THANH HÓA VÙNG ĐẤT ĐỊA LINH NHÂN KIỆT LÃNH THỔ CỦA NHỮNG VỊ VUA – CHÚA VÀ CÁC BẬC HIỀN TÀI 1. BÀ TRIỆU Năm (248), bà Triệu tức Triệu Thị Trinh đánh quân Ngô tại núi Nưa, Triệu Sơn, Thanh Hóa làm quân giặc khiếp sợ và tôn phục với câu cửa miệng (Múa giáo chống hổ dễ. Đối mặt vua bà khó). Dù chưa lập triều nghi, nhưng quân Ngô đã tôn xưng người con gái của vùng đất xứ thanh làm vua rồi. 2. DƯƠNG ĐÌNH NGHỆ
Trang 1THANH HÓA VÙNG ĐẤT ĐỊA LINH NHÂN KIỆT LÃNH THỔ CỦA NHỮNG VỊ VUA – CHÚA VÀ CÁC BẬC HIỀN TÀI
1 BÀ TRIỆU
Năm (248), bà Triệu tức Triệu Thị Trinh đánh quân Ngô tại núi Nưa, Triệu Sơn, Thanh Hóa làm quân giặc khiếp sợ và tôn phục với câu cửa miệng (Múa giáo chống hổ dễ Đối mặt vua bà khó) Dù chưa lập triều nghi, nhưng quân Ngô đã tôn xưng người con gái của vùng đất xứ thanh làm vua rồi
2 DƯƠNG ĐÌNH NGHỆ
Năm (931), Dương Đình Nghệ quê làng Giàng, nay thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã đánh đuổi nhà Đường, sau đó ông tự xưng làm Tiết Độ sứ, nhưng thực ra đã là một “vua không ngai” khi tiếp nối được nền độc lập, tự chủ do dòng
họ Khúc dựng nên từ năm (905)
3 LÊ HOÀN
Năm (980), Thái hậu Dương Vân Nga khoác áo mời Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi để thống nhất lòng dân chống quân xâm lược Tống, từ đó mở ra nhà Tiền
Lê (980 - 1009) Lê Hoàn, tức vua Lê Đại Hành vốn quê xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa Nhà Tiền Lê trải ba đời gồm Lê Đại Hành (980 - 1005), Lê Long Việt (1005), Lê Long Đĩnh (1005 - 1009)
4 HỒ QUÝ LY
Năm (1400), Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần lập nhà Hồ với tên nước là Đại Ngu, kinh đô ở thành Tây Giai, tức Tây Đô của Thanh Hóa Tổ tiên ông vốn ở Chiết
Trang 2Giang, Trung Quốc, sau di cư sang sống ở Diễn Châu, Nghệ An rồi chuyển ra Thanh Hóa lập nghiệp Nhà Hồ truyền qua hai đời vua Hồ Qúy Ly và Hồ Hán Thương trong 7 năm (1400 - 1407)
5 HẬU LÊ
Thời gian 1428 – 1789 là thời kỳ tồn tại của nhà Hậu Lê gồm 2 giai đoạn:
1- Lê sơ (1428 - 1527) trải qua 10 vị vua từ Lê Thái Tổ đến Lê Cung Hoàng 2- Lê Trung hưng (1533 - 1789)
Người sáng nghiệp nhà Hậu Lê là Lê Lợi với thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh (1416 - 1428) Ông quê ở Thọ Xuân, Thanh Hóa Giai đoạn Lê sơ được xem là thời thịnh trị của chế độ phong kiến Đại Việt với đỉnh cao là đời vua Lê Thánh Tông trị vì (1460 - 1497) Giai đoạn Lê Trung hưng đánh dấu sự phục hồi của nhà Lê sau khi bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi với vị vua đầu tiên Lê Trang Tông (1533 - 1548), và kết thúc với vua thứ 16 Lê Chiêu Thống (1786 - 1789)
6 NHÀ NGUYỄN
Triều đại cuối cùng của Việt Nam là nhà Nguyễn (1802 - 1945) do Nguyễn Ánh Gia Long hưng khởi, tổ tiên của ông là chúa Nguyễn Hoàng vốn ở huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa Nhà Nguyễn truyền được 13 đời vua, bắt đầu từ vua Gia Long (1802 - 1820) cho đến vua Bảo Đại (1926 - 1945)
“Nhà” của chúa
Trong lịch sử nước Nam ta, ghi nhận chính thức có hai dòng chúa là chúa Trịnh và chúa Nguyễn Cả hai dòng chúa đều phát tích từ xứ Thanh
Trang 3Chúa Trịnh thời vua Lê – chúa Trịnh thế kỷ XVI - XVIII do Trịnh Kiểm lập nên Ông vốn xuất thân nghèo nàn từ huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa Tuy tiếng là phò giúp nhà Lê, nhưng quyền lực thực tế của các chúa Trịnh lại át cả vua Lê Dòng dõi chúa Trịnh bắt đầu từ chúa Trịnh Kiểm (1545 - 1570) cho đến thời chúa Trịnh Bồng (1786 - 1787) bị Nguyễn Huệ dẹp thì dứt hẳn
Chín đời chúa Nguyễn được lập nên sau thời chúa Trịnh Vào năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng nghe theo lời Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên
“Hoành Sơn nhất đại, khả dĩ dung thân” đã vào trấn trị đất Thuận Hóa Chúa Tiên Nguyễn Hoàng chính là con trai thứ của Nguyễn Kim Dòng dõi chúa Nguyễn đã trải qua 9 đời từ Nguyễn Hoàng (1558 1613) cho tới Nguyễn Phúc Thuần (1765 -1777), có công lập nên và khai phá đất Đàng Trong, mở rộng dần về phía Nam đất nước cho tới tận Mũi Đất, Cà Mau
Không chỉ là nơi phát vua, phát chúa, Ái Châu – Thanh Hóa còn nhiều lần đóng vai trò trung tâm của đất nước khi từng giữ vị trí là đất Thần Kinh Cụ thể là Tây Đô thời Hồ với thành An Tôn, hay Tây Giai (1400 - 1407)
Vua Lê Trang Tông năm (1543) cũng đã từng chọn xứ Thanh để đóng làm nơi phát binh Bắc tiến đánh Thăng Long diệt Mạc Năm (1546) thì lập điện ở huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa tạo nên Nam triều để phân biệt với Bắc triều của nhà Mạc ở Thăng Long
Ngày nay, Thanh Hóa là một trong 63 tỉnh, thành phố của đất nước, được xếp theo
vị trí địa lý là tỉnh mở đầu vùng Bắc Trung Bộ
Trang 4A KHÁI QUÁT
- Diện tích: 11.130 km2 ( đứng thứ 5 cả nước )
- Dân số: 3,4 triệu ( đứng thứ 3 về dân số 2013 )
- Khí hậu: cả tính chất miền bắc và miền trung
- Tiếp giáp: với tỉnh hủa phăn của nước lào với đường biên giới dài
192 km
- Tên gọi: Tên gọi Thanh Hóa bắt đầu đặt ra từ đời Lý Thái Tông năm 1029
B ĐẶC SẢN
1 NEM CHUA - ĐẶC SẢN HẠC THÀNH
Quả nem chỉ to bằng chiếc chén pha trà, gói bằng lá chuối tươi, lạt giang trắng buộc quanh chữ thập 6 mặt trông nho nhỏ, khéo khéo, trăm quả như một mà làm say lòng du khách
“Bạn đến chơi nhà ta với ta
Có chai rượu đậu bóc nem ra …”
Làm nem là một nghề độc đáo, không khó nhưng phải có những bí quyết nhất định Pha chế là khâu quan trọng, thứ gì làm trước, thứ gì làm sau, ngào trộn như thế nào…và khâu vệ sinh cũng như kỹ thuật gói nem cũng rất quan trọng Nguyên liệu chủ yếu để làm nem bao gồm thịt nạc xay nhuyễn; Bì lợn luộc chín, cạo thật sạch, lạng mỏng bỏ vào máy cán thành sợi, ngắn chừng 3cm Thính là gạo
tẻ rang vàng, xay nhỏ mịn Gia giảm còn có men, tiêu bắc, muối tinh và bột ngọt vừa đủ
Đôi bàn tay xinh xinh thoăn thoắt gói nem, đặt viên nem đã vo sẵn vào lá chuối, cuộn,bẻ góc, quả nem mới hình thành đã vuông vức, cầm lá chuối xé sẵn khoanh chặt, ngoài cũng lấy lá mặt gói chặt, miệng ngậm đầu lạt xoay quanh buộc chặt, nhoáng đã xong quả nem rồi sâu thành chục một, sau 1-2 ngày là ăn được Khi ăn, Nem bóc ra chắc, màu hồng, không dính lá, có vị hơi chua là nem ngon
Trang 5Mùa nào ăn nem cũng ngon, nhưng thú vị nhất là cuối thu, sang đông và mùa xuân Ngày Tết có nem để đón xuân, chén rượu nhắm với nem Hạc Thành thì thật
là thú vị Ai đi đâu, về đâu qua TP Thanh Hoá đều mua nem về làm quà, và cùng với bước chân của du khách, quả nem nho nhỏ đã trở thành tình người Thanh hoá với bạn bè muôn phương
2 HẾN GIÀNG
Làng Giàng- huyện Đông Sơn nằm kề bên sông Mã Khúc sông này, nhờ dòng chảy và nền cát đặc biệt rất thuận lợi cho loài hến sinh sôi Hến bán hầu khắp các chợ quê, làm món ăn bình dân Họ mua về chủ yếu để nấu canh Ruột hến luộc trắng nhờ nhờ Nước hến luộc trắng lờ đờ
Làm chi dở đục dở trong
Lờ đờ nước hến cho lòng tương tư.
Nhưng hến giàng vỏ không đen và nước luộc trong, lại không có mùi vị hăng hắc, nấu canh ngọt, xào lên rất ngon, làm mắm càng tốt, đến nỗi vua chúa miệng quen ăn sơn hào hải vị cũng ưa thích
Có một ông vua (triều Nguyễn thì phải) ngự giá qua bến Giàng (thời xưa đường thiên lý Bắc - Nam qua bến Giàng), nghe tiếng hến Giàng ngon, vua đòi ăn, rất khen ngợi Từ đó hàng năm có lệ làng Giàng hến phải cung tiến hến
Hến tiến lên vua, dĩ nhiên phải chọn lọc hết sức cẩn thận Đó là những con lớn, vỏ không đen, không sần sùi, sinh sống chỗ luồng nước sạch Khi vận chuyển hến phải mang theo cát và nước sông Giàng để hến vẫn được sinh sống trong môi trường quen thuộc Đồ đựng hến phải là thùng gỗ hoặc thúng mủng mới, khảm sắn, đường, giấy bản, lá bời lời, để nước khỏi chảy và con vật không bị ô uế Việc vận chuyển hến khá công phu, đúng là 'của một đồng công một nén' Trai tráng làng Giàng năm nào cũng phải thay phiên cắt lượt gánh hến vào tận kinh đô Huế, đêm ngày lo ngay ngáy, cất giữ sao hến không chết, không gầy Một con hến chết gây nhiễm bẩn cả thùng Hến bị gầy, tất nhiên vua ăn mất ngon
Trang 6Hến chở đến kinh dô, không thể dừng chân nghỉ, cứ thay phiên nhau gánh, đi miết ngày đêm Đã được tiền trạm báo tin trước, quan ngự thiện đợi sẵn, nhận ngay Ông sai đầu bếp nấu thử dâng lên vua, thấy nước hến trong, có ánh biêng biếc, vị ngọt thanh, không hắc … được vua phê chữ 'hảo', đoàn vận chuyển hến mới thở đánh phào, cất đi gánh nặng khỏi vai mà thong thả ra về
Có lần nhà vua đi qua bến Giàng thấy một cô gái mò hến dưới sông, dáng hình rất xinh đẹp, đem lòng yêu Cô tên là Hến, người làng Giàng Hến, vì nhà nghèo quá, ngày nào cũng phải lặn hụp dưới sông, mò hến từ sáng đến tối để đổi gạo mà tóc vẫn đen mượt, da dẻ vẫn nuột nà Vua đưa Hến theo thuyền ngự về kinh
đô, đổi tên Ngọc Hến, cho vào hầu trong cung
Ngày tháng trôi đi, ông vua già yếu dần, Trước khi từ trần, vua muốn ban ơn cho một số phi tần trẻ không con cái được trở về quê, trong đó có nàng Ngọc Hến
Họ muốn xin bao nhiều vàng, bạc làm vốn sinh nhai, cứ thực tâu bày Ngọc Hến nói nàng không dám xin vàng bạc, chỉ xin nhà vua ban ơn trời để miễn cho làng Giàng quê mình khỏi lệ cung tiến hến Nhà vua cảm động gật đầu
Làng Giàng Hến từ đó thoát nạn cung tiến hến Họ rất biết ơn cung phi Ngọc Hến, tên gọi nàng là 'Bà Chúa Hến'
Cũng từ đó, hến Giàng có mặt khắp chợ cùng quê, đem cái ngon ngọt đến cho mọi nhà Hến Giàng tuy đắt giá hơn hến thường nhưng vẫn được nhiều người
ưa chuộng
Nghe nói nhà vua rất thích ăn các món: canh hến nấu rau tầm tơi, dấm hến nấu lá tai chua hay là chua me, hến xào khô với miến đậu xanh, hến xào nước với thịt nạc để kẹp bánh tráng…
Theo 'Vân Đài loại ngữ' (Lê Quý đôn) thời xưa ở Trung Quốc trong các bữa yến tiệc sang trọng thế nào cũng phải có món mắm hến
Trong dân gian ta mắm hến cũng là món ăn ngon, quý Năm hến dùng chấm bánh đúc, bún, bánh cuốn, thịt lợn luộc … đều thích hợp
Trang 7Làm mắm hến tốn công Ngâm hến vào nước trong 3 ngày ba đêm, mỗi ngày thay nước một lần để hến nhả hết cát, chất bẩn Rửa sạch vỏ hến, bỏ vào nước nóng chừng 25 - 300 đủ vừa để hến há miệng nhưng không chết hẳn, Khều ruột hến ra, lọc bỏ con chết, trộn muối, không làm ruột hến dập nát, cho vào vại sành Liều lượng mmuôid theo tỷ lệ từ 3 đến 5 hến một muối tuỳ theo khẩu vị thích ăn mặn hoặc nhạt Phía trên hến rắc một lượt muối mỏng chống ruồi nhặng Dùng vải màn thưa bịt miệng vại Ngày phơi nắng đêm thả sương Nếu muốn hến chóng ngấu, cho thêm chút men rượu (không được dùng men nhiều làm hỏng mắm) Khoảng ba tháng, mắm hến chín Rang thính gạo trộn vào với hến Lại đem vại mắm phơi Nên nhớ mắm hến phải được nắng mới mau chín và dậy mùi thơm Cũng như mắm tép, mắm hến để lâu càng ngon Có khi người ta bỏ thêm riềng củ giã nát vào mắm hến
để khi ăn tăng thêm mùi vị cay thơm … Tôi cho rằng riềng, gia vị mắm hến rất cần thiết Vì thịt hến bổ nhưng tính hàn, bởi nó sống dưới bùn nước; những người tính hàn hoặc mắc bệnh hư hàn, ăn thịt hến không chịu, cần có vị cay ấm của riềng để làm giảm bớt tính hàn trong hến Theo sách 'Bản thảo' (dược học) thịt hến cũng như thịt trai, nhuận được ngũ tạng, trị bệnh tiểu khát và lợi về quan tiết (đốt khớp)
Hiện nay, ở thành phố Thanh Hoá, có cửa hàng cơm hến rất đông khách và hến Giàng được coi là đặc sản Xứ Thanh
C NHÂN VẬT LỊCH SỬ
1 Bà Triệu
Bà Triệu tên thật là Triệu Thị Trinh sinh ngày 2 tháng 10 năm (226), là một trong những vị anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam, Bà Triệu còn được gọi là Triệu Ẩu theo cách gọi của người Trung Hoa ('"ẩu" nghĩa là bà già, bà lão) Bà là người Quan Yên, quận Cửu Chân, nay thuộc huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa và là
em của Triệu Quốc Đạt
Sách Giao Chỉ chí chép:
Trang 8Trong núi ở quận Cửu Chân có người con gái họ Triệu, vú dài 3 thước, không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các quận, huyện, thường mặc áo ngắn màu vàng, chân đi giày mũi cong, ngồi đầu voi mà chiến đấu, sau chết làm thần
Truyền thuyết kể rằng:
Bà là người tính tình vui vẻ, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, trí lực hơn người Có lần xuất hiện một con voi trắng một ngà phá phách ruộng nương, làng xóm, làm chết người Triệu Thị Trinh dũng cảm cầm búa nhảy lên đầu giáng xuống huyệt làm con voi lạ gục đầu xin qui thuận
Khởi nghĩa
Năm 246, bà đã cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt dựng cờ khởi nghĩa và sau khi Triệu Quốc Đạt chết (248), bà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại sự xâm lược của quân Đông Ngô, do Lục Dận (cháu của Lục Tốn), thứ sử Giao Châu chỉ huy Nhiều nghĩa binh đã tử trận vào năm đó Theo Trần Trọng Kim trong Việt sử lược,
bà chống đỡ với quân Đông Ngô được 5-6 tháng thì thua chạy đến xã Bồ Điền và
tự tử Khi ấy Triệu Thị Trinh mới 23 tuổi Còn Lê Mạnh Thát dẫn Thiên nam ngữ lục và Ngụy chí mà kết luận rằng Bà Triệu đã không thua bởi tay Lục Dận, trái lại
đã đánh bại Lục Dận Lục Dận chỉ chiếm được vùng đất nay thuộc Quảng Tây Bà Triệu đã giữ được độc lập cho đất nước đến khi Đặng Tuân được Tôn Hựu sai sang đánh Giao Chỉ vào năm 257
Tại nơi bà mất là núi Tùng, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa vẫn còn di tích lăng mộ của bà, cách nơi bà mất không xa (ngay bên quốc lộ 1A) là khu thờ bà Hằng năm, vào ngày 21 tháng 2 âm lịch, người dân trong vùng vẫn tổ chức
tế giỗ bà để tưởng nhớ
Hiện nay ở Hà Nội, tên bà được đặt tên cho một con đường: phố Bà Triệu.
Câu nói nổi tiếng
Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ[3], chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!
2 Lê Lợi (1385 -1433) Vị anh hùng giải phóng dân tộc
Trang 9Lê Lợi sinh 1385 tại Lam Sơn (Kẻ Cham), nay thuộc huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, trong một gia đình "đời đời làm quân trưởng một phương" Ông là con
út của Lê Khoáng và Trịnh Thị Ngọc Hương (anh lớn của ông tên Học, anh thứ là Trư) Ông nối nghiệp cha làm chúa trại Lam Sơn Khi quân Minh chiếm đất nước, ông nuôi chí lớn đánh đuổi xâm lăng Quân nhà Minh nghe tiếng ông, dụ cho làm quan, ông không chịu khuất Ông nói: "Làm trai nên giúp nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời, chớ sao lại chịu bo bo làm đầy tớ người?" Năm Lê Lợi 21 tuổi cũng là năm nhà Minh đem 80 vạn quân sang xâm lược nước Việt Cuộc kháng chiến chống Minh của vương triều Hồ thất bại, nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh Trước cảnh đất nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi
Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với
18 người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quê hương Đó là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách
Tin Lê Lợi dựng cờ nghĩa, chiêu mộ hiền tài bay xa, thu hút các anh hùng hào kiệt từ bốn phương kéo về Đất Lam Sơn trở thành nơi tụ nghĩa ở đó có đủ các tầng lớp xã hội và thành phần dân tộc khác nhau, với những đại biểu ưu tú như: Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Chích, Nguyễn Xí, Lê Lai, Cầm Quý, Xa Khả Tham Sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh giặc cứu nước Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa ấy
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ mở đầu tới kết thúc thắng lợi (tháng 12-1427), qua các giai đoạn phát triển và chiến lược, chiến thuật của nó đã chứng minh Lê Lợi là người có tầm vóc của một thiên tài, một nhân cách vĩ đại, chỉ thấy ở những lãnh tụ mở đường, khai sáng Nếu Ngô Quyền với chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 938 đã chấm dứt thời kỳ 1.000 năm mất nước, mở đầu thời kỳ độc lập mới của
Trang 10dân tộc thì Lê Lợi với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, kết thúc 20 năm thống trị của giặc Minh, khôi phục nền độc lập lâu dài cho Tổ quốc, bắt đầu một kỷ nguyên xây dựng mới Không có Lê Lợi, không có phong trào khởi nghĩa Lam Sơn
Lê Lợi trong 5 năm làm vua, bên cạnh những công lao to lớn, có phạm một
số sai lầm mà sử sách đương thời cũng thẳng thắn phê phán Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Vua hăng hái dấy nghĩa binh đánh dẹp giặc Minh, 20 năm mà thiên hạ đại định Đến khi lên ngôi, định luật lệ, chế lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, lập quan chức, lập phủ huyện, thu góp sách vở, mở trường học, có thể gọi là có mưu lớn, sáng nghiệp Song, đa nghi, hay giết, đó là chỗ kém"
D LỄ HỘI
1 LỄ HỘI LAM KINH
Lam Kinh, nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, cách thành phố Thanh Hoá khoảng 50km đường bộ Nơi đây là căn cứ địa đầu tiên của cuộc khởi nghĩa chống quân đô hộ nhà Minh, đế giành lại độc lập tự chủ cho đất nước Việt Nam ở thế kỷ XV, là quê hương của vị anh hùng dân tộc Lê lợi (1385 - 1433) và một số danh tướng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn như Lê Lai, Lê Thạch, Lê Khôi Hàng năm, cứ đến ngày 21, 22 tháng 8 âm lịch, nhân dân khắp nơi
đã nô nức kéo về Lam Kinh để dự lễ tưởng niệm công đức của vị anh hùng cứu nước Lê Lợi, đại công thần Lê Lai và các vị vua Lê
đã có công giành lại độc lập và xây dựng đất nước Vì vậy mới có câu: 'Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi"
Người về dự lễ, ngoài tiệc thắp hương tưởng niệm, tham quan một khu thắng cảnh và di tích lịch sử quý giá, còn được xem trình diễn các điệu múa, trò chơi truyền thống như điệu múa Xuân Phả, trò chơi Bình Ngô phá trận…, nghe các tiếng chiêng, cồng, trống, cất