Thực tiễn trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hiện nay con người và nguồn nhân lực được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Do đó, việc phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ nhân tài, tăng cường nguồn nhân lực được Đảng và Nhà nước ta hết sức chú trọng. Điều này được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII khẳng định: “Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo...
Trang 1Mở đầu
Thực tiễn trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh Hiện nay con người và nguồn nhân lực được coi là nhân tốquan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững
Do đó, việc phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ nhân tài, tăngcường nguồn nhân lực được Đảng và Nhà nước ta hết sức chú trọng Điều nàyđược Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII khẳng định: “Con người và nguồnnhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục
và đào tạo
Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tựtôn dân tộc, lý tưởng XHCN, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinhthần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn Đào tạo lớpngười lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâmhiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học vàcông nghệ Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhàkhoa học, nhà văn hoá, nhà kinh doanh, nhà quản lý Chính sách sử dụng laođộng và nhân tài phải tận dụng mọi năng lực, phát huy mọi tiềm năng của cáctập thể và cá nhân phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”1
Để thực hiện được mục tiêu trên, trong những năm cuối của thế kỷ XX vànhững năm đầu của thế kỷ XXI, chúng ta đã đổi mới tư duy, đẩy mạnh pháttriển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đồng thời làm tốt công tác phát hiện, đàotạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ nhân tài một cách hợp lý Đó chính là bíquyết thành công, là động lực để phát triển xã hội Bởi mục đích của giáo dục
là đào tạo những con người phát triển toàn diện, làm tiền đề để phát triển
1 Đ ng C ng s n Vi t Nam, V n ki n Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H 2001, i h i đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H 2001, i bi u to n qu c l n th IX, Nxb CTQG, H 2001, ểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H 2001, àn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H 2001, ốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H 2001, ần thứ IX, Nxb CTQG, H 2001, ứ IX, Nxb CTQG, H 2001,
Trang 2nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá Việc phát triển giáo dục chính là phát huy và làmtrường tồn những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc và làm phong phú thêmnhững tinh hoa văn hoá của nhân loại Nhiệm vụ quan trọng của giáo dục làgiáo dục nhân cách, hướng dẫn con người từ lối sống vô thức tới lối sống có ýthức, từ lối sống chưa có giá trị đến lối sống có giá trị, từ lối sống phi lý đếnlối sống duy lý, và sau cùng là giáo dục để tạo ra giá trị của con người, pháthuy và phát triển hệ thống giá trị của dân tộc Mục tiêu của phát triển giáo dụcnhằm nâng cao dân trí làm cơ sở đào tạo nhân lực và là nguồn gốc để đào tạo
và bồi dưỡng nhân tài trên nền tảng nhân cách tốt đẹp Phát triển giáo dục vàđào tạo chính là tạo điều kiện để sản sinh ra nhiều nhân tài, làm giàu thêm
“nguyên khí của quốc gia”, đây chính là động lực thúc đẩy đất nước phát triểnnhanh và bền vững Tuy nhiên thực tiễn cũng chỉ ra nền giáo dục nước ta hiệnnay còn thấp xa so với yêu cầu của đất nước, chưa thật sự là một động lựcthúc đẩy và là một điều kiện cơ bản bảo đảm việc thực hiện những mục tiêukinh tế- xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới Đứng trướcnhững đòi hỏi ngày càng cao của thời kỳ mới- thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc
tế và khu vực, ngày 28/12/2010, Thủ tướng Chính phủ nước ta đã phê duyệt
“Chiến lược phát triển giáo dục 2010- 2020” Chiến lược này đã xác định rõmục tiêu, giải pháp và các bước đi thích hợp của nền giáo dục nước ta trongnhững năm đầu của thế kỷ XXI Để đạt được mục tiêu giáo dục đặt ra, mộttrong những nhóm giải pháp Chiến lược phát triển giáo dục đề cập đó là “Đổi
mới quản lý giáo dục” Với ý nghĩa đó, tôi lựa chọn chủ đề: “Phương hướng,
biện pháp đổi mới nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục ở các trường quân sự ý nghĩa trong việc đổi mới công tác quản lý hoạt động rèn luyện kỷ luật của học viên hiện nay, làm nội dung viết tiểu luận.
Trang 3khả năng sang trạng thái hiện thực Như vậy, quản lý giáo dục ở cấp vĩ mô, có
thể được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch,
có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệthống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện
có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà
xã hội đặt ra cho ngành giáo dục ở cấp vi mô, có thể hiểu đó là hệ thống
những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợpquy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thểhọc sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trườngnhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
Từ những khái niệm này, ta có thể nhận rõ quản lý giáo dục gồm 4 yếu tố đó
là: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý.
Chính vì vậy, quá trình đổi mới quản lý giáo dục ở nước ta diễn ra trong bối
Trang 4cảnh, thế giới đang có những biến đổi mạnh mẽ về khoa học, kỹ thuật và côngnghệ; xu thế toàn cầu hoá, quốc tế hoá trên một số lĩnh vực là xu thế tất yếu;nền kinh tế tri thức hình thành và ngày càng phát triển…Điều đó đòi hỏi giáodục nước ta cũng phải thay đổi để phù hợp với thời đại và phù hợp với nhữngvấn đề mà Tổ chức UNESCO đã đề ra trong chiến lược giáo dục gồm 21điểm, các điểm này đã toát lên những tư tưởng sau:
- Giáo dục thường xuyên phải là hướng chủ đạo của mọi chính sách giáo dục.
- Xoá bỏ sự phân biệt cứng nhắc giữa giáo dục phổ thông, khoa học kỹ thuật và công nghiệp Phát triển giáo dục gắn liền với phát triển kinh tế- xã hội, tăng cường thực hành trong giáo dục.
- Giáo dục trẻ em trước khi đến trường phải được coi là mục tiêu lớn trong chiến lược giáo dục.
- Giáo viên phải được đào tạo để trở thành nhà giáo dục tốt hơn là những người chỉ thông thạo việc giảng dạy.
Cùng với đó Uỷ ban quốc tế về giáo dục còn đề ra 6 nguyên tắc cơ bảncủa giáo dục thế kỷ XXI cho các lực lượng giáo dục, các nhà giáo dục vàquản lý giáo dục, đó là:
- Giáo dục là quyền cơ bản của con người và cũng là giá trị chung nhất của nhân loại.
- Giáo dục cả chính quy và không chính quy, đều phải phục vụ xã hội.
- Các chính sách giáo dục phải chú ý phối hợp hài hoà cả ba mục đích: công bằng, thích hợp và chất lượng.
- Muốn tiến hành cải cách giáo dục phải xem xét kỹ lưỡng và hiểu biết sâu sắc về thực tiễn, chính sách và các điều kiện cũng như yêu cầu của từng vùng.
- Phải có cách tiếp cận phát triển giáo dục phù hợp với từng vùng, nhưng phải chú ý tới giá trị chung: các quyền con người, khoan dung và hiểu biết,
Trang 5dân chủ, trách nhiệm, tính toán bản sắc văn hoá, bảo vệ hoà bình, môi trường, giảm đói nghèo, dân số, sức khoẻ.
- Giáo dục là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả mọi người.
Như vậy, có thể thấy xu hướng về giáo dục hiện nay trên thế giới là:Phải mang tính đại chúng, hướng vào xã hội học tập; thực hiện giáo dục suốtđời cho mọi người; giáo dục được coi là sự nghiệp hàng đầu; chất lượng giáodục thể hiện ở “chất lượng phát triển người”, “chất lượng phát triển nhânlực”; người dạy có chức năng là dạy cách học cho người học, còn người học
là học cách học; tăng cường áp dụng công nghệ thông tin, truyền thông giáodục
Còn đối với nước ta, thực tiễn chỉ ra rằng trong quá trình đổi mới nângcao chất lượng giáo dục- đào tạo và quản lý giáo dục, chúng ta đã thu đượcmột số thành tựu cụ thể:
- Cơ sở pháp lý về giáo dục đã từng bước được tăng cường và hoàn chỉnhnhư: đã ban hành được Luật giáo dục; Nghị định quy định chi tiết hướng dẫnthi hành; Bộ luật lao động về dạy nghề; Chính phủ đã ban hành nhiều văn bảntrong đó có Chiến lược phát triển giáo dục 2010- 2020… Tất cả các văn bảnquy phạm pháp luật trên đều được các cấp, các ngành, địa phương, nhàtrường tổ chức học tập quán triệt để từng bước đưa Luật giáo dục vào cuộcsống
- Mạng lưới các trường học được sắp xếp, gắn đào tạo với nghiên cứu khoahọc và sản xuất Cụ thể: trường tiểu học đã về đến thôn, ấp; trường trung học
cơ sở đã về đến xã hoặc liên xã; trường trung học phổ thông đã về đến quận,huyện hoặc cụm, xã, phường Các trường công lập tiếp tục được giữ vững vàphát huy được vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân Mạng lướicác trường đại học, cao đẳng và dạy nghề giai đoạn 2001- 2010 đã được Thủtướng Chính phủ phê duyệt, trong đó đã chú ý xây dựng các trường đại học,
Trang 6cao đẳng tại các vùng khó khăn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạonguồn nhân lực tại chỗ.
- Công tác quản lý đã được chấn chỉnh, giải quyết các vấn đề nổi cộm, lập lạitrật tự kỷ cương, đẩy lùi tiêu cực Trước hết ngành giáo dục đã chấn chỉnhtình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan; đã ban hành Chỉ thị và tiến hành thanhtra, kiểm tra việc này Các cơ quan thanh tra, nòng cốt là cơ quan thanh tragiáo dục đã có một số biện pháp tích cực trong việc đấu tranh nhằm chấnchỉnh tệ nạn sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp và cấp phát vănbằng, chứng chỉ sai quy định (9/2020 đã phát hiện 5.742 trường hợp sử dụngvăn bằng không hợp pháp; xử lý buộc thôi việc 275 cán bộ, công chức) Thủtướng Chính phủ đã ra Chỉ thị về thực hiện cuộc vận động “hai không” tronggiáo dục
Bên cạnh những thành tựu, song chúng ta không sao tránh khỏi nhữngđiểm còn chưa làm được cụ thể:
- Còn thiếu nhiều văn bản dưới luật Chưa quy định lại chức năng, nhiệm vụcác cơ quan quản lý giáo dục theo hướng tập trung làm tốt chức năng quản lýnhà nước, xây dựng, hoàn thiện các chính sách, cơ chế về giáo dục Việc xâydựng, ban hành một số văn bản dưới luật và Chiến lược phát triển giáo dụcgiai đoạn 2010- 2020 còn chậm so với yêu cầu; một số chính sách ban hànhnhưng chưa chuẩn bị kịp thời các văn bản hướng dẫn như về chính sáchkhuyến khích xã hội hoá giáo dục, về chế độ phụ cấp quản lý giáo dục, hoặccác văn bản đã ban hành nhưng chưa tính hết các yếu tố xã hội nên còn gâytâm tư, vướng mắc trong đội ngũ cán bộ, giáo viên (như Quyết định về chế độphụ cấp trách nhiệm chỉ tính đến đội ngũ giáo viên trực tiếp lên lớp, khôngtính đến đội ngũ cán bộ quản lý, phục vụ trong ngành giáo dục)
- Trong phạm vi cả nước hiện nay vẫn còn bất hợp lý lớn về phân bố cáctrường đại học, cao đẳng, dạy nghề theo địa bàn, lãnh thổ, theo cơ cấu ngànhnghề đào tạo
Trang 7- Chưa thực hiện tốt phân cấp quản lý giáo dục nhất là đối với các trường đạihọc Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục còn chưa hợp lý và cónhiều bất cập, chưa phù hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáodục.
- Việc quản lý tài chính, nhân sự cho giáo dục còn nhiều lúng túng, vướngmắc Các hình thức học tập tại chức, từ xa, du học tự túc, du học tại chỗ chưađược quản lý chặt chẽ Chưa có giải pháp hữu hiệu khắc phục tình trạng dạythêm, học thêm
- Việc thanh tra, kiểm tra công tác quản lý giáo dục đã được quan tâm nhiềuhơn trước, song vẫn còn yếu Việc đánh giá, thi cử, tuyển sinh, nhất là vàocao đẳng và đại học chưa được xem xét giải quyết một cách cơ bản Các tiêucực trong thi, tuyển, bảo vệ luận án, cấp bằng chưa được chặn đứng, mà còn
có chiều hướng phức tạp và nghiêm trọng hơn
- Việc thực hiện các chủ trương, chính sách nhằm khuyến khích, thúc đẩyviệc gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ, xây dựng cácphòng thí nghiệm trọng điểm còn chậm
Nguyên nhân của các yếu kém trên, trước hết là do chưa có quan niệmthống nhất và phù hợp với thực tiễn về quản lý nhà nước trong ngành giáodục, dẫn đến tình trạng nhiều khi chỉ thiên về chỉ đạo tác nghiệp, thiếu coitrọng quản lý nhà nước về mặt luật pháp; phân cấp quản lý về giáo dục vàphân định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu của từng cấp đối với giáo dục cònchưa rõ ràng, chưa thống nhất, một số mặt còn chồng chéo, dẫn dến thực hiệnkhác nhau giữa các địa phương, giữa ngành giáo dục với các cấp chính quyền
và các ngành chức năng khác
- Công tác nghiên cứu khoa học giáo dục chưa đi vào giải quyết những vấn
đề bức xúc về lý luận và thực tiễn của ngành Chậm đổi mới tư duy, chậm đề
ra các định hướng chiến lược và chính sách vĩ mô đúng đắn để xử lý quan hệgiữa quy mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục
Trang 8- Đội ngũ cán bộ quản lý còn thiếu và yếu về trình độ và năng lực, chưa đápứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chưatheo kịp với thực tiễn và nhu cầu phát triển khi nền kinh tế đang chuyển từnền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN Một số cán bộ quản lý còn suy giảm về phẩm chất đạo đức.
Đây chính là những thách thức lớn đối với công tác quản lý giáo dục,bởi nó thuộc chủ quan của ngành giáo dục và đổi mới quản lý giáo dục làkhâu đột phá có ý nghĩa hết sức quan trọng hiện nay để đáp ứng yêu cầu pháttriển giáo dục Vậy phương hướng, biện pháp đổi mới nâng cao hiệu quả côngtác quản lý giáo dục được thể hiện ở những nội dung sau:
Trước hết, tiếp tục đổi mới tư duy giáo dục Đây là nội dung quan
trọng, bởi mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội nhằm đưa nước ta ra khỏi tìnhtrạng kém phát triển vào năm 2010 và về cơ bản trở thành một nước côngnghiệp vào năm 2020 đòi hỏi giáo dục phải phát triển mạnh mẽ để góp phầnthúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việc chuyển sang nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN; sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và côngnghệ; xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế; nhu cầu học tập ngàycàng tăng của nhân dân vừa là thời cơ, vừa tạo ra thách thức to lớn đối vớigiáo dục nước ta Trong bối cảnh đó, giáo dục phải được đổi mới mạnh mẽ,trước hết là đổi mới về tư duy một cách sâu sắc Cụ thể:
- Nhận thức sâu sắc hơn mục tiêu giáo dục trong thời kỳ mới là phát triểncon người Việt Nam với đầy đủ phẩm chất tốt đẹp của dân tộc và của thời đại,đáp ứng những đòi hỏi của công cuộc CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc
tế Thế hệ trẻ do nhà trường đào tạo phải trung thực, năng động và sáng tạo,biết hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, có hoài bão, có ý chí vươn lên, tự lậpthân, lập nghiệp và góp phần đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn vàlạc hậu
Trang 9- Phải nhận rõ nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục của dân, do dân, vìdân, hướng tới một xã hội học tập Xuất phát từ nhu cầu học tập của nhân dânngày càng tăng, do vậy hệ thống giáo dục không chỉ dành cho tuổi trẻ, mà còndành cho tất cả mọi người để học tập suốt đời.
- Xã hội hoá học tập là giải pháp cơ bản để phát triển giáo dục Cùng vớiviệc tăng ngân sách và điều chỉnh cơ cấu đầu tư để tập trung giải quyết cácmục tiêu ưu tiên, Nhà nước cần tạo cơ chế, mạnh dạn huy động nguồn lực vàtrí tuệ từ nhân dân để phát triển giáo dục và có chính sách bảo đảm bình đẳnggiữa trường công lập và trường ngoài công lập
- Giáo dục Việt Nam phải tăng cường hợp tác quốc tế để nhằm nâng cao khảnăng hợp tác và cạnh tranh của đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tếquốc tế
Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý giáo dục Thông qua việc hoàn
thiện và triển khai thực hiện các văn bản pháp quy về giáo dục Thực hiệnviệc phân cấp và phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn và các điều kiện thựcthi quyền hạn ở các cấp quản lý giáo dục từ Trung ương đến địa phương
Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục Thông qua xây dựng hệ thống liên
thông giữa các lớp, cấp, bậc học trong toàn hệ thống, kể cả đối với hệ chínhquy và phương thức giáo dục không chính quy Đối với giáo dục phổ thôngcần quán triệt nguyên lý giáo dục toàn diện, bảo đảm chuẩn mực ở từng cấp,bậc học Trong giáo dục nghề nghiệp cần sớm hình thành hệ thống giáo dục
kỹ thuật- nghề nghiệp thống nhất bao gồm các loại hình đào tạo, đào tạo nghềngắn hạn, đào tạo công nhân, nhân viên kỹ thuật- nghiệp vụ sơ cấp, trung họcnghề…Với giáo dục đại học và sau đại học cần nghiên cứu và sắp xếp lại hệthống này với mục đích sao cho hệ thống này gọn, tinh và là hệ thống giáodục có trình độ học vấn và chuyên môn cao nhất ở nước ta
Đổi mới công tác quản lý cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên Đây là
nội dung rất quan trọng trong công tác đổi mới nâng cao hiệu quả công tác
Trang 10quản lý giáo dục Nội dung chủ yếu tập trung vào việc quy hoạch phát triểnđội ngũ giáo viên sao cho đồng bộ về cơ cấu, đủ các loại hình giáo viên; đảmbảo số lượng và chất lượng, cân đối về trình độ, có tính đến yếu tố ưu tiênvùng, miền nơi khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số Làm tốtcông tác tuyển chọn và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên.
Tiếp tục tăng cường đầu tư cho giáo dục Bởi đầu tư cho giáo dục là
đầu tư cho phát triển, vấn đề này đã được ghi tại điều 36, Hiến pháp năm2013: “Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tưkhác” Nghị quyết Trung ương lần thứ 2 (Khoá VIII) cũng đã chỉ rõ: “Đầu tưcho giáo dục là đầu tư cho phát triển” Tại Hội nghị Trung ương 6 (Khoá IX)
đã kết luận: “Ngân sách chi cho giáo dục và đào tạo đạt 18% tổng chi ngânsách năm 2015, 20% tổng chi ngân sách năm 2020 Tốc độ tăng chi ngân sáchgiáo dục hàng năm cao hơn tăng chi ngân sách” Để tăng cường hiệu quả củađầu tư cho giáo dục, cần thiết lập cơ chế phân cấp quản lý nhà nước về tàichính Nâng cao chất lượng các hoạt dộng kiểm soát, giám sát tài chính thôngqua công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, kiểm định, công nhận chất lượngđồng thời tăng cường quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về nguồn tài chínhcho địa phương và các cơ sở giáo dục và đào tạo
Đổi mới quản lý chất lượng giáo dục Chất lượng giáo dục không chỉ
dừng lại ở kết quả của quá trình dạy và học trong nhà trường với những điềukiện bảo đảm nhất định như cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên…mà còn tínhđến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp với thị trường laođộng đòi hỏi về phẩm chất, đạo đức, tác phong công nghiệp, năng lực hànhnghề tại các vị trí làm việc cụ thể ở các doanh nghiệp, cơ quan, các tổ chứcsản xuất- dịch vụ…Do vậy, trong đổi mới quản lý chất lượng giáo dục cần:Xây dựng và sớm hoàn thiện hệ thống đánh giá và đảm bảo chất lượng chocác cấp học, bậc học và các loại hình đào tạo Đảm bảo cho người học đượchưởng một nền giáo dục toàn diện, hình thành những giá trị nhân cách, phẩm
Trang 11chất, kỹ năng, thái độ và kiến thức để thực hiện tốt vị trí xã hội và nghềnghiệp mà mình đảm nhiệm Quản lý chất lượng giáo dục là quản lý toàn diệncác hoạt động giáo dục, trong đó là trọng tâm quản lý quá trình dạy và học,gắn quá trình dạy học của nhà trường và cơ sở giáo dục với thực tiễn pháttriển kinh tế- xã hội làm cho người học thích ứng với thị trường sức lao dộngluôn có tính biến đổi và có tính năng động cao Tăng cường công tác kiểmđịnh, kiểm tra, thanh tra chất lượng giáo dục thông qua xây dựng các bộ tiêuchí đánh giá chất lượng giáo dục cho từng cấp học, bậc học, cho từng ngànhnghề và tạo điều kiện cho các trường, các cơ sở giáo dục xây dựng thươnghiệu và tự khẳng định chất lượng giáo dục đối với xã hội, và được thị trườngchấp nhận.
Đổi mới kiểm tra, thanh tra giáo dục Tập trung vào kiểm tra, thanh tra
công tác quản lý chuyên môn; thanh tra công tác quản lý nhân sự ;thanh tracông tác quản lý tài chính, tài sản; thanh tra đánh giá, phân loại giáo viên và
cơ sở giáo dục; thanh tra thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
1.2 Phương hướng, biện pháp đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý giáo dục ở các nhà trường quân đội hiện nay.
Các nhà trường quân sự là một bộ phận nằm trong hệ thống giáo dụcquốc dân Với chức năng đào tạo cán bộ theo chức vụ, có học vấn tương ứng;đào tạo hạ sỹ quan, nhân viên chuyên môn kỹ thuật có tay nghề thực hành caocung cấp cho toàn quân Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Trung
ương 2 (khoá VIII) về giáo dục và đào tạo; Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ
IX, X và Nghị quyết số 93/ ĐUQSTƯ của Đảng uỷ Quân sự Trung ương về
tiếp tục đổi mới công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn, kỹ thuật và xây dựng trường chính quy, công tác giáo dục- đào tạo trong quân
đội đã có bước phát triển vượt bậc, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội nhândân Việt Nam ngày càng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiệnđại Đóng góp vào thành tích chung đó không thể không nói đến vai trò của
Trang 12công tác quản lý giáo dục- đào tạo trong quân đội, bởi các nhà trường quân sự
đã thấm nhuần sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng Trên cơ sở quán triệt,thực hiện nghiêm túc Chiến lược phát triển giáo dục đã từng bước đổi mớicông tác giáo dục- đào tạo, quan tâm đến công tác quản lý giáo dục từ việccủng cố hệ thống các nhà trường quân đội, hình thành các bậc học, ngành học
để đáp ứng yêu cầu cơ bản về đào tạo cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuậtcho quân đội
Các cơ quan công tác trong các nhà trường cũng được củng cố, kiệntoàn từ Bộ đến các cấp quản lý trường
Công tác quản lý, điều hành quá trình đào tạo và các mặt khác của cáctrường dần đi vào nền nếp, các văn bản quy định, quy chế về quản lý giáodục- đào tạo được xây dựng và ngày càng hoàn thiện, đầy đủ hơn
Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục bước đầu được kiện toàn, củng cố, đàotạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nhất là trình độ quản lý
Phương tiện kỹ thuật nhất là công nghệ thông tin phục vụ công tác quản
lý ngày càng được quan tâm đầu tư, nâng cấp
Tuy nhiên, so với yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tìnhhình mới và xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bướchiện đại trong công tác quản lý giáo dục- đào tạo cần nhanh chóng khắc phụcnhững thiếu sót như:
Hệ thống nhà trường quân đội còn có sự phân tán, khép kín nhất là cáctrường sơ cấp chuyên môn, kỹ thuật; chưa hình thành được những trung tâmđào tạo và nghiên cứu khoa học mạnh; chưa tận dụng thế mạnh và kết quả đàotạo của các trường dân sự trong công tác đào tạo cán bộ, nhân viên kỹ thuậtcho quân đội
Chậm bổ sung các chương trình chuẩn cho từng cấp học, bậc học vàngành học Phương pháp đào tạo còn giản đơn, nặng về truyền thụ lý thuyết,nguồn thông tin khoa học hạn hẹp