+ Đề xuất“biện pháp sử dụng phiếu hướng dẫn tự học trong dạy học phần Hiđrocacbon không no SGK Hóa học 11, góp phần phát triển năng lực của HS.” + TNSP“để bước đầu kiểm nghiệm tính khả t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành : Phương pháp dạy học Hóa học
HÀ NỘI – 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành : Phương pháp dạy học Hóa học
Cán bộ hướng dẫn
ThS Nguyễn Văn Đại
HÀ NỘI – 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sau sắc tới thầy giáo,
Ths Nguyễn Văn Đại, người đã tận tình hướng dẫn, động viên giúp đỡ em
trong quá trình làm khóa luận
Qua đây em cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các Thầy (Cô) trong khoa Hóa học, các Thầy (Cô) trong tổ Phương pháp dạy học Hóa học, Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin gửi lời cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của Ban giám hiệu, các thầy
cô và các em HS trường THPT Bắc Đông Quan đã giúp đỡ em trong quá trình TNSP
Em xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn đã luôn đồng hành, động viên, khích lệ em hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Em đã cố gắng hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất, song công tác tiến hành nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu xót Em rất mong nhận được
sự đóng góp của quý thầy cô, cùng toàn thể các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Đỗ Thị Hảo
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
3.1 Khách thể nghiên cứu 2
3.2 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Giả thuyết khoa học 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Đóng góp mới của đề tài 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HƯỚNG DẪN TỰ HỌC PHẦN HIĐROCACBON KHÔNG NO SÁCH GIÁO KHOA HÓA HỌC 11 4
1.1 Lịch sử của vấn để thiết kế và sử dụng phiếu hướng dẫn tự học phần Hiđrocacbon không no, SGK Hóa học 11 4
1.2 Dạy học phát triển năng lực 5
1.3 Tự học và năng lực tự học 6
1.3.1 Khái niệm về tự học 6
1.3.2.Vai trò của tự học 8
1.3.3 Các hình thức tự học [6] 8
1.3.4 Tự học thông qua phiếu hướng dẫn tự học[16] 9
1.3.5 Chu trình tự học của học sinh 10
1.3.6 Năng lực tự học 13
1.3.7 Các kỹ năng tự học 13
Trang 51.3.8 Một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tự học môn hóa của HS
THPT 15
1.4 Phiếu hướng dẫn tự học 17
1.4.1 Thế nào là phiếu hướng dẫn tự học [5] 17
1.4.2 Ý nghĩa của phiếu hướng dẫn tự học trong dạy học Hóa học 17
1.4.3 Nguyên tắc thiết kế và sử dụng phiếu hướng dẫn tự học trong dạy học Hóa học 17
1.4.4 Một số lưu ý khi sử dụng phiếu hướng dẫn tự học 19
1.5 Thực trạng vấn đề tự học và sử dụng phiếu hướng dẫn tự học trong dạy học Hóa học ở THPT 19
1.5.1 Mục đích điều tra 19
1.5.2 Nhiệm vụ điều tra 19
1.5.3 Phương pháp điều tra 20
1.5.4 Kết quả điều tra 20
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HƯỚNG DẪN TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC PHẦN HIĐROCACBON KHÔNG NO SÁCH GIÁO KHOA HÓA HỌC 11 22
2.1 Mục tiêu và cấu trúc phần Hiđrocacbon không no, sách giáo khóa Hóa học 11 22
2.1.1 Mục tiêu phần Hiđrocacbon không no, SGK Hóa học 11 22
2.1.2 Cấu trúc phần Hiđrocacbon không no SGK Hóa học 11 23
2.2 Thiết kế phiếu hướng dẫn tự học phần Hiđrocacbon không no, SGK Hóa học 11 24
2.3 Quy trình sử dụng phiếu hướng dẫn tự học 34
2.4 Kế hoạch bài học minh họa sử dụng phiếu hướng dẫn tự học phần Hiđrocacbon không no SGK Hóa học 11 35
Trang 6CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 44
3.1 Mục đích thực nghiệm 44
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 44
3.3 Nội dung, đối tượng và địa bàn thực nghiệm 44
3.4 Quy trình thực nghiệm 44
3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 45
3.6 Xử lý kết quả thực nghiệm 45
3.6.1 Phương pháp xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm 45
3.6.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm 48
3.7 Đánh giá kết quả thực nghiệm 53
KẾT LUẬN 54
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
BKT Bài kiểm tra
BTH Bài thực hành
CTCT Công thức cấu tạo
CTGDPT Chương trình giáo dục phổ thông CTPT Công thức phân tử
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thời gian HS dành ra để tự học trung bình trong một ngày 20
Bảng 1.2 Các hoạt động tự học chính của học sinh 20
Bảng 1.3 Những khó khăn trong quá trình tự học của HS 21
Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra chất lượng 45
Bảng 3.2 Phân loại kết quả điểm của 2 BKT 48
Bảng 3.3 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần số tích lũy BKT số 1 49
Bảng 3.4 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần số lũy tích BKT số 2 51
Bảng 3.5 Mô tả và so sánh dữ liệu kết quả của 2 BKT 52
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 3.1 Biểu đồ tần suất biểu diễn phân loại kết quả điểm BKT số 1 49
Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích kết quả BKT số 1 50
Hình 3.3 Biểu đồ tần suất phân loại kết quả BKT số 2 50
Hình 3.4 Đồ thị đường tích lũy kết quả BKT số 2 51
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nghị quyết 29-NQ/TW khóa XI chỉ rõ yêu cầu cấp thiết và nhiệm vụ cần“đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo,”Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ XII một lần nữa khẳng định: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục,
đào tạo theo hướng mở, hội nhập, xây dựng xã hội học tập, phát triển toàn diện năng lực, thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn trọng pháp luật và trách nhiệm công dân .”[1] Triển khai Nghị quyết của Đảng và
Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể”, trong chương trình đã“nhấn mạnh quan điểm đổi mới giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực cho HS Một trong những năng lực cốt lõi của HS cần hình thành và phát triển đó là năng lực tự học Đây là một trong những năng lực quan trọng và cần thiết của người HS trong thế kỉ 21.”
Hiện nay, với sự bùng nổ của khoa học công nghệ, lượng kiến thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng.“Một số nhà nghiên cứu cho rằng, ngày nay, trong khoảng 3 năm, kiến thức nhân loại tăng lên gấp đôi Nên, việc tiếp thu kiến thức của HS nếu chỉ dựa vào các tiết học trên lớp là chưa đủ.“Do vậy, phải dạy cho HS cách học để có thể giúp họ trở thành những người có khả năng tự học suốt đời Tự học đóng một vai trò vô cùng quan trọng trên con đường lĩnh hội kiến thức của mỗi người.”Người biết tự học luôn tự mày mò, tìm kiếm, nghiên cứu tri thức một cách tích cực và không cần ai nhắc nhở, thúc giục Nhờ đó, họ luôn biết nhìn xa trông rộng,“luôn nhạy bén trong thực
tế, do biết áp dụng kiến thức đã học vào trong thực tiễn Qua thực tế dạy học cho thấy trình độ tiếp cận những kiến thức mới của HS còn hạn chế, khả năng
tự học của HS chưa tốt, cách học ở đa số HS còn thụ động và phụ thuộc vào bài dạy trên lớp của GV Để giúp HS tích lũy kiến thức, người GV phải có năng lực hướng dẫn HS tự học, biết thu thập kiến thức một cách chủ động, sáng tạo [15]”
Mặt khác, trong chương trình môn hóa học lớp 11, phần Hiđrocacbon không no được học sau phần Hiđrocacbon no, khi HS đã nắm rõ được những
Trang 11kiến thức trọng tâm của chương trước thì theo logic nhận thức, HS có điều kiện để tự học tự nghiên cứu theo phương pháp suy diễn
Xuất“phát từ những lí do trên, tôi chọn và nghiên cứu đề tài: Thiết kế
và sử dụng phiếu hướng dẫn tự học phần Hiđrocacbon không no Sách giáo khoa Hóa học 11. ”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên“cứu phương pháp nâng cao chất lượng dạy học và góp phần phát triển năng lực của HS thông qua việc thiết kế và sử dụng phiếu hướng dẫn tự học phần Hiđrocacbon không no SGK Hóa học 11.”
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
− Quá trình dạy học ở trường phổ thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu
− Phiếu hướng dẫn tự học phần Hiđrocacbon không no, SGK Hóa học 11
4 Phạm vi nghiên cứu
− Phần Hiđrocacbon không no, SGK Hoá Học 11
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên“cứu cơ sở lí luận của việc thiết kế và sử dụng phiếu ướng dẫn tự học phần Hiđrocacbon không no, SGK Hóa học 11
+ Điều tra thực trạng sử dụng phiếu hướng dẫn tự học trong dạy học Hóa học ở trường THPT.”
+ Thiết kế phiếu hướng dẫn tự học phần Hiđrocacbon không no, SGK Hóa học 11
+ Đề xuất“biện pháp sử dụng phiếu hướng dẫn tự học trong dạy học phần Hiđrocacbon không no SGK Hóa học 11, góp phần phát triển năng lực của HS.”
+ TNSP“để bước đầu kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các đề xuất trong đề tài.”
Trang 126 Giả thuyết khoa học
Nếu“thiết kế và sử dụng phiếu hướng dẫn tự học một cách hợp lý sẽ tăng cường hoạt động tự học của HS ở trường THPT, từ đó nâng cao kết quả học tập hóa học và góp phần phát triển năng lực của HS.”
7 Phương pháp nghiên cứu
− Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa,…trong tổng quan các cơ sở lý luận của đề tài
− Nhóm các phương pháp thực tiễn: Phương pháp quan sát, điều tra, phỏng vấn, trao đổi (GV, HS…)
− TNSP: Tiến hành TNSP đánh giá hiệu quả và tính khả thi của đề tài
− Phương pháp thống kê toán học xử lý số liệu TN
8 Đóng góp mới của đề tài
− Thiết kế phiếu hướng dẫn tự học cho HS phần Hiđrocacbon không no, SGK Hóa học 11.”
− Đề xuất quy trình thiết kế và sử dụng phiếu hướng dẫn tự học cho HS phần Hiđrocacbon không no, SGK Hóa học 11.”
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA “ VIỆC THIẾT
KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HƯỚNG DẪN TỰ HỌC PHẦN
1.1 Lịch sử của vấn để thiết kế và sử dụng phiếu hướng dẫn tự học phần Hiđrocacbon không no, SGK Hóa học 11
Đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến việc thiết kế và sử dụng phiếu hướng dẫn tự học của một số tác giả như :
Phạm Thị Kiều Duyên, Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo modun nhắm phát triển năng lực tự học của sinh viên trong học phần Chương trình, phương pháp dạy học Hóa học, trường Đại học Giáo dục
Võ Sỹ Hiện, Thiết kế và sử dụng tài liệu hỗ trợ cho học sinh tự học
phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT, tạp chí khoa học ĐHSP TP HCM
Trần Thị Hiền, Biên soạn tài liệu hướng dẫn HS tự học lớp 11
trường THPT, luận văn thạc sĩ giáo dục học
Nguyễn Thị Phượng, Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học hóa học lớp 10 trung học phổ thông, Bộ GD&ĐT, trường Đại học Sư
Luận văn thạc sĩ giáo dục học, 2010”
Đỗ Minh Thu, Phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy
học chương oxi- lưu huỳnh và chương tốc độ phản ứng và cân bằng phản ứng hóa học, luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Lê“Huỳnh Phước Hiệp, Thiết kế tài liệu có hướng dẫn theo modun
nhằm hỗ trợ việc tự học cho HS khá-giỏi Hóa học lớp 10 THPT, Luận văn
thạc sx giáo dục, 2011”
Trang 14 Cao“Thị Minh Huyền, Thiết kế tài liệu hỗ trợ dạy học nhằm nâng
cao kết quả học tập phần Hóa vô cơ lớp 12 THPT, Luận văn thạc sĩ giáo dục
học, 2013”
Các“công trình này chú trọng đến việc thiết kế tài liệu học tập nhằm nâng cao chất lượng học tập của HS nhưng chưa chú trọng đến việc sử dụng các phiếu tự học này như thế nào để phát triển năng lực cho HS Đồng thời các nghiên cứu này chưa chú trọng đến việc đánh giá quá trình học tập của
HS thông qua các bài kiểm tra đánh giá năng lực.”
Như vậy,“việc thiết kế và sử dụng phiếu hướng dẫn tự học phần Hiđrocacbon không no, SGK Hóa học 11 nhằm phát triển năng lực của HS chưa được đề cập và nghiên cứu một cách hệ thống.”
1.2 Dạy học phát triển năng lực
Chương trình giáo dục“định hướng phát triển năng lực hay còn gọi là
dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của
thế kỷ 20 và hiện nay đã trở thành xu hướng giáo dục”trên toàn thế giới
Giáo dục“định hướng phát triển năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học,“thực hiện các mục tiêu phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất, nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng các kiến thức đã học vào“thực tiễn nhằm chuẩn bị cho HS năng lực giải quyết các tình huống trong cuộc sống và nghề nghiệp Chương trình này đã nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình chiếm lĩnh tri thức.”Khác với chương trình định hướng phát triển nội dung,”chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra hay “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học
Ưu điểm“của chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực”là tạo điều kiện quản lí chất lượng GD theo kết quả đầu ra đã quy định.“Tuy nhiên nếu vận dụng một cách sai lệch, không chú ý đến nội dung dạy học thì
có thể dẫn đến lỗ hổng tri thức cơ bản và tính hệ thống của tri thức Ngoài ra, chất lượng giáo dục không chỉ thể hiện ở chất lượng đầu ra mà còn phụ thuộc quá trình thực hiện.[14]”
Trang 15Một số định hướng cơ bản xây dựng CTGDPT theo tiếp cận năng lực:
- Tiếp cận hình thành năng lực cá nhân,“con người, nghĩa là hình thành, củng cố và phát triển năng lực và nhu cầu cấu thành bản chất người có năng lực tiềm tàng để sống và làm việc; để tìm kiếm, lựa chọn, tiếp nhận và xử lý thông tin, qua đó học được tri thức và các kỹ năng
- Chương trình hướng đến quá trình giáo dục chuyển từ giáo dục nhấn mạnh trang bị kiến thức sang trang bị cho học sinh hệ thống kỹ năng cơ bản,
kỹ năng sống và tự học suốt đời
- Chương trình hướng tới giáo dục vì sự phát triển bền vững.“Giáo dục mọi người vì sự phát triển bền vững là phát triển những kỹ năng, triển vọng, giá trị và kiến thức để sống theo cách bền vững đòi hỏi sự cân bằng giữa mục tiêu kinh tế - xã hội và trách nhiệm sinh thái, môi trường Theo đó, cần vận dụng tri thức liên môn,”tích hợp và những công cụ phân tích từ nhiều bộ môn
-“Giáo dục tri thức phổ thông cơ bản/nền tảng có tính phổ cập bắt buộc làm cơ sở cho giáo dục phân luồng và phân hóa sâu, chuyên biệt.”
-“Giáo dục tích hợp trong dạy học được quán triệt ở tất cả các yếu tố cấu thành quá trình giáo dục với các mức độ khác nhau dựa trên logic phát triển ở HS năng lực cốt lõi.”
-“Tích hợp nhuần nhuyễn kết hợp với phân hóa dẫn đến một chương trình giảm thiểu số môn học, nhưng học sinh lại có được vốn tri thức sâu rộng, gắn kiến thức đã học vào thực tiễn và HS được chuẩn bị tâm thế hướng nghiệp, hướng phát triển trình độ cao, chuyên sâu.”
1.3 Tự học và năng lực tự học
1.3.1 Khái niệm về tự học
* Quan niệm về tự học của các nhà giáo dục học
Theo tác giả Lê Khánh Bằng: “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một số lĩnh vực khoa học nhất định”.[2]
GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn nghiên cứu sâu về vấn đề tự học Ông cho
Trang 16rằng, học cốt lõi là tự học mà ở đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình Theo ông: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (so sánh, quan sát, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (khi phải dùng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó,….) để chiếm lĩnh 1 lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực
đó thành sở hữu của mình”.[11]
* Quan niệm về tự học của các nhà tâm lý học: [7]
Theo tác giả M.A Rubakin: “Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể”.[10]
Theo tác giả N.D Levitov: “Tự học là hoạt động tích cực của cá nhân với các thành phần tâm lý của sự lĩnh hội, đó là thái độ tích cực của người học, trong tự học các quá trình tư duy, các quá trình ghi nhớ,… các quá trình tâm lý có liên quan mật thiết với nhau để hoạt động tự học đạt kết quả”.[8]
Theo tôi,“tự học được hiểu theo nghĩa rộng là quá trình người học tự quyết định việc lựa chọn mục tiêu, nội dung, cách thức học tập, các hoạt động học tập và phương pháp kiểm tra đánh giá quá trình học tập một cách thích hợp “Từ đó có thể tự tổ chức, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập của cá nhân mình.”Nhìn chung,”tự học theo nghĩa này được hiểu là quá trình học tập một cách tự giác, chủ động và độc lập
Tự học theo nghĩa hẹp được hiểu là quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập theo yêu cầu của GV mà không giáp mặt thầy Theo cách hiểu này thì
tự học được xem như một giai đoạn hay một khâu của hoạt động học,“diễn ra ngoài giờ lên lớp, HS tự học để hoàn thành những nhiệm vụ mà người dạy giao cho Theo cách hiểu ở trên, có thể cho rằng: “Tự học là tự giác,chủ động
trong quá trình học tập nhằm vươn lên tự nắm bắt tri thức Tự học không chỉ
đơn thuần là tiếp nhận kiến thức từ thầy cô mà còn là học hỏi ở ” bạn bè, tìm tòi nghiên cứu sách vở hay học hỏi, quan sát từ thực tế, trong cuộc sống ” [4]
Trang 171.3.2 Vai trò của tự học
Tự học“đóng một vai trò vô cùng quan trọng trên con đường lĩnh hội kiến thức của mỗi người.“Tự học giúp mỗi người luôn biết tự mày mò, tìm kiếm, nghiên cứu một cách tích cực ở bất cứ hoàn cảnh nào.”Chính vì vậy, những con người ấy có thể ghi nhớ kiến thức một cách nhanh chóng, nhớ lâu, nhớ sâu và hiểu được tận gốc của vấn đề Kiến thức là vô hạn trong khi trí nhớ của con người là hữu hạn, nên nếu chỉ biết học tủ học vẹt thì chúng ta sẽ không thể biền những kiến thức ấy thành của mình mà sẽ mau chóng quên đi.”Trong tuyển tập “Bàn về giáo dục Việt Nam”, Nguyễn Cảnh Toàn quan niệm :“Tư duy và nhân cách quan trọng hơn kiến thức Người thầy dở là người thầy chỉ đem kiến thức cho học trò, người thầy giỏi là người biết đem đến cho họ cách tìm ra kiến thức”.[12]
Tự học“chính là cuộc hành trình của bản thân mỗi người để chiếm lĩnh kiến thức của nhân loại,“và quá trình ấy luôn luôn có nhiều chông gai, thử thách nhưng chính ấy lại tạo cho chúng ta động lực thúc đẩy chúng ta tiếp tục
cố gắng chiếm lĩnh tri thức.”Tự học không chỉ giúp chúng ta nắm vững những kiến thức căn bản mà còn giúp chúng ta đào sâu và mở rộng kiến thức.“Nhờ quá trình tự học chúng ta sẽ hệ thống lại được những kiến thức đã học và kịp thời nhận ra thiếu sót của bản thân để kịp thời sữa chữa,”từ đó ta có thể tự tin trên con đường học vấn của bản thân.”
1.3.3 Các hình thức tự học [6]
- Tự học hoàn toàn :“là hình thức tự học có không GV, HS có thể tự học thông qua phiếu tự học hay qua quá trình tìm hiểu thực tế, học hỏi các kinh nghiệm từ người khác HS có thể gặp nhiều khó khăn thiếu kiến thức, khó sắp xếp kế hoạch học tập, không tự đánh giá được kết quả tự học của bản thân, Hình thức tự học này gây ra nhiều khó khăn cho HS.”
- Tự học ở một giai đoạn của quá trình học tập:“Có nhiều giai đoạn của quá trình học tập mà HS có thể tự học, nhưng điển hình nhất là quá trình HS làm bài tập về nhà Ở quá trình này, HS có thể một mình học tập hoặc có thể học tập theo nhóm, trao đổi các kiến thức với bạn bè Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả học bài của HS.”
Trang 18- Tự học qua các phương tiện truyền thông :“Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và truyền thông, HS ngoài việc trực tiếp nghe giảng từ GV trên lớp còn có thể tự học qua các phương tiện truyền thông Phương pháp tự học này rất phong phú về mặt hình thức, HS có thể truy cập các website trên mạng để nghe giảng, tuy nhiên quá trình này còn có giới hạn vì không tiếp xúc được với GV, không được giải đáp thắc mắc kịp thời, không nhận được sự giúp đỡ khi khó khăn Với hình thức tự học này, HS không đánh giá được kết quả học tập của mình.”
- Tự học qua phiếu hướng dẫn:“Trong phiếu hướng dẫn tự học trình bày các câu hỏi định hướng nhằm liệt kê các câu hỏi có thể giúp HS sau khi trả lười các câu hỏi đó, có thể tự lĩnh hội các tri thức Ngoài ra, phiếu hướng dẫn tự học hướng dẫn HS cách kiểm tra, đánh giá tính chính xác thông qua đáp án, nếu đáp án chưa đúng thì chỉ dẫn giúp HS chỉnh sửa, bổ sung, làm bài cho đến khi đạt được các mục tiêu đề ra.”
- Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn của GV :“ Với hình thức này, GV hướng dẫn HS một cách chặt chẽ, để HS đạt được những kết quả nhất định Song nếu HS vẫn chỉ sử dụng SGK là tài liệu tham khảo duy nhất thì họ sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình tự học, vì thiếu sự hướng dẫn về phương pháp học.”
Theo tôi,“mỗi hình thức tự học đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định HS có thể tự lựa chọn cho mình phương pháp tự học phù hợp với bản thân Nhưng để HS có thể linh hội tri thức một cách đầy đủ, logic, GV cần giúp đỡ HS khắc phục được những nhược điểm và phát huy các ưu điểm của các hình thức tự học đã có.”
1.3.4 Tự học thông qua phiếu hướng dẫn tự học[16]
Tự học là một hình thức học tập.“Vì vậy, hoạt động tự học phải có mục đích, nội dung và phương pháp học tập phù hợp Trong dó, hình thức tự học thông qua phiếu hướng dẫn tự học vừa phải đảm bảo thực hiện đúng quan điểm dạy học theo xu hướng hiện nay, vừa phải phù hợp với đặc điểm nhận thức của từng đối tượng của HS.”
Trang 19Tác động hướng dẫn của GV giúp hỗ trợ cho HS trong quá trình tự học,
tự nghiên cứu.“Chỉ có tự học HS mới có thể nắm vững kiến thức một cách nhanh chóng, ghi nhớ kiến thức một cách sâu sắc Trong phiếu hướng dẫn tự học, HS nhận được sự hướng dẫn để lĩnh hội kiến thức, thông qua các câu hỏi định hướng tự học, HS có thể tự đánh giá quá trình học tập của mình thông qua bài kiểm tra đánh giá năng lực.”
+ Các câu hỏi định hướng tự học:“Là hệ thống các câu hỏi định hướng
mà thông qua đó, khi học sinh trả lời các câu hỏi này, HS có thể tự mình nắm vững kiến thức HS cần phát huy tất cả những kĩ năng như hoạt động phát hiện vấn đề, thu thập, xử lý thông tin, rút ra kết luận, kiểm tra và đánh giá kết quả.”
+ Bài kiểm tra đánh giá năng lực:“Là bài kiểm tra do GV chuẩn bị sẵn trong phiếu tự học giúp HS tự đánh giá quá trình tự học của mình Các câu hỏi trong bài kiểm tra cần phù hợp với từng đối tượng HS, không quá khó cũng không quá dễ, nhằm mục đích đánh giá quá trình tự học Năng lực của người học phụ thuộc vào độ khó của nhiệm vụ và các bài tập đã hoàn thành, thực hiện được càng nhiều câu hỏi khó, thì năng lực của HS càng cao, càng đạt được nhiều mục tiêu kiến thức đã đề ra thì kiến thức đạt được càng nhiều.”
1.3.5 Chu trình tự học của học sinh
a Xây dựng động cơ học tập
Động cơ“học tập có vai trò quyết định đối với hoạt động học tập của HS.“Xác định được động cơ học tập giúp HS xác định được động cơ cố gắng, không ngại khó khăn, không lùi bước trong quá trình học tập.”Từ đó HS có thể có một động lực to lớn để luôn tự nghiên cứu, học tập và say mê học tập.”Có động cơ học tập tốt khiến cho HS luôn tự giác say mê, học tập và nghiên cứu với những mục tiêu cụ thể rõ ràng đã đề ra, với sự sáng tạo bất tận Trong các động cơ học tập của HS, có thể tách thành hai nhóm :
Trang 20Các động cơ hứng thú nhận thức Các động cơ trách nhiệm
Động“cơ hứng tú nhận thức được
hình thành một cách ngẫu nhiên khi
HS bắt gặp một nội dung mới lạ, thú
vị, bất ngờ, chứa nhiều yếu tố nghịch
lí và khơi gợi được trí tò mò của HS
Động cơ này xuất hiện khi GV tăng
cường sử dụng các phương pháp học
tập mới,”tăng cường sử dụng các trò
chơi học tập hay sử dụng các câu hỏi
gắn liền với thực tiễn
Động cơ trách nhiệm là loại động cơ được hình thành khi HS nhận thức được trách nhiệm đói với gia đình, thầy cô, bàn bè và bản thân Từ đó các em mới có ý thức kỉ luật trong học tập, nghiêm túc tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ học tập, những yêu cầu
từ GV, phụ huynh.”
Cả hai nhóm động cơ trên đều vô cùng cần thiết,“tuy nhiên nó không phải là một quá trình hình thành tự phát, cũng không đem lại từ bên ngoài mà hình thành, phát triển một cách tự giác thầm lặng từ bên trong Do vậy, GV phải tùy theo đặc điểm môn học, đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi HS để tìm ra biện pháp thích hợp nhằm khơi dậy hứng thú học tập và năng lực tiềm tàng ở
HS Và quan trọng hơn hết là tạo mọi điều kiện để các em tự kích thích động
cơ học tập của mình.”
b Xây dựng kế hoạch học tập
Mỗi người có những đăc điểm học tâp, năng lực học tập khác nhau khác nhau.“Vì vậy, việc xây dựng kế hoạch học tập của mỗi người đều khác nhau Nhưng có một đặc điểm chung là, đối với bất kì ai muốn việc học thật
sự có hiệu quả thì mục đích, nhiệm vụ và kế hoạch học tập phải được xây dựng cụ thể, rõ ràng.”Trong đó, kế hoạch học tập phải được xác định với tính định hướng cao.“Kế hoạch học tập có thể là kế hoạch ngắn hạn, cùng có thể là
kế hoạch dài hạn Kế hoạch học tập gắn liền với thời gian học tập hay nói cách khác kế hoạch học tập là sắp xếp khoảng thời gian học tập sao cho phù hợp Đặc biệt, từng phần trong kế hoạch cần hoàn thành dứt điểm từng phần theo thứ tự được thực hiện chi tiết trong kế hoạch Việc xây dựng kế hoạch học tập hợp lý sẽ giúp bạn chủ động được thời gian của bản thân cũng như góp phần nâng cao kết quả tự học
Trang 21c Tự mình nắm vững nội dung tri thức
Quá trình tự nắm vững tri thức là giai đoạn quyết định, chiếm nhiều thời gian nhất.“Khối lượng kiến thức, kĩ năng được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn đề nông hay sâu, rộng hay hẹp, có bền vững hay không còn tùy thuộc vào mỗi người.”Nó gồm các hoạt động sau :
d Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Việc đánh giá kết quả học tập của HS được thực hiện thông qua các hình thức khác nhau:“Dùng các thang đo mức độ đáp ứng yêu cầu của GV, bản thân tự đánh giá, sự đánh giá nhận xét của tập thể thông qua thảo luận, tự đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt ra ban đầu…Tất cả đều nhằm mục tiêu đánh giá kết quả học tập của HS và mang một ý nghĩa tích cực, do đó cần được quan tâm thường xuyên.”Thông qua quá trình này,người học có thể tự đối thoại để thẩm định mình, hiểu được cái gì làm được, điều gì chưa thỏa mãn nhu cầu học tập nghiên cứu để từ đó có hướng khắc phục hay phát huy.”
Vấn đề tự học rõ ràng không hề đơn giản, vấn đề tự kiếm tra đánh giá kết quả học tập cũng vậy.“Chính vì vậy, GV có thể giúp đỡ HS trong việc này thông qua việc xây dựng những bài kiểm tra đnahs giá năng lực hay thông qua việc xây dựng các tiêu trí đánh giá quá trình học tập của HS Ngoài ra, GV
TIẾP CẬN
THÔNG TIN
XỬ LÍ THÔNG TIN
VẬN DỤNG KIẾN THỨC TRAO ĐỔI
THÔNG TIN
Trang 22với tư cách là ngoại lực trong việc trang bị cho HS một hệ thống tri thức, kĩ năng, thái độ với phương pháp tự học cụ thể, sẽ giúp HS tích cực hơn trong quá trình tự lĩnh hội kiến thức.”Nhờ đó, hoạt động tự học của HS mới đạt được kết quả cao
“Năng lực tự học là khả năng xác định nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động;“tự đặt mục tiêu học tập để luôn luôn nỗ lực phấn đấu thực hiện các phương pháp học tập một cách hiệu quả; điều chỉnh những sai sót của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc góp ý của GV hay bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập Năng lực tự học cũng là một khả năng, một phẩm chất “vốn có” của mỗi cá nhân.“Tuy nhiên nó luôn luôn biến đổi tùy thuộc vào hoạt động của cá nhân trong môi trường văn hóa – xã hội Năng lực tự học là khả năng bẩm sinh của mỗi người nhưng phải được đào tạo, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn thì nó mới bộc lộ được những ưu điểm giúp cho cá nhân phát triển, nếu không sẽ mãi là khả năng tiềm ẩn.”
1.3.7 Các kỹ năng tự học
Học tập là“cả một quá trình lâu dài và không ngừng nghỉ, để có được kiến thực bạn cần rèn luyện các kĩ năng tự học Kĩ năng tự học sẽ giúp bạn học tập một cách bài bản, logic.”Căn cứ vào chức năng từng loại hoạt động, chia kỹ năng tự học thành bốn nhóm:
Thứ nhất: Kỹ năng kế hoạch hóa việc tự học
Kỹ năng này cần tuân thủ các nguyên tắc như:“Đảm bảo thời gian tự học tương xứng với lượng thông tin của môn học; cần xen kẽ hợp lý các hình thức tự học khác nhau giữa các môn học, giờ tự học, giờ giải lao; thực hiện nghiêm túc kế hoạch tự học đã đề ra như biết cách làm việc độc lập, tự kiểm
Trang 23tra, đánh giá kết quả tự học của mình.”Kĩ năng kế hoạch hóa việc tự học đóng vai trò tiền đề, góp phần hoạch định các kế hoạch học tập, để HS tự học theo
kế hoạch đề ra
Thứ hai: Kỹ năng nghe và ghi bài trên lớp
Kĩ năng nghe“và ghi bài trên lớp là kĩ năng không thể thiếu trong quá trình tự học Quy trình nghe giảng gồm các khâu như ôn bài cũ, làm quen với bài sắp học, hình dung các câu hỏi đối với bài mới, chuẩn bị các thắc mắc khi cần trao đổi Khi nghe giảng cần tập trung theo dõi sự dẫn dắt của GV, liên
hệ với kiến thức đã học,”sắp xếp lại kiến thức theo một trật tự logic và ghi nhớ chúng một cách khao học
Thứ ba: Kỹ năng ôn tập
Kỹ năng ôn bài là“hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc chiếm lĩnh kiến thức bài giảng của GV Việc tái hiện bài giảng dựa vào những biểu tượng, khái niệm, phán đoán được ghi nhận từ bài giảng của thầy, dựng lại bài giảng của thầy bằng ngôn ngữ của chính mình, đó là những mối liên hệ lôgic
có thể có cả kiến thức cũ và mới Kĩ năng này sẽ giúp HS một lần nữa ghi nhớ sâu hơn các kiến thức,”tạo tiền đề cho việc khắc họa kiến thức một cách sâu sắc trong trí nhớ
“Kỹ năng tập luyện có tác dụng trong việc hình thành kỹ năng tương ứng với những tri thức đã học.“Từ việc giải bài tập của thầy đến việc người học tự thiết kế những loại bài tập cho mình giải; từ bài tập củng cố đơn vị kiến thức đến bài tập hệ thống hóa bài học, cũng như những bài tập vận dụng kiến thức vào cuộc sống sẽ giúp học sinh được vận dụng các kiến thức mình
đã được học, tư đó nhớ lâu hơn,”chính xác hơn và logic hơn.”
Thứ tư: Kỹ năng đọc sách
Phải xác định rõ mục đích đọc sách, cũng như xác định được đúng loại sách mình cần nghiên cứu.“Sau đó, lựa chọn cách đọc sao cho phù hợp như : tìm hiểu nội dung tổng quát của quyển sách, đọc thử một vài đoạn, đọc lướt qua nhưng có trọng tâm, đọc kĩ có phân tích, nhận xét, và ghi nhớ Khi đọc sách cần phải tập trung chú ý, tích cực suy nghĩ và ghi chép để tóm lược lại những nội dung quan trọng.”
Trang 241.3.8 Một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tự học môn hóa của HS THPT
- Ảnh hưởng của ý thức học tập và động cơ nhận thức HS:“Yếu tố này
có ý nghĩa quyết định trong quá trình hình thành và phát triển năng lực tự học của HS Nếu người học không xác định được ý thức và động cơ học tập, thì không bao giờ tự học thành công Động cơ học tập chính là động lực thúc đẩy
HS học tập dựa trên cơ sở hoàn thiện tri thức, mong muốn nắm vững kĩ năng, tiến tới mục đích làm chủ tri thức, làm chủ nghề nghiệp
- Ảnh hưởng của vốn tri thức đã có của HS: “Hầu hết các môn học đều được phát triển theo các dạng,“những tri thức sau được xây dựng trên cơ sở của những tri thức đã có trước Ngoài ra kiến thức các môn học đều có liên quan đến nhau.”Vì vậy, để chiếm lĩnh các tri thức khoa học nói chung, việc học cũng như việc trèo thang, không qua nấc thang thấp thì không thể tiến lên nấc cao hơn Bên cạnh đó người học cần phải học một cách sáng tạo, tích hợp nội dung các môn học để từ đố thấy được mối quan hệ giữa chúng.”Do đó, để
tự học có hiệu quả thì người học phải tự trang bị cho mình vốn kiến thức tối thiểu để tự nghiên cứu vấn đề mà mình quan tâm.”
- “Ảnh hưởng của năng lực trí tuệ và tư duy: Năng lực trí tuệ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng nắm bắt tri thức khoa học nhanh hay chậm của mỗi học sinh Yếu tố này ảnh hưởng rất lớn, đôi khi quyết định đến khả năng học tập nói chung và năng lực tự học nói riêng Mỗi HS đều có năng lực trí tuệ và tư duy khác nhau Những người có năng lực trí tuệ tốt thường có khả năng tự học rất cao, khi có đủ vốn tri thức tối thiểu, họ có thể tự độc lập làm việc một mình Phương pháp tư duy là khả năng vận dụng các thao tác tư duy để giúp HS hiểu và nhớ lâu hơn các kiến thức khoa học, có thể nói kết quả học tập của HS tùy thuộc phần lớn vào tính chất và cơ cấu tư duy của HS Chính vì vậy GV có thể dạy HS cách tư duy kiến thức để HS thấy rằng các kiến thức đều có mối liên quan logic, chặt chẽ đến nhau.”
- “Ảnh hưởng phương pháp học tập của HS:Phương pháp học tập tốt giúp HS phát huy được tài năng vốn có, phương pháp học dở sẽ cản trở tài năng phát triển của HS Phương pháp học tập có vai trò quan trọng để người học có thể thành công trong học tập Mỗi người có một phương pháp học tập
Trang 25riêng, thói quen hoạt động trí óc riêng, không ai giống ai Vì vậy, GV không nên ép buộc HS phải theo suy nghĩ thói quen của mình mà nên gợi ý cho HS cách ghi nhớ kiến thức theo khả năng của bản thân HS Mặt khác, cần chú trọng bồi dưỡng phát triển các thói quen chưa có của HS, từ đó góp phần hình thành phương pháp học tập riêng Trong tự học, yếu tố quan trọng để đảm bảo thành công là phương pháp tự học Nếu người học tự rèn luyện được thói quen, phương pháp, kỹ năng thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có của mỗi người.”
- Ảnh hưởng phương pháp dạy học của thầy: Theo Từ điển Giáo dục
học: “Phương pháp dạy học, cách thầy (cô) tiến hành dạy nội dung đi đôi với
việc dạy cách học cho HS nhằm giúp HS trau dồi phương pháp tự học để nắm vững nội dung đang học, đồng thời để rèn luyện cách tự học suốt đời”[13]
Thông qua việc dạy học,“HS nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành năng lực và thế giới quan Từ đó mà phương pháp tự học của được HS hình thành, kéo theo đó là sự hình thành và phát triển các năng lực, trong đó
có năng lực tự học của HS.”
- Nội dung, chương trình đào tạo:“Do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, khối lượng tri thức ngày càng lớn, trong khi đó chương trình đào tạo không thay đổi và có nhiều hạn chế nên đòi hỏi người học phải có năng lực tự học.Nếu người học không tự thay đổi sẽ sớm trở thành con người lạc hậu trong sự phát triển của nhân loại.”
- Ảnh hưởng của SGK, phiếu học tập và các điều kiện khác về cơ sở vật chất, gia đình và xã hội:“Khi đánh giá vai trò của SGK đối với quá trình tự học của HS, PGS.TS Bùi Văn Nghị nhận xét: “Nếu người viết sách đặt mình vào vị trí người đọc, trình bày một vấn đề có nguồn gốc, có hướng đích gợi động cơ, gợi vấn đề, có các hoạt động tương thích với nội dung và mục đích thì sách viết
ra sẽ hấp dẫn người học” Ngoài ra không thể phủ nhận ảnh hưởng quan trọng
từ phía gia đình, tạo điều kiện tiền đề,”luôn động viên khích lệ HS trong quá trình học tập cũng như xây dựng trong HS các động cơ học tập
Trang 261.4 Phiếu hướng dẫn tự học
1.4.1 Thế nào là phiếu hướng dẫn tự học [5]
Phiếu hướng dẫn tự học là tư liệu học tập chứa đựng các thông tin tri thức“để GV hướng dẫn HS tự học, tự nghiên cứu để tiệp cận và lĩnh hội tri thức Phiếu hướng dẫn tự học được biên soạn theo những đặc trưng và cấu trúc của từng môn học, theo trình độ đối tượng HS.“Phiếu có thể phân thành nhiều loại như: chứa đựng nội dung lý thuyết hoặc chứa đựng nội dung bài tập hoặc chứa đựng cả nội dụng lý thuyết và nội dung bài tập.”Bằng việc sử dụng phiếu hướng dẫn tự hoc, hoạt động của GV từ trình bày, giảng giải sang hoạt động hướng dẫn, chỉ đạo HS, không những vậy, HS còn có thể tự đánh giá quá trình học tập của bản thân, để tiếp tục chỉnh sửa, rút kinh nghiêm.”
1.4.2 Ý nghĩa của phiếu hướng dẫn tự học trong dạy học Hóa học
Phiếu hướng dẫn tự học có vai trò định hướng quan trọng giúp HS nắm bắt kiến thức, là cơ sở, phiếu quan trọng giúp HS tự nghiên cứu và trang bị cho mình những kiến thức, cách tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức.“Từ đó người học có thể tự kiểm tra đánh giá sự tiến bộ của mình cũng như nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của mình để kịp thời khắc phục và phát huy Bên cạnh đó phiếu hướng dẫn tự học có vai trò quan trong trong việc giúp HS có niềm đam mê với môn học,”tự khám phá, tìm tòi và phát triển được những năng lực chung cũng như năng lực chuyên biệt cần có
1.4.3 Nguyên tắc thiết kế và sử dụng phiếu hướng dẫn tự học trong dạy học Hóa học
Nguyên tắc thiết kế phiếu hướng dẫn tự học trong dạy học[3]
Khi thiết kế phiếu hướng dẫn tự học, ngoài những nguyên tắc về việc xây dựng nội dung,“cấu trúc chương trình, cần đặc biệt chú ý đến các nguyên tắc sau:”
- Đảm bảo thực hiện đúng chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ GD & ĐT
- Phù hợp với từng đối tượng sử dụng;
- Đảm bảo tính khoa học, tính hệ thống;
- Đảm bảo tính phân hóa, tính vừa sức;
- Góp phần bồi dưỡng năng lực của HS;
Trang 27- Trình bày rõ ràng, dễ hiểu, dễ tiếp cận
Nguyên tắc sử dụng phiếu hướng dẫn tự học trong dạy học
dẫn tự học đảm bảo cho hoạt động tự học của HS diễn ra theo đúng trình tự đã sắp xếp.”Xây dựng kế hoạch tự học theo phiếu hướng dẫn là bước đầu quan trọng trong việc giúp HS có một khoảng thời gian học tập khoa học
“ Nguyên tắc 2: Hướng dẫn HS nắm vững mục tiêu và trọng tâm của
phần kiến thức cần nghiên cứu Thực tế cho thấy, khi học xong bài trên lớp, rất nhiều HS không nắm được kiến thức trọng tâm của bài học cũng như không thể vận dụng các kiến thức đó để làm bài tập Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó có nguyên nhân là các em chưa nắm được mục tiêu bài học Phiếu hướng dẫn tự học sẽ giúp HS thấy rõ những kiến thức, kĩ năng trọng tâm của các bài học.”
“ Nguyên tắc 3: Sử dụng hệ thống câu hỏi định hướng tự học và bài
kiểm tra đánh giá trong phiếu để hướng dẫn HS chuẩn bị bài trước giờ học trên lớp Để giúp HS hoạt động tích cực, tiếp thu bài nhanh, GV cần sử dụng
hệ thống câu hỏi phù hợp, đảm bảo tính phân hóa và tính vừa sức, yêu cầu HS chuẩn bị trước ở nhà Khi vào tiết học chính thức, HS đã có tâm lí chủ động, sẵn sàng tham gia các hoạt động để chiếm lĩnh tri thức.”
Nguyên tắc 4:“Sử dụng hệ thống câu hỏi định hướng trong phiếu đúng mục tiêu, đúng chủ đề Mục tiêu ở đây được hiểu là các mức độ cần đạt được của HS về kiến thức trong một bài học.”
Nguyên tắc 5:“Tổ chức hoạt động nhóm theo một số nội dung trong phiếu để tăng cường hoạt động tích cực và hợp tác của HS Theo định hướng đổi mới phương pháp dạy thì đòi hỏi hoạt động dạy và học cần có sự kết hợp giữa hoạt động cá nhân với hoạt động tập thể;”giữa GV với HS; giữa HS với
HS
Nguyên tắc 6: GV cần khơi dậy ở HS niềm đam mê, hứng thú với môn
học.“Khi HS thích thú, say mê với môn học thì các em sẽ tự giác trong việc
sử dụng phiếu hướng dẫn tự học một cách thường xuyên, đều đặn Muốn vậy, trong phiếu hướng dẫn tự học GV phải:”
- Sử dụng hệ thống bài tập phù hợp với trình độ từng đối tượng HS
Trang 28- Trong quá trình sử dụng phiếu, GV cần sử dụng các biện pháp khen thưởng và trách phạt rõ ràng để kích thích tinh thần học tập của HS
Nguyên tắc 7: HS phải chủ động, tích cực hơn trong việc sử dụng phiếu
Để nâng cao hiệu quả sử dụng phiếu thì bản thân các em HS phải chủ động và tích cực hơn trong việc trao đổi thông tin với GV và bạn bè Đồng thời GV cần thường xuyên quan tâm, giúp đỡ khi các em gặp những vấn đề khó khăn trong học tập, tạo mối quan hệ thân thiện với HS
1.4.4 Một số lưu ý khi sử dụng phiếu hướng dẫn tự học
− Khi sử dụng phiếu học tập cần lưu ý:
+ Đối với GV: Hướng dẫn HS cách sử dụng các phiếu để hoàn thành phiếu hướng dẫn đã được giao về nhà; GV cần sử dụng các công cụ, phương tiện internet để dễ dàng trao đổi và kiểm tra việc HS làm phiếu học tập ở nhà, đồng thời có thể giúp đỡ, giải đáp các thắc mắc để HS có thể chủ động chiếm lĩnh kiến thức; GV có thể trích dẫn các phiếu liên quan đến bài học hay đường link tìm kiếm để HS dễ dàng tìm kiếm và chọn lọc thông tin
+ Đối với HS: Cần chú ý làm theo các hướng dẫn của GV, từ đó tích cực, chủ động trong việc bổ sung các kiến thức cơ bản và các kiến thức chuyên sâu, phục vụ cho bài học; HS cần tích cực, tự giác trong việc học tập,
1.5 Thực trạng vấn đề tự học và sử dụng phiếu hướng dẫn tự học trong dạy học Hóa học ở THPT
1.5.1 Mục đích điều tra
− Điều tra thực trạng vấn đề tự học và nhu cầu sử dụng phiếu hướng dẫn tự học trong quá trình học tập môn Hóa học của HS ở trường THPT
1.5.2 Nhiệm vụ điều tra
− Kiểm tra, đánh giá hiệu quả của phiếu tự học và cách sử dụng nó trong dạy học
− Xử lí, phân tích kết quả TN, từ đó rút ra kết luận:
+ Về mặt định lượng: về mức độ nắm vững kiến thức, độ bền kiến thức; + Về mặt định tính: đánh giá sự phù hợp của phiếu hướng dẫn tự học đã
đề xuất
Trang 291.5.3 Phương pháp điều tra
− Phát phiếu điều tra cho HS;
− Phỏng vấn trực tiếp GV
1.5.4 Kết quả điều tra
Chúng tôi đã tiến hành điều tra 91 HS của trường THPT Bắc Đông Quan Kết quả thống kê như sau:
− Nhận thức về tầm quan trọng của quá trình tự học thì phần lớn HS đều đã nhận ra tầm quan trọng của quá trình này: 93,4% HS cho rằng tự học
Đọc bài mới trước khi đến lớp 27,47%
Tìm kiếm thông tin học tập trên mạng/học trực
tuyến qua mạng
24,17%
Khác
Kết quả cho thấy hoạt động tự học của HS vẫn chủ yếu là làm bài tập
về nhà và đọc bài mới trước khi đến lớp
Trang 30Bảng 1.3 Những khó khăn trong quá trình tự học của HS
Những khó khăn trong quá trình tự học Tỉ lệ
Mất tập trung, thiếu tính kỷ luật 24,17%
Không có phương pháp, kĩ năng tự học 40,65%
Thiếu nguồn tài liệu và sự hướng dẫn học tập 43,95%
Qua số liệu cho thấy, HS gặp khó khăn trong quá trình tự học chủ yếu
là do thiếu nguồn tài liệu và sự hướng dẫn học tập, không có phương pháp, kĩ năng tự học Do đó, thiết kế và sử dụng các phiếu hướng dẫn tự học sẽ giúp
HS giải quyết được các khó khăn này của HS
Bên cạnh đó, thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 20 GV ở trường THPT cho thấy đa phần các GV đều đồng tình rằng vai trò quan trọng của tự học trong quá trình học tập của HS, việc sử dụng phiếu hướng dẫn tự học có thể phát triển năng lực tự học cho HS, tuy nhiên việc thiết kế và sử dụng phiếu hướng dẫn tự học chưa được thường xuyên và rộng rãi
Qua kết quả điều tra, chúng ta thấy:
− HS và GV ở trường THPT phần lớn đã thấy được tầm quan trọng của quá trình tự học trong việc tiếp thu kiến thức mới một cách chủ động, tích cực Tuy nhiên, thời gian dành cho việc học tập ở nhà của HS vẫn còn ít
− Việc sử dụng phiếu hướng dẫn tự học trong học tập là một nhu cầu của HS để tăng cường và giải quyết khó khăn trong quá trình tự học
Trang 31CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HƯỚNG DẪN TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC PHẦN HIĐROCACBON KHÔNG NO,
SÁCH GIÁO KHOA HÓA HỌC 11 2.1 Mục tiêu và cấu trúc phần Hiđrocacbon không no, sách giáo khóa Hóa học 11
2.1.1 Mục tiêu phần Hiđrocacbon không no, SGK Hóa học 11
+ Tính chất Hóa học đặc trưng của các hiđrocacbon không no;
+ Sự khác nhau giữa tính chất Hóa học của hiđrocacbon không no và hiđrocacbon no;
+ Sự khác nhau giữa tính chất Hóa học của anken, ankin, ankađien
+ Viết các PTHH để minh họa cho tính chất hóa học của các chất;
+ Giải được các dạng bài tập hóa học có liên quan đến các kiến thức về anken, ankin, ankađien;
Trang 32+ Vận dụng được kiến thức hóa học để giải thích các hiện tượng thực tế
c Về thái độ
+ Có thái độ tích cực trong học tập: Độc lập, tự giác, luôn tự mày mò, tìm kiếm, nghiên cứu một cách tích cực và không cần ai nhắc nhở ở bất cứ hoàn cảnh nào;
+ Hình thành và phát triển hứng thú say mê học tập hóa học;
+ Có ý thức gắn lí thuyết với thực tiễn để nâng cao chất lượng cuộc sống; + Có cái nhìn tích cực về cuộc sống, thêm tự tin vào bản thân, từ đó đánh giá được điểm mạnh, điểm yếu của bản thân để từ đó có các biện pháp nhằm khắc phục điểm yếu, phát huy điểm mạnh
d Về các năng lực
- Phát triển các năng lực chung và năng lực đặc thù của môn Hóa học: + Năng lực tự học;
+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học;
+ Năng lực hợp tác và giải quyết vấn đề;
+ Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn;
+ Năng lực tin học
2.1.2 Cấu trúc phần Hiđrocacbon không no SGK Hóa học 11
Trang 33Kiến thức trong phần “Hiđrocacbon không no” được xây dựng theo con đường suy luận và vận dụng lý thuyết, do đó GV cần hướng dẫn HS tích cực sử dụng lý thuyết cơ sở của hóa hữu cơ như một công cụ để học tập và nghiên cứu
Phân phối chương trình phần Hiđrocacbon không no như sau:
Chương VI: Hiđrocacbon không no (8 tiết)
Tiết 42, 43 Bài 29: Anken
Tiết 44 Bài 30: Ankadien
Tiết 45 Bài 31: Luyện tập: Anken và ankađien
Tiết 46 Bài 32: Ankin
Tiết 47 Bài 33: Luyện tập – Ankin
Tiết 48 Bài 34: Bài thực hành số 4:
Điều chế và tính chất của etilen và axetilen Tiết 49 Kiểm tra
2.2 Thiết kế phiếu hướng dẫn tự học phần Hiđrocacbon không no, SGK Hóa học 11
Để tiến hành thiết kế phiếu hướng dẫn tự học, tôi tiến hành thực hiện các bước sau :
Bước 1: Xác định mục đích, yêu cầu của việc xây dựng phiếu hướng dẫn tự học
Bước 2: Xác định cấu trúc và các nội dung cơ bản của phiếu
Bước 3: Thu thập thông tin và tiến hành biên soạn phiếu
Bước 4: Thiết kế quy trình sử dụng phiếu
Bước 5: Xin ý kiến các GV môn Hóa học ở trường THPT về nội dung phiếu và quy trình sử dụng phiếu trong dạy học
Bước 6: Chỉnh sửa theo góp ý của giáo viên
Bước 7: Thực nghiệm, chỉnh sửa và hoàn thiện
Trang 34Chúng tôi đã thiết kế được 3 phiếu hướng dẫn tự học phần hiđrocacbon không no:
Trang 35