1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng của huyện định hóa tỉnh thái nguyên

93 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Định Hóa, sản xuất nông, lâm nghiệp của huyện đã có nhiều bước chuyển biến rõ rệt, năng suất, sản lượng ngày càng cao, các giống lúa chất lượng cao đã được đưa vào sản xuất là lúa Ba

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM –––––––––––––––––––––––

LƯƠNG THỊ BÔNG

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT LÚA NẾP CÁI HOA VÀNG CỦA HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM –––––––––––––––––––––––

LƯƠNG THỊ BÔNG

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT LÚA NẾP CÁI HOA VÀNG CỦA HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 8.62.01.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Tâm

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài: "Thực trạng

và giải pháp phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên" được thu thập, điều tra, khảo sát thực tế một cách trung

thực, đánh giá đúng thực trạng của địa phương nơi nghiên cứu Các thông tin

tham khảo trong luận văn đều được trích dẫn và chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2019

Học viên

Lương Thị Bông

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến người trực tiếp

hướng dẫn tôi là TS Nguyễn Văn Tâm đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá

trình thực hiện đề tài này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy cô trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tâm và nhiệt tình giảng dạy tôi trong suốt thời gian học cao học tại trường và xin gửi lời biết ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện về thời gian, động viên tinh thần và giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cơ quan, ban, ngành tỉnh Thái Nguyên, các hộ gia đình sản xuất kinh doanh nếp cái hoa vàng đã cung cấp thông tin và số liệu để tôi hoàn thiện đề tài

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2019

Học viên

Lương Thị Bông

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn 4

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Các khái niệm và lý luận cơ bàn 5

1.1.2 Phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng 9

1.1.3.Nội dung nghiên cứu phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng 17

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng 21

1.2 Cơ sở thực tiễn 23

1.2.1.Kinh nghiệm phát triển sản xuất một số loại lúa chất lượng cao trên thế giới và ở Việt Nam 23

1.2.2 Kinh nghiệm sản xuất Nếp cái hoa vàng của một số địa phương 29

1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng của huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 31

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 33

Trang 6

2.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội 36

2.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu 39

2.2 Nội dung nghiên cứu 40

2.3 Phương pháp nghiên cứu 41

2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 41

2.3.2.Phương pháp thu thập số liệu 42

2.3.3 Phương pháp phân tích thông tin 45

2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 46

2.4.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh mức độ sản xuất 46

2.4.2 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh 46

2.4.3 Những chỉ tiêu phản ánh HQKT sản xuất cây lúa nếp cái hoa vàng 47

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49

3.1 Thực trạng phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng tại huyện Định Hóa 49

3.1.1 Diện tích sản xuất lúa nếp cái hoa vàng 49

3.1.2 Năng suất lúa nếp cái hoa vàng 51

3.1.3 Công tác quy hoạch vùng sản xuất 52

3.1.4 Công tác phát triển giống sản xuất 52

3.1.5 Công tác xây dựng thương hiệu sản xuất 53

3.1.6 Công tác phát triển thị trường tiêu thụ 55

3.2 Thực trạng sản xuất lúa nếp cái hoa vàng tại các hộ điều tra 57

3.2.1 Thông tin các hộ điều tra 57

3.2.2 Chi phí sản xuất lúa nếp cái hoa vàng tại các hộ điều tra 59

3.2.3 Hiệu quả sản xuất 60

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng 64

3.3.1 Điều kiện tự nhiên 64

3.3.2 Nguồn lực sản xuất của các hộ 65

3.3.3 Yếu tố xã hội 67

3.4 Đánh giá chung 71

Trang 7

3.5 Giải pháp phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng tại huyện Định Hóa,

tỉnh Thái Nguyên 73

3.5.1 Quy hoạch vùng sản xuất tập trung 73

3.5.2 Tăng cường tuyên truyền nâng cao hiểu biết của người dân 73

3.5.3.Tăng cường công tác khuyến nông 75

3.5.4.Thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất 75

3.5.5 Hỗ trợ tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm Nếp cái Hoa vàng 76

3.5.6 Đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 8

PTSX : Phát triển sản xuất SXKD : Sản xuất kinh doanh

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất đai huyện Định Hóa năm 2018 35 Bảng 2.2 Tình hình phân bổ mẫu phỏng vấn 43 Bảng 2.3 Quy mô mẫu điều tra hộ sản xuất 44 Bảng 3.1 Diện tích trồng lúa nếp cái hoa vàng các xã trong huyện

năm 2018 50 Bảng 3.2 Kết quả đánh giá chất lượng gạo nếp cái hoa vàng tại Hội nghị

thử nếm Huyện Định Hóa năm 2017 57 Bảng 3.3 Thông tin cơ bản về các hộ điều tra 57 Bảng 3.4 Tổng hợp chi phí cho sản xuất lúa NCHV của các nhóm hộ

điều tra tính trung bình cho 1sào 60 Bảng 3.5 Hiệu quả kinh tế của các hộ điều tra theo vùng sản xuất tính

bình quân cho 1sào 62 Bảng 3.6 Tổng hợp chi phí cho sản xuất lúa Nếp cái Hoa vàng và sản xuất

lúa của các nhóm hộ điều tra tính trung bình cho một sào 63 Bảng 3.7 Giá lúa nếp cái hoa vàng năm 2018 61 Bảng 3.8 Năng suất cao nhất, thấp nhất, trung bình của Lúa Nếp cái hoa

vàng năm 2018 61 Bảng 3.9 Kết quả và hiệu quả sản xuất Nếp cái Hoa Vàng 2018 trên 1 sào 64 Bảng 3.10 Các yếu tố đặc thù về điều kiện tự nhiên quyết định đến chất

lượng gạo nếp cái hoa vàng huyện Định Hóa 65 Bảng 3.11 Đánh giá của các hộ về ảnh hưởng của yếu tố thuộc về hộ

sản xuất 66 Bảng 3.12 Đánh giá của các hộ về ảnh hưởng của yếu tố xã hội 69

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

Hình 3.1 Diện tích lúa nếp cái hoa vàng so với diện tích lúa của huyện

Định Hóa giai đoạn 2016-2018 49 Hình 3.2 Năng suất lúa, lúa nếp cái hoa vàng huyện Định Hóa giai đoạn

2016-2018 51

Sơ đồ 3.1 Sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong xây dựng thương

hiệu Nếp cái hoa vàng ở huyện Định Hóa 54

Sơ đồ 3.2 Đầu ra nếp cái hoa vàng Định Hóa 55

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới Sản phẩm chính thu được từ lúa là gạo, nguồn lương thực chủ yếu của hơn nửa dân số thế giới (chủ yếu ở Châu Á và châu Mỹ La Tinh), trở thành loại lương thực được con người tiêu thụ nhiều nhất

Việt Nam là một nước có truyền thống lâu đời và có nền văn minh lúa nước mà hiếm có quốc gia nào trên thế giới có được Cùng với sự đa dạng về văn hóa, tài nguyên khí hậu và tập quán canh tác, Việt Nam có sự đa dạng về cơ cấu giống cây trồng địa phương, đặc biệt là giống lúa địa phương cổ truyền

Trong danh mục giống lúa truyền thống đang sử dụng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có giống lúa nếp cái hoa vàng Nếp cái hoa vàng là một trong những giống lúa đặc sản cổ truyền của các tỉnh phía Bắc Việt Nam Gạo nếp cái hoa vàng từ ngàn xưa đã được nhân dân Việt Nam sử dụng làm nguyên liệu để chế biến các món ăn đặc biệt trong những ngày lễ hội và tết cổ truyền (xôi, bánh trưng và các loại bánh khác, rượu ) mà ít có loại gạo nào thay thế được

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất lương thực thông qua các chương trình, đề án, dự

án nhằm chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Tại Định Hóa, sản xuất nông, lâm nghiệp của huyện đã có nhiều bước chuyển biến rõ rệt, năng suất, sản lượng ngày càng cao, các giống lúa chất lượng cao đã được đưa vào sản xuất là lúa Bao Thai, Hương Thơm số 1, Nếp cái hoa vàng, Nếp Vải…đặc biệt là giống lúa Bao Thai cho chất lượng gạo ngon, năng suất ổn định và đã được Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ khoa học – Công nghệ cấp văn bằng nhãn hiệu tập thể “Gạo Bao Thai Định Hóa” năm 2007

Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII nhiệm kỳ 2011-2015 đã xác định

Trang 12

cơ cấu kinh tế của huyện là "Nông lâm nghiệp - dịch vụ, du lịch - công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng”. Trong đó sản xuất lương thực vẫn giữ vai trò chủ yếu Vấn đề đặt ra, muốn tạo ra sản phẩm hàng hoá lớn có chất lượng cao thì việc quy hoạch chuyển đổi diện tích đất sản xuất lúa có chất lượng thấp sang sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao và tạo nguyên liệu gạo chất lượng cao để chế biến đáp ứng yêu cầu của thị trường là cần thiết

Tại huyện Định Hóa cây lúa nếp cái hoa vàng đã được trồng từ lâu đời

và là cây đặc sản của huyện Đây là sản phẩm của sự tích tụ tổng hợp trên cơ

sở điều kiện tự nhiên ưu đãi, kiến thức và kinh nghiệm canh tác qua nhiều thế

hệ nông dân ở một miền quê giàu truyền thống văn hóa và lịch sử Chất lượng gạo nếp cái hoa vàng Định Hóa ngon, khi nấu lên lên hạt trong và ráo, mềm nhưng không nát, ăn vừa thơm vừa đậm đà; hạt gạo đầy tròn nên nhiều người dân quen gọi “nếp hoa vàng” hay là “nếp cái hoa vàng” Gạo có mùi thơm, đặc biệt khi nấu chín còn có mùi thơm nhẹ, hấp dẫn, cơm dẻo, hạt cơm bóng Nhu cầu sử dụng nếp cái hoa vàng rất lớn, không chỉ ở địa phương

mà còn ở ngoài tỉnh, nhất là trong những dịp tết cổ truyền, các lễ hội truyền thống

Những qua nhiều năm không được chọn lọc và bảo tồn nên hạn chế về năng suất và hiệu quả sản xuất, diện tích trồng nếp cái hoa vàng giảm mạnh Nguy cơ một giống lúa quý bị mất đi đang dần hiện hữu do thay đổi cơ cấu giống

và quá trình công nghiệp hóa phát triển, gạo có phần giảm về chất lượng, năng suất Đó là do lúa nếp cái hoa vàng có năng suất thấp hơn so với các giống lúa nếp khác (135 kg/sào so với 200kg/sào nếp khác) (Chi cục Thống kê huyện Định Hóa); Chi phí đầu tư sản xuất nếp cái hoa vàng khá cao; Thời gian sinh trưởng của nếp cái hoa vàng dài hơn đến 40 ngày so với các giống lúa nếp khác; Chất lượng gạo nếp cái hoa vàng phụ thuộc rất lớn vào thổ nhưỡng và khí hậu nên khó khăn trong việc mở rộng qui mô diện tích…

Trước những thách thức trên và nhu cầu tiêu dùng của người dân, hàng

Trang 13

loạt câu hỏi đặt ra như thực trạng phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng của huyện đang diễn ra như thế nào? Đâu là tiềm năng và hạn chế trong phát triển? Nguyên nhân nào ảnh hưởng đến phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng của huyện? Và làm thế nào để lúa nếp cái hoa vàng của huyện thực sự phát triển góp phần khai thác có hiệu quả các nguồn lực đầu tư để nâng cao thu nhập cho các hộ? Nhằm góp phần trả lời những câu hỏi trên chúng tôi thực hiện đề tài

“Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.Mục tiêu chung

Đánh giá đúng thực trạng phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng; xác định các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đưa ra các giải pháp phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng của huyện Định Hóa trong thời gian tới

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1.Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian trên địa bàn huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

Về thời gian: Đề tài nghiên cứu số liệu thứ cấp qua 3 năm từ năm 2016,

Trang 14

2017, 2018 và định hướng phát triển đến 2025

Phạm vi nội dung nghiên cứu: Phân tích đánh giá hiện trạng và hiệu quả kinh tế về phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng trên dịa bàn huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn

Ý nghĩa khoa học: Cung cấp một số luận cứ khoa học về phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng, góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá được thực trạng sản xuất lúa Nếp cái hoa vàng của huyện Định Hóa, tạo cơ sở khoa học giúp người dân, chính quyền địa phương đưa ra những giải pháp cụ thể và có những kế hoạch phát huy những tiềm năng, thế mạnh sản xuất lúa Nếp cái hoa vàng trên địa bàn huyện nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao, cải thiện mức sống cho người dân địa phương

Là tài liệu tham khảo cho chính quyền địa phương và hộ nông dân trên địa bàn huyện nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển sản xuất lúa bền vững

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm và lý luận cơ bàn

1.1.1.1 Khái niệm sản xuất

Có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau

Theo Ngân hàng Thế giới (1992): “Phát triển trước hết là sự tăng trưởng

về kinh tế, nó còn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, tự do về chính trị và các quyền tự do của con người”

Theo MalcomGills (2010): “Phát triển bao gồm sự tăng trưởng và thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hóa, sự tham gia của các dân tộc của một quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi trên”

Theo tác giả Raaman Weitz (1995): “Phát triển là quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội”

Tuy nhiên các ý kiến đều cho rằng: Phát triển được hiểu là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ

Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn

1.1.1.2.Khái niệm phát triển

Có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau

Trang 16

Theo Ngân hàng thế giới (WB): Phát triển trước hết là sự tăng trưởng về kinh tế, nó còn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do của con người (World Bank, 1992)

Theo tác giả Raaman Wietz - Revot (1995): “Phát triển là một quá trình thay ñổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội” Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển, nhưng các ý kiến đều cho rằng đó là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị trong cuộc sống con người Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân

Theo Vũ Thị Ngọc Phùng và cộng sự (2007) đã đưa ra các quan điểm về phát triển kinh tế dưới đây: Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến

về mọi mặt của nền kinh tế Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia

Phát triển sản xuất có thể hiểu là một quá trình lớn lên về mọi mặt của quá trình sản xuất trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản lượng hay giá trị sản phẩm hàng hóa dịch vụ và sự tiến bộ

+ Phát triển sản xuất theo chiều sâu: Nghĩa là xác định cơ cấu đầu tư, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu loại hình hợp lý, đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu

Trang 17

khoa học công nghệ tiên tiến, cải tiến tổ chức sản xuất, phân công lại lao động,

sử dụng hợp lý hiệu quả các nguồn lực

Phát triển sản xuất theo chiều rộng và chiều sâu là yêu cầu chung của bất

kỳ nền kinh tế hay một doanh nghiệp nào Nhưng ở mỗi nước, mỗi doanh nghiệp, mỗi thời kỳ, sự kết hợp này có sự khác nhau Theo quy luật chung của các nước cũng như các doanh nghiệp là thời kỳ đầu của sự phát triển thường tập trung để phát triển theo chiều rộng, sau đó tích lũy thì chủ yếu phát triển theo chiều sâu

Do sự khan hiếm nguồn lực làm hạn chế sự phát triển theo chiều rộng

Sự khan hiếm này ngày càng trở nên khốc liệt trong điều kiện cạnh tranh do nhu cầu của xã hội và thị trường; do sự cần thiết xây dựng, đổi mới và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật của nền sản xuất xã hội của doanh nghiệp Muốn vậy, phải phát triển kinh tế theo chiều sâu thì mới có thể tích lũy vốn

Như vậy, bất kỳ một doanh nghiệp, một quốc gia nào muốn phát triển thì đòi hỏi phải phát triển toàn diện cả về chiều sâu và chiều rộng nhưng chú trọng phát triển theo chiều sâu là rất cần thiết và có ý nghĩa lớn

1.1.1.3.Khái niệm hiệu quả kinh tế

Về HQKT, kết quả tổng quan tài liệu cho thấy, hiện đang tồn tại hai quan điểm khác nhau về vấn đề này, cụ thể là:

* Quan điểm truyền thống

Quan điểm truyền thống cho rằng, nói đến HQKT là nói đến phần còn lại của kết quả SXKD sau khi đã trừ chi phí Nhiều tác giả theo quan điểm này cho rằng, HQKT được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn được tính toán khi kết thúc một quá trình SXKD

Quan điểm truyền thống trên chưa thật toàn diện khi xem xét đến HQKT

Sự thiếu toàn diện được thể hiện qua những khía cạnh sau:

Trang 18

Thứ nhất, HQKT được xem xét với quá trình SXKD trong trạng thái tĩnh,

chỉ xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư Trong khi đó, HQKT lại là một vấn đề rất quan trọng, không những cho phép chúng ta biết được kết quả đầu tư mà còn giúp chúng ta xem xét trước khi ra quyết định có nên tiếp tục đầu tư hay không và nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độ nào Trên phương diện này, quan điểm truyền thống chưa đáp ứng được đầy đủ

Thứ hai, quan điểm truyền thống không tính yếu tố thời gian khi tính

toán thu và chi cho một hoạt động SXKD Do đó, thu và chi trong tính toán HQKT là chưa đầy đủ và chính xác

Thứ ba, HQKT chỉ bao gồm hai phạm trù cơ bản là thu và chi Hai phạm

trù này chủ yếu liên quan đến yếu tố tài chính đơn thuần như chi phí về vốn, lao động, thu về sản phẩm và giá cả Trong khi đó, các hoạt động đầu tư và phát triển lại có những tác động không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà còn trên cả các phương diện khác nữa Bên cạnh đó, có những phần thu lợi hoặc những khoản chi phí mà lúc đầu khó hoặc không lượng hoá được nhưng lại đáng kể thì lại không được phản ánh ở cách tính theo quan điểm truyền thống này

* Quan điểm hiện đại

Các nhà kinh tế đã đưa ra quan niệm hiện đại về HQKT nhằm khắc phục những hạn chế của quan điểm truyền thống Theo quan điểm hiện đại, khi tính HQKT phải căn cứ vào tổ hợp các yếu tố Cụ thể là:

- Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra Về mối quan

hệ này, cần phân biệt rõ ba phạm trù: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và HQKT Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm (O) thu thêm trên một đơn

vị đầu vào (I) đầu tư thêm Tỷ số ∂O/∂I được gọi là sản phẩm biên Hiệu quả phân

bổ nguồn lực là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm Thực chất nó là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố giá đầu vào và giá sản phẩm Hiệu quả phân bổ đạt tối đa khi doanh thu biên bằng chi phí biên Hiệu quả kinh tế là phần thu thêm trên một đơn vị đầu tư thêm Chỉ đạt được HQKT khi cả

Trang 19

hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả sử dụng nguồn lực là tối đa

- Yếu tố thời gian: các nhà kinh tế đương đại đã coi thời gian là một yếu

tố trong tính toán hiệu quả Cùng đầu tư một lượng vốn như nhau và cùng có tổng doanh thu bằng nhau nhưng có thể có hiệu quả khác nhau trong những thời điểm khác nhau

- Hiệu quả tài chính, xã hội và môi trường: các quan điểm hiện đại cho rằng hiệu quả về tài chính phải phù hợp với xu thế thời đại, phù hợp với chiến lược tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững của các quốc gia hiện nay

1.1.2 Phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng

1.1.2.1.Khái quát chung về cây lúa nếp cái hoa vàng

Nếp cái hoa vàng, có khi còn gọi là nếp ả hay nếp hoa vàng, là giống lúa nếp truyền thống nổi tiếng tại các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ, Việt Nam, có hạt gạo tròn, dẻo, thơm đặc biệt nên thường dùng đồ xôi, làm cốm, làm các loại bánh có sử dụng gạo nếp, làm tương hoặc ủ rượu

Nếp cái hoa vàng chỉ được trồng vào vụ mùa, khoảng từ tháng 5 đến tháng 10 âm lịch Nếp được gọi là “nếp cái hoa vàng” do khi lúa trổ đòng, phấn hoa có màu vàng chứ không trắng như các loại lúa khác

Nếp cái hoa vàng là giống cây phản ứng với ánh sáng ngắn, chỉ cấy ở vụ mùa muộn ở miền Bắc Việt Nam và có thời gian trổ tương đối ổn định trong khoảng từ ngày 7-10 tháng 10 Thời gian sinh trưởng của cây khoảng 145-160 ngày

Cây nếp cái hoa vàng có chiều cao khoảng 120 - 125 cm/cây, gốc thân

to, có khả năng chống đổ tương đối tốt Khả năng đẻ nhánh của cây chỉ đạt mức trung bình yếu, tỷ lệ bông hữu hiệu 50-55% Tuy nhiên, cây có khả năng chống chịu với một số điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên: khả năng chịu phèn, chịu chua và trũng khá, chịu hạn cuối vụ tương đối tốt Khả năng kháng sâu bệnh của nếp cái hoa vàng tốt với bệnh đạo ôn hay khô vằn, nhưng kháng bệnh bạc

lá ở mức trung bình và có thể bị nhiễm sâu đục thân nặng

Bông lúa dài 20 - 22 cm, số hạt chắc trên một bông lúa trung bình khoảng

Trang 20

105 - 107 hạt Hạt nếp cái hoa vàng tròn, dẹt và nhỏ hơn hạt nếp thường một chút, có màu vàng nâu sẫm, nhấm thử thấy ngọt mát lan tỏa đầu lưỡi như sữa;

tỷ lệ chiều rộng và chiều dài hạt khoảng 1,82 và khối lượng 1000 hạt khoảng

25 - 26gram Năng suất trung bình của nếp cái hoa vàng khoảng 35-40 tạ/ha, năng suất cao có thể đạt 40-45 tạ/ha

* Đặc điểm kỹ thuật cây lúa nếp cái hoa vàng

Theo phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) huyện Định Hóa (2015) kỹ thuật trồng Nếp cái hoa vàng gồm:

- Ngâm, ủ hạt giống:

+ Kỹ thuật ngâm hạt giống: Ngâm lần đầu khoảng 20 giờ Sau đó thay nước, đãi sạch nước chua và đem ngâm tiếp lần 2 Sau 20 giờ lại thay nước và đãi chua lần 2 Hạt giống đã được đãi sạch nước chua cho vào bao tải hoặc dành đảm bảo thông thoáng, thoát nước và tiến hành ủ ở nơi thoáng mát Trong quá trình ủ phải buộc chặt miệng bao hoặc phủ bao tải trên miệng dành Sau khi ủ được 12 đến 14 giờ, tiến hành ngâm tiếp lần 3 khoảng 10 đến 12 giờ rồi lại đãi sạch đem ủ

+ Kỹ thuật ủ thúc mầm: Đem hạt giống đã hút đủ nước, ủ để hạt nảy

Trang 21

mầm Trong quá trình ủ, định kỳ vảy nước và trộn đảo hạt để hạt nảy mầm đều Khi hạt đã nhú mầm thực hiện xen kẽ "ngày ngâm, đêm ủ" để phát triển cân đối mầm và rễ

- Kỹ thuật làm mạ:

+ Đảm bảo nước cho mạ: Ở thời kỳ mạ non (từ lúc gieo hạt đến khi có 3 lá), mặt luống phải được giữ ẩm để rễ mạ phát triển thuận lợi Khi mạ có 4 lá đến khi nhổ cấy luôn đảm bảo mực nước trong ruộng 2 - 3 cm

- Phân bón/sào:

+ Bón thúc lần 1 khi mạ 2- 3 lá với định lượng 1,8kg urê và 1,8kg kali clorua

+ Bón thúc lần 2 khi mạ 3 - 4 lá với định lượng như lần 1

+ Bón thúc lần 3 trước thời điểm nhổ cấy 7 với định lượng như lần 2

- Phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại:

+ Phun thuốc trừ cỏ cho ruộng mạ sau khi gieo mạ từ 24 - 50 giờ

+ Tiến hành theo dõi và phòng trừ sâu bệnh phát sinh trên ruộng mạ

3 Cấy và Chăm sóc cây Nếp cái hoa Vàng

- Làm đất; Ruộng cấy phải cày bừa kỹ, mặt ruộng bằng phẳng

- Cấy lúa: Cấy thẳng hàng với mật độ từ 35 - 40 khóm/m2; số dảnh lúa trên một khóm: từ 3-4 dảnh

- Phân ô phục vụ chăm sóc: Trong quá trình cấy, cứ cấy được 10 hàng lúa phải bỏ cách một đoạn rộng 30 cm để tạo các ô rộng 2,5m phục vụ cho quá trình chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và khử lẫn

- Mực nước khi cấy: phải đảm bảo mực nước từ 4 - 5 cm để mạ nhanh bén rễ

- Làm cỏ, sục bùn: Khi cây lúa bén rễ hồi xanh tiến hành làm cỏ kết hợp với sục bùn và bón thúc Mục đích để diệt cỏ dại, vùi phân tránh mất đạm, bổ sung ô xy cho rễ, làm đứt rễ già và kích thích ra rễ mới Trong trường hợp không làm cỏ, sục bùn thì phải tiến hành phun thuốc trừ cỏ

- Bón phân cho lúa (tính trên 1 sào Bắc bộ):

Trang 22

+ Bón lót: 300 - 350 kg phân chuồng (hoặc 20 -25 kg phân vi sinh) + 18

kg phân superlân + 1,8kgurê

+ Thời kỳ đẻ nhánh (10 - 15 ngày sau khi cấy): bón thúc lần 1 với định lượng 3kg urê; 2,7kg Kali clorua kết hợp với sục bùn kỹ

+ Thời kỳ đón đòng (40 ngày sau khi cấy): bón thúc lần cuối với định lượng 2,7kg kali clorua và 1kg urê

- Thu hoạch

Khi thấy 85 - 90% số hạt trên bông chín (thông thường sau trổ khoảng 28- 30 ngày) là thời gian tốt nhất để thu hoạch lúa Để giữ cho lúa đượm hương, khi bông lúa ngả mầu, nhà nông rút nước chân ruộng cho khô đến khi lúa uốn lưỡi câu, chín rũ mới gặt hái

Về kỹ thuật phơi thóc: Phơi lúa thường phải chọn sân gạch, nắng hanh Lúa khô rồi được đổ vào chum và đậy thật kín Phơi theo kỹ thuật sáng phơi, chiều ủ (phơi từ 11 giờ sáng đến 2 giờ chiều, sau đó ủ thóc từ 2 - 4 giờ bằng cách cào gọn thành đống), trong quá trình phơi thường xuyên đảo thóc Phơi

Trang 23

đủ số giờ nắng (thường phơi 5 nắng) để hạt gạo trắng đều

1.1.2.2.Khái niệm phát triển sản xuất cây lúa nếp cái hoa vàng

Phát triển sản xuất nếp cái hoa vàng là quá trình tổng hợp, kết hợp các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội như: chính sách, khoa học kỹ thuật, vốn, điều kiện tự nhiên đất đai, khí hậu, con người,… nhằm tăng diện tích, năng xuất, sản lượng nếp cái hoa vàng ở mức tốt nhất có thể hiểu đây là quá trình từ quy mô nhỏ sang quy mô lớn, từ chưa có đến bắt đầu phát triển, từ hiệu quả thấp đến hiệu quả cao, từ sản phẩm thô đến sản phẩm chất lượng cao, sản xuất trở nên tập trung chuyên canh cao, tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao (Đinh Thị Huyền Trang, 2015)

Sản phẩm có thị trường tiêu thụ ổn định, phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Như vậy sự phát triển sản xuất Nếp cái Hoa vàng bao hàm sự biến đổi về số lượng và chất lượng Sự thay đổi về số lượng đó là sự tăng lên về quy mô diện tích sản lượng và tăng tỷ trọng giá trị ngành nông nghiệp và trồng trọt Sự tăng quy mô diện tích và sản lượng trong tương lai phải phù hợp với đặc điểm của vùng, địa phương hay của tỉnh Mở rộng diện tích trồng Nếp cái Hoa vàng nhưng phải đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội

và lợi ích của người trồng Nếp cái Hoa vàng Do khối lượng Nếp cái Hoa vàng bình quân đầu người của nước ta còn thấp, do đó tăng diện tích, sản lượng và chất lượng Nếp cái Hoa vàng là cần thiết Song sản xuất trong điều kiện kinh

tế thị trường lại phải chú ý đến quy luật cung cầu, giá cả, quy luật cạnh tranh thì sản xuất mới mang lại hiệu quả và sản xuất mới đảm bảo tính bền vững (Đinh Thị Huyền Trang, 2015)

Sự phát triển sản xuất Nếp cái Hoa vàng còn thể hiện sự phù hợp về cơ cấu giống ở từng vụ Ngoài sự tiến bộ về tổ chức sản xuất, tiêu thụ, chế biến thì lợi ích về xã hội, môi trường, những thay đổi tích cực về mặt xã hội như tạo việc làm cho lao động nông thôn, làm tăng lợi ích của cộng đồng, hay những lợi ích về môi trường như không làm suy thoái, ô nhiễm các nguồn tài nguyên

Trang 24

đất, nước, không khí… do phát triển Nếp cái Hoa vàng mang lại cũng là biểu hiện của sự phát triển kinh tế xã hội của vùng (Đinh Thị Huyền Trang, 2015)

Phát triển sản xuất (PTSX) Nếp cái hoa vàng có thể diễn ra theo hai xu hướng là phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu

* Phát triển sản xuất theo chiều rộng

Phát triển sản xuất theo chiều rộng là tăng số lượng lao động, khai thác thêm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động trên cơ sở kỹ thuật như trước Trong điều kiện một nước kinh tế chậm phát triển, những tiềm năng kinh tế chưa được khai thác và sử dụng hết, nhất là nhiều người lao động chưa có việc làm thì phát triển sản xuất theo chiều rộng

là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, nhưng đồng thời phải coi trọng phát triển kinh tế theo chiều sâu.Nó thể hiện ở chỗ mức tăng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân vừa dựa vào lực lượng lao động và tài sản cố định, vừa dựa vào cải tiến thiết bị, kỹ thuật, công nghệ và tăng năng suất lao động Tuy nhiên phát triển sản xuất theo chiều rộng có những giới hạn, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thấp (Nguyễn Đức Quân, 2012)

PTSX Nếp cái hoa vàng theo chiều rộng bao gồm mở rộng diện tích trồng Nếp cái hoa vàng trong cả vùng, có thể bao gồm việc tăng số hộ dân trồng lúa nếp cái hoặc tăng quy mô diện tích trồng lúa nếp cái của mỗi hộ nông dân (Nguyễn Đức Quân, 2012)

Sản xuất lúa nếp cái hoa vàng phát triển theo chiều rộng là nhằm tăng về mặt quy mô diện tích, sản lượng, doanh thu, lợi nhuận, nhưng không thay đổi

về mặt kỹ thuật và có khi còn giảm về các chỉ tiêu đánh giá trên đơn vị diện tích Vì vậy, phương hướng cơ bản và lâu dài là phải chuyển sang phát triển kinh tế theo chiều sâu (Nguyễn Đức Quân, 2012)

* Phát triển sản xuất theo chiều sâu

Phát triển sản xuất theo chiều sâu là chủ yếu nhờ đổi mới thiết bị, áp

Trang 25

dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ kỹ thuật, cải tiến tổ chức sản xuất

và phân công lại lao động, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn nhân lực, vật lực hiện có Trong điều kiện hiện nay, những nhân tố phát triển theo chiều rộng đang cạn dần, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật trên thế giới ngày càng phát triển mạnh với những tiến bộ mới về điện tử và tin học, công nghệ mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học đã thúc đẩy các nước coi trọng chuyển sang phát triển sản xuất theo chiều sâu Kết quả phát triển sản xuất theo chiều sâu được biểu hiện ở các chỉ tiêu: tăng hiệu quả kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, giảm hàm lượng vật tư và tăng hàm lượng chất xám, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu suất của đồng vốn, tăng tổng sản phẩm

xã hội và thu nhập quốc dân theo đầu người (Đinh Thị Huyền Trang, 2015)

Ở Việt Nam và một số nước chậm phát triển, do điều kiện khách quan

có tính chất đặc thù, kinh tế chậm phát triển, nên phát triển kinh tế theo chiều rộng vẫn còn có vai trò quan trọng Nhưng để nhanh chóng khắc phục sự lạc hậu, đuổi kịp trình độ phát triển chung của các nước trên thế giới, trước hết là các nước trong khu vực, thì phát triển sản xuất theo chiều sâu phải được coi trọng và kết hợp chặt chẽ với phát triển theo chiều rộng trong phạm vi cần thiết

và điều kiện có cho phép (Nguyễn Đức Quân, 2012)

Sản xuất Nếp cái hoa vàng phát triển theo chiều sâu là đầu tư thâm canh, nâng cao chất lượng giống, cải tiến quy trình kỹ thuật trong chăm sóc, chế biến, nâng cao trình độ kỹ thuật của hộ nông dân, Kết quả phát triển sản xuất theo chiều sâu được biểu hiện ở các chỉ tiêu: tăng hiệu quả kinh tế, tăng năng suất, sản lượng, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu suất của đồng vốn, tăng thu nhập, tăng lợi nhuận trên một đơn vị diện tích và đời sống kinh tế, xã hội của nông hộ ngày càng nâng cao (Đinh Thị Huyền Trang, 2015)

* PTSX nếp cái hoa vàng theo chiều sâu theo (Đinh Thị Huyền Trang, 2015) cần chú ý đến những nội dung sau:

- Về giống nếp cái hoa vàng: có năng suất cao, thích hợp với vùng sản

Trang 26

xuất, cho chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh

- Về kỹ thuật canh tác: cây nếp cái hoa vàng có thời gian sinh trưởng dài nên yêu cầu lượng dinh dưỡng khá cao, do vậy trong quá trình canh tác luôn phải chú ý đến các công đoạn trồng và chăm sóc lúa

- Về kỹ thuật thu hoạch: thu hoạch là khâu quan trọng cuối cùng trên đồng ruộng Để có năng suất và chất lượng sản phẩm cao, thì kỹ thuật thu hoạch

là hết sức quan trọng, nhất là việc xác định thời điểm thu hoạch lúa thích hợp

- Về kỹ thuật - công nghệ bảo quản: Hiện nay cuộc cách mạng khoa học

- kỹ thuật trên thế giới ngày càng phát triển mạnh với những tiến bộ mới về điện tử và tin học, công nghệ sinh học là yêu cầu tất yếu thúc đẩy sản xuất Nếp cái hoa vàng chuyển sang PTSX theo chiều sâu Nhằm đạt được các chỉ tiêu: tăng hiệu quả kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập cho người dân…

* Phát triển sản xuất nếp cái hoa vàng theo Nguyễn Đức Quân (2012) cần tuân theo những nguyên tắc:

- Phát triển bền vững: phát triển Nếp cái hoa vàng phải đảm bảo cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường

- Phát triển nếp cái hoa vàng phải theo hướng sản xuất hàng hoá: sản xuất hàng hoá không có nghĩa là cứ tạo ra với khối lượng lớn mà cần căn cứ vào nhu cầu của người tiêu dùng để ra các quyết định sản xuất như mở rộng diện tích, thay đổi cơ cấu…

- Phát triển sản xuất nếp cái hoa vàng phải dựa trên cơ sở phát huy những

tiềm năng về đất đai, lao động, điều kiện tự nhiên, thị trường… của từng vùng

1.1.2.3 Vai trò của phát triển cây lúa nếp cái hoa vàng

Theo Đinh Thi Huyền Trang (2015) Việt Nam là một trong những nước

có nghề truyền thống trồng lúa nước cổ xưa nhất thế giới Nông nghiệp trồng lúa vừa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, vừa là cơ sở kinh tế sống còn của đất nước Dân số nước ta đến nay gần 90 triệu người, trong đó dân số ở nông

Trang 27

thôn chiếm gần 80% và lực lượng lao động trong nghề trồng lúa chiếm 72% lực lượng lao động cả nước Điều đó cho thấy lĩnh vực nông nghiệp trồng lúa thu hút đại bộ phận lực lượng lao động cả nước, đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân

Bên cạnh đó, ưu thế lớn của nghề trồng lúa còn thể hiện rõ ở diện tích canh tác trong tổng diện tích đất nông nghiệp cũng như tổng diện tích trồng cây lương thực Ngành trồng trọt chiếm 4/5 diện tích đất canh tác trong khi đó lúa giữ vị trí độc tôn, gần 85% diện tích lương thực.Như vậy bên cạnh sự thu hút

về nguồn lực con người thì sự thu hút nguồn lực đất đai cũng lại khẳng định rõ

vị trí của lúa gạo trong nền kinh tế quốc dân Sản xuất lúa ở nước ta hiên nay tiến hành trong điều kiện biến đổi khí hậu diễn ra khá phức tạp muốn phát triển sản xuất lúa các hộ gia đình cần phải linh hoạt nắm bắt những thay đổi khí hậu theo chiều hướng có lợi và hạn chế tối đa nhưng biến đổi có hại nhằm đảm bảo năng suất, chất lượng tăng,đâu tu hợp lý trong quá trình sản xuất và giảm được chi phí hợp lý góp phần tăng thu nhập hộ

Các giống lúa hiện nay trên thi trường có nhiều đặc tính khác nhau mục đích khắc phục các ảnh hương của biến đổi khí hậu, loại đắt trồng của các vùng trên toàn quốc Các gia đình cần chon giống phù hợp với điều kiện đất đai khí hậu Một yếu tố nữa giống cũng cần phù hợp với khả năng đâu tư, sản phẩm phải đáp ứng nhu cầu của thi trường

Sản xuất Nếp Cái Hoa Vàng đóng vai trò quan trong trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng Phát triển sản xuất Nếp cái hoa vàng

sẽ góp phần tăng tổng sản lượng lương thực, và một phần làm tăng năng suất lúa bình quân Nếp cái hoa vàng còn được chế biến ra rất nhiều sản phẩm như bột, rượu, bánh, xôi dùng phổ biến trong ngày lễ tết, sinh hoạt cộng đồng nên còn mang tính chất tâm linh to lớn Ngoài ra sản xuất Nếp cái hoa vàng cũng góp phần phát triển ngành chăn nuôi bằng các phụ phẩm làm thức ăn chăn nuôi

1.1.3.Nội dung nghiên cứu phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng

Trang 28

1.1.3.1 Công tác quy hoạch vùng phát triển sản xuất Nếp cái hoa vàng

Quy hoạch: là quá trình sắp xếp, bố trí các đối tượng quy hoạch vào một không gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu của kế hoạch đề ra (Phạm Công Nghiệp, 2013)

Theo Phạm Ninh Hải (2013) quy hoạch vùng sản xuất Nếp cái hoa vàng huyện Định Hóa được thực hiện dựa trên những nội dung công việc và phương pháp tiến hành như sau:

Tổng hợp và thu thập các thông tin, quy định pháp luật liên quan đến sản xuất nông nghiệp và Nếp cái hoa vàng của huyện Định Hóa

Thu thập thông tin sơ cấp của UBND huyện Định Hóa, phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Định Hóa, các văn bản pháp luật hiện hành về định hướng quy hoạch vùng sản xuất nếp cái hoa vàng của huyện Định Hóa

1.1.3.2.Chọn giống nếp cái hoa vàng

Giống Nếp cái Hoa vàng là giống lúa chất lượng cao Trong việc sản xuất lúa, ông bà ta thường nói câu: "Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống" Qua câu nói này cho thấy yếu tố giống là một trong những yếu tố quan trọng trong sản xuất lúa Muốn có cây lúa khoẻ thì chắc chắn phải có hạt giống tốt và khoẻ mạnh Gieo trồng hạt giống khoẻ, có chất lượng cao là điều kiện cần thiết để có một vụ mùa thu hoạch cao (có thể tăng năng suất từ 5-20%) và góp phần gia tăng chất lượng nông sản hàng hóa Vì khâu để giống và chọn giống phải có chất lượng tốt thì cây lúa trồng sau này sẽ được khoẻ mạnh, chịu đựng được và vượt qua được biến động của môi trường sống gặp hạn hoặc gặp lạnh đột ngột (Sở khoa học công nghệ Hải Dương, 2010)

Như vậy theo sơ khoa học công nghệ Hải Dương (2010) hạt giống khoẻ

là hạt giống phải có những yêu cầu sau:

1 Hạt giống phải thuần, đúng giống, phải đồng nhất về kích cỡ, giống không bị lẫn những giống khác, hạt cỏ và tạp chất Hạt giống phải sáng mẩy,

Trang 29

không hoặc có rất ít hạt lem (chỉ chấp nhận có hạt lem 0,5 % bị lẫn trong hạt giống, nghĩa là 1.000 hạt chỉ có 5 hạt hạt lem), có rất ít hạt lửng và hạt bị dị dạng

2 Tỷ lệ nẩy mầm cao (hơn 80 %) và cây mạ phải có sức sống mạnh

3 Hạt giống không bị côn trùng phá hoại (sâu mọt), không lẫn hạch nấm hoặc không mang mầm bệnh nguy hiểm Muốn có hạt giống khoẻ thì ta phải lưu ý một số biện pháp cải thiện chất lượng hạt giống khi còn trên đồng ruộng

và trong bảo quản tồn trữ như là:

a Trên đồng ruộng: Sau khi nông dân chọn và canh tác những giống thích hợp ở điều kiện địa phương, thì chúng ta cần lưu ý những biện pháp sau đây: Kỹ thuật canh tác: Bảo đảm cây lúa sinh trưởng tốt (bón phân cân đối và đầy đủ, quản lý nước tốt, làm sạch cỏ dại, không có lúa rày (lúa cỏ) trên chân ruộng, phòng trừ sâu bệnh tốt ở cuối vụ như bệnh vàng lá, bệnh đốm vằn, bệnh cháy bìa lá, rầy nâu, bọ xít dài,& để hạn chế gây lép hạt ở tỷ lệ cao, hạn chế vi sinh vật gây bệnh cho hạt và đặc biệt không lấy giống ở những ruộng có bệnh gây hại nặng như bệnh đạo ôn, lúa von, bệnh cháy bìa lá, bệnh lem lép hạt & (vì những bệnh này có khả năng lây truyền qua hạt giống Khử lẫn: Tiến hành khử lẫn ngay từ đầu để bảo đảm lúa bằng đọt và sau khi trổ tiến hành khử lẫn lần cuối để bảo đảm độ thuần Cách khử lẫn như sau:Nhổ bỏ những cây cao và ngoài hàng (cấy hoặc sạ theo hàng), cắt những bông lúa khác so với quần thể như lúa cỏ, lúa von, lúa khác giống

b Không chọn những ruộng lúa bị bệnh để giống cho vụ sau: Như bệnh lúa von, bệnh đạo ôn, bệnh cháy bìa lá, bệnh than vàng, bệnh đen hạt, bệnh đốm nâu

c Thu hoạch và tồn trữ : Trong thu hoạch lúa giống, các điều kiện cần

có để bảo đảm độ thuần của lúa giống như sau:

- Chuẩn bị máy suốt sạch không còn lẫn tạp giống khác, kể cả bao bì

Trang 30

đựng lúa giống

- Chuẩn bị sân phơi riêng, không phơi gần những giống khác Chú ý không nên phơi mớ ngoài đồng dễ làm gạo gẫy, lúa khô không đều

1.1.3.3.Xây dựng thương hiệu

Thương hiệu là thuật ngữ chỉ chung cho các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ như nhẫn hiệu hàng hoá, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hoá Thương hiệu làm tăng giá trị cho sản phẩm Sản phẩm

có giá trị sử dụng, được thị trường chấp nhận khi được mọi người biết và tiêu dùng Xây dựng thương hiệu tốt cho sản phẩm chính là giải pháp hàng đầu giúp cho sản phẩm đứng vững tên thị trường

Là một giống lúa nếp cổ truyền, có những đặc điểm hình thái và chất lượng mà nhiều nơi khác trồng cũng không thể có được những đặc tính ưu việt riêng của giống lúa nếp cái Hoa Vàng được trồng tại huyện Định Hóa Với những đặc tính riêng quý, cây nếp cái hoa vàng Định Hóa đã được sự quan tâm của các cấp chính quyền tỉnh Thái Nguyên và các nhà nghiên cứu xây dựng tạo lên một thương hiệu cho cây lúa nếp tại huyện Định Hóa đó là “Nếp Cái Hoa Vàng Định Hóa”

1.1.3.4.Phát triển thị trường

Để sản xuất lúa có hiệu quả, chất lượng cần phải gắn quá trình sản xuất với nhu cầu thị trường Khi nhu cầu của thị trường tăng, thị trường mở rộng sẽ kích thích sản xuất phát triển, khi nhu cầu giảm dẫn tới sản xuất giảm Thị trường ở đây không chỉ là thị trường tiêu thụ sản phẩm mà còn là thị trường tài chính, thị trường lao động, dịch vụ vì các yếu tố này có liên quan đến quá trình sản xuất

Nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao về chủng loại và chất lượng sản phẩm Sự xuất hiện một thị trường mới về gạo cao cấp ở thị trường trong nước và yêu cầu tăng khả năng cạnh tranh quốc tế với gạo chất lượng cao vừa tạo ra cơ hội lại vừa đặt ra những thách thức mới cho sản xuất lúa gạo của Việt

Trang 31

Trong những năm gần đây, thị trường tiêu thụ gạo nếp cái hoa vàng của chúng ta gặp nhiều khó khăn, do trồng tản mạn và không chú trọng thâm canh, hiện có nơi lúa nếp cái hoa vàng đã dần bị mai một, gạo ít dẻo và thơm ngon như trước, vì thế thị trường tiêu thụ hẹp, dẫn tới giá sản phẩm bị hạ xuống rất thấp Nó không những ảnh hưởng đến đời sống của người nông dân mà còn làm cho thị trường gạo nếp cái hoa vàng của ta kém sôi động Với xu hướng hội nhập kinh tế như ngày nay thì sản phẩm nào chiếm được ưu thế sẽ đứng vững,

do đó có hai sự lựa chọn, hoặc là giá thành phải rất rẻ, hoặc là chất lượng phải tốt Như vậy, gạo nếp cái hoa vàng của Việt Nam cần phải tìm ra hướng đi thích hợp để có thể tồn tại và giữ ưu thế

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng

Đối với mọi ngành, mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thì các yếu tố như: điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, trình độ kỹ thuật, lực lượng lao động, các yếu tố đầu vào, đầu ra… là những yếu tố tác động trực tiếp đến kết quả, hiệu quả kinh tế của quá trình hoạt động sản xuất - kinh doanh Với sản xuất nông nghiệp nói chung và lúa nếp cái hoa vàng nói riêng cũng vậy, các yếu tố tác

Trang 32

động đến hiệu quả kinh tế được thể hiện:

1.1.4.1 Nguồn lực và chất lượng nguồn lực của người dân

Đây là nhân tố quan trọng bậc nhất ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của các ngành sản xuất, kinh doanh Đối với sản xuất lúa nếp cái hoa vàng, con người là nhân tố quyết định đến sản xuất, họ sẽ quyết định việc có tiếp thu hay không tiếp thu những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, những kỹ năng, kinh nghiệm áp dụng vào sản xuất để mang lại hiệu quả kinh tế, cũng như hiệu quả

xã hội cao nhất, mà lúa nếp cái hoa vàng là một thành tựu của tiến bộ khoa học kỹ thuật

Nông dân là đối tượng chính sản xuất và cung cấp lúa nếp cái hoa vàng làm lương thực và cho tiêu dùng chế biến Vai trò của nông dân trong việc PTSX lúa nếp cái hoa vàng sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu lương thực, cung cấp nguyên liệu và sức lao động cho các ngành công nghiệp, dịch vụ, tăng thu nhập cho nông dân…

1.1.4.2 Điều kiện tự nhiên

Sản xuất nông nghiệp gắn liền với điều kiện tự nhiên Do vậy điều kiện

tự nhiên của vùng sản xuất có ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng sản phẩm Đất, nước, khí hậu và cây trồng có mối quan hệ khăng khít với nhau bằng những quy luật chặt chẽ, phức tạp Vì vậy chúng ta cần phải hiểu và nắm chắc các quy luật đó để vận dụng chúng vào trong sản xuất Vị trí địa lý cũng

là yếu tố quan trọng cho việc phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng Vị trí gần thị trường tiêu thụ, giao thông thuận lợi… là yếu tố lợi thế cho tiêu thụ và giảm chi phí sản xuất, kích thích sản xuất phát triển

Với sản xuất nông nghiệp, đặc điểm nổi bật nhất là điều kiện tự nhiên,

đó chính là đất đai, thời tiết, khí hậu và thủy văn… Do đó, muốn sản xuất lúa nếp cái hoa vàng đem lai hiệu quả kinh tế cần phải hiểu rõ điều kiện tự nhiên của vùng sản xuất, để tạo tiền đề cho việc bố trí giống lúa đưa vào sản xuất sao cho phù hợp nhất

Trang 33

1.1.4.3.Yếu tố xã hội

Yếu tố xã hội Các yếu tố xã hội có tác động mạnh mẽ đến việc phát triển sản xuất Đối với những mô hình áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới thì kênh tuyên truyền mạnh mẽ nhất chính là hoạt động khuyến nông Đây là lực lượng chủ đạo để chuyển giao những tiến bộ kỹ thuật đến với người dân, cung cấp thông tin, tập huấn kỹ thuật cho người dân, giúp người dân xây dựng các mô hình trình diễn để họ thấy được hiệu quả mà PTSX mang lại (Phạm Công Nghiệp, 2014)

Công tác khuyến nông ,đào tạo khuyến khích phát triển sản xuất rất cần thiết Sản xuất muốn đem lại năng suất cao, chất lượng tốt và có hiệu quả kinh

tế cao đòi hỏi phải biết áp dụng khoa học kỹ thuật Cán bộ khuyến khích hướng dẫn người dân tiếp cận công nghệ giống, kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh, bảo quản sau thu hoạch… đã được các hộ nông dân áp dụng vào thực tế địa phương Đặc biệt là việc thực hiện các yêu cầu kỹ thuật theo đúng quy trình sản xuất vì điều

đó ảnh hưởng tới khối lượng và chất lượng sản phẩm Vì vậy khuyến nông và đào tạo để PTSX luôn là những yêu cầu bức thiết (Nguyễn Thị Minh An, 2006)

Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất cũng là một yếu tố cần được đánh giá bới

nó có tác động trực tiếp đến các khâu của quá trình sản xuất như hệ thống kênh mương phục vụ tưới tiêu, hệ thống giao thông nội đồng (Phạm Công Nghiệp, 2014)

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1.Kinh nghiệm phát triển sản xuất một số loại lúa chất lượng cao trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1.1 Kinh nghiệm phát triển sản xuất lúa thơm của Thái Lan

Diện tích lúa của Thái Lan năm 2013 là 12,3 triệu ha (tăng khoảng 2 triệu

ha trong vòng 10 năm), trong đó diện tích lúa 2 vụ khoảng 2 triệu ha, còn lại

Trang 34

trên 10 triệu ha dựa vào nước trời, trồng giống địa phương một vụ lúa/năm, gieo cấy vào đầu mùa mưa (tháng 6-7) và thu hoạch vào đầu mùa khô (tháng 11-12) (Bùi Bá Bổng, 2015)

Vì phần lớn diện tích lúa dựa vào nước trời nên năng suất lúa bình quân chỉ đạt 3 tấn/ha và hầu như không tăng qua các năm Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã Thái Lan ban hành 2 tiêu chuẩn quốc gia về gạo thơm: tiêu chuẩn TAS

4000 năm 2003 qui định gạo thơm đặc sản Hom Mali (Hom = thơm, Mali = Jasmine - hoa lài) gồm hai giống lúa là Khao Dawk Mali 105 và RD 15 (giống đột biến vật lý từ Khao DawkMali 105) và tiêu chuẩn TAS 4001 năm 2008 qui định gạo thơm Pathumthani (gạo thơm thường) gồm 9 giống lúa tẻ và 4 giống lúa nếp (Bùi Bá Bổng, 2015)

Nhóm lúa thơm đặc sản Hom Mali được trồng một vụ/năm với diện tích 3,2 triệu ha (25% tổng diện tích lúa) trong đó Khao Dawk Mali 105 là giống chủ lực chiếm 3 triệu ha Khao Dawk Mali (Hoa lài trắng) 105 là dòng lúa được chọn từ lúa địa phương do Trung tâm thực nghiệm lúa Kok Samrong ở tỉnh Lopburi thực hiện năm 1955, đến năm 1959 được đưa vào sản xuất Như vậy, đến nay giống này đã tồn tại trên 50 năm do có chất lượng gạo "trời phú" dù năng suất bình quân chỉ đạt 2,2tấn/ha (Bùi Bá Bổng, 2015)

Vùng địa lý của Khao Dawk Mali 105 giới hạn ở một số tỉnh phía Bắc Thái Lan, trong đó gạo có chất lượng ngon nhất từ vùng Thung Kula Ronghai

ở Đông Bắc gồm 5 tỉnh Surin, Maha Sarakham, Buriram, Sisaket và Roi Et Đặc điểm sinh thái của vùng này là đất hơi mặn và khí hậu khô ráo Lúa thơm Hom Mali vùng Thung Kula Ronghai đã được đăng ký chỉ dẫn địa lý tại Thái Lan năm 2007; đến năm 2011 Thái Lan đăng ký ở Liên minh châu Âu nhưng không được chấp nhận vì tên gọi “Hom Mali” được cho là tên phổ biến nên không được bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo Hiệp định về thương mại liên quan quyền

sở hữu trí tuệ (TRIPs) của WTO (Bùi Bá Bổng, 2015)

Nhóm lúa thơm Pathumthani phần lớn gồm các giống lúa tẻ cải tiến,

Trang 35

không cảm quang, ngắn ngày, trồng được 2 vụ/năm, trong đó giống phổ biến nhất là Pathum Thani 1 (đăng ký năm 2000), kế đến là Khlong Luang 1, Suphan Buri và giống mới nhất là RD33 (2007) Các giống lúa nếp thơm chủ yếu là giống cảm quang, trong đó phổ biến nhất là RD6 (1977) Các giống lúa thơm Pathumthani có chất lượng không bằng lúa thơm đặc sản Hom Mali nên không

có vị trí lớn trong xuất khẩu (Bùi Bá Bổng, 2015)

Một báo cáo của Thái Lan tại Hội nghị quốc tế lần thứ IV tháng 11/2014

ở Bangkok cho biết đã chọn tạo được giống lúa thơm mới có chất lượng gần như Khao Dawk Mali 105 và đang khảo nghiệm Từ 2009-2014, lượng gạo thơm Hom Mali Thái Lan xuất khẩu biến động từ 1,1- 2,6 triệu tấn/năm và tỷ

lệ trên tổng lượng gạo xuất khẩu từ 12-30% với giá xuất khẩu từ 860-1.060 USD/tấn Lượng gạo thơm Pathumthani xuất khẩu không đáng kể, khoảng 100.000 tấn/năm với giá từ 600-800 USD tấn Gạo thơm Hom Mali xuất khẩu đạt tiêu chuẩn quốc gia TAS 4000 được Cục Ngoại thương cấp nhãn chứng nhận (hình) như một thương hiệu quốc gia; tính đến năm 2011 đã có 176 nhà xuất khẩu gạo được cấp quyền sử dụng nhãn chứng nhận gạo Hom Mali (Bùi

Bá Bổng, 2015)

1.2.1.2 Kinh nghiệp phát triển sản xuất lúa Một bụi đỏ (MBĐ) tại Bạc Liêu

Giống lúa Một bụi đỏ là giống lúa có chất lượng gạo ngon, thơm nhưng năng suất rất thấp, lại bấp bênh, được chăng hay chớ Cho đến đầu những năm

1990, khi phong trào nuôi tôm bắt đầu phát triển, nông dân Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, bà con huyện Hồng Dân nói riêng thi nhau lấy nước mặn vào đồng để nuôi tôm Việc tăng diện tích nuôi tôm đã dẫn tới giảm diện tích trồng lúa, tuy nhiên những cánh đồng trồng lúa một bụi bờ đìa vẫn xanh tốt, kể cả khi có đàn tôm tung tăng bơi phía dưới Từ đó, bà con đem cấy giống lúa ấy trên những vuông tôm vào mùa mưa và mô hình đó nhanh chóng trở thành phong trào

mà sau này gọi là ruộng một tôm, một lúa (Minh Tuấn, 2012)

Năm 2003, nhận thấy những giá trị và tiềm năng mà giống lúa một bụi

Trang 36

bờ đìa mang lại, UBND tỉnh Bạc Liêu đã xúc tiến xây dựng thương hiệu gạo

“Một bụi đỏ Hồng Dân” từ giống lúa đặc biệt này Khi ấy, lãnh đạo địa phương

đã phải đến Trường Đại học Cần Thơ và Viện Lúa ĐBSCL nhờ các nhà khoa học giúp đưa giống lúa Một bụi đỏ trở về thuần chủng ngày xưa, sinh trưởng

ổn định và cho năng suất cao trong điều kiện đất đai phèn mặn cao của Hồng Dân UBND huyện cũng đã phối hợp với Viện Lúa ĐBSCL tổ chức nhiều lớp tập huấn về kỹ thuật canh tác, nâng cao nhận thức cho nông dân trong việc sản xuất nông sản sạch,an toàn Nhờ đó, diện tích lúa Một bụi đỏ không ngừng được nhân rộng, đến nay đã tăng lên hơn 21.000ha Niềm vui và sự tự hào về giống lúa đặc sản đã nhen nhóm trong suy nghĩ của người dân Hồng Dân, nhưng

đó mới chỉ là khởi nguồn cho một quá trình gian nan sau này, bởi khi ấy gạo Một bụi đỏ vẫn chưa thể có mặt trên thị trường do năng suất thấp (Minh Tuấn, 2012)

Nhằm trợ giúp bà con phát triển, tiến tới xây dựng thương hiệu gạo Một bụi đỏ (MBĐ), Công ty Lương thực Bạc Liêu (LTBL) đã tiến hành thu mua lúa cho nông dân hai huyện Hồng Dân và Phước Long, với sản lượng 300 tấn, giá thỏa thuận cao hơn giá thị trường tại thời điểm từ 10 - 15% (khoảng 5.000 đồng/kg) Để bảo đảm chất lượng gạo theo tiêu chuẩn, vấn đề quan trọng là nông dân phải tuân thủ quy trình sản xuất Công ty LTBL chỉ mua lúa MBĐ tại hai điểm đã ký kết và yêu cầu phải theo đúng quy trình sản xuất GAP, bảo đảm không có dư lượng thuốc trừ sâu trong hạt gạo (Minh Tuấn, 2012)

Năm 2008, gạo Một bụi đỏ Hồng Dân đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn thương hiệu độc quyền Để thương hiệu gạo MBĐ được nhiều người biết đến, đơn vị này tiến hành các thủ tục xin phép cấp mẫu mã mới để đưa ra thị trường Đối với nông dân, đây thật sự là một tin vui Bởi từ nay, sản phẩm họ làm ra đã có nơi tiêu thụ ổn định, giá lại cao hơn giá thị trường, đồng nghĩa với việc gia đình họ sẽ có cuộc sống tốt hơn (Minh Tuấn,

Trang 37

2012)

Tuy nhiên, theo nông dân trong tỉnh thường quen canh tác theo kinh nghiệm và không tuân thủ lịch thời vụ, chọn giống, cũng như chưa xác định được hướng đi bền vững cho cây trồng, vật nuôi Một vấn đề tồn tại nhiều năm qua là nông dân thiếu thông tin, dự báo, dự đoán thị trường còn hạn chế, thí dụ như thị trường cần con, cây gì thì người dân đổ xô sản xuất loại đó, dẫn đến dư thừa, khó tiêu thụ sản phẩm (Minh Tuấn, 2012)

Từ khi Một bụi đỏ được công nhận thương hiệu góp phần thay đổi tư duy mới, cách làm ăn mới của nhiều hộ nông dân trong tỉnh Đặc biệt, diện tích sản xuất lúa Một bụi đỏ của tỉnh không chỉ dừng lại hơn 20.160ha, mà trong tương lai có thể sẽ tăng thêm Khi đó, đòi hỏi chính quyền, ngành nông nghiệp và nông dân chủ động đề ra các giải pháp nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất, giữ vững và khôngngừng nâng cao chất lượng gạo, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm (Minh Tuấn, 2012)

Từ giống Một bụi đỏ, các nhà khoa học của Trường Đại học Cần Thơ tiếp tục lai tạo thành công lúa Một bụi đỏ gạo màu hồng, vượt trội về chất lượng

và giá trị, lại hấp dẫn về màu sắc Gạo có những đặc tính ưu việt, như: hạt chắc, đều, không bị vỡ khi xay xát; đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm; đặc biệt là không tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật; hàm lượng sắt, kẽm, canxi cao, mềm cơm, tỷ lệ bạc bụng dưới 4% (Minh Tuấn, 2012)

Với năng suất và sản lượng này, dự án sản xuất lúa Một bụi đỏ gạo hồng tại huyện Hồng Dân đạt kết quả cao, mang lại thành công, mở ra hướng sản xuất mới, giúp nhà nông tăng thu nhập trên cùng một diện tích sản xuất (Minh Tuấn, 2012)

1.2.1.3 Kinh nghiệm phát triển sản xuất gạo tám thơm huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định

Tám xoan là giống lúa cổ truyền nổi tiếng của tỉnh Nam Định được trồng tại các xã Hải Toàn, Hải Cường, Hải Phong, Hải Anh, Hải An, Hải Giang của

Trang 38

huyện Hải Hậu Với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng được thiên nhiên ưu đãi nên gạo tám xoan ở đây có hương thơm rất đặc trưng Ngoài ra, các cánh đồng ở vùng này chỉ sử dụng phân bón hữu cơ để bón cho lúa nên sản phẩm không bị nhiễm các loại hóa chất bảo vệ thực vật đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm (Vũ Hoàng, 2014)

Những năm gần đây, sản phẩm gạo tám xoan Hải Hậu được Sở Khoa học

& Công nghệ hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu và áp dụng mô hình quản lý chất lượng sản phẩm từ gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch đến các công đoạn thu mua, chế biến, đóng gói, tiếp thị, tiêu thụ sản phẩm Sở Khoa học & Công nghệ đã cử cán bộ trực tiếp hướng dẫn quy trình thủ tục đăng ký nhãn hiệu và tổ chức tập huấn, phổ biến kiến thức cho các hộ dân thực hiện các quy trình này (Vũ Hoàng, 2014)

Hiện nay, Hiệp hội gạo tám xoan Hải Hậu đã xây dựng thành công nhãn hiệu tập thể và được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH &CN) cấp đăng ký độc quyền

về chỉ dẫn địa lý và bảo hộ tên gọi, xuất xứ cũng như công nhận biểu tượng nhãn hiệu cho sản phẩm Đây cũng là sản phẩm đầu tiên của ngành nông nghiệp nước ta thực hiện xây dựng tên gọi, xuất xứ theo thể thức mới, đặc biệt là xây dựng được hệ thống quản lý chất lượng trong quá trình sản xuất, chế biến và thương mại (Vũ Hoàng, 2014)

Xã Hải Toàn, một trong những địa phương có truyền thống thâm canh lúa tám xoan lớn nhất huyện Hải Hậu, trong những năm gần đây đã có những đổi thay của vùng đất lúa Là xã thuần nông, diện tích canh tác có 400ha, điều kiện thâm canh giữa các hộ, các xứ đồng tương đối đồng đều Trong những năm gần đây phát huy thế mạnh về đất đai, lao động và trình độ thâm canh, Đảng ủy, UBND xã đã tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân, tích cực tham gia có hiệu quả các đề án chuyển giao tiến bộ KHKT, chuyển đổi phương thức sản xuất đưa những giống lúa mới chất lượng vào canh tác Từ đó đã từng bước chuyển đổi tập quán, tâm lý và phương thức sản xuất

Trang 39

của người dân Năng suất lúa hằng năm của Hải Toàn bình quân đạt 126 tạ/ha/năm Những năm gần đây, ngoài các xã chuyên canh, một số địa phương khác trong huyện Hải Hậu cũng chọn những vùng đất tốt chuyển sang cấy lúa tám xoan Chính vì thế sản lượng gạo tám xoan ở Hải Hậu liên tục tăng, có năm lên tới 10 nghìn tấn (Vũ Hoàng,2014)

1.2.2 Kinh nghiệm sản xuất Nếp cái hoa vàng của một số địa phương

1.2.2.1 Xã Tam Hưng, thị xã Thanh Oai, thành phố Hà Nội

Nhờ áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong gieo trồng, bón phân, điều tiết nước…, nông dân xã Tam Hưng đã thực hiện dựng thành công mô hình trồng nếp cái hoa vàng năng suất cao (Bùi Thuỷ, 2014)

Vốn là giống nếp từ thời cha ông để lại, từ năm 2012, xã Tam Hưng tiến hành trồng nếp cái hoa vàng trên diện tích 50ha Đây là chương trình thực hiện theo hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI, gồm: cải tiến một số khâu trong canh tác, thâm canh, giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng thóc gạo

và hiệu quả kinh tế nhằm xây dựng nền nông nghiệp xanh, sạch và phát triển bền vững Vụ thu đông, xã đưa giống nếp cái hoa vàng vào triển khai trên50ha/730ha gieo cấy lúa của xã, năng suất đạt 1,7-1,8 tạ/sào, cao hơn so với các giống lúa trước đây (Bùi Thuỷ, 2014)

Năm 2013, Hợp tác xã nông nghiệp Tam Hưng phối hợp cùng Trạm Bảo

vệ thực vật,Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn,Trạm Khuyến nông thị

xã Thanh Oai mở 3 lớp huấn luyện cho các hộ nông dân về cách trồng lúa nếp cái hoa vàng và tổ chức mô hình thâm canh trên 100ha cấy giống lúa này tại thôn Song Khê (Bùi Thuỷ, 2014)

Được sự hướng dẫn của cán bộ nông nghiệp thị xã, nông dân thôn Song Khê hưởng ứng nhiệt tình, áp dụng kỹ thuật mới vào gieo trồng như: gieo mạ thưa 10kg/ sào để cấy cho 2,5-3 mẫu lúa, tiến hành cấy mạ non dưới 4 lá, nhổ

mạ không đập, cấy nông tay, mật độ cấy 16 khóm/m2 (1 dảnh/khóm), làm rãnh thoát nước quanh ruộng và chia luống rộng 2m, rãnh rộng 25cm nhằm điều tiết nước thuận lợi; thực hiện giữ đủ nước 2-3cm từ khi cấy đến sau bón thúc lần 1

Trang 40

từ 3-4 ngày; tiếp tục giữ đủ nước 3-5cm từ khi lúa đứng cái đến chín sáp, sau

đó rút kiệt nước đến cuối vụ Nhờ vậy, vụ mùa 2013, năng suất Nếp cái hoa vàng trên địa bàn thôn Song Khê đạt 1,8-2 tạ/sào (1sào Bắc Bộ = 360m2), mỗi sào cho lãi từ 2- 2,7 triệu đồng (Bùi Thuỷ, 2014)

1.2.2.2 Huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định

Nam Định là vùng trồng lúa nổi tiếng vùng đồng bằng sông Hồng với nhiều giống lúa đặc sản như nếp cái hoa vàng, tám xoan, tám ấp bẹ, dự hương… Tuy nhiên, diện tích cấy lúa đặc sản ở các địa phương trong tỉnh hiện đã giảm đáng kể Để khôi phục và phát triển các vùng lúa đặc sản, cần có bước đi cụ thể trong việc xây dựng thương hiệu các loại gạo đặc sản trên thị trường, tổ chức các vùng sản xuất tập trung tạo điều kiện để có lượng lúa hàng hóa lớn đáp ứng các yêu cầu thị trường; trong đó có việc xây dựng các cánh đồng mẫu lớn lúa đặc sản áp dụng đúng theo quy trình sản xuất sinh học (Ngọc Ánh, 2013)

Nhằm bảo vệ và phát triển giống nếp cái hoa vàng tại địa phương, từng bước hình thành vùng nguyên liệu mang tính hàng hóa, vụ mùa năm 2013, Thị trấn Cát Thành đã tổ chức triển khai xây dựng cánh đồng mẫu lớn nếp cái hoa vàng tại xã Nam Mỹ (Nam Trực) Hiện mô hình cánh đồng mẫu lớn lúa đặc sản này đang được bà con nông dân địa phương đồng thuận cùng các nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và chính quyền địa phương thực hiện (Ngọc Ánh, 2013)

Từ xưa, giống nếp cái hoa vàng đã được trồng ở đồng đất Cát Thành Sở

dĩ được gọi là nếp cái hoa vàng do khi lúa trổ đòng, phấn hoa có màu vàng chứ không trắng như các giống lúa khác Chất lượng gạo nếp cái hoa vàng Cát Thành ngon đứng đầu các loại lúa nếp, hạt gạo đầy tròn, không vỡ, có mùi thơm, khi nấu chín hạt cơm trong và ráo, ăn mềm, dẻo nhưng không nát, vừa thơm lại đậm đà Gạo nếp cái hoa vàng còn được dùng làm nguyên liệu để gói bánh chưng, nấu rượu… Vì thế, gạo nếp cái hoa vàng được người tiêu dùng xa gần biết tiếng, các đại lý trong và ngoài tỉnh tự tìm về mua Để tăng năng suất, nông dân Cát Thành đã nghiên cứu, đúc kết kinh nghiệm tìm ra quy trình thâm

Ngày đăng: 30/03/2021, 14:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Minh An (2006). Giáo trình Quản trị sản xuất. Học viện công nghệ bưu chính viễn thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị sản xuất
Tác giả: Nguyễn Thị Minh An
Năm: 2006
5. Thái Bá Cẩn (1989). “Một số suy nghĩ về quan điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế trong điều kiện hiện nay ở nước ta”. Tạp chí Tài chính, 11. tr. 5-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về quan điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế trong điều kiện hiện nay ở nước ta”. "Tạp chí Tài chính
Tác giả: Thái Bá Cẩn
Năm: 1989
8. Đinh Dĩnh (1970). Bón phân cho lúa. Nghiên cứu về lúa ở nước ngoài - Tập 1. NXB Khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân cho lúa. Nghiên cứu về lúa ở nước ngoài
Tác giả: Đinh Dĩnh
Nhà XB: NXB Khoa học
Năm: 1970
9. Phạm Thị Mỹ Dung (1996). Phân tích kinh tế. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích kinh tế
Tác giả: Phạm Thị Mỹ Dung
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1996
10. Trần Văn Đức và cs. (2006). Giáo trình kinh tế vi mô. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế vi mô
Tác giả: Trần Văn Đức và cs
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2006
12. Phạm Ninh Hải (2013). Nghiên cứu xây dựng thương hiệu gạo nếp cái hoa vàng huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Luận văn thạc sĩ, Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng thương hiệu gạo nếp cái hoa vàng huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương
Tác giả: Phạm Ninh Hải
Năm: 2013
15. Đinh Văn Lữ (1978). Giáo trình cây lúa. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây lúa
Tác giả: Đinh Văn Lữ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1978
16. Nguyễn Thị Quỳnh Mai (2016). Phát triển sản xuất vải chín sớm Phúc Hòa trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Học viện Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển sản xuất vải chín sớm Phúc Hòa trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Nguyễn Thị Quỳnh Mai
Năm: 2016
20. Vũ Thị Ngọc Phùng (2007). Kinh tế phát triển. NXB Thống kê, Hà Nội 21. Sở Khoa học công nghệ Hải Dương (2010). Kỹ thuật chọn giống lúa khoẻcho đồng ruộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển
Tác giả: Vũ Thị Ngọc Phùng (2007). Kinh tế phát triển. NXB Thống kê, Hà Nội 21. Sở Khoa học công nghệ Hải Dương
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2010
22. Trần Thúc Sơn và Đặng Văn Hiến (1995). Xác định lượng phân bón thích hợp bón cho lúa trên đất phù sa sông Hồng để có năng suất cao và hiệu quả kinh tế. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định lượng phân bón thích hợp bón cho lúa trên đất phù sa sông Hồng để có năng suất cao và hiệu quả kinh tế
Tác giả: Trần Thúc Sơn và Đặng Văn Hiến
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
24. Đinh Huyền Trang (2015). Nghiên cứu phát triển sản xuất Nếp cái hoa vàng tại huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Khóa luận tốt nghiệp, Học viện nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển sản xuất Nếp cái hoa vàng tại huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương
Tác giả: Đinh Huyền Trang
Năm: 2015
25. Đào Thế Tuấn (1970). Sinh lý ruộng lúa năng suất cao. NXB KHKT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý ruộng lúa năng suất cao
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Nhà XB: NXB KHKT
Năm: 1970
26. Đào Thế Tuấn (1980). Sinh lý của năng suất lúa. Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học và kỹ thuật nông nghiệp, NXB Nôngnghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý của năng suất lúa
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Nhà XB: NXB Nôngnghiệp
Năm: 1980
2. Ngọc Ánh (2013). Những mô hình cánh đồng mẫu lớn trồng lúa đặc sản Khác
6. CASRAD (2018). Báo cáo dự án Nếp cái hoa vàng Định Hóa năm 2018 Khác
7. Cục thống kê Thái Nguyên (2018). Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2018 Khác
11. Phạm Ninh Hải (2010). Kỹ thuật canh tác nếp cái hoa vàng Kinh Môn Khác
13. Vũ Hoàng (2014). Đầu tư phát triển những sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu Khác
14. Khuyến nông Hà Nội (2014). Hướng dẫn kỹ thuật gieo cấy giống lúa nếp cái hoa vàng Khác
18. Phạm Công Nghiệp (2014). Một số vấn đề về thương hiệu Nếp cái hoa vang Đông Triều Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w