TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC - - - -NGUYỄN THỊ THANH MAI RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC NỘI DUNG SỐ HỌC Ở LỚP 3 KHÓA LU
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
- - -
-NGUYỄN THỊ THANH MAI
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC
NỘI DUNG SỐ HỌC Ở LỚP 3
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Toán và phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
- - -
-NGUYỄN THỊ THANH MAI
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH QUA DẠY
HỌC NỘI DUNG SỐ HỌC Ở LỚP 3
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Toán và phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học
ThS NGUYỄN VĂN ĐỆ
HÀ NỘI - 2019
Trang 3và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, thầy cô giáo cùng các em học sinh trường Tiểu Học Việt Hùng, Đông Anh, Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện trong quá trình khảo sát và thực nghiệm để tôi hoàn thành khóa luận này
Dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian nghiên cứu còn hạn chế, khóa luận được hoàn thiện không thể tránh khỏi những sơ suất thiết sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến của các thầy cô giáo cùng các bạn
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Thanh Mai
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Giả thuyết khoa học 4
8 Cấu trúc khóa luận 4
NỘI DUNG 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH QUA VIỆC DẠY HỌC NỘI DUNG SỐ HỌC Ở LỚP 3 5
1.1 Những khái niệm cơ bản 5
1.1.1 Kĩ năng 5
1.1.2 Vấn đề 6
1.1.3 Kĩ năng giải quyết vấn đề 7
1.1.3 Kĩ năng giải quyết vấn đề trong dạy học môn Toán lớp 3 7
1.2 Vai trò của việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh qua dạy học nội dung số học ở lớp 3 8
1.2.1 Vai trò của việc rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề trong thực tiễn cuộc sống 8
1.2.2 Vai trò của việc rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề trong dạy học nội dung số học ở lớp 3 9
1.3 Đặc điểm của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề 9
1.3.1 Quy trình dạy học kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh 10
1.3.2 Những hình thức và cấp độ dạy học giải quyết vấn đề 13
1.4 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 3 14
1.4.1 Đặc điểm về hoạt động nhận thức 14
1.4.2 Đặc điểm về tính cách 14
1.5 Nội dung dạy học nội dung số học lớp 3 15
Trang 61.6 Thực trạng của việc rèn luyện kỹ năng giải quyết vần đề cho học sinh qua việc dạy học nội dung số học ở lớp 3 17 Tiểu kết chương 1 20 Chương 2: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH QUA VIỆC DẠY NỘI DUNG SỐ HỌC
Ở LỚP 3 21 2.1 Các nguyên tắc đề xuất các biện pháp rèn luyện kỹ năng giải quyết vần đề cho học sinh 21 2.1.1 Nguyên tắc 1: Đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng trong dạy học 21 2.1.2 Nguyên tắc 2:Đảm bảo tính vừa sức và yêu cầu phát triển trong dạy học 21 2.1.3 Nguyên tắc 3: Đảm bảo sự thống nhất giữa cụ thể và trừu tượng 21 2.1.4 Nguyên tắc 4: Đảm bảo tính đồng loạt và tính phân hóa trong dạy học 22 2.1.5 Nguyên tắc 5: Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò của thầy và tính tích cực, chủ động của học sinh 22 2.2 Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng giải quyết vần đề cho học sinh qua việc dạy nội dung số học ở lớp 3 23 2.2.1 Biện pháp 1: Tạo lập môi trường học tập thuận lợi phù hợp với đặc điểm tư duy của học sinh 23 2.2.2 Biện pháp 2: Phân loại học sinh theo kĩ năng giải quyết vấn đề 27 2.2.3 Biện pháp 3: Thiết kế bài học theo hướng phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề trong dạy học nội dung số học cho lớp 3 31 Tiểu kết chương 2 39 KẾT LUẬN 40 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Vì vậy, ngành giáo dục cần thực hiện công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện
về mục tiêu, chương trình đào tạo, phương pháp dạy học để đáp ứng yêu cầu
phát triển của đất nước
Trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu giải pháp về định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục “Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội” để thực hiện sứ mệnh của giáo dục Giáo dục theo định hướng phát triển năng lực cần thiết trong xã hội hiện đại, đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực sáng tạo cho học sinh Nhiệm vụ phát triển những năng lực chung và năng lực chuyên biệt cần được thực hiện
thông qua các hoạt dộng dạy học ở các môn học và cấp học
1.2 Xuất phát từ yêu cầu phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học môn Toán ở Tiểu học
Tiểu học được coi là cấp học nền tảng, làm cơ sở ban đầu cho việc hình thành, phát triển toàn diện nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân
“Trong các môn học ở Tiểu học, Toán có vị trí hết sức quan trọng Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống; học sinh nhận biết được những mối quan hệ về số lượng và hình không gian trong thế giới thực; Góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông minh cho học
Trang 8sinh Trong dạy học toán thì dạy kĩ năng là quan trọng nhất, có kĩ năng học sinh có thể giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng, chính xác nhất Năng lực cốt lõi trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể là năng lực giải quyết vấn đề bởi nó là năng lực quan trọng mà nhiều nền giáo dục trên thế giới hướng tới Việc giải quyết vấn đề giúp cho học sinh có cơ hội cùng làm việc, thảo luận, trao đổi học tập lẫn nhau; giúp học sinh vận dụng kiến thức và kinh nghiệm của bản thân phát triển tối đa năng lực toán học”
1.3 Xuất phát từ mục đích dạy học số và phép tính ở Tiểu học
Môn Toán trong chương trình Tiểu học mới, cụ thể là trong chương trình Toán 3 mới đã thể hiện rõ những ưu điểm của nó như: giảm nhẹ một số nội dung lí thuyết mà nó đã chuyển thành bài tập, tăng cường các tranh ảnh, hình vẽ sinh động trong các bài học, định hướng các phương pháp dạy và học, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh Trong đó mạch kiến thức số học trong chương trình Toán Tiểu học nói chung và chương trình Toán lớp 3 nói riêng là nội dung trọng tâm, có số tiết dạy rất nhiều trong quỹ thời gian dành cho phân môn Toán Nội dung dạy học số và phép tính là một mảng kiến thức khá hấp dẫn và việc giải quyết những vấn đề liên quan đến số
và phép tính lại chứa đựng nhiều tiềm năng để phát triển các loại tư duy toán học cho học sinh
“Trước thực trạng trên cùng với việc tiếp cận những vấn đề lý luận chung về phương pháp dạy học và giải quyết vấn đề, tôi nghĩ rằng nếu vận dụng phương pháp này vào dạy học số học Toán 3 sẽ giúp học sinh tiếp cận và lĩnh hội kiến thức tốt hơn Thông qua phát hiện và tự giải quyết vấn đề trong học tập sẽ giúp học sinh trở nên năng động, tự tin, hiểu và nhớ bài tốt hơn.”
“Xuất phát từ những lí do trên nên tôi đã quyết định chọn đề tài: “Rèn
luyện kĩ năng giải quyết vấn đề qua dạy học nội dung số học ở lớp 3” làm
đề tài khoá luận của mình với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy
và học của mình.”
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh qua dạy học nội dung số học ở lớp 3
Trang 93 Đối tượng nghiên cứu
“Xây dựng các biện pháp rèn kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh qua dạy học nội dung số học ở lớp 3.”
4 Phạm vi nghiên cứu
“Nghiên cứu phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề qua dạy học nội dung số học ở lớp 3.”
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ cở lý luận của phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
- “Tìm hiểu nội dung, đặc điểm và việc dạy học mảng kiến thức số học trong chương trình toán lớp 3.”
- “Xây dựng hệ thống bài tập để rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 3 qua dạy học dạy học nội dung số học.”
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng phương pháp sau:
6.1 Phương pháp nghiên cứu cơ sở lí luận
Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài để có cơ sở khoa học giải quyết tốt các vấn đề mà đề tài đã đặt ra :
- Tài liệu về giáo dục học môn Toán, tâm lí học, lí luận dạy học môn Toán
- Các sách báo, bài viết khoa học toán phục vụ cho đề tài
- Các sách tham khảo, Toán tuổi thơ, Giúp em vui học toán,
6.2 Phương pháp điều tra - khảo sát
“Lập phiếu điều tra để thu nhận ý kiến khách quan từ giáo viên dạy lớp
3 và học sinh lớp 3 sau khi tiến hành thực nghiệm
Tham gia hội thảo, dự giờ các tiết học sử dụng phương pháp này để rút kinh nghiệm cho bản thân.”
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
“Tổ chức và tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi và tác dụng của phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.”
Trang 107 Giả thuyết khoa học
“Nếu xây dựng được các biện pháp tổ chức dạy học số và phép tính ở lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề một cách hợp lý
sẽ phát triển được năng lực toán học của học sinh tiểu học.”
8 Cấu trúc khóa luận
“Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh qua dạy học nội dung số học ở lớp 3
Chương 2: Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn
đề cho học sinh qua dạy học nội dung số học ở lớp 3”
Trang 11NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN
LUYỆN KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH QUA
VIỆC DẠY HỌC NỘI DUNG SỐ HỌC Ở LỚP 3
1.1 Những khái niệm cơ bản
- “Hướng thứ hai: Kĩ năng là biểu hiện cụ thể ra bên ngoài của năng lực, kĩ năng không chỉ bao gồm đơn thuần mặt kĩ thuật của hành động mà còn chú trọng tới mặt kết quả của hành động trong mối quan hệ với mục đích, phương tiện, điều kiện và cách thức tiến hành hành động Theo cách tiếp cận này thì kĩ năng nghiêng về năng lực con người.”
“Dưới góc nhìn của giáo dục học thì kĩ năng là khả năng thực hiện công việc cụ thể, sau khi học sinh đã qua một chương trình học tập, một khóa huấn luyện Trình độ kĩ năng được đánh giá bằng chất lượng sản phẩm mà học sinh làm ra.”
“Từ những quan niệm trên, tôi cho rằng: Kĩ năng là khả năng của chủ
thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết , kiến thức hay kinh nghiệm nhằm tạo ra kết quả mong muốn Mỗi kĩ năng bao gồm hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đã đặt ra Kĩ năng bao giờ cũng xuất phát từ kiến
Trang 121.1.2 Vấn đề
“Có nhiều cách hiểu thuật ngữ “vấn đề” nhưng hiểu theo nghĩa dùng trong giáo dục thì vấn đề là bài toán mà chủ thể chưa biết ít nhất một thành phần của khách thể, mong muốn tìm một thành phần chưa biết đó dựa vào những biết thành phần biết trước nhưng chưa có trong tay cách giải.”
đó của khách thể mà học sinh chưa biết.”
+ “Gợi nhu cầu nhận thức”:
“Tình huống có vấn đề là tình huống phải chứa đựng một vấn đề tạo ra
sự ngạc nhiên, hứng thú, hấp hẫn, thu hút sự chú ý của học sinh Hay nói cách khác là phải gợi nhu cầu nhận thức ở học sinh, làm cho học sinh cảm thấy cần phải giải quyết Chẳng hạn tình huống phải bộc lộ sự khiếm khuyết về kiến thức, kĩ năng để họ thấy cần thiết phải chiếm lĩnh tri thức để lấp đầy những khoảng trống đó nhằm tự hoàn thiện hiểu biết của mình bằng cách tham gia giải quyết vấn đề nảy sinh Nếu tình huống đưa ra nhưng không khơi dậy ở học sinh nhu cầu phải tìm hiểu, họ cảm thấy xa lạ và không liên quan gì đến mình thì cũng chưa được gọi là một tình huống có vấn đề.”
+ “Khơi dậy niềm tin ở khả năng bản thân:
Tình huống có vấn đề phải phù hợp với trình độ hiểu biết của học sinh,
nó không được vượt quá xa tầm hiểu biết của học sinh vì nếu như vậy thì học sinh sẽ thấy hoang mang, bế tắc, không sẵn sàng tham gia giải quyết vấn đề;
Trang 13còn nếu tình huống quá dễ thì học sinh không cần suy nghĩ mà cũng có thể giải quyết được vấn đề thì yêu cầu của giờ học không được thỏa mãn.”
1.1.3 Kĩ năng giải quyết vấn đề
“Theo quan điểm triết học, vấn đề được xem là phạm trù logic biện chứng của nhận thức đi từ cái đã biết đến cái chưa biết Vì vậy, có thể xem vấn đề như một sự biến dạng của câu hỏi mà sự giải đáp không chứa đựng trong kiến thức có sẵn, phải có những hoạt động tư duy tương ứng để tiếp thu những kiến thức mới C.Mác viết “Vấn đề chỉ xuất hiện khi nào đã hình thành điều kiện để giải quyết chúng”.”
“Từ phân tích trên, tôi đưa ra quan niệm về vấn đề: “Vấn đề là tình
huống khó khăn mà chủ thể chưa từng gặp trước đó nhưng cần phải giải
Theo từ điển Giáo dục Quốc tế: “Giải quyết vấn đề là một thuật ngữ trong lí thuyết học tập của Garne.R dùng để chỉ phạm trù cao nhất của kĩ năng
tư duy Đặc điểm của giải quyết vấn đề là sự kết hợp của hai hay nhiều quy tắc theo cách thức mới lạ để giải quyết một vấn đề.”
“Từ đây tôi đưa ra quan niệm về kĩ năng giải quyết vấn đề: Kĩ năng
giải quyết vấn đề là những hành động diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau thuộc
về cách cư xử và nhận thức nhằm khắc phục những tình huống khó khăn đã
1.1.3 Kĩ năng giải quyết vấn đề trong dạy học môn Toán lớp 3
“Việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong dạy học nội dung số học ở chương trình Toán lớp 3 Đối với học sinh thì sự hình thành và phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề giúp học sinh hiểu và nắm chắc nội dung cơ bản của bài học Học sinh có thể mở rộng và nâng cao những kiến thức xã hội của mình ; sự hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề giúp học sinh biết vận dụng những tri thức xã hội vào trong thực tiễn cuộc sống.”
“Để giúp học sinh rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong dạy toán tiểu học, giáo viên cần vận dụng toán học vào thực tiễn, thực chất là giúp học sinh sử dụng toán học làm công cụ để giải quyết tình huống thực tiễn Và từ
Trang 14đó, các em có thể nắm bắt thông tin, nhận diện vấn đề và từ đó đưa ra phương
án giải quyết phù hợp.”
“Có thể áp dụng một số biện pháp để giúp học sinh rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong dạy học học toán qua 2 kĩ năng: kĩ năng thao tác tư duy và kĩ năng hoạt động như: khai thác triệt để giả thiết của bài toán từ đó tìm ra lời giải, tìm được sai lầm của một bài giải.”
“Phương pháp dạy học định hướng giải quyết vấn đề là cách thức, con đường mà giáo viên áp dụng trong việc dạy học để làm phát triển khả năng tìm tòi khám phá độc lập của học sinh bằng cách đưa ra các tình huống có vấn
đề và điểu khiển hoạt động của học sinh nhằm giải quyết các vấn đề từ đó rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh.”
1.2 Vai trò của việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh qua dạy học nội dung số học ở lớp 3
1.2.1 Vai trò của việc rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề trong thực tiễn cuộc sống
“Trong cuộc sống thường ngày, bản thân mỗi người luôn phải tự trau dồi, rèn luyện, học tập để hoàn thiện bản thân giúp làm việc độc lập và mang lại hiệu quả tốt nhất trong công việc Để làm được điều đó, mỗi ngày hãy dành công sức và nhiệt huyết để nghiên cứu, tìm tòi tài liệu, cuốn sách và làm mới kiến thức mỗi ngày.”
“Nước ta đang trong công cuộc đổi mới nền kinh tế xã hội đòi hỏi cần những người có bản lĩnh, có năng lực, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, thích ứng được với sự thay đổi đó Để đáp ứng được yêu cầu đó, thế hệ trẻ không ngừng trau dồi kiến thức, kĩ năng, ra sức học tập và rèn luyện, tự làm mới mình và phát huy tối đa năng lực của mỗi cá nhân để góp sức vào công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh.”
“Vấn đề là một thuật ngữ thông dụng trong cuộc sống Trong giáo dục, vấn đề là khái niệm cơ bản của định hướng dạy học nhằm phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh, từ đó giúp cho học sinh nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề của mình Một khi đã có vấn đề thì chủ thể phải nhận định đúng
và nghiêm túc tìm ra hướng để giải quyết vấn đề đó Giải quyết vấn đề làm
Trang 15sao cho đúng, nhanh và hiệu quả thì chủ thể phải có những kĩ năng cần thiết
để đạt được mục tiêu.”
“Vấn đề có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào, ở đâu và chính chủ thế cũng không biết trước được Cũng bởi vậy, cần phải rèn luyện kỹ năng để có thể đối diện và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả nhất.”
1.2.2 Vai trò của việc rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề trong dạy học nội dung số học ở lớp 3
“Dạy học số và phép tính có vai trò rất quan trọng trong chương trình môn toán ở tiểu học Năng lực toán học của học sinh được đánh giá thông qua
kĩ năng thực hiện phép tính và áp dụng và đời sống thực tiễn.”
“Việc học tốt nội dung số và phép tính là tiền đề cho những kiến thức về sau Khi dạy học theo định hướng rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề giúp cho học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức Các em nhớ nhanh, ham học hỏi,
và nhớ lâu hơn.”
1.3 Đặc điểm của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề
“Trong phương pháp dạy học giải quyết vấn đề người thầy không đọc bài giảng cho học sinh viết, giải thích hoặc nỗ lực truyền đạt cho học sinh kiến thức mà là người tạo tình huống mọi vấn đề, thiết lập các tình huống và cầu trúc cần thiết cho học sinh , điều khiển học sinh phát hiện vấn đề dựa trên hoạt động tự giác, tích cực Người thầy là người xác nhận kiến thức, thể chế hoá kiến thức cho học sinh Thông qua đó học sinh tiếp nhận được tri thức mới, rèn luyện kỹ năng và đạt được những mục tiêu học tập khác Phương pháp dạy học này mang tính chẩt khác hẳn về nguyên tắc so với phương pháp dạy học giải thích - minh hoạ.”
“Dạy học giải quyết vấn đề có 3 đặc điểm sau đây” :
- “Học sinh được đặt vào tình uống có vấn đề do giáo viên tạo ra chứ không phải tiếp thu một cách thụ động do người khác áp đặt lên mình.”
- “Học sinh hoạt động tích cực, tự giác, sáng tạo, chủ động, tận lực huy động tất cả các kiến thức mà mình biết để hy vọng giải quyết được vấn đề đặt
ra chứ không phải là tiếp thu một cách thụ động theo thói quen “thầy giảng, trò ghi” Thông qua những hoạt động và những yêu cầu của người giáo viên,
Trang 16học sinh tham gia xây dựng, giải quyết bài toàn đó Học sinh là chủ thể sáng tạo ra hoạt động.”
- “Mục tiêu dạy học không phải là chỉ làm cho học sinh nắm được tri thức mới tìm được trong quá trình tham gia vào giải quyết vấn đề mà còn giúp học sinh nắm được phương pháp đi tới tri thức đó và biết cách vận dụng phương pháp đó vào các quá trình như vậy Biết khai thác từ một bài toán đã biết để giải quyết bài toàn mới, biết vận dụng quy trình cho những bài toàn cùng dạng.”
“Như vậy bản chất của dạy học giải quyết vấn đề là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh trong đó có sự chỉ đạo , hướng dẫn của giáo viên , học sinh nắm được tri thức và cách thức hoạt động trí tuệ mới thông qua quá trình
tự lực giải quyết các tình huống có vấn đề.”
1.3.1 Quy trình dạy học kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh
“Có nhiều cách chia bước, giai đoạn để giải quyết vấn đề” Như :
“Kudriasev chia 4 giai đoạn: Sự xuất hiện của chính vấn đề và những kích thích đầu tiên thúc đẩy chủ thể giải quyết vấn đề; Chủ thể nhận thức sâu sắc và chấp nhận vấn đề giải quyết; Quá trình tìm kiếm lời giải cho vấn đề được chấp nhận; lý giải; chứng minh; kiểm tra; Tìm được kết quả cuối cùng
và đánh giá toàn diện các kết quả tìm được.”
“John Dewey lại đề nghị 5 bước để giải quyết vấn đề: Tìm hiểu vấn đề; Đưa ra những giả thuyết khác nhau để giải quyết vấn đề; Xem xét hệ quả của từng giả thuyết dưới ánh sáng của những kinh nghiệm trước đây; Thử nghiệm giải pháp thích hợp nhất.”
“Dưới đây là một số ví dụ về các bước thực hiện dạy học giải quyết vấn đề:
Có nhiều tác giả đề cập đến vấn đề này, có tác giả trình bày tiến trình theo
3, 4 hoặc 5 bước và có tác giả chia dạy học giải quyết vấn đề thành 4 giai đoạn.”
Bước 1 : Tri giác vấn đề
- Tạo tình huống gợi vấn đề
Trang 17- Giải thích và chính xác hoá để hiểu tình huống
- Phát biểu vấn đề và đặt mục đích giải quyết vấn đề đó
Bước 2: Giải quyết vấn đề
- Phân tích vấn đề, làm rõ những mối liên hệ giữa cái đã biết và cái phải tìm
- Đề xuất và thực hiện hướng giải quyết, có thể điều chỉnh, thậm chí bác bỏ và chuyển hướng khi cần thiết
- Trình bày cách giải quyết vấn đề
Bước 3: Kiểm tra và nghiên cứu lời giải
- Kiểm tra sự đúng đắn và phù hợp với thực tế của lời giải
- Kiểm tra tính hợp lí hoặc tối ưu hoá của lời giải
- Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả
- Đề xuất những vấn đề mới có liên quan.”
Bước 1: Đưa ra vấn đề
Đưa ra các nhiệm vụ và tình huống ; Đưa ra mục đích của hoạt động Bước 2: Nghiên cứu vấn đề
Thu thập hiểu biết của học sinh; Nghiên cứu tài liệu
Bước 3: Giải quyết vấn đề:
Đưa ra lời giải; Đánh giá chọn phương án tối ưu
Bước 4: Vận dụng
Vận dụng kết quả để giải quyết tình huống, vấn đề tương tự
Các bước trên có thể biểu diễn thành sơ đồ sau:”
Trang 19“ Quá trình dạy học theo phương pháp giải quyết vấn đề bao gồm nhiều hình thức tổ chức đa dạng
Quá trình học tập có thể diễn ra những cách tổ chức đa dạng lôi cuốn học sinh hứng thú học tập, tranh luận, động não dưới sự dẫn dắt, gợi mở dưới
sự hướng dẫn của giáo viên.”
- “Làm việc theo nhóm nhỏ.”
- “Thực hiện những kỹ thuật dạy học hỗ trợ tranh luận.”
- “Tấn công não, điều này là bước đầu tiên trong sự tìm tòi giải quyết vấn đề.”
- “Báo cáo và trình bày (trình bày nhóm nhỏ, báo cáo trước cả lớp)”
1.3.2 Những hình thức và cấp độ dạy học giải quyết vấn đề
“Dựa theo mức độ độc lập của học sinh trong quá trình giải quyết vấn
đề người ta phân chia dạy học giải quyết vấn đề thành 4 hình thức sau” :
- “Thứ nhất: Giáo viên nêu vấn đề và trình bày cách giải quyết còn học sinh thì chú ý vào làm mẫu của giáo viên Đây là mức độ mà tính độc lập học sinh thấp hơn hết so với các mức độ bên dưới Hình thức này được sử dụng nhiều hơn ở các lớp thuộc cấp trung học phổ thông.”
- “Thứ hai: Giáo viên nêu vấn đề và dẫn dắt học sinh giải quyết vấn đề Học sinh giải quyết vấn đề dựa vào sự hướng dẫn, gợi ý của giáo viên Với hình thức này ta thấy phương pháp dạy học này gần giống so với phương pháp vấn đáp Tuy nhiên hai cách dạy này không thể đồng nhất với nhau Điều quan trọng của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là đưa ra được tình huống gợi vấn đề - đây chính là điểm khác biệt của phương pháp này so với phương pháp dạy học vấn đáp.”
- “Thứ ba: Giáo viên cung cấp thông tin để tạo ra tình huống cho học sinh còn học sinh phát hiện ra vấn đề và tự lực huy động kiến thức, đề xuất các giải pháp giải quyết vấn đề.”
- “Thứ tư: Học sinh phát hiện vấn đề từ một tình huống thực và độc lập lựa chọn các giải pháp, đề xuất các giả thuyết và xây dựng kế hoạch , thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề Đây là hình thức dạy học mà tính độc lập của học sinh được phát huy cao độ nhất.”
Trang 201.4 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 3
“Để việc dạy và học đạt được hiệu quả cao thì ngoài việc trau dồi chuyên môn người giáo viên cần phải thấu hiểu đặc điểm tâm lí của học sinh.”
1.4.1 Đặc điểm về hoạt động nhận thức
“Tri giác của học sinh tiểu học mang tính trực quan và mang tính cảm xúc nhiều Chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế so với chú ý có chủ định Đối với học sinh lớp 3 chỉ tập trung chú ý trong khoảng 30 đến 35 phút Học sinh nghe giảng rất dễ hiểu nhưng rất dễ quên ngay khi chúng không tập trung cao độ Vì vậy, giáo viên phải thường xuyên tổ chức cho học sinh luyện tập.”
“Trí nhớ của học sinh tiểu học còn mang tính trực quan hình tượng Vì vậy, trong việc ghi nhớ các tài liệu từ ngữ nhất là các tài liệu trừu tượng vẫn còn phải dựa trên những tài liệu trực quan hình tượng mới vững chắc.”
“Tư duy của học sinh tiểu học là tư duy hình tượng trực quan, tư duy cụ thể Các em dễ sai lầm trong tư duy, chưa biết suy luận từ giả định để đưa ra kết luận.”
“Ngôn ngữ của học sinh tiểu học đã phát triển một cách rõ rệt về số lượng và chất lượng Sự thay đổi về chất lượng ngôn ngữ nói và đặc biệt sự hình thành ngôn ngữ viết có ảnh hưởng căn bản đến sự phát triển tất cả các quá trình tâm lý của các em Hầu hết học sinh ở lứa tuổi này có ngôn ngữ nói thành thạo, ngôn ngữ viết đang dần thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ mà trẻ có khả năng tự học,
tự đọc và tự nhận thức thế giới xung quanh, tự khám phá bản thân qua các kênh thông tin khác nhau.”
1.4.2 Đặc điểm về tính cách
“Tính cách của học sinh tiểu học được hình thành trong hoạt động học tập, lao động và hoạt động xã hội, hoạt động vui chơi Ở độ tuổi này khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới ảnh hưởng kích thích bên ngoài và bên trong.”
Trang 21“Đặc điểm quan trọng của lứa tuổi tiểu học là tính bắt chước Điều này tạo điều kiện thuận lợi để giáo dục cho trẻ phát triển theo hướng tích cực.”
“Ở độ tuổi này, hoạt động chủ đạo là học tập, hứng thú bắt đầu chiếm
ưu thế hơn Kết quả học tập và lời nhận xét của giáo viên có tác dụng củng cố hứng thú học tập của trẻ.”
“Tính độc lập của các em đã dần phát triển nhưng còn yếu Do đó giai đoạn này giáo viên cần giáo dục dần cho các em thông qua hoạt động học tập.”
“Đời sống tình cảm của học sinh tiểu học đó là tính cụ thể, trực tiếp
và giàu cảm xúc Trong giai đoạn này tình cảm trí tuệ đang hình thành và phát triển.”
1.5 Nội dung dạy học nội dung số học lớp 3
“Có thể chia nội dung của mạch kiến thức số học trong Toán 3:
- Ôn tập về đọc, viết, so sánh các số có ba chữ số
- Các số đến 10000
+ Giới thiệu các hàng, viết rồi đọc số có bốn chữ số
+ Viết số có bốn chữ số thành tổng các đơn vị ở từng hàng và ngược lại + Số 10000
- Phép cộng và phép trừ các số có bốn hoặc năm chữ số (không nhớ và
có nhớ, chủ yếu là có nhớ đến hai lần và không liên tiếp )
- Bảng nhân, bảng chia 6, 7, 8, 9
Trang 22- Phép nhân số có hai, ba, bốn hoặc năm chữ số với một số có một chữ
số (không nhớ và có nhớ, chủ yếu là có nhớ đến hai lần và không liên tiếp)
- Phép chia số có hai, ba, bốn hoặc năm chữ số với một số có một chữ
số (chia hết và chia có dư)
- Tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính, cộng, trừ nhẩm các số nghìn, tròn chục nghìn với số có một chữ số (không nhớ); chia nhẩm số tròn trăm, tròn nghìn, tròn chục nghìn cho một số có một chữ số (chia hết)
- Tìm số chia chưa biết dạng: a : x=b ; chủ yếu với a là số có hai hoặc
ba chữ số b là số có một chữ số
- Tính giá trị các biểu thức số có đến hai dấu phép tính, có hoặc không
có dấu ngoặc.”
* Phương pháp và đánh giá trong dạy học nội dung số học ở lớp 3
- “Phương pháp giảng giải - minh họa: Là một phương pháp giáo viên dùng lời để giải thích tài liệu có sẵn, kết hợp với phương tiện trực quan để hỗ trợ cho việc giải thích, từ đó giúp học sinh hiểu nội dung bài học.”
- “Phương pháp gợi mở - vấn đáp: Là một phương pháp giáo viên không trực tiếp đưa ra những kiến thức họa chỉnh mà sử dụng một hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh suy nghĩ lần lượt trả lời, từ đó tiến tới các kiến thức và kĩ năng cần thiết.”
- “Phương pháp trực quan: Là một phương pháp giáo viên tổ chức hướng dẫn cho học sinh trực tiếp hoạt động trên các phương tiện, đồ dùng dạy học, từ đó giúp học sinh hình thành kiến thức và kĩ năng cần thiết của môn Toán.”
- “Phương pháp thực hành - luyện tập: Là một phương pháp giáo viên
tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động thực hành, thông qua đó giải quyết những tình huống cụ thể có liên quan tới các kiến thức và kĩ năng
về môn Toán Từ đó hình thành kiến thức, kĩ năng cần thiết cho học sinh.”
Trang 231.6 Thực trạng của việc rèn luyện kỹ năng giải quyết vần đề cho học sinh qua việc dạy học nội dung số học ở lớp 3
“Ở các trường tiểu học hiện nay, giáo viên sử dụng chủ yếu là phương pháp dạy học truyền thống Việc áp dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh đã được đề ra tuy vậy kết quả vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn
Các bài học về phép tính được sắp xếp liền mạch, logic, bài trước là cơ
sở cho bài sau, phù hợp cho cả giáo viên và học sinh trong quá trình học.”
“Phần lớn giáo viên đều nắm chắc nội dung chương trình để rèn luyện
kĩ năng thực hiện phép tính Nội dung rèn luyện kĩ năng thực hiện tính nhẩm các phép tính cộng, trừ, nhân, chia rất quan trọng Thiếu kĩ năng tính toán này học sinh rất khó khăn trong việc học tập Vì vậy, việc học nội dung số học ở lớp 3 coi trọng công tác hình thành khái niệm phép tính, cách thực hiện phép tính.”
“Một số giáo viên cho rằng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng thực hiện phép tính là rất cần thiết Do vậy cần bổ sung thêm một số dạng bài tập ví dụ như tính nhanh, tính thuận tiện,…”
“Qua thực trạng nghiên cứu tại trường thực tập, nhận thấy hầu hết các
em đã biết thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia Nhưng vẫn còn một
số em làm bài chưa đúng và chưa chính xác, mắc phải một số lỗi như”: