.000 tỷ năm 2017, trung bình tăng 26,9%, đóng góp trên 7% GDP và tác động lan tỏa trên 13,9% GDP; tạo ra trên 1,2 triệu việc làm trực tiếp và 3,6 triệu việc làm gián tiếp Nhiều sản phẩm du lịch di sản đã trở thành thương hiệu đặc trưng cho du lịch Việt Nam Đặc biệt, di sản văn hoá còn là yếu tố quan trọng tạo nên sự khác biệt cho

hệ thống điểm đến và sản phẩm du lịch của Việt Nam, kết nối và đa dạng hoá các tuyến du lịch xuyên vùng và quốc tế

Phố cổ Hội An (Quảng Nam)

Du lịch phát huy giá trị di sản văn hóa: Trên thế giới, du lịch văn hóa đã từ lâu

và sẽ mãi mãi là trường phái hay dòng sản phẩm du lịch cơ bản Đặc biệt đối với các quốc gia, vùng lãnh thổ có chiều sâu văn hóa đo bằng hệ thống di sản đậm đặc như nước ta thì du lịch di sản trở thành một trong những thế mạnh nổi trội Ngày nay, du lịch di sản hướng thu hút khách tìm đến những giá trị về nguồn, tìm hiểu, tương tác, trải nghiệm để thẩm thấu những giá trị di sản văn hóa đậm đà bản sắc của các dân tộc, các tộc người Ở nước ta, chủ trương phát triển du lịch trên cơ sở bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã được thể hiện trong Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi

Trang 9

nhọn Du lịch văn hóa vì vậy là một dòng sản phẩm chủ đạo của du lịch Việt Nam, từ tham quan di tích lịch sử văn hóa, hệ thống bảo tàng, các công trình văn hóa, hoạt động nghệ thuật, cho tới tìm hiểu, tương tác, trải nghiệm văn hóa, lễ hội, lối sống địa phương, thưởng thức ẩm thực, sản vật vùng miền…

Có thể khẳng định, du lịch đã thúc đẩy việc bảo vệ kho tàng văn hóa của quốc gia Chính nhu cầu tham quan, tìm hiểu, trải nghiệm của du khách đã thôi thúc chính quyền và người dân biết quý trọng, tự hào, quan tâm chăm lo gìn giữ bảo tồn, phục dựng và làm sáng tỏ, phát huy những giá trị vốn quý của di sản văn hóa Hoạt động du lịch dựa vào di sản ở nhiều nơi như Huế, Hội An, Hạ Long…đã và đang trở thành cơ

sở, động lực sinh kế chính, ngành nghề chủ yếu của người dân cũng như ngành kinh tế chủ lực của địa phương Du lịch di sản vừa tạo ra thu nhập, việc làm vừa tạo động cơ, vừa tạo ra nguồn lực để bảo tồn và phát huy giá trị di sản; đồng thời hỗ trợ tích cực nâng cao chất lượng cuộc sống, tăng cường hiểu biết, tôn trọng đa dạng và giao thoa các nền văn hóa, làm cơ sở hình thành quy tắc ứng xử phù hợp giữa người dân với khách du lịch và với di sản Những lợi ích của du lịch di sản là không nhỏ và được chia sẻ đến doanh nghiệp, người dân Một phần doanh thu từ du lịch di sản được quay trở lại tái đầu tư vào việc bảo tồn, tôn tạo, tôn vinh, phục dựng và quản lý di sản Với

ý nghĩa đó, du lịch di sản đóng góp to lớn cho bảo tồn và phát huy bền vững di sản văn hóa

Tuy nghiên, trong xu hướng du lịch tăng trưởng mạnh như hiện nay, đặc biệt là du lịch đại trà đã và đang có những tác động tiêu cực tới di sản văn hóa Do tính chất nhạy cảm và dễ bị tổn thương của di sản mà quá trình vận động du lịch ồ ạt thiếu kiểm soát ở nhiều nơi, đặc biệt là ở những di sản nổi tiếng ở nước ta đang gieo rắc không ít những tác động nhiều mặt như: sự khai thác thương mại hóa quá mức, quá tải về khách, sự lạm dụng di sản, phục dựng sai quy cách, làm mới di sản v.v… làm cho di sản nhanh xuống cấp, méo mó, nhạt nhòa giá trị… Hệ lụy của việc phát triển du lịch

di sản thiếu kiểm soát, thiếu bền vững đó đang đe dọa tới tính nguyên vẹn của di sản Thời gian qua, ở một số di sản nổi tiếng đã có những hoạt động đầu tư phát triển, trong đó có những xâm hại nghiêm trọng tới di sản mà giai đoạn kế tiếp sẽ phải trả giá rất đắt cho việc phục hồi giá trị di sản đã bị xâm hại Ở khía cạnh khác, tình trạng du lịch có tính thương mại hóa quá mức, nhàm hóa giá trị văn hóa; nguy cơ phai nhòa bản sắc, phá vỡ truyền thống và lối sống địa phương; gia tăng sự chia rẽ cộng đồng, xung đột lợi ích, mâu thuẫn về quyền tiếp cận tài nguyên, trong đó có tài nguyên di sản văn hóa… đang dấy lên hồi chuông báo động đối với các bên liên quan trong việc quản lý bền vững tài nguyên di sản văn hóa trong phát triển du lịch

Tạo sức sống cho di sản văn hóa: Phát huy thế mạnh về tài nguyên di sản văn hóa,

trong đó lấy du lịch di sản là hướng trọng tâm có tính chất chìa khóa hướng tới mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, thì đòi hỏi các bên cùng hành động, có những giải pháp hữu hiệu về bảo tồn và phát huy bền vững đối với di sản văn hóa trong phát triển du lịch:

Một là, quan tâm đến việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hoạch định chính sách quản lý và quy hoạch bảo tồn và phát huy bền vững giá trị của di sản văn hóa trong phát triển du lịch; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, giá trị văn hóa truyền thống gắn với quy hoạch phát triển du lịch

Trang 10

Hai là, có chiến lược phát triển du lịch văn hóa phù hợp, trong đó lựa chọn sản phẩm du lịch dựa trên phát huy giá trị di sản văn hóa; phát triển du lịch có trách nhiệm gắn với văn hóa cộng đồng; tôn trọng đa dạng văn hóa, đề cao vai trò văn hóa bản địa; nâng cao nhận thức, bảo vệ lợi ích và phát huy vai trò của cộng đồng dân cư địa phương trong phát triển du lịch văn hóa

Ba là, định hướng hoạt động du lịch và các hoạt động dân sinh khác trong lòng di sản một cách bền vững; quy định chi tiết về quy tắc ứng xử với di sản; những gì được làm, không được làm, những gì nên, không nên làm; kiểm soát nghiêm ngặt tác động

về sức chứa, loại hình hoạt động và cân bằng nhịp sống của hệ sinh thái tại di sản; khuyến khích cộng đồng địa phương chủ động cùng tham gia quản lý di sản, gắn lợi ích của cộng đồng địa phương với việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản

Bốn là, xây dựng hệ thống dữ liệu số hóa về di sản văn hóa Việt Nam, ứng dụng công nghệ 4.0 trong quản lý khai thác di sản văn hóa và phát triển du lịch di sản; tăng cường đào tạo kỹ năng thuyết minh và ứng dụng thuyết minh tự động để làm thăng hoa giá trị cho di sản trong hoạt động hướng dẫn du lịch và phát triển sản phẩm du lịch thông minh

Năm là, xử lý nghiêm, triệt để những vi phạm đối với di sản đi liền với quá trình

tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp, người dân và du khách; khuyến khích, tôn vinh các hoạt động du lịch tình nguyện, tự nguyện đóng góp nguồn lực, trí tuệ cho việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

2.1.2 Tiêu cực

Di sản văn hóa được xác định là nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Việc khai thác, phát huy giá trị các di tích đã góp phần tích cực trong thu hút khách du lịch, phát triển kinh tế, xã hội của các địa phương Tuy nhiên, sự phát triển

du lịch nhanh, liên tục lại đang gây nhiều áp lực cho công tác bảo tồn, thậm chí có nguy cơ làm biến dạng di tích

Hiện nay, Việt Nam có trên 4 vạn di tích đã được kiểm kê theo quy định của Luật

Di sản văn hóa, gần 10.000 di tích xếp hạng cấp tỉnh, thành phố, 3.463 di tích quốc gia, 95 di tích quốc gia đặc biệt, nhiều di tích tiêu biểu đã được lựa chọn để lập hồ sơ khoa học, trình và đã được UNESCO ghi danh 8 di sản vào danh mục Di sản thế giới Các khu di sản là điểm đến được ưa thích của khách du lịch, đem lại nguồn thu lớn từ

vé tham quan và dịch vụ du lịch Theo công bố chính thức từ Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch, năm 2017, Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) đón trên 3,6 triệu lượt khách (trong

đó có 2,4 triệu lượt khách quốc tế và 1,2 triệu lượt khách trong nước); quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình) đón 6,1 triệu lượt khách (trong đó có 710.834 lượt khách quốc tế và 5.415.050 lượt khách trong nước)

Ngày đăng: 30/03/2021, 15:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w