1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Tìm hiểu về đặc điểm văn hóa tộc người Thái (điều kiện về địa văn hóa) đi sâu vào các hoạt động văn hóa ( văn hóa tâm linh, văn hóa giải trí, ăn, mặc, ở, ẩm thực, phong tục tập quán ma chay, cưới xin, quan niệm tín ngưỡng…)

23 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 38,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI ĐIỀU KIỆN Đề bài: Tìm hiểu về đặc điểm văn hóa tộc người Thái (điều kiện về địa văn hóa) đi sâu vào các hoạt động văn hóa ( văn hóa tâm linh, văn hóa giải trí, ăn, mặc, ở, ẩm thực, phong tục tập quán ma chay, cưới xin, quan niệm tín ngưỡng…) Bài làm Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 người tái ở Việt Nam có dân số là 1.550.423 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 3 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố. Nơi cư trú chủ yếu: Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Thanh Hóa, Nghệ An.

Trang 1

BÀI ĐIỀU KIỆN

Đề bài: Tìm hiểu về đặc điểm văn hóa tộc người Thái (điều kiện về địa vănhóa) đi sâu vào các hoạt động văn hóa ( văn hóa tâm linh, văn hóa giải trí, ăn, mặc,

ở, ẩm thực, phong tục tập quán ma chay, cưới xin, quan niệm tín ngưỡng…)

Bài làmTheo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 người tái ở Việt Nam có dân số

là 1.550.423 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 3 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả

xã Dương Quỳ, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai có một số nhóm Thái Trắng chịu ảnh

Trang 2

hưởng đậm của văn hóa người Tày Ở Sa Pa, Bắc Hà nhiều nhóm Thái đã bị Tàyhóa, Người Thái Trắng đã có mặt dọc hữu ngạn sông hồng và tỉnh Lai Châu, ĐiệnBiên từ thế kỉ 13 và làm chủ Mường Lay (địa phận của huyện Mường Chà hiệnnay) thế kỉ 14 một bộ phận di cư xuống Đà Bắc và Thanh Hóa thế kỉ 15 Có thuyếtcho rằng họ là con cháu của người Bạch Y ở Trung Quốc Dân số của nhóm TháiTrắng tại Việt Nam năm 2002 ước tính khoảng 280.000 người trong tổng số490.000 người Thái Trắng trên toàn thế giới Ngoài ra còn khoảng 200.000 ngườiThái Trắng sinh sống tại Lào, 10.000 người sinh sống tại tỉnh Vân Nam , TrungQuốc.

Một số nhóm có dân số ít hoặc chưa được phân định rõ ràng như Táy Mười(Thái Quỳ Châu), có khoảng 300 người (2002), Táy Mường(Thái Hàng Tổng) cókhoảng 10.000 người (2002), Táy Thanh có khoảng 20.000 người (2002), Phu Thai(hay phutai, putai, puthai, puthay) với dân số 209.000 người (2002) ngoài ra tạiThái Lan có khoảng 740.000 người (2006), tại Lào có 154.000 người (2001) vàtổng số người Phu Thai trên toàn thế giới là 833.000 người

Ngoài ra còn có khoảng 20.000 người Thái gốc Việt sinh sống tại nước ngoài,chủ yếu là Pháp bà Hoa Kỳ

Người Thái nói các thứ tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ gốc Thái của hệ ngôn ngữThái- kadai Trong tiếng này có tiếng nói của người Thái (Thái Lan), tiếng Lào củangười Lào, tiếng Shan ở Myama và tiếng Choang ở miềm nam Trung Quốc TạiViệt Nam có 8 sắc tộc ít người bao gồm: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay,Tày, Thái được xếp vào ngôn ngữ Thái

Người Thái là một trong số ít các dân tộc thiểu số ở nước ta đã có chữ viết từlâu đời Tuy chưa xác định được cụ thể thời điểm xuất hiện của chữ Thái nhưnghang ngàn năm nay các nhóm Thái ở nước ta đã sử dụng những con chữ riêng củamình cho đến ngày nay Người Thái ở Việt Nam, cũng như cộng đồng người Tháisống ở nước ngoài đã và đang sử dụng, bảo tồn và gìn giữ nó Bộ chữ Thái là một

Trang 3

công cụ để ghi nhận và giao tiếp trong cộng đồng người Thái, nó ghi nhận và phảnánh đầy đủ, phong phú và tế nhị tư tưởng, tình cảm và tâm hồn trong sang lànhmạnh của dân tộc Thái, các hoạt động của con người như lao động sản xuất, đấutranh chống thiên nhiên, đấu tranh chống giặc ngoại xâm và các sinh hoạt conngười trong xã hội, mặt khác nó còn phản ánh văn hóa nghệ thuật ( thơ ca, tục ngữ,truyện, các phong tục tập quán…) những di sản đó đều được bọ chữ Thái ghi chép

và truyền đạt lại từ thế hệ này sang thế hệ khác

Người Thái có nền kinh tế rất phong phú đối với trồng trọt hình thức canh tác

là ruộng nước và nương rẫy

Ruộng nước là nguồn cung cấp lương thực chính cho người Thái Do vậyruộng bậc thang là một nét đặc trung của người Thái, ruộng không ở quá cao và cónhiều nét khác so với các dân tộc khác thấp hơn, đều hơn, không tập chung thànhđồi ruộng nước Người Thái nổi tiếng với gạo nếp và đó là nguồn lương thực chínhcủa họ

Nương rẫy nhằm cung cấp một số lượng lương thực nhất định như ngô, khoai,sắn… và một số sản phẩm khác : vừng, lạc, bí, bầu, rau xanh dùng để làm thức ănhang ngày, bông, càm làm chăn, màn, đệm… nguồn cung cấp nước cho nương rẫycũng như nước sinh hoạt hàng ngày của đồng bào Thái là “Cọn nước” Qua nhiềuthế hệ họ đã có nhiều sáng kiến tạo ra những công trình thủy lợi thích hợp với địathế ruộng đất Hộ đã đào mương, đắp phai, bắc ống dẫn nước về đồng ruộng Quanhiều thế hệ, khi khoa học kĩ thuật chưa phát triển, đồng bào người Thái đã xâydựng hệ thống thủy lợi với mương- phai- lái- lin là một trong những kĩ thuật đạt tớitrình độ cao nhất, sớm nhất và rất chuyên nghiệp trong canh tác lúa, đây là mộttrong những thành tựu đáng kê của người Thái Với công cụ thủ công là dao vàxẻng, họ đã đào hệ thống mương dẫn daig hang chục cây số để dẫn nước về khắpcác ruộng nước trong vùng Cùng với mương và phai, hệ thống đập làm bằng tre và

đá ngăn nước từ suối dâng lên cao chảy vào các mương đưa nước tới ruộng Để

Trang 4

chia nước vào các ruộng là các lái (mương nhỏ) và lin (ống dẫn nước bằng câybương, cây vầu với từng thửa ruộng) dẫn nước đến từng chân ruộng để ruộng nàocũng đủ nước cho lúa phát triển ổn định trong chu kì mùa vụ Nhờ hệ thống này màcanh tác nông nghiệp của của người Thái được chủ động và mang lại hiệu quả caokhông còn phụ thuộc vào thời tiết nhiều.

Không những thế đồng bào còn có các kinh nghiệm trong việc lựa chọn cácloại giống tốt, có chất lượng tốt và cho năng suất cao để làm nguồn giống phụ lâudài, yếu tố chọn giống được người dân lựa chọn rất kỹ càng và sàng lọc qua nhiềugiai đoạn, nhiều năm để trở thành giống đặc trưng của vùng tây bắc

Bên cạnh đó, việc kết hợp với các luật tục và các lễ hội trong sản xuất nôngnghiệp đã tạo cho người Thái có một môi trường canh tác hoàn thiện một cách tổngthể nhất Họ có những luật tục quy định rất chặt chẽ trong việc bảo vệ nguồn nước,bảo vệ rừng, bảo vệ mùa màng được ghi trong luật tục Thái của mường, của bản,

có những chế tài cụ thể để sử lí những hành vi vi phạm của người dân ảnh hưởngtới cộng đồng

Ngày nay, trong sự phát triển mạnh mẽ với những tác động của mặt trái củakhoa học kỹ thuật như việc sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc hóa học, phân hóa học làm

ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất, làm giảm sức kháng bệnh của các giống lúa đãtác động mạnh mẽ đến đời sống của người dân, làm mất khả năng phát triển bềnvững trong sản xuất nông nghiệp Do vậy, việc bảo tồn và khai thác, phát huy cáctri thức bản địa của người Thái là một trong những giải pháp hữu ích để bảo vệ môitrường, gìn giữ và phát triển các sản phẩm nông nghiệp truyền thống có chất lượngcao và tốt cho sức khỏe Bên cạnh đó, việc phát huy các luật tục và các lễ hội nôngnghiệp của người Thái trong phát triển du lịch sẽ giúp tang thu nhập cho ngườidân, xây dựng và phát triển tốt thương hiệu gạo tây bắc Qua đó góp phần xóa đóigiảm nghèo phát triển kinh tế bền vững cho đồng bào dân tộc Thái là hướng đi tíchcực vừa bảo tồn các di sản văn hóa cộng đồng dân tộc Thái của Việt Nam nói

Trang 5

chung và cộng đồng người Thái ở vùng Tây Bắc nói riêng, đồng thời góp phầnthúc đẩy sự phát triển kinh tế khu vực và vùng miền

Ngoài trồng trọt người Thái còn kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm.Phương thức chăn nuôi là nửa thả rông, nửa chăm, ngoài chăn nuôi lợn, gà, ngườidân còn nuôi trâu, bò để lấy sức kéo và phân bón Các loại động vật chăn nuôichính : trâu, bò, lợn, gà, vịt

Địa hình chăn nuôi gia súc thường được nuôi ở gần sát nhà hoặc thả rôngngoài đồng, trên mương, đồi… những nơi trống trải nhưng không được quá rậmrạp (do đề phòng chộm cắp)

Đặc biệt người Thái nuôi lợn và gia cầm để dung trong các dịp lễ, tết và thờcúng hoặc khi nhà có khách và để nộp cho quan, cho chúa Mỡ lợn được dữ trữ để

sử dụng quanh năm

Chăn nuôi gia xúc với ý nghĩa:

Lấy sức kéo của trâu, bò trong sản xuất nông nghiệp

Nuôi lấy thịt, nguồn thức ăn tự cung, tự cấp của nhân dân

Lấy phân của gia súc, gia cầm làm phân bón trong sản suất nôngnghiệp

Lấy làm thức ăn cho cá

Tạo thu nhập cho nhân dân trong việc mua bán gia súc

Đối với thủ công nghiệp của người Thái vẫn chưa tách khỏi nghề nông nghiệp

mà chỉ là nghề phụ trong gia đình

Nghề dệt thổ cẩm là nghề truyền thống của dân tộc Thái tạo nên bản sắc vănhóa riêng Trước đây, để dệt một tấm thổ cẩm, đồng bào phải mất bảy tháng trồngbông, trồng dâu rồi sau nhiều công đoạn mới se được sợi vải để dẹt nên tấm thểcẩm truyền thống Những năm 90 của thế kỉ trước, đến với bản Lác, bản Nhót,Pom Coojoong… vẫn còn nghe thấy tiếng thoi đưa dệt vải theo cách truyền thống

Trang 6

Thổ cẩm của người Thái với những họa tiết hoa văn phong phú, độc đáo đãchiếm được cảm tình của nhiều du khách trong và ngoài nước Nhưng hiện nay,người Thái vẫn chưa có những làng chuyên dệt thổ cẩm, vì vậy, sản xuất manhmún, tự phát nên nhiều sản phẩm tạo ra chưa phù hợp với thị hiếu của du khách.

Để thổ cẩm trở thành sản phẩm du lịch phục vụ du khách, người Thái cần tìmhướng đi mới bằng việc đầu tư có hiệu quả vào trang thiết bị sản xuất, thay đổimẫu mã sản phẩm, tạo cơ hội cho các gia đình, làng bản có nghề truyền thống đượctham gia các hội chợ nhằm tìm hiểu nhu cầu thị trường, thị hiếu tiêu dùng để cho rađời những sản phẩm phù hợp

Có thể nói, giữ được nghề thổ cẩm là giữ được những nét văn hóa cổ truyềncủa người Thái Nếu biết kết hợp giữa tính dân tộc và tính hiện đại thì dệt thổ cẩmcủa người Thái sẽ tạo được những mặt hàng kinh tế có giá trị trên thị trường

Hiện nay, hầu như đồng bào không trồng bông, trồng dâu để dệt vải nữa.Những tấm vải thổ cẩm truyền thống của các dân tộc Thái ở Mai Châu trở nên maimột Đây chính là nguyên nhân làm cho dệt thổ cẩm ở Mai Châu trở nên mai một,không giữ được sự tín nhiệm vốn có Sản phẩm làm ra nhiều nhưng du kháchkhông thích Bên cạnh đó, công tác quản lí, bao tiêu sản phẩm chưa có, chưa tổchức được thành nhóm, tự tiêu thụ nên sản phẩm làm ra manh mún, chưa tạo được

sự liên kết trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Ngề đan lát là nghề phụ cũng như các dân tộc khác, nghề đan lát rất quantrọng và phát triển ở từng hộ gia đình người Thái Có thể nói đan lát là công việccủa đàn ông, các sản phẩm đan lát thường là: gùi (sọt), mũ, nón, giỏ, đặc biệt làcót xát Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái dung để trải trên sàn trước khi xếpchiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên Cót được đan bằng cây may lọi, mộtloại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao

Nghề gốm, sứ, vại, nồi…Người Thái ở Mường Chanh (Sơn La) có nghề gốmvới các sản phẩm quen thuộc như nồi đất,chõ đất, đồ đụng chum, vò Đất sét có ở

Trang 7

Mừng Chanh, lò nung được người Thái cho chìm dưới đất (lò nung âm) lò gồm cóhai cửa Cách làm gốm của người Thái rất đơn giản nhưng lại vô cùng hiệu quả….Các sản phẩm có tiếng vang rất to đặc biệt là mõ

Đóng vai trò nhất định trong đời sống kinh tế của dân cư Thái nhưng chỉ giữ ở

vị trí phụ săn bắn người Thái chỉ đi săn khi nhàn rỗi có thời gian, mục đích bảo vềmùa màng và them nguồn thức ăn hoang dã Người tham gia thường là đàn ông( các thành viên trai tráng hoặc những người có kinh nghiệm rừng núi lâu năm).Công cụ đi săn thường là nỏ, ná ,mác hình thức có thể một hoặc hai người cùng đisăn đặt bẫy thú (đi ít thì sẽ bí mật, tránh tình trạng mất thú bẫy được)… còn không

họ sẽ đi tập thể để đạt được nhiều thú hơn

Nghề đánh cá, nuôi cá rất phát triển, nguồn cung cấp cá thường là song, suốichảy qua bản, làng Có thể là do bà con tự nuôi và phát triển thành ao, đầm nguồnnước thường là nước ao, hồ, thậm chí nước sinh hoạt… người dân thường nuôi cátrắm… nguồn thức ăn cho cá thường tận dụng cỏ rừng, phân trâu, bò hay giacầm…

Người Thái còn hái lượm lá thuốc, rau thơm, rau rừng hay hoa màu có thể sửdụng được trên núi

Ý nghĩa chỉ là nghề phụ những lúc nhàn rỗi của phụ nữa Thái, trước đây có cảđàn ông tuy nhiên đời sống và xã hội phát triển nên đàn ông thường làm nhiều việcquan trọng hơn

Người Thái thường tổ chức giao lưu qua các chợ phiên đặc trưng là chợ TamĐiệp (Điện Biên…) chợ người Thái thường họp từ khá sớm nhưng đến tận 8-9 giờsang mới tan Lúc ấy, ai chưa bán hết hang sẽ đi bộ bào những khu phố để giaohang Những mặt hang mà người Thái bán chủ yếu là những bó rau sạch do họ tựtrồng nhưng khồn ăn hết nên đem bán hay những trái cây rừng, măng rừng…những mặt hang này thường được dân phố ưa thích nên thường bán rất chạy

Trang 8

Phương tiện vân chuyển gánh thường là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểuchằng dây đeo vắt qua trán, dung ngụa cưỡi, thồ Nay ở dọc các con song họ rất nổitiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Đối với văn hóa vật chất của người Thái thì làng, bản và các công trình kiếntrúc

Làng bản, mường, chum xúm, mỗi bản có 40- 50 nóc nhà Mỗi bản có mộtranh giới riêng: một khu rừng riêng, ruộng đất, nơi chăn thả trâu, bò,khu rừng cấm,bãi tha ma,nguồn nước

Người Thái ở nhà sàn gỗ, nhà đất (mới xuất hiện) Người Thái ở nhà sàn bốnmái, cầu thang bên đầu hồi ở mặt trước, bậc thang thường là số lẻ 5, 7, 9 NgườiThái Đen lưu truyền cách Rùa dạy người cách làm nhà ở và coi rùa là ân nhân, nên

họ làm mái nhà hình mai rùa và có tục treo thờ mai rùa trên đầu cột thiêng trongnhà Phía trên cửa hai bên đầu mái có “khau cút” vừa là kí hiệu nhận ra nhau vừa làbiểu tượng trang trí tương ứng đẳng cấp chủ nhà Mô hình nhà nói chung không cóvách ngăn, mà ngăn bằng cột, phòng ngủ kéo ghi đô

Người cao tuối ngồi sát cửa sổ, khách không được ngồi ngang hang, nếukhách nhờ vả thì ngồi sát mép chiếu ngoài cùng Ghế cao nhất dành cho chủ nhà,

họ kiêng không nằm dọc chiều nhà, không được ngồi trực diện cửa bếp, đun củi thìđun gốc trước ngọn sau

Người Thái quan niệm “Nhà Thái- nhà có gác- đầu hồi có cột ”, “đầu gối đất,chân kề nước”: ngủ quay đầu về núi, chân ruỗi ra ruộng, giáp song suối

Nhà được phân đôi khoang long nhà theo chiều đơn đòn nóc, phía trên là phíađầu, phía dưới là phía chân

Phía trên trở thành chỗ chính của tổ ấm gia đình để ngủ và cất giũ củacải quý, nơi để chăn Do đó, quan sát mép trên trên đầu gối thì biết nhà giàuhay nghèo, chăm chỉ hay lười tùy thuộc vào số chăn màn trên gác

Trang 9

Nửa phía dưới dành cho sinh hoạt ban ngày của gia đình: ăn uống, đilại, tiếp khách

Phân đôi khoang long nhà theo chiều ngang: bên trái A (bên quản) dành chonam giới, bên phải B (bên chăn) dành cho nữ Họ kiêng con râu qua lại bên chănsang bên quản, nữ không đội khăn phiêu trong nhà, không đem cành lá xanh, cáthịt tươi vào trong nhà

Thang là để cho người sống, người chết không được đi thang mà bắc cầu giathang hoặc đi phía đằng hiên rồi đưa đi chôn cất ở rừng ma Nhà có người sinh nởhoặc ốm đau thì khi đi cúng cắm vào thang tấm piêu có đan mắc áo và cắt cành láxanh ở cột càu thang nhà Đó là dấu hiệu nhà kiêng cấm do đó khách không đượclên nhà vào những trường hợp thấy trước nhà có cắm cành cây xanh lá

Lan can bên quản hoặc ban công đầu hồi dành chon am ngồi, nghỉ ngơi, đọcsách, dẫn khách quý (nam hoặc nữ), bước qua cửa lên nhà Đây cũng là nơi đànông ngồi làm thủ công, đan, rèn… đây cũng là chỗ ở trong thời gian bên nhà vợ,con rể ngồ vặn dây thừng, làm công cụ sản xuất, băm cỏ chăn ngựa

Đối với trang phục của người Thái được chia làm trang phục thường ngày vàtang phục

Đối với trang phục thường ngày bao gồm:

Trang phục nữ: áo ngắn (xửa com), áo dài (xửa chai, xửa luồng), váy, thắtlung, nón, xà cạp, hoa tai, vòng cổ, vòng tay, xà tích…

Áo ngắn:

Thái đen: áo ngăn tứ than, màu đen, không xẻ tà, cổ tròn nẹp cổ cao2,5cm, cài cúc bạc giữa , áo thường màu chàm, xanh da trời, trắng Hàngngày áo màu chàm đen, khuy vải Ngày hội áo màu khuy bạc, hang khuy bạcbên trái biểu tượng nam, bên phải biểu tượng nữ thể hiện sự trường tồngiống nòi

Trang 10

Thái trắng: áo ngắn tứ than, màu trắng, không xẻ tà, cổ thìa nẹp áomàu đen, cài cúc bạc giữa ngực, cổ xuôi xuống hai vạt áo, lúc tắm mặc áochui đầu, áo che ngực.

Áo dài:

Thái đen: may bằng vải chàm đen, kiểu năm than, cổ trong, xẻ tà cao,cài cúc bên trái gấu phủ quá gối(mặc lúc lấy chồng, lễ hội, về nhà cha mẹkhông mặc áo này)

Thái trắng: áo đen dài kiểu chui đầu, cổ tròn Mặt trong của áo ghépsáu dải vải các màu

Áo xửa luồng: áo khoác ngoài, may dài, rộng, chui đầu có tay hoặc không

Thái đen: may bằng vải chàm, có màu xanh, đỏ, trắng ở cổ, ngực cógấu áo Thái đen từ nhỏ đã mặc áo này, mặc khi về già, biếu mẹ chồng khilàm dâu Các cụ già áo xửa luống lộn trái và đến khi chết mặc lộn phải Côdâu túc trực bên quan tài mẹ chồng cũng phải mặc áo xửa luống, khi ra tớitảo mộ cởi áo treo lên cột nhà mồ, như vậy tổ tiên mới nhận linh hồn ngườiquá cố

Thái trắng: mặc xửa luống bằng lụa, áo hẹp ngang, có chiết eo mặcthường xuyên

Váy (xin) có hai lớp: trong váy lót trắng, váy chàm bên ngoài Váy ống chàmđen, cạp bằng vải trắng không thuê hoa văn

Thắt lưng người Thái làm bằng tơ tằm, sợi bông xanh hoặc tím sẫm, giữ chocạp váy luôn cuốn chặt lấy eo bụng Nữ trên 40 tuổi thắt lung màu tím, cô gái trẻthắt lưng màu xanh Thái trắng còn có vải choàng ra ngoài thắt lưng ghép bằngnhiều miếng vải màu sặc sỡ đen, đỏ, xanh ,vàng Thắt lung có hai lớp vải (trongđen, ngoài khác màu), ngày thường dùng một thắt lưng, ngày cưới dùng hai thắtlưng

Trang 11

Khăn piêu: bằng vải chàm dài 180cm, rộng 36cm Piêu tết thành sừng hoặcthành tai Piêu tết thành ba sừng là piêu thường, tết năm, tết bảy sừng là piêu sangdung để biếu hoặc đội lúc cưới xin, piêu còn dung cho nam nữ trao nhau khi đínhước như vật làm tin.

Tóc người Thái để dài, chải ở sân sau nhà, những sợi rụng được thu vào sọt.Khi lấy chồng mẹ chọn sợi dài, đẹp bện thành độn tóc cho cô dâu mới, khi cô dâulấy chồng và sau này đều chải tóc ngược búi lên đỉnh đầu Những người góa bụacũng búi tóc lên và hơi lệch một bên

Trang sức: không lỗ tai không phải là người Thái, trang sức bao gồm: vòng,

xà tích, thổ cẩm

Trang phục nam: Quần chân què, cạp lá tọa, màu chủ yếu là màu đen, gạchnon, kẻ sọc

Thắt lung bằng vải hoặc bằng da trâu dành cho phía tạo

Áo cánh ngắn xẻ ngực, có hai túi bên dấu vạt Áo của người Tháitrắng có thêm túi ở ngực trái, cài khuy tết bằng dây vải

Áo dài ( mặc trong hội hè, cưới xin- gọi là xửa lắm): áo vạt ngắn bằngvải chàm, kiểu năm thân, có than trong trắng cài cúc bên trái ngực, cổ tròn,vạt dài qua gấu Khi mặc áo này bao giờ cũng mặc kép áo trắng bên trong,

áo chàm bên ngoài để lộ áo trắng bên trong thể hiện sự sang trọng, kiểucách

Khăn (pàu): khăn dài để cuốn lên thay nón, được dùng vào dịp lễ tết,cuốn như khăn xếp của người kinh, khăn trọc ngắn hơn dùng khi lao độngtrên nương, cuốn có hình chữ “ ^ “

Xăm mình là dấu hiệu của sự trưởng thành : xăm mình hình chạc cây,

để khi chết lên mường trời nộp cho then đoạn cây đó, nếu không có phải lấy

cơ thể mình làm cột nhà trên mường trời

Ngày đăng: 30/03/2021, 14:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w