ĐỀ BÀI: Anh (chị) hãy trình bày về tiếp biến văn hóa trong Nghệ thuật biểu diễn Việt Nam với nước ngoài ? BÀI LÀM Nhiều năm gần đây, nghệ thuật biểu diễn truyền thống đã ở giữa nhiều sóng gió của thị trường và chịu nhiều thử thách trước nguy cơ lãng phai. Giữ bản sắc văn hóa Việt trong hội nhập là vấn đề quan trọng được đặt ra ngày càng cấp bách. Thế nên việc hiểu rõ về quá trình tiếp biến văn hóa trong nghệ thuật biểu diễn của Việt Nam với nước ngoài là vấn đề quan trọng nhằm có một cái nhìn tổng quan trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống, đặc biệt là nghệ thuật biểu diễn vốn dễ thất truyền là việc cần làm ngay và làm dài hơi
Trang 1ĐỀ BÀI:
Anh (chị) hãy trình bày về tiếp biến văn hóa trong Nghệ thuật biểu diễn Việt Nam với nước ngoài ?
BÀI LÀM
Nhiều năm gần đây, nghệ thuật biểu diễn truyền thống đã ở giữa nhiều
"sóng gió" của thị trường và chịu nhiều thử thách trước nguy cơ lãng phai Giữ bản sắc văn hóa Việt trong hội nhập là vấn đề quan trọng được đặt ra ngày càng cấp bách Thế nên việc hiểu rõ về quá trình tiếp biến văn hóa trong nghệ thuật biểu diễn của Việt Nam với nước ngoài là vấn đề quan trọng nhằm có một cái nhìn tổng quan trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống, đặc biệt là nghệ thuật biểu diễn vốn dễ thất truyền là việc cần làm ngay và làm dài hơi
Nghệ thuật biểu diễn Việt Nam trải qua 3 giai đoạn tiếp biến văn hóa với nước ngoài Thời kỳ Bắc thuộc là giai đoạn tiếp biến văn hóa lần thứ nhất, tiếp biến một cách hồn nhiên, khách quan, tự giác, do vậy nghệ thuật biểu diễn thời kỳ này ngoài nhạc cụ như: nhị, nguyệt, tam, tứ, thanh la, kèn; truyện truyền miệng thì giai đoạn này còn có ca, múa, nhạc được tiếp thu một cách có chọn lọc từ Trung Quốc Nghệ thuật biểu diễn giai đoạn này đã
có ca múa nhạc, trò diễn, hề, có nghệ thuật diễn xướng dân gian Trò diễn với các vai: hề, lão, mụ, kép, đào, trò diễn mang tính sinh tồn, mang tính văn hóa, thẩm mỹ, với những vai mẫu là tiền đề cho nghệ thuật sân khấu Việt Nam trong tương lai
Thời Lý, xuất hiện ca trù trở thành một loại hình độc đáo mang tính bác học cao, ta còn có các dân ca quan họ, xoan, ghẹo, cò lả, trống quân Nhạc
cung đình và nhạc dân gian đều hướng tới việc tế lễ (phường bát âm, múa sinh tiền) Múa phát triển cả trong sinh tiền và múa dân gian Ca múa nhạc
phát triển phong phú, đa dạng và hấp dẫn Thời này nghệ thuật biểu diễn
Trang 2mang tính chuyên nghiệp trong cung đình và nghệ thuật diễn xướng dân gian phát triển mạnh Thời Trần 3 lần đánh tan quân Nguyên Mông, kế thừa văn hóa của thời Lý và văn hóa Trung Quốc Đây là thời kỳ tiếp biến văn hóa bằng ý thức của dân tộc, là lần thứ 2 tiếp biến văn hóa Trung Quốc, trước đây là tiếp biến áp đặt, còn tiếp biến lần 2 này là tự giác gồm các yếu tố nội sinh và ngoại sinh để phát triển Nghệ thuật biểu diễn thời Trần có ông tổ nghệ thuật sân khấu là Lý Nguyên Cát, ông là người Trung Quốc và đã truyền dạy nghệ thuật cho con em quý tộc nhà Trần, ông đem đến cho nghệ thuật biểu diễn Việt Nam từ trò có thêm tích và nghệ thuật sân khấu Việt Nam ra đời Đây là giai đoạn tiếp biến văn hóa tiếp thu “tích” của Trung Quốc còn “trò” của Việt Nam với vở “Tây vương mẫu dâng quả bàn đào” của Lý Nguyên Cát Nghệ thuật sân khấu Việt Nam phát triển mạnh mẽ dưới hai hình thức cung đình và dân gian, mối quan hệ giữa cung đình và dân gian luôn gần gũi nhau, nghệ thuật sân khấu đã ra đời và phát triển rộng khắp Đến thời Lê, nghệ thuật biểu diễn thời kỳ này có sự kiện quan trọng đó
là “Luật Hồng Đức” ra đời coi nghệ sỹ là “xướng ca vô loại”, nghệ thuật biểu diễn bị đẩy ra ngoài cung đình và sống trong dân gian, những ai có liên quan đến nghệ sỹ thì không được làm quan và không được đi thi Thời kỳ này có Đào Duy Từ là ông tổ của nghệ thuật sân khấu Tuồng, ông đã mang nghệ thuật biểu diễn miền Bắc, dân ca miền Trung, võ Bình Định tạo thành Tuồng miền Trung Thời kỳ này đã có quản lý nghệ thuật biểu diễn, thời nhà
Lê, nhà nước quản lý ở cung đình, ở dân gian và ở các phường, gánh Ở miền Bắc (đàng ngoài) nghệ thuật chủ yếu là ở cung đình và dân gian, cũng
có phường, gánh nhưng được tự do không bị quản lý, do đó sinh ra loại hình chèo tứ chiếng (chiếng chèo Bắc, Nam, Đông, Đoài …) Ở miền Trung (đàng trong) có Tuồng được quản lý từ trung ương đến địa phương
Đến khi nhà Nguyễn lên cầm quyền, kế thừa cả một nền nghệ thuật biểu diễn phát triển mạnh mẽ lên nghệ thuật hiện đại Văn học nghệ thuật
Trang 3thời kỳ này chia làm 3 loại: chính danh, dân gian và ở ẩn Nội dung chính của 3 loại trên là phê phán hiện thực và tiền chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam Chính vì hiện thực này nên nhà Nguyễn tạo ra Tuồng với một lý tưởng là Tuồng – quân quốc: tức là tuồng có đề tài về nhà vua, đề cao vua và tất cả vì vua Vua nuôi nghệ sỹ, đề cao nghệ sỹ, quản lý sự sáng tạo của nghệ sỹ
Tuồng quân quốc dẫn tới tuồng cung đình (tuồng chỉ diễn trong cung cho vua xem) Thời kỳ này, chèo chỉ ở miền Bắc và dừng lại ở dân gian sân đình,
đề tài chỉ là nông dân, nông thôn … mối quan hệ vợ chồng, anh em, bạn bè
… khác với mối quan hệ vua, tôi trong Tuồng Thời kỳ này ca múa nhạc dân gian ở từng vùng miền đều có của riêng mình như: xoan (Phú Thọ), ghẹo (Vĩnh Phúc)
Lần tiếp biến văn hóa thứ 2, giai đoạn thuộc Pháp, đây là thời kỳ Việt Nam thoát khỏi văn hóa Trung Hoa, văn hóa phương Đông mà tiếp biến văn hóa phương Tây Nếu văn hóa phương Đông là văn hóa lúa nước, trọng tĩnh, trọng âm, trọng nữ, trọng kinh nghiệm, mang tính chủ quan, văn học nghệ thuật là: biểu hiện, tả ý, tả thần Còn văn hóa phương Tây là văn hóa du mục, trọng động, trọng lý, trọng nam, trọng dương, trọng khoa học, mang tính khách quan, văn học nghệ thuật là: thể hiện và tả thực Trong lần tiếp biến này giống như một cuộc cách mạng giữa nội sinh và ngoại sinh xảy ra rất quyết liệt, văn học nghệ thuật của Việt Nam đang mang danh thời kỳ cận đại, văn học nghệ thuật thay đổi từ văn cổ sang văn mới (tiểu thuyết, ký …), thơ cổ sang thơ mới … chính vì vậy nghệ thuật sân khấu của Việt Nam tiếp biến nghệ thuật sân khấu phương Tây là kịch đã ồ ạt chuyển vào Việt Nam, thời kỳ này, nghệ thuật sân khấu có những thay đổi:
+ Tuồng không còn ở cung đình và có tuồng xã hội Tuồng ở Bắc, Trung, Nam mang yếu tố của thời đại đó là: bác học, chuyên nghiệp và thương mại Tuồng ở miền Trung có 2 loại cung đình và dân gian Tuồng đã
có hình thức mới, thể loại mới: tuồng xuân nữ, tuồng kiếm hiệp, tuồng lịch
Trang 4sử, tuồng phật tiên, tuồng xã hội (phục vụ khán giả kiếm sống cho nghệ sỹ -đây là yếu tố thương mại của phương Tây đã tác động vào văn học nghệ thuật của Việt Nam)
+ Chèo: ở miền Bắc có 2 dòng: chèo nông thôn vẫn theo chèo cổ chỉ diễn ở hội hè, mùa vụ … chèo thành thị: xuất hiện năm 1920 nhưng không sống được và chuyển sang chèo cải lương (1924), mở đầu cho cuộc tiếp biến chèo với sân khấu phương Tây – chèo tả thực chứ không tả ý, diễn ở sân khấu hộp, sân khấu có trang trí, có âm nhạc, có phục trang bắt mắt, hát đủ loại hình (nhạc tây, tuồng, cải lương …) nghĩa là chèo cải lương là kịch nói hát chèo (kịch chèo)
+ Kịch nói: bắt nguồn từ Pháp, có 3 nguồn gốc: sinh viên học ở Pháp
về, trường Pháp ở Việt Nam, các đoàn nghệ thuật kịch ở Pháp sang diễn … 3 nguồn gốc này đem đến cho Việt Nam sân khấu kịch Năm 1920 mở đầu ở Nhà hát lớn có vở “Người bệnh tưởng” của Molie, năm 1921 có vở “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long đánh dấu kịch nói Việt Nam ra đời, khai sinh thể loại kịch nói ở Việt Nam
+ Cải lương: ra đời ở Đồng bằng sông Cửu Long, năm 1917 vở cải lương đầu tiên ra đời là “Lục Vân Tiên” của Trương Duy Toản, năm 1927 ở miền Bắc đã có cải lương của mình và đã đi thành những đoàn chuyên nghiệp diễn cải lương
+ Xiếc: có từ lâu đời, dấu vết của nó là những trò chơi, leo cây, trèo cột
mỡ … nhưng đến năm 1930 thì nó mới là một loại hình mang tính chuyên nghiệp, thương mại Đội xiếc gia đình của Tạ Duy Hiển sáng lập có cả xiếc người, xiếc thú, ảo thuật …
+ Múa rối: có múa rối cạn và múa rối nước, Việt Nam là một đất nước nông nghiệp lúa nước, múa rối là con rối được diễn trên mặt nước có người
Trang 5điều khiểm đó là những nghệ sỹ, múa rối mới chỉ dừng lại ở phường, có yếu
tố gia đình, chưa phát triển mạnh mẽ
+ Nhạc: nhạc tây có 3 đường tiếp biến: lính tây, nhà thờ và các đoàn nghệ thuật của Pháp Nhạc tây 7 nốt – dùng nguyên si – biến tấu theo lối Việt Nam – sáng tác thành của Việt Nam Tốc độ phát triển của nhạc rất nhanh
+ Múa: bắt nguồn ở các câu lạc bộ, sinh viên các trường, đoàn nghệ thuật
Giai đoạn tiếp biến văn hóa lần thứ 3, tiếp thu hệ tư tưởng Mác – Lênin Trong giai đoạn này, từ nhân sinh quan, thế giới quan, thẩm mý quan, nghệ thuật quan của nghệ sỹ là chủ nghĩa Mác – Lênin; nghệ sỹ là chiến sỹ, nghệ thuật biểu diễn là phương tiện phục vụ tuyên truyền, phò chính trừ tà, soi đường cho quốc dân đi Nghệ thuật biểu diễn được bao cấp nhà nước, phương pháp sáng tác là: hiện thực xã hội chủ nghĩa Tất cả những điều trên đều nằm trong đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954): nghệ thuật biểu diễn cách mạng Việt Nam trở thành đội tuyên truyền cách mạng gồm 2 lực lượng: chuyên nghiệp và không chuyên (có tác giả, có văn bản, hoạt động trong thời gian rảnh rỗi, có sở thích …), thời kỳ này có nhiều tác phẩm ra đời bám sát hiện thực mới, con người mới mà trước đây không có Nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật sân khấu có: vở chèo “Chị Trầm” của tác giả Trần Bảng và tập thể, Tuồng có vở “ Chị Ngộ” của tác giả Như Lai, cải lương có vở “Chị Trầm” được chuyển thể từ chèo sang, kịch nói có vở “Bắc Sơn” của Nguyễn Huy Tưởng Khi miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa thì miền Nam tiến hành Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tác phẩm thời kỳ này vẫn gọi là nghệ thuật cách mạng, ở miền Bắc nghệ thuật biểu diễn phát triển toàn diện Từ nhà quản lý, nghệ sỹ, khán giả cùng một nhân sinh quan,
Trang 6thế giới quan, thẩm mý quan và nghệ thuật quan Nghệ thuật biểu diễn phát triển toàn diện: tác giả, đạo diễn, nhạc sỹ, họa sỹ, âm nhạc, biên đạo … nghệ thuật biểu diễn Việt Nam là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, với mạng lưới rộng khắp từ TW đến địa phương có: nhà hát, đoàn hát, rạp hát; nghệ thuật biểu diễn được đào tạo toàn diện, nhiều cấp Hội nghệ sỹ ra đời có nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho nghệ sỹ và là cầu nối giao lưu giữa Đảng và nghệ sỹ, giai đoạn này cũng có các tạp chí ra đời, nhiều nghệ sỹ nổi danh thời kỳ này được phong tặng danh hiệu nghệ sỹ nhân dân, nghệ sỹ ưu
tú Nhà nước cũng đã quan tâm đến đời sống nghệ sỹ thông qua việc tuyển, đào tạo, sử dụng vv … bằng nguồn kinh phí của Nhà nước Hoạt động giao lưu và biểu diễn với quốc tế diễn ra nhiều và phát triển Đây là thời kỳ hoàng kim của nghệ thuật biểu diễn Việt Nam Thời kỳ 1965 – 1975, thời kỳ miền Bắc mỗi người làm việc bằng hai, miền Nam vẫn làm cách mạng dân chủ nhân dân, thời kỳ này nghệ thuật biểu diễn chia làm 2 lực lượng: chủ lục (là đơn vị thể hiện tác phẩm mang đầy đủ tính tổng hợp chuyên nghiệp và hiện đại) Xung kích là một tổ, nhóm nghệ sỹ gọn nhẹ ra tiền tuyến phục vụ Thời
kỳ này có những tác phẩm điển hình: Tiền tuyến gọi của tác giả Trần Quán Anh, Lửa hậu phương của tác giả Kính Dân; vở ngắn như: Đường về trận địa của tác giả Tào Mạt và Hoài Phong, 6 phát súng trung liên của tác giả Ngô Từ Múa có vở Ong bò vẽ của tác giả Trần Minh, ca khúc có tác phẩm nổi tiếng: Bài ca năm tấn, đường cày đảm đang Thời kỳ này nghệ sỹ cũng là những chiến sỹ chiến đấu
Khi đất nước thống nhất, nhưng Việt Nam chuyển sang chiến tranh biên giới với Khơ me đỏ và Trung Quốc Thống nhất với tư cách về nhà nước nhưng nhân sinh quan, thế giới quan, thẩm mỹ quan … chưa thống nhất Trong 2 cuộc chiến tranh biên giới, Việt Nam khủng hoảng về mặt tư tưởng với anh em láng giềng, nội bộ xã hội chủ nghĩa, Mỹ cấm vận, phe xã hội chủ nghĩa thôi không giúp Việt Nam nữa nên dẫn đến khủng hoảng về
Trang 7mặt tư tưởng, ngoại giao Nghệ thuật biểu diễn thời kỳ này vẫn còn 2 lực lượng chủ lực và xung kích, lực lượng xung kích vẫn trực chiến để đi biểu diễn phục vụ Thời kỳ này có các vở: Cố nhân của tác giả Xuân tình, ngày
và đêm của tác giả Đào Hồng Cẩm, máu và hoa của tác giả Trần Vượng Các
vở này đều nói lên tình anh em, bạn bè Ca múa nhạc cũng có nhiều tác phẩm ra đời, nhưng khi chiến tranh ngừng thì những tác phẩm có nội dung
về Trung Quốc và Campuchia không dùng Trong thời kỳ này, đề tài chiến tranh, bắc nam xum họp, tiêu cực bắt đầu xuất hiện
Trang 10end