TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA HÓA HỌC -------- HOÀNG THỊ HUYỀN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM HÓA HỌC THÔNG QUA DẠY HỌC CHƯƠNG “LIÊN KẾT VÀ CẤU TRÚC TRO
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
HOÀNG THỊ HUYỀN
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN
SƯ PHẠM HÓA HỌC THÔNG QUA DẠY HỌC CHƯƠNG
“LIÊN KẾT VÀ CẤU TRÚC TRONG CÁC HỆ NGƯNG TỤ”,
HỌC PHẦN HÓA HỌC ĐẠI CƯƠNG 1
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Hóa học Vô cơ
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
HOÀNG THỊ HUYỀN
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN
SƯ PHẠM HÓA HỌC THÔNG QUA DẠY HỌC CHƯƠNG
“LIÊN KẾT VÀ CẤU TRÚC TRONG CÁC HỆ NGƯNG TỤ”,
HỌC PHẦN HÓA HỌC ĐẠI CƯƠNG 1
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Hóa học Vô cơ
Người hướng dẫn khoa học
ThS NGUYỄN THỊ THU LAN
HÀ NỘI – 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân
thành nhất tới ThS Nguyễn Thị Thu Lan người đã tận tình, giúp đỡ, động viên và
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy (cô) giáo trong khoa Hóa học đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn các em sinh viên lớp K44 Sư phạm Hóa học, trường ĐHSP Hà Nội 2 đã giúp tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện về vật chất và tinh thần để tôi hoàn thiện được khóa luận của mình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do điều kiện thời gian và trình độ còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Hoàng Thị Huyền
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
5 Giả thuyết nghiên cứu 2
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Đóng góp mới của đề tài 3
9 Cấu trúc khóa luận 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Một số kết quả nghiên cứu về phát triển năng lực tự học cho học sinh, sinh viên trên thế giới 5
1.1.2 Một số kết quả nghiên cứu về phát triển năng lực tự học cho học sinh, sinh viên ở Việt Nam 6
1.2 Cơ sở lí luận về năng lực và năng lực tự học 7
1.2.1 Cơ sở lí luận về năng lực 7
1.2.2 Năng lực tự học 11
1.3 Một số phương pháp dạy học tích cực sử dụng trong dạy học chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ”, học phần Hóa học đại cương 1 ở Khoa Hóa học, trường ĐHSP Hà Nội 2 13
1.3.1 Phương pháp nghiên cứu [24] 13
1.3.2 Phương pháp seminar [13] 14
1.3.3 Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề 17
1.3.4 Sử dụng bài tập hóa học theo hướng dạy học tích cực 22
1.4 Thực trạng việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ” nhằm phát triển năng lực tự học cho sinh viên Sư phạm Hoá học ở trường ĐHSP Hà Nội 2 23
Trang 6CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM HÓA HỌC THÔNG QUA DẠY HỌC CHƯƠNG “LIÊN KẾT VÀ
CẤU TRÚC TRONG CÁC HỆ NGƯNG TỤ” 25
2.1 Phân tích mục tiêu, nội dung kiến thức chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ” 25
2.1.1 Mục tiêu kiến thức của chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ” 25
2.1.2 Đặc điểm nội dung kiến thức của chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ” 26
2.2 Xây dựng tài liệu tự học cho sinh viên trong dạy học chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ” 26
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng tài liệu tự học 26
2.2.2 Quy trình xây dựng tài liệu tự học 27
2.2.3 Qui trình xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo module 27
2.2.4 Một số tài liệu tự học 28
2.3 Sử dụng tài liệu tự học nhằm phát triển năng lực tự học cho sinh viên Sư phạm Hoá học ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 29
2.3.1 Sử dụng tài liệu tự học theo phương pháp nghiên cứu 29
2.3.2 Xây dựng và sử dụng website "tuhochoadaicuong.com” hỗ trợ việc phát triển năng lực tự học cho sinh viên 31
2.4 Áp dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ” để phát triển năng lực tự học cho sinh viên 31
2.4.1 Xây dựng kế hoạch bài học theo hướng phát triển năng lực tự học cho sinh viên 31
2.4.2 Xây dựng kế hoạch bài học theo phương pháp nghiên cứu 33
2.4.3 Xây dựng kế hoạch bài học theo phương pháp giải quyết vấn đề 37
2.5 Cấu trúc năng lực tự học của sinh viên đại học 42
2.5.1 Các năng lực thành tố và biểu hiện năng lực tự học của sinh viên đại học 42
2.5.2 Các mức độ đánh giá năng lực tự học của sinh viên đại học 43
Trang 72.6 Xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực tự học của sinh viên Sư phạm Hóa học thông qua dạy học chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng
tụ” 46
2.6.1 Yêu cầu bộ công cụ đánh giá năng lực 46
2.6.2 Quy trình xây dựng và đánh giá bộ công cụ đánh giá năng lực tự học của sinh viên 46
2.6.3 Xây dựng bộ công cụ đánh giá sự phát triển năng lực tự học của sinh viên 46
2.6.4 Xây dựng bộ công cụ đánh giá sự phát triển năng lực tự học của sinh viên thông qua kế hoạch bài học số 1 và số 2 50
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 51
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm (TNSP) 51
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 51
3.2.1 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 51
3.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 51
3.3.1 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 51
3.3.2 Quy trình thực nghiệm sư phạm 52
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 53
3.4.1 Cách xử lý và đánh giá kết quả thực nghiệm 53
3.4.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm 55
3.4.3 Độ tin cậy của thang đo 60
3.5 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 60
3.5.1 Phân tích kết quả về mặt định tính 60
3.5.2 Phân tích định lượng kết quả thực nghiệm sư phạm 61
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 1
Trang 8Nghiên cứu quá trình học tập ở trường đại học, học tập theo học chế tín chỉ đặt ra yêu cầu rất cao đối với người học Trong học chế tín chỉ đòi hỏi SV phải làm chủ được thời gian, trong đó thời gian cho tự học là chủ yếu Tự học, tự nghiên cứu
để tích lũy kiến thức, rèn luyện các kĩ năng học tập, kĩ năng thí nghiệm, kĩ năng thực hành nghề nghiệp đặc biệt là đối với hóa học - môn học vừa lý thuyết, vừa thực nghiệm là những yêu cầu quan trọng và hết sức cần thiết đối với SV ngành Sư phạm Hóa học
Mục“tiêu quan trọng nhất của việc dạy học đại học là dạy cách học cho SV, trang bị phương pháp (PP) và kĩ năng cơ bản để tăng cường khả năng tự học, học tập suốt đời Nhờ vào PP tự học, tự nghiên cứu, SV sau khi ra trường sẽ có đủ khả năng để tự làm giàu vốn tri thức của mình, phục vụ tốt hơn cho hoạt động thực tiễn Đây là yêu cầu rất quan trọng đối với SV sư phạm nhằm giúp họ hòa nhập với sự phát triển của giáo dục, thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học ở trường phổ thông
Thực tiễn cho thấy, chất lượng đào tạo của giáo dục nghề nghiệp đại học còn thấp, tình trạng người học thiếu cố gắng trong học tập khá phổ biến; tinh thần hợp tác, khả năng sáng tạo, năng lực thí nghiệm thực hành, giải quyết độc lập các vấn đề còn lúng túng Việc rèn luyện, bồi dưỡng và phát triển NLTH, tự nghiên cứu cho
SV Sư phạm Hóa học phải dựa trên những cơ sở lí luận và thực tiễn phù hợp mới mang lại hiệu quả mong muốn
Việc áp dụng các phương pháp dạy học (PPDH) tích cực trong dạy học học phần Hóa học đại cương 1 kết hợp sử dụng các thiết bị dạy học có vai trò quan trọng để phát triển NLTH của SV Trong chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ
Trang 9ngưng tụ” có những nội dung có thể áp dụng các PPDH tích cực để nâng cao NLTH, tự nghiên cứu cho SV.”
Vì thế em đã chọn đề tài: Phát triển năng lực tự học cho sinh viên Sư phạm
Hóa học thông qua dạy học chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ”, học phần hóa học đại cương 1 góp phần phát triển NLTH của SV và nâng cao chất
lượng đào tạo của Khoa ta
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số PPDH tích cực nhằm phát triển NLTH cho SV Sư phạm Hoá học ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 thông qua dạy học chương “Liên kết
và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ”, học phần HHĐC1
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
-“Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề phát triển NLTH cho SV ĐHSP
- Nghiên cứu đề xuất định hướng, nguyên tắc một số PPDH tích cực phát triển NLTH cho SV ĐHSP
- Nghiên cứu quy trình xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
- Thực nghiệm sư phạm (TNSP) nhằm xác định hiệu quả và khả thi của các PPDH tích cực đã đề xuất.”
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học (DH) chương “Liên kết và cấu
trúc trong các hệ ngưng tụ”, học phần HHĐC1 ở Khoa Hóa học, trường ĐHSP Hà Nội 2
- Đối tượng nghiên cứu: Một số PPDH tích cực nhằm phát triển NLTH cho
SV SP Hóa học thông qua DH chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ”, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở Khoa Hóa học, trường ĐHSP Hà Nội 2.”
5 Giả thuyết nghiên cứu
“Nếu sử dụng có hiệu quả một số PPDH tích cực chủ yếu: PP nghiên cứu, PP seminar, PP giải quyết vấn đề, PP sử dụng bài tập hóa học theo hướng tích cực, kết hợp với một số PPDH phù hợp khác có sự hỗ trợ của các thiết bị dạy học (máy tính, máy chiếu, máy ảnh, ) trong DH chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ
Trang 10ngưng tụ” thì sẽ phát triển được NLTH của SV Khoa Hóa học, trường ĐHSP Hà Nội 2.”
7 Phương pháp nghiên cứu
Sử“dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- PP nghiên cứu lí luận:
+ Các vấn đề có liên quan đến NLTH và phát triển NLTH cho SV
+ Một số PPDH tích cực nhằm phát triển NLTH cho SV
- PP nghiên cứu thực tiễn:
+ Điều tra thực trạng việc sử dụng các PPDH tích cực trong DH chương
“Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ”, học phần HHĐC1 ở Khoa Hóa học, trường ĐHSP Hà Nội 2
+ Nội dung chương trình chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ”, học phần HHĐC1
+ TNSP về các PPDH tích cực phát triển NLTH đã đề xuất
- PP thống kê toán học xử lí kết quả thực nghiệm (TN): Sử dụng phần mềm SPSS để xử lí số liệu TN.”
8 Đóng góp mới của đề tài
-“Tổng quan một cách hệ thống các cơ sở lí luận có liên quan đến NLTH và phát triển NLTH cho SV: Các khái niệm năng lực, NLTH, một số biểu hiện của NLTH, cách kiểm tra đánh giá NLTH, một số PPDH tích cực góp phần phát triển NLTH cho SV như: PP nghiên cứu, PP seminar, PP giải quyết vấn đề, PP sử dụng bài tập hóa học theo hướng tích cực
- Nghiên cứu và đề xuất cụ thể 2 PPDH tích cực nhằm phát triển NLTH cho
SV Khoa Hóa học, trường ĐHSP Hà Nội 2: PP nghiên cứu, PP giải quyết vấn đề
Trang 11- Lựa chọn nội dung và thiết kế kế hoạch bài học (KHBH) minh họa cho 2 PPDH tích cực trên Kết quả TNSP bước đầu chứng tỏ việc áp dụng các PPDH tích cực để phát triển NLTH cho SV Khoa Hóa học, trường ĐHSP Hà Nội 2 là khả thi
và hiệu quả.”
9 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài (20 trang)
Chương 2: Phát triển năng lực tự học cho sinh viên Sư phạm Hóa học thông qua dạy học chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ” (27 trang)
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm (17 trang)
Trang 12+ Tác giả Montaigne từng khuyên rằng: “Tốt hơn là ông thầy để cho học trò
tự học, tự đi lên phía trước, nhận xét bước đi của họ, đồng thời giảm bớt tốc độ của thầy cho phù hợp với sức học của trò” [24]
+“Nhà tâm lý học Mỹ Carl Roger đã viết cuốn "Phương pháp dạy và học
hiệu quả", trong đó trình bày chi tiết, tỉ mỉ với dẫn chứng minh họa và thực nghiệm
về các phương pháp dạy học để hình thành khả năng tự học cho người học như: Cung cấp tài liệu, dùng bảng giao ước, chia nhóm dạy học, hướng dẫn cho người học cách nghiên cứu tài liệu, tự xem xét nguồn tài liệu, tự hoạch định mục tiêu, tự đánh giá việc học của mình [27]
+ Ngoài ra, công trình nghiên cứu “Tổ chức công việc tự học của sinh viên
đại học”, NXB ĐHSP Hà Nội của A.A Goroxepxki - M.I.Lubixowra (1987) cũng
đánh giá cao vai trò tự học, kĩ năng tự học của sinh viên (SV) [25].”
Từ thế kỷ XVII, các nhà giáo dục trên thế giới như: J.A Comensky 1670), G.Brousseau (1712-1778), J.H Pestalozzi (1746-1872), A.Disterweg (1790-1866) trong các công trình nghiên cứu của mình đều rất quan tâm đến sự phát triển trí tuệ, tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh và nhấn mạnh phải khuyến khích người học giành lấy tri thức bằng con đường tự khám phá, tìm tòi và suy nghĩ trong quá trình học tập Các nhà giáo dục Xô Viết cũng đã khẳng định vai trò và tiềm năng
(1592-to lớn của hoạt động tự học trong giáo dục nhà trường Nhiều nhà giáo dục ở Châu Á cũng đã quan tâm đến lĩnh vực tự học của học sinh Nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật, ông T Makiguchi đã trình bày những tư tưởng giáo dục mới trong tác phẩm
“Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” Ông cho rằng giáo dục có thể coi là quá trình
hướng dẫn tự học mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng Trước những thách thức mới của
Trang 13bản báo cáo phân tích nhiều khía cạnh học tập trong xã hội tương lai, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò người học, cách học cần phải được dạy cho thế hệ trẻ [6]
1.1.2 Một số kết quả nghiên cứu về phát triển năng lực tự học cho học sinh, sinh viên ở Việt Nam
Vấn“đề tự học ở Việt Nam cũng được chú ý từ lâu Ngay từ thời kỳ phong kiến, giáo dục chưa phát triển nhưng đất nước vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất Những nhân tài đó, bên cạnh yếu tố được những ông đồ tài giỏi dạy dỗ, thì yếu tố quyết định đều là tự học của bản thân Cũng chính vì vậy mà người ta coi trọng việc
tự học, nêu cao những tấm gương tự học thành tài Nhưng nhìn chung, lối giáo dục
còn rất hạn chế “người học tìm thấy sự bắt chước, đúng mà không cần độc đáo,
người học học thuộc lòng …”
Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, mặc dù nền giáo dục Âu Mỹ rất phát triển nhưng nền giáo dục nước ta vẫn chậm đổi mới Vấn đề tự học không được nghiên cứu và phổ biến, song thực tiễn lại xuất hiện nhu cầu tự học rất cao trong nhiều tầng lớp xã hội
Vấn đề tự học thực sự được phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng vừa nêu tấm gương về tinh thần và phương pháp dạy học Người từng nói:
“còn sống thì còn phải học” và cho rằng: “về cách học phải lấy tự học làm cốt” Có
thể nói tự học là một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh về phương pháp học tập Những lời chỉ dẫn quý báu và những bài học kinh ngiệm sâu sắc rút ra từ chính tấm gương tự học bền bỉ và thành công của Người cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.”
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, tư tưởng về tự học đã được nhiều tác giả trình bày trực tiếp và gián tiếp trong các công trình tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn Một số công trình tiêu biểu là: Nguyễn Cảnh Toàn
(1995), Luận bàn và kinh nghiệm về tự học, Trần Kiều, Nguyễn Bá Kim, Thái Duy
Tuyên, Bùi Văn Nghị,… GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về
tự học ở nước ta Từ một giáo viên trung học (1947), chỉ bằng con đường tự học, tự nghiên cứu ông đã trở thành nhà toán học nổi tiếng Không chỉ nghiên cứu khoa học
cơ bản, ông còn có nhiều công trình, bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề tự
học Ông cho rằng: “Học bao giờ cũng gắn với tự học, tự rèn luyện để biến đổi
nhân cách của mình Người dạy giỏi là người dạy cho học sinh biết cách tự học, tự nghiên cứu, tự giáo dục” [23]
Trang 14Bước vào thời kì đổi mới hiện nay, việc tự học nói chung và vấn đề tự học của SV nói riêng ngày càng được quan tâm và nghiên cứu vì vai trò quan trọng của
tự học trong quá trình dạy và học theo hướng đổi mới lấy người học là trung tâm
Chúng ta có thể tham khảo bài viết của Nguyễn Nghĩa Dán “Vì năng lực tự học
sáng tạo của học sinh” (Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 2/1998); hay Giáo sư
Cao Xuân Hạo đã có những phân tích thấu đáo và ý kiến sâu sắc trong bài “Bàn về
chuyện tự học” (Kiến thức ngày nay, số 396, năm 2001) Và giảng viên (GV) ở các
trường đại học cũng có những nghiên cứu để giúp dần đưa việc tự học thành một hoạt động không thể thiếu trong quá trình dạy và học hiện nay (Diệp Thị Thanh,
trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng với bài “Phương pháp Tự học - Cầu
nối giữa học tập và Nghiên cứu Khoa học”) Tự học là vấn đề quan trọng và cần
thiết hiện nay đối với SV Ngoài ra còn một số tác giả nghiên cứu vấn đề tự học và năng lực tự học cho SV như:
1 Lê Khánh Bằng (1998), Tổ chức phương pháp tự học cho sinh viên Đại
học, Đại học sư phạm Ngoại ngữ
2 TS Dương Huy Cẩn (2012), Bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên
ngành sư phạm Hóa học trường ĐH Đồng Tháp, Đề tài KH và CN cấp cơ sở
3 Võ Quang Phúc (2001), Một số vấn đề tự học, Trường Cán bộ Quản lý
Giáo dục - Đào tạo II, TP Hồ Chí Minh
Mặc dù, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề tự học và NLTH cho học sinh và SV nhưng các tác giả vẫn chưa nghiên cứu về phát triển NLTH cho SV thông qua dạy học cụ thể một môn học
1.2 Cơ sở lí luận về năng lực và năng lực tự học
1.2.1 Cơ sở lí luận về năng lực
1.2.1.1 Khái niệm về năng lực
Theo quan điểm của các nhà tâm lí học: Năng lực (NL) là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao [3] Các NL hình thành trên cơ sở của các chất tự nhiên của cá nhân mới đóng vai trò quan trọng NL của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do quá trình công tác và tập luyện
Trang 151.2.1.2 Một số đặc điểm của năng lực
NL là sự đề cập tới“xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ thể, do một người cụ thể thực hiện (NL học tập, NL tư duy, NL tự quản lí bản thân,…) nên không tồn tại NL chung chung [2].”
NL“là đề cập đến sự tác động của một cá nhân cụ thể tới một đối tượng cụ thể (kiến thức, quan hệ xã hội,…) để có một sản phẩm nhất định, do đó có thể phân biệt người này với người khác NL và các thành tố của nó không bất biến mà có thể thay đổi từ NL sơ đẳng, thụ động tới NL bậc cao mang tính tự chủ cá nhân Vì vậy,
để xem xét NL của một cá nhân nào đó chúng ta không chỉ nhằm tìm ra cá nhân đó
có những thành tố NL nào mà còn chỉ ra mức độ của NL đó Đỉnh cao nhất của NL
cá nhân là cá nhân có thể tự chủ trong mọi hoạt động Khả năng đó là nền tảng khi
cá nhân ra quyết định đồng thời giúp cá nhân có thể hành động dựa trên tư duy phê phán và tiếp cận tích hợp hoàn thiện Các thành tố của NL thường đa dạng vì chúng được quyết định tùy theo yêu cầu kinh tế xã hội và đặc điểm văn hóa quốc gia, dân tộc, địa phương
NL là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể NL chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của hoạt động cụ thể Vì vậy, NL vừa là mục tiêu, vừa
là kết quả hoạt động, nó là điều kiện của hoạt động, nhưng cũng phát triển hoạt động đó NL được hình thành và phát triển trong và ngoài nhà trường Nhà trường được coi là môi trường chính thức giúp SV có được những NL cần thiết nhưng đó không phải là nơi duy nhất để hình thành và phát triển NL mà còn là gia đình, cộng đồng, phương tiện thông tin đại chúng, tôn giáo và môi trường văn hóa,… là những nhân tố quan trọng để hoàn thiện NL cá nhân NL được hình thành và phát triển liên tục trong suốt cuộc đời con người, vì sự phát triển NL thực chất là làm thay đổi cấu trúc nhận thức và hành động cá nhân chứ không chỉ đơn thuần là sự bổ sung các mảng kiến thức, kĩ năng riêng rẽ Do đó, NL có thể bị yếu dần nếu chúng ta không rèn luyện tích cực và thường xuyên
NL có thể quan sát được thông qua hoạt động của cá nhân ở một tình huống
cụ thể
NL tồn tại dưới hai hình thức NL chung và NL chuyên biệt NL chung là NL cần thiết để cá nhân có thể tham gia hiệu quả vào nhiều hoạt động và bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội NL này cần thiết cho tất cả mọi người NL chuyên biệt chỉ cần thiết với một số người hoặc cần thiết ở một số tình huống nhất định.”
Trang 161.2.1.3 “ Cấu trúc của năng lực
Các thành phần cấu trúc của NL theo quan điểm của các nhà sư phạm Đức:
1.2.1.4 Các năng lực cần phát triển cho sinh viên Sư phạm hoá học [1]
Hóa học là một môn khoa học vừa lí thuyết, vừa thực nghiệm nên cần phát triển cho SV các NL sau:
- Năng lực tính toán hóa học
- Năng lực thực hành hóa học
- Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn hóa học
- Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống
1.2.1.5 Đánh giá năng lực
Theo“quan điểm phát triển NL, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá Đánh giá kết quả học tập theo NL cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau Đánh giá kết quả học tập đối với các môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và sau cấp học là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy học, có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập của SV Hay nói cách khác, đánh giá theo NL là đánh giá kiến thức,
kỹ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa [2].”
Có thể tổng hợp một số dấu hiệu khác biệt cơ bản giữa đánh giá NL người học và đánh giá kiến thức, kỹ năng của người học như sau:
Tiêu chí so sánh Đánh giá năng lực Đánh giá kiến thức,
Trang 17quyết vấn đề thực tiễn của cuộc sống
- Vì sự tiến bộ của người học so với chính họ
dục
- Đánh giá, xếp hạng giữa những người học với nhau
2 Ngữ cảnh đánh giá - Gắn với ngữ cảnh học
tập và thực tiễn cuộc sống của SV
- Gắn với nội dung học tập (những kiến thức, kỹ năng, thái độ) được học trong nhà trường
3 Nội dung đánh giá - Những kiến thức, kỹ
năng, thái độ ở nhiều môn học, nhiều hoạt động giáo dục và những trải nghiệm của bản thân SV trong cuộc sống xã hội (tập trung vào NL thực hiện)
- Quy chuẩn theo các mức
độ phát triển NL của người học
- Những kiến thức, kỹ năng, thái độ ở một môn học
- Quy chuẩn theo việc người học có đạt được hay không một nội dung đã được học
4 Công cụ đánh giá Nhiệm vụ, bài tập trong
tình huống, bối cảnh thực
- Câu hỏi, bài tập, nhiệm
vụ trong tình huống hàn lâm hoặc tình huống thực
5 Thời điểm đánh giá - Đánh giá mọi thời điểm
của quá trình dạy học, chú trọng đến đánh giá trong khi học
- Thường diễn ra ở những thời điểm nhất định trong quá trình dạy học, đặc biệt
là trước và sau khi dạy
Trang 181.2.2 Năng lực tự học
1.2.1.1 Khái niệm tự học
Theo tài liệu “Học và dạy cách học” của tác giả Nguyễn Cảnh Toàn viết:
“Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính bản thân người học tiến hành trên lớp, theo hoặc không theo quy trình sách giáo khoa đã được quy định Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học nhưng nó có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân” [23]
Theo tài liệu “Quá trình dạy - tự học” của tác giả Nguyễn Cảnh Toàn viết
“Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cá nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có tính tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [22]
Theo từ điển giáo dục học - NXB Từ điển Bách khoa 2001: “Tự học là quá
trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khóa học và rèn luyện kĩ năng hực hành”
Như vậy, tự học là hoạt động do bản thân người học quyết định thực hiện và điều chỉnh một cách tự giác, tích cực nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra
1.2.2.2 Khái niệm năng lực tự học
Năng“lực tự học (NLTH) là tổng thể các NL cá thể, NL chuyên môn, NL
phương pháp và NL xã hội của người học tác động đến nội dung học trong những tình huống cụ thể nhằm đạt mục tiêu (bằng khả năng trí tuệ và vật chất, thái độ, động cơ, ý chí của người học) chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo [25].”
1.2.2.3 Đặc điểm của người có năng lực tự học
Tác giả Taylor [Tay lor, B (1995), Self- directed Learning: Revisiting an idea
most appropriare for middle school students] khi nghiên cứu“về vấn đề tự học của học sinh trong trường phổ thông đã xác định NLTH có những biểu hiện sau:
- Thái độ: Chịu trách nhiệm với việc học tập của bản thân; Dám đối mặt với những thách thức; Mong muốn được học; Mong muốn được thay đổi
- Tính cách: Có động cơ học tập; Chủ động thể hiện kết quả học tập; Độc lập; Có tính kỉ luật; Tự tin; Hoạt động có mục đích; Thích học; Tò mò ở mức độ
Trang 19- Kĩ năng: Có kĩ năng thực hiện hoạt động học tập; Có kĩ năng quản lí thời gian học tập; Lập kế hoạch
Taylor“đã xác nhận người tự học là người có động cơ học tập và bền bỉ, có tính độc lập, kỉ luật, tự tin và biết định hướng mục tiêu, có kỹ năng hoạt động phù hợp Thông qua mô hình trên tác giả đã phân tích ra có ba yếu tố cơ bản của người
tự học, đó là thái độ, tính cách và kỹ năng Có thể nhận thấy, sự phân định đó để nhằm xác định rõ ràng những biểu hiện tư duy của bản thân và khả năng hoạt động trong thực tế chứ không đơn thuần chỉ đề cập đến khía cạnh tâm lí của người học
NLTH cũng là một khả năng, một phẩm chất “vốn có” của mỗi cá nhân Tuy
nhiên nó luôn luôn biến đổi tùy thuộc vào hoạt động của cá nhân trong môi trường văn hóa - xã hội NLTH là khả năng bẩm sinh của mỗi người nhưng phải được đào tạo, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn thì nó mới bộc lộ được những ưu điểm giúp cho cá nhân phát triển, nếu không sẽ mãi là khả năng tiềm ẩn Thời gian mỗi chúng
ta ngồi trên ghế nhà trường là rất ngắn ngủi so với cuộc đời vì vậy tự học và NLTH của học sinh, SV sẽ là nền tảng cơ bản đóng vai trò quyết định đến sự thành công của các em trên con đường phía trước và đó cũng chính là nền tảng để các em tự học suốt đời.”
1.2.2.4 Cấu trúc của năng lực tự học
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã mô tả NLTH gồm 3 NL thành
phần với các biểu hiện của NLTH [3]
Bảng 1.1 Bảng mô tả cấu trúc của năng lực tự học
Năng lực thành phần Biểu hiện của năng lực
a) Xác định mục tiêu học tập Xác định nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả đã
đạt được, đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, khắc phục những khía cạnh còn yếu kém b) Lập kế hoạch và thực hiện cách
học
Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học tập riêng của bản thân; tìm được nguồn tài liệu phù hợp với các mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau; thành thạo sử dụng thư viện, chọn các tài liệu và làm thư mục phù hợp với từng chủ đề học tập của các bài tập khác nhau; ghi chép thông tin đọc được bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi
Trang 20cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết; tự đặt được vấn đề học tập
c) Đánh giá và điều chỉnh việc học Tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn
chế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm để
có thể vận dụng vào các tình huống khác; biết
tự điều chỉnh cách học
1.3 Một số phương pháp dạy học tích cực sử dụng trong dạy học chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ”, học phần Hóa học đại cương 1 ở Khoa Hóa học, trường ĐHSP Hà Nội 2
1.3.1 Phương pháp nghiên cứu [24]
1.3.1.1 Khái niệm
PP“nghiên cứu là PP trong đó SV không tiếp thu kiến thức đã được chuẩn bị
mà phải tự giành lấy kiến thức qua tư duy độc lập, tích cực, sáng tạo có tính chất sinh sản và không chỉ hướng vào việc nắm vững kiến thức mà cả PP đi tới kiến thức đó
GV nêu tên đề tài nghiên cứu, giải thích rõ mục đích nghiên cứu rồi tổ chức cho SV tự nghiên cứu đề tài đó Trong quá trình nghiên cứu GV quan sát theo dõi
và giúp đỡ khi cần thiết
PP nghiên cứu thường được áp dụng, để giúp SV phát hiện một tính chất mới, hoặc dẫn tới một khái niệm mới…gọi là PP nghiên cứu từng phần Nó cũng có thể áp dụng để nghiên cứu một nội dung hoặc một vấn đề trọn vẹn dưới dạng bài tập nghiên cứu.”
1.3.1.2 “ Quy trình thực hiện
Các bước tiến hành phương pháp nghiên cứu:
- Bước 1: Đặt vấn đề, xác định mục đích nghiên cứu
- Bước 2: Lập kế hoạch nghiên cứu
+ Đề xuất các giả thuyết
+ Lập kế hoạch giải theo giả thuyết
- Bước 3: Thực hiện kế hoạch giải theo giả thuyết
Trang 21- Bước 4: Kết luận về kết quả nghiên cứu”
1.3.1.3 “ Ưu điểm và hạn chế
*Ưu điểm
- Tạo được khả năng tư duy độc lập, sáng tạo cho SV
- Phát triển, mở rộng được tri thức lí thuyết và kĩ năng thực hành có thể áp dụng cho các môn học khác nhau
-“Seminar là một dạng hội thảo, nghiên cứu chuyên đề, có thể hiểu đơn giản
là một hình thức học tập mà trong đó một SV hay một nhóm SV được giao chuẩn bị trước một hay một số vấn đề nhất định thuộc môn học, sau đó trình bày trước nhóm (lớp) và thảo luận về vấn đề đã tự tìm hiểu được dưới sự hướng dẫn của một GV rất
am hiểu về lĩnh vực đó PP này giúp cho người học chủ động hoàn toàn từ khâu chuẩn bị tài liệu, trình bày nội dung đưa dẫn chứng, trao đổi, thảo luận với các thành viên khác và cuối cùng tự rút ra nội dung bài học về vấn đề khoa học cũng như đề xuất các ý kiến để mở rộng nội dung
- Như vậy các đặc trưng sư phạm của seminar là:
+ Loại hình: Hình thức tổ chức dạy học ở các bậc đại học
+ Hoạt động cơ bản: Thảo luận
+ Nội dung: Các vấn đề khoa học
+ Đặc điểm tổ chức: Có sự điều khiển của GV.”
Trang 22chương trình môn học, gây được hứng thú sáng tạo, nghiên cứu của SV; SV chọn trong phạm vi đề tài GV thống kê, hoặc tự đề xuất
+ Phân công nhóm thuyết trình: SV xung phong kết hợp với sự chỉ định của
GV sao cho có đồng đều ba loại SV trung bình, khá, giỏi
+ Nghiên cứu tài liệu (hoặc thực tiễn): Tất cả SV đều thực hiện, GV có gợi ý, hướng dẫn và nêu những điểm cần chú ý
+ Viết bài thuyết trình: GV gợi ý cấu trúc, độ dài và hình thức trình bày (dạng đề cương chứ không phải báo cáo hoàn chỉnh) Bài thuyết trình tránh sao chép lại nguyên văn giáo trình mà phải có sự tổng hợp, khái quát, đối chiếu so sánh nhất định giữa các tài liệu (quan điểm); phải có ý kiến riêng của SV; GV không cần đọc duyệt bài thuyết trình, để cho SV tập bảo vệ quan điểm của mình; phôtô bài thuyết trình với số lượng vừa đủ để nhiều SV trong lớp cùng theo dõi.”
+ Kết hợp thuyết trình xen kẽ với thảo luận
+“Mỗi SV trình bày trong khoảng 10 - 15 phút; dựa vào đề cương để nói, chỉ đọc trong những trường hợp cần thiết; có thể sử dụng bảng hoặc các phương tiện kỹ thuật để minh họa; tốc độ trình bày vừa phải, có nhắc lại những điểm quan trọng để người nghe dễ ghi chép.”
+ Sau khi SV thuyết trình xong, GV nhận xét sơ lược về nội dung và cách trình bày, và chuyển qua phần thảo luận
Trang 23c) Thảo luận, tranh luận
+“SV đặt câu hỏi liên quan về đề tài vừa được thuyết trình cho người trình bày (hoặc cho GV)
+ Câu hỏi không nên chỉ tập trung vào câu hỏi nhận diện, câu hỏi chất vấn giải thích, mà chủ yếu là câu hỏi phân tích lý giải, câu hỏi so sánh - đối chiếu, câu hỏi liên hệ - phát triển đề tài
-+ Người trả lời được phép chuẩn bị một thời gian cần thiết và có thể tham khảo các ý kiến của các SV khác trong nhóm
+ GV khẳng định lại ý kiến đã trả lời, và bổ sung mở rộng nâng cao ở những chỗ cần thiết Trong trường hợp có sự bất đồng giữa các SV, GV phải thực hiện vai trò cố vấn, trọng tài để phân xử.”
* Ưu điểm: Seminar có 12 ưu điểm sư phạm sau đây:
1) Giúp SV mở rộng, đào sâu tri thức hơn cách dạy học bình thường
2) Giúp SV biết nêu và biết giải quyết các thắc mắc khoa học liên quan đến nghề nghiệp tương lai
3) Biết phân tích đánh giá ý kiến của người khác đồng thời biết bảo vệ ý kiến của mình trên những cơ sở lý lẽ và thực tiễn vững chắc
4) Bồi dưỡng cho SV niềm tin khoa học và sự hứng thú say mê nghiên cứu khoa học
5) Hình thành cho SV thói quen làm việc nghiêm túc, khách quan, rèn luyện tính trung thực và dũng cảm bảo vệ quan điểm của mình
6) Rèn luyện tinh thần độc lập, sáng tạo trong học tập, nghiên cứu; phát triển
kỹ năng đọc và nghiên cứu tài liệu, kỹ năng sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật
7) Phát triển nhận thức khoa học và tư duy khoa học
Trang 248) Phát triển năng lực lập luận, diễn đạt, rèn luyện đức tính tự tin, mạnh dạn trong hoạt động tập thể
9) Giúp GV thu nhận được những thông tin ngược về tình trạng kiến thức, kỹ năng của SV để kịp thời bổ sung điều chỉnh
10) Giúp GV thấy được những điểm tốt hoặc chưa tốt trong các bài giảng trước đây của mình để kế thừa hoặc khắc phục
11) GV có điều kiện để hoàn thiện bài giảng cũng như tri thức khoa học về môn học thông qua những vấn đề nảy sinh trong thảo luận, tranh luận
12) Giúp SV bước đầu đánh giá được năng lực, tri thức của mình về đề tài để
có phương hướng khắc phục, phát triển.”
* Hạn chế: Seminar có 4 nhược điểm cơ bản cần chú ý khi sử dụng
1) Tính“hệ thống của bài học không được thể hiện rõ do phụ thuộc vào sự lựa chọn đề tài và quá trình thuyết trình, tranh luận
2) Sự thống nhất quan điểm giữa các SV, giữa GV và SV thường không triệt
để Seminar là một kiểu bài học mở và đó vừa là điểm mạnh, vừa là điểm yếu của
nó Vì thế công tác thi cử phải đổi mới cho phù hợp với tính chất mở của seminar
3) Những SV yếu, kém khó tiếp thu bài học
4) Seminar khó thực hiện trong những điều kiện sau:
- Thiếu thốn tài liệu và điều kiện thực hành, nghiên cứu
- Lớp học quá nhiều SV yếu kém
- GV có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trung bình hoặc yếu.”
1.3.3 Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề
1.3.3.1 Khái niệm
Dạy học giải quyết vấn đề (GQVĐ) là phương pháp dạy học nhằm phát triển
NL tư duy sáng tạo, năng lực GQVĐ của SV SV được đặt trong một tình huống có vấn đề, thông qua việc GQVĐ đó giúp SV lĩnh hội tri thức, kỹ năng và PP nhận
thức [24]
1.3.3.2 Quy trình dạy học giải quyết vấn đề [24]
- “ Bước 1 Nhận biết vấn đề
Trang 25Trong bước này cần phân tích tình huống đặt ra, nhằm nhận biết được vấn
đề Trong dạy học thì đó là cần đặt SV vào tình huống có vấn đề Vấn đề cần được trình bày rõ ràng, còn gọi là phát biểu vấn đề
-Bước 2 Tìm các phương án giải quyết
Nhiệm vụ của bước này là tìm các phương án khác nhau để GQVĐ Để tìm các phương án GQVĐ, cần so sánh, liên hệ với những cách giải quyết các vấn đề tương tự đã biết cũng như tìm các phương án giải quyết mới Các phương án giải quyết đã tìm ra cần được sắp xếp, hệ thống hoá để xử lý ở giai đoạn tiếp theo Khi
có khó khăn hoặc không tìm được phương án giải quyết thì cần trở lại việc nhận biết vấn đề.”
- “ Bước 3 Giải quyết vấn đề
+ Xây dựng các giả thiết về vấn đề đặt ra theo các hướng khác nhau
+ Lập kế hoạch GQVĐ
+ Thực hiện kế hoạch GQVĐ,
+ Kiểm tra các giả thiết bằng các PP khác nhau
Kết luận: Gồm các bước sau:
+ Thảo luận về các kết quả thu được và đánh giá
+ Khẳng định hay bác bỏ giả thiết đã nêu
*Các hoạt động chủ yếu thực hiện theo phương pháp dạy học GQVĐ thường như sau:
Trang 26- Phát hiện vấn đề: GV hoặc SV phát hiện, nhận dạng vấn đề, nêu vấn đề cần
giải quyết
- Tình huống có vấn đề: Tình huống có vấn đề thường xuất hiện khi :
+ Nảy sinh mâu thuẫn giữa điều học sinh đã biết và điều đang gặp phải + Gặp tình huống bế tắc trước nội dung mới
+ Gặp tình huống, xuất phát từ nhu cầu nhận thức tại sao?
- Giải quyết vấn đề: GV hoặc SV đề xuất cách GQVĐ khác nhau (nêu giả
thuyết khác nhau), thực hiện cách giải quyết đã đề ra (kiểm tra giả thuyết)
- Kết luận vấn đề: Phân tích để chọn cách giải quyết đúng (lựa chọn giả
thuyết đúng và loại bỏ giải thuyết sai)
Nêu kiến thức hoặc kĩ năng, thái độ thu nhận được từ giải quyết vấn đề trên Các mức độ SV tham gia các hoạt động phát hiện và GQVĐ:
Trong dạy và học GQVĐ có thể có các mức độ tham gia của GV và SV như sau:
+ Mức 1: GV đặt vấn đề, nêu cách GQVĐ, GV GQVĐ SV chỉ là người
quan sát và tiếp nhận kết luận do GV thực hiện
+ Mức 2: GV nêu vấn đề, nêu cách GQVĐ, SV GQVĐ dưới sự hướng dẫn
của GV, GV đánh giá kết quả học tập của SV
SV chỉ tham gia thực hiện GQVĐ dưới sự hướng dẫn của GV
+ Mức 3: GV gợi ý để SV phát hiện vấn đề, hướng dẫn SV tìm cách GQVĐ,
SV tiến hành GQVĐ, GV và SV cùng đánh giá kết quả học tập của SV
SV tích cực tham gia phát hiện vấn đề, tìm cách GQVĐ, tự GQVĐ, đánh giá kết quả học tập dưới sự hướng dẫn của GV
SV thảo luận nhóm và phân công cá nhân hoặc cặp giải quyết các vấn đề đặt
ra Trên cơ sở kết quả thu được, SV kết luận về các vấn đề đã giải quyết và rút ra kiến thức đã học được
+ Mức 4: SV tự phát hiện vấn đề cần nghiên cứu trong học tập và thực tiễn,
nêu cách thực hiện GQVĐ, SV tiến hành GQVĐ, đánh giá kết quả chất lượng, hiệu quả có sự hỗ trợ của GV (nếu cần) trong quá trình thực hiện
Trang 27SV chủ động tích cực độc lập phát hiện vấn đề, tìm cách GQVĐ, tiến hành GQVĐ và đánh giá kết quả học tập với sự hỗ trợ của GV khi cần
*Qui trình thực hiện dạy học giải quyết vấn đề [24]
Để thực hiện phương pháp dạy học giải quyết vấn đề cần thực hiện theo quy trình sau đây:
- Bước 1 Chọn nội dung phù hợp
- Bước 2 Thiết kế kế hoạch bài học
+ Xác định mục tiêu của bài học
+ Phương pháp dạy học chủ yếu
+ Thiết bị và đồ dùng dạy học
+ Các hoạt động dạy học
Yêu cầu SV nêu các giả thuyết khác nhau Nêu các giả thuyết
Hướng dẫn SV thảo luận nhóm về Thảo luận nhóm về
Hướng dẫn SV tiến hành thí nghiệm để kiểm
tra giả thuyết
Câu hỏi nêu vấn đề cần phải:
+ Chứa đựng mâu thuẫn nhận thức Có một hay vài khó khăn, đòi hỏi SV phải tư duy, huy động và vận dụng các kiến thức đã có (nghĩa là câu hỏi phản ánh được mối liên hệ bên trong giữa điều đã biết và điều chưa biết)
+ Chứa đựng phương hướng giải quyết vấn đề, thu hẹp phạm vi tìm kiếm câu trả lời, tạo điều kiện làm xuất hiện giả thuyết, tạo điều kiện tìm ra được con đường giải quyết.”
Trang 28+ Gây được cảm xúc mạnh đối với SV khi nhận ra mâu thuẫn nhận thức liên quan tới vấn đề
b) Giải quyết vấn đề
- Lập kế hoạch giải quyết vấn đề:
- Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề
Kết quả của dạy học GQVĐ: Tri thức mới mà SV thu nhận được một cách
sâu sắc, vững chắc, nhớ lâu Nhưng quan trọng hơn SV biết cách tiến hành PP chiếm lĩnh kiến thức và đánh giá được kết quả của bản thân và của người khác Thông qua đó các năng lực cơ bản đã được hình thành trong đó có năng lực vận dụng tri thức để GQVĐ thực tiễn một cách linh hoạt và sáng tạo.”
* Hạn chế
- Mặc“dù có nhiều ưu điểm nhưng hiện nay PP GQVĐ vẫn chưa được nhiều
GV sử dụng và cũng chưa thường xuyên Đó là do PP này còn có một số hạn chế sau:
- Trong thực tế, để thực hiện theo đúng quy trình, GV khó thực hiện vì không có điều kiện về thời gian GV phải thiết kế rất công phu và cần có nội dung phù hợp
- SV cần có khả năng tự học và học tập tích cực thì mới đạt hiệu quả cao
- Trong một số trường hợp cần có thiết bị dạy học cần thiết thì việc GQVĐ mới thành công.”
Trang 291.3.4 Sử dụng bài tập hóa học theo hướng dạy học tích cực
1.3.4.1 Bản chất của phương pháp [24]
Bài “tập hóa học (BTHH) là nội dung quan trọng của lí luận dạy học bộ môn hóa học Sử dụng BTHH có vai trò quan trọng trong dạy học hóa học Thông qua giải BTHH, SV thu nhận được khái niệm mới, tính chất mới của chất, PP giải một loại bài tập nào đó hoặc giúp SV vận dụng kiến thức, kĩ năng hóa học phát tiển tư duy và năng lực nhận thức, GQVĐ.”
*Đặc điểm của bài tập hóa học [24]
- BTHH có vai trò quan trọng trong dạy học hóa học BTHH góp phần to lớn trong việc dạy học hóa học tích cực khi:
+ BTHH như là nguồn kiến thức để SV tìm tòi, phát hiện kiến thức, kỹ năng + BTHH mô tả một tình huống thực của đời sống thực tế
+ BTHH được nêu lên như là tình huống có vấn đề
+ BTHH là một nhiệm vụ cần giải quyết
- BTHH là phương tiện để tích cực hóa hoạt động của SV ở mọi cấp học, bậc học Bài tập hóa học được phân thành:
+ Bài tập tự luận: Bài tập lí thuyết và bài tập thực nghiệm, trong đó gồm bài tập định tính và bài tập định lượng và được chia thành bài tập cơ bản và bài tập phức hợp
+ Bài tập trắc nghiệm khách quan: Câu đúng - sai, hoặc có - không, câu có nhiều lựa chọn, câu cặp đôi
BTHH có thể sử dụng để dạy học tích cực ở mọi cấp học, bậc học Để giải BTHH SV cần phải nhớ lại, phân tích, tổng hợp, vận dụng kiến thức đã biết để tìm
ra câu trả lời.”
1.3.4.2 Quy trình thực hiện phương pháp [24]
a) Sử dụng bài tập như là một bài tập nhận thức giúp SV hình thành khái niệm, quy luật và tính chất hóa học của các chất
Trang 30b) Sử dụng nhằm củng cố, khắc sâu khái niệm, tính chất hóa học
- GV nêu bài tập
- SV giải bài tập
- SV củng cố, khắc sâu, vận dụng được kiến thức đã học
c) Bài tập giúp SV vận dụng kiến thức giải quyết một số vấn đề có liên quan đến thực tiễn
- GV nêu bài tập về nhà là một vấn đề có liên quan
- SV giải bài tập bằng cách vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học
- SV được phát triển tư duy GQVĐ và tư duy sáng tạo
1.3.4.3 Ưu điểm và hạn chế [24]
*Ưu điểm
- Giúp SV chiếm lĩnh kiến thức một cách tích cực, chủ động và sáng tạo, phát triển tư duy logic, tư duy độc lập và sáng tạo
- Góp phần quan trọng để thực hiện các PPDH khác như nêu vấn đề, GQVĐ,
PP nghiên cứu, PP thảo luận và PP hợp tác
tự học cho sinh viên Sư phạm Hoá học ở trường ĐHSP Hà Nội 2
Khi“trao đổi trực tiếp với các GV dạy chương “Liên kết và cấu trúc trong các
hệ ngưng tụ”, học phần HHĐC 1, chúng tôi tổng kết một số ý kiến như sau:
Trang 31+ Nội dung kiến thức chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ” là khá trừu tượng và khó đối với SV năm thứ nhất, hơn nữa các em chưa quen với cách học ở Đại học nên việc áp dụng các PP dạy học tích cực để phát triển NLTH cho các em gặp rất nhiều khó khăn và kết quả chưa được như mong muốn Vượt lên những khó khăn đó, GV đã dần từng bước áp dụng linh hoạt các PPDH tích cực vào từng nội dung cụ thể để phát triển NLTH cho SV Khi áp dụng một PPDH mới, GV đều dành thời gian giới thiệu PP đó tới SV và cho SV làm quen với cách học theo PP này.”
+ Thực“tế từ K44 SP Hóa học, GV đã soạn các bài giảng theo các PPDH tích cực như: PP nghiên cứu; PP seminar; PP GQVĐ và PP sử dụng BTHH để giảng dạy chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ” Sau mỗi giáo án giảng dạy
GV đều dùng bộ công cụ đánh giá NLTH đã xây dựng để đo NLTH của SV Kết quả TNSP đối với SV K44 SP Hóa học, trường ĐHSP Hà Nội 2 được trình bày ở chương 3 của khóa luận này
+ Mặc dù kết quả TNSP chưa được như mong đợi nhưng bước đầu đã cho thấy khi giảng dạy theo các PPDH tích cực SV học chương này hứng thú, sôi nổi hơn và cũng cho kết quả học tập tốt hơn so với dùng các PP truyền thống Đó là động lực giúp các GV tích cực giảng dạy theo các PPDH tích cực góp phần phát triển NLTH cho SV và nâng cao chất lượng đào tạo của Khoa.”
Trang 32CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM HÓA HỌC THÔNG QUA DẠY HỌC CHƯƠNG “LIÊN KẾT VÀ CẤU TRÚC
+ SV nêu được khái niệm về tinh thể, các hệ tinh thể
+ SV trình bày được một số đặc trưng về cấu trúc tinh thể
+ SV trình bày và phân tích được cấu trúc và liên kết trong tinh thể ion, tinh thể kim loại, tinh thể nguyên tử, tinh thể phân tử
+ SV vận dụng làm bài tập, nghiên cứu khoa học, giảng dạy phổ thông sau này và vận dụng vào các vấn đề thực tiễn có liên quan đến kiến thức của chương
+ Vận dụng các kiến thức của bài học để mô tả, giải thích các hiện tượng xảy
ra trong đời sống, thực tiễn sản xuất và môi trường
+ Rèn kĩ năng tư duy độc lập, sáng tạo trong phân tích, tổng hợp và vận dụng kiến thức Hóa học đại cương vào học tập, nghiên cứu và giảng dạy sau này
+ Hướng dẫn, khuyến khích sinh viên làm việc nhóm, thảo luận các vấn đề hóa học nêu ra trong môđun, nâng cao kiến thức chuyên môn
- Về thái độ: Rèn cho SV có thái độ chuyên cần, hăng say học tập, nghiên
cứu và tìm hiểu những vấn đề trong chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ” nhằm phục vụ cho việc học các môn chuyên ngành
Trang 332.1.2 Đặc điểm nội dung kiến thức của chương “Liên kết và cấu trúc trong các
hệ ngưng tụ” [1,15]
Theo đề cương môn học của học phần HHĐC1, chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ” nằm ở vị trí chương 4 Nội dung kiến thức của chương trong khung chương trình đào tạo hệ cử nhân Sư phạm Hóa học của trường ĐHSP Hà Nội
2 trang bị cho SV những vấn đề sau:
- Đại cương về tinh thể: Đại cương về cấu trúc vĩ mô và vi mô của tinh thể; Các hệ tinh thể, mạng lưới Bravais, chỉ số Miller; Cấu trúc tinh thể - sự sắp xếp các quả cầu khít nhất; Một số đặc trưng về cấu trúc tinh thể
- Tinh thể ion: Cấu trúc các hợp chất ion; Liên kết hóa học trong tinh thể ion
- Tinh thể kim loại: Liên kết trong tinh thể kim loại; Cấu trúc trong tinh thể kim loại
- Tinh thể nguyên tử: Liên kết trong tinh thể nguyên tử; Cấu trúc trong mạng lưới kim cương, than chì
- Tinh thể phân tử: Liên kết trong tinh thể phân tử; Cấu trúc trong tinh thể phân tử
Nhận xét: Nghiên cứu liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ là kiến thức
mới và khó đối với SV năm thứ nhất, đòi hỏi GV hướng dẫn cho SV cách tự học và cần làm sáng tỏ các vấn đề trong giờ học trên lớp
2.2 Xây dựng tài liệu tự học cho sinh viên trong dạy học chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ”
2.2.1 “ Nguyên tắc xây dựng tài liệu tự học
Khi xây dựng tài liệu tự học cần đảm bảo các nguyên tắc sau [23]:
- Đảm bảo tính chính xác, khoa học, phù hợp về nội dung kiến thức với đối tượng sử dụng tài liệu
- Đảm bảo tính logic, tính hệ thống của kiến thức
- Đảm bảo tăng cường vai trò chủ đạo của lí thuyết
- Đảm bảo được tính hệ thống của các dạng bài tập
- Trình bày ngắn ngọn, dễ hiểu, cấu trúc rõ ràng, thể hiện rõ nội dung kiến thức trọng tâm
Trang 34- Đảm bảo góp phần bồi dưỡng NLTH, sáng tạo cho SV và nâng cao được chất lượng dạy học.”
- Đảm bảo tính thẩm mỹ: Tài liệu phải có kích thước hợp lý, hài hòa, rõ nét
2.2.2 Quy trình xây dựng tài liệu tự học
Quy trình xây dựng tài liệu tự học là sự cụ thể hóa thứ tự thực hiện việc xây dựng tài liệu tự học Theo chúng tôi việc xây dựng tài liệu tự học phải theo các bước sau [7,15]:
- “ Bước 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận về: mục tiêu dạy học, PP dạy học, nội
dung kiến thức, hình thức kiểm tra đánh giá, tìm hiểu đặc điểm nhận thức của SV và mục đích sử dụng tài liệu để có những định hướng viết tài liệu tự học
- Bước 2: Xác định nội dung dạy học, dựa vào mục tiêu dạy học (về kiến
thức, kỹ năng, thái độ), hình thức tổ chức dạy học, hoạt động nhận thức, cấu trúc chương trình xác định nội dung dạy học.”
- “ Bước 3: Viết tài liệu: Xây dựng nội dung chi tiết, cách thức trình bày, bố
cục nội dung, khi xây dựng tài liệu phải đảm bảo phù hợp với nội dung dạy học, đối tượng dạy học, thời lượng trên lớp, thời lượng tự học ở nhà, đảm bảo tính hệ thống của các dạng bài tập (nhận biết, thông hiểu, vận dụng), chú trọng những kiến thức ứng dụng trong thực tiễn của đời sống
- Bước 4: Chỉnh tài liệu: Tài liệu sau khi được xây dựng cần kiểm tra lại sao
cho: tài liệu thỏa mãn những mục đích, yêu cầu đã đề ra; cấu trúc đảm bảo tính thống nhất, cân đối; hệ thống tri thức chính xác; hệ thống phương pháp đảm bảo giúp người học tự học
- Bước 5: Thử nghiệm tài liệu: Cần phải đưa tài liệu vào thử nghiệm sử dụng
trong quá trình dạy học, để kiểm tra tính khả thi, hiệu quả của tài liệu và những bất cập khi sử dụng
- Bước 6: Hoàn thiện tài liệu: Tài liệu sau khi thử nghiệm sẽ được chỉnh sửa,
bổ sung để hoàn thiện, phục vụ cho quá trình học tập của người học và giảng dạy của GV.”
2.2.3 Qui trình xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo module
Trên cơ sở lí luận và thực tiễn, chúng tôi xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo module để phát triển NLTH của SV khi học chương “Liên kết và cấu trúc
Trang 35trong các hệ ngưng tụ”, học phần Hóa học đại cương 1 Quy trình xây dựng tài liệu
tự học có hướng dẫn theo module gồm:
- Bước 1: Lập danh mục module
Lập danh mục module là một nhiệm vụ rất cơ bản trong quá trình biên soạn tài liệu tự học Để xây dựng chương trình các học phần, GV cần có một cách nhìn tổng quan về nội dung, vị trí chức năng của học phần trong tổng thể Đặc điểm của việc tổ chức dạy học học phần Hóa học đại cương 1 cho SV khoa Hóa học, trường ĐHSP Hà Nội 2 là nghiên cứu tài liệu, tự học ở nhà và thảo luận trên lớp Trong chương trình của học phần Hóa học đại cương 1, chúng tôi chia mỗi chương ứng với một module nên chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ” là một module lớn
- “ Bước 2: Lập danh mục tiểu module
Mỗi tiểu module có nội dung hỗ trợ module lớn Nó có tầm quan trọng đặc biệt đối với quá trình tự học của SV Chúng tôi xây dựng các tiểu module ứng với nội dung chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ” gồm:
+ Tiểu module 1: Đại cương về tinh thể
+ Tiểu module 2: Tinh thể ion
+ Tiểu module 3: Tinh thể kim loại
+ Tiểu module 4: Tinh thể nguyên tử
+ Tiểu module 5: Tinh thể phân tử
-Bước 3: Xây dựng nội dung tiểu module
Để nâng cao hiệu quả tự học của SV, mỗi tiểu module cần xây dựng nội dung chi tiết, đầy đủ bao gồm những nội dung cơ bản sau:
A Mục tiêu SV cần đạt được sau khi tự học từng tiểu module
B Tài liệu tham khảo
C Hệ thống câu hỏi hướng dẫn SV tự học ở nhà
D Nội dung lý thuyết cần nghiên cứu”
E Câu hỏi và bài tập tự kiểm tra đánh giá sau khi học xong tiểu module trên lớp
2.2.4 Một số tài liệu tự học
1 Trần Thành Huế - Hóa học đại cương 1 - Cấu tạo chất - NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2004
Trang 362 Đăng Thị Thu Huyền, Nguyễn Thị Thu Lan - Bài giảng hóa học đại cương 1
3 Lê Chí Kiên - Phức chất - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2006
4 Lâm Ngọc Thiềm - Cơ sở lí thuyết hóa học - NXB giáo dục, năm 2008
5 Lâm Ngọc Thiềm, Trần Hiệp Hải - Bài tập hóa học đại cương - NXB đại học quốc gia Hà Nội, năm 2004
6 Đào Đình Thức - Cấu tạo nguyên tử và liên kết hóa học, tập 1,2 - NXB giáo dục, năm 2006
7 Đào Đình Thức - Hóa học đại cương - tập 1 - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004
8 Đào Đình Thức - Bài tập hóa học đại cương - NXB giáo dục, năm 2008
9 Tài liệu tự học có hướng dẫn theo module
10 Kenneth W Whitten, Raymond E Davis, M.Larry Peck, George G Stanley - General Chemistry (1933 - 2001)
11 Các nguồn tài liệu trên Internet
2.3 Sử dụng tài liệu tự học nhằm phát triển năng lực tự học cho sinh viên Sư phạm Hoá học ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
2.3.1 Sử dụng tài liệu tự học theo phương pháp nghiên cứu
Trong thời đại mà khoa học kĩ thuật phát triển nhanh chóng như hiện nay, thì nhu cầu học hỏi, học tập của người học ngày càng cao Vì vậy, bồi dưỡng NLTH cho SV đóng vai trò vô cùng quan trọng trong các trường đại học Chỉ có tự học, tự nghiên cứu bằng nhiều hình thức khác nhau SV mới có thể tự trang bị cho mình những kiến thức, kĩ năng còn khuyết thiếu để từ đó tự mình chiếm lĩnh tri thức và tự tin trong học tập
Việc tự học, tự nghiên cứu được xây dựng theo các bước như sau:
- Bước 1: Xây dựng động cơ học tập:
Người học tự xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn là việc cần làm đầu tiên Có động cơ học tập tốt sẽ khiến cho người học luôn tự giác, chủ động học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng
- Bước 2: Xây dựng kế hoạch học tập:
Trang 37Đối với bất kì ai muốn việc học có hiệu quả thì phải có kế hoạch học tập xây dựng cụ thể, rõ ràng Trong đó bao gồm kế hoạch ngắn hạn, dài hơi thậm chí từng phần phải được xây dựng chi tiết phù hợp với từng giai đoạn cụ thể Đặc biệt là phải xác định đúng trọng tâm, cốt lõi để ưu tiên dành thời gian cho nó Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải tập trung hoàn thành dứt điểm một cách hợp lí, logic về mặt nội dung theo thứ tự được thể hiện chi tiết trong kế hoạch
- Bước 3: Tự mình nắm vững nội dung tri thức:
Đây là giai đoạn quyết định và chiếm nhiều thời gian nhất trong quá trình tự học Nó bao gồm các hoạt động:
+ Tiếp cận thông tin: Lựa chọn và tiếp cận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như bài tập và câu hỏi GV giao về nhà chuẩn bị, đọc sách, nghe giảng, Internet, làm thí nghiệm,… Trong đó nhất thiết phải chọn lọc thông tin một cách thông minh và linh hoạt và còn phải biết gợi mở, thắc mắc hay đề xuất những vấn
đề cần lưu ý sau khi đọc tài liệu tự học
+“Xử lí thông tin: Việc xử lí thông tin trong quá trình tự học được tiến hành thông qua việc phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so sánh…
+ Vận dụng tri thức, thông tin: Vận dụng thông tin tri thức khoa học để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận, xử lí các tình huống, viết bài thu hoạch,… SV thường gặp rất nhiều khó khăn Có lúc tìm được một khối lượng lớn tư liệu nhưng lại không biết lựa chọn để kiến giải vấn đề Trong trường hợp này chỉ cần tập trung đào sâu vào trọng tâm nhằm phát hiện ra cái mới có giá trị thực tiễn là đáp ứng yêu cầu
+ Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập: Đánh giá kết quả học tập thông qua
bộ công cụ GV đã xây dựng Thông qua nó người học được tự đánh giá mình, tự đánh giá bạn và được GV đánh giá để biết được cái gì làm được, cái gì chưa làm tốt hay những điểm hạn chế để từ đó có hướng khắc phục hay phát huy
Muốn hoạt động học tập có hiệu quả nhất thiết SV phải chủ động tự giác học tập bằng nhiều hình thức khác nhau Ngoài ra, cũng không thể thiếu được vai trò của người thầy trong việc trang bị cho SV những tri thức, kĩ năng, thái độ cùng với
PP tự học cụ thể, khoa học Nhờ đó hoạt động tự học của SV mới hiệu quả cao.”
Trang 382.3.2 Xây dựng và sử dụng website "tuhochoadaicuong.com” hỗ trợ việc phát triển năng lực tự học cho sinh viên
Hiện tại chúng tôi đang xây dựng và hoàn thiện website "tuhochoadaicuong.com”
để hỗ trợ việc phát triển NLTH cho SV Khoa Hóa học, trường ĐHSP Hà Nội 2
2.4 Áp dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học chương “Liên kết
và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ” để phát triển năng lực tự học cho sinh viên
2.4.1 Xây dựng kế hoạch bài học theo hướng phát triển năng lực tự học cho sinh viên
2.4.1.1 Lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học
Nội dung chương trình của chương “Liên kết và cấu trúc trong các hệ ngưng tụ” là “khá trừu tượng, mới và khó đối với SV năm thứ nhất Vì vậy, không phải dễ dàng lựa chọn được nội dung phù hợp với các PPDH Chúng tôi đưa ra hai PPDH chính sau đây để áp dụng giảng dạy trong chương này:
- Phương pháp giải quyết vấn đề phù hợp với các dạng bài học lí thuyết mới Khi dạy theo PP này cũng cần phối hợp với các PP khác như: PP thuyết trình kết hợp đàm thoại, PP nghiên cứu, PP seminar, PP sử dụng bài tập hóa học theo hướng dạy học tích cực.”
“ Sau đây là một số đề xuất lựa chọn nội dung và PPDH thích hợp ”
STT Nội dung tiểu
module
PPDH chủ yếu Các PPDH phối hợp
1 Đại cương về tinh thể PP nghiên cứu PP thuyết trình kết hợp
đàm thoại, PP giải quyết vấn đề, PP seminar, PP sử dụng bài tập hóa học
đàm thoại, PP giải quyết vấn đề, PP seminar PP sử dụng bài tập hóa học theo hướng dạy học tích cực
3 Tinh thể kim loại PP nghiên cứu PP thuyết trình kết hợp
đàm thoại, PP giải quyết
Trang 39vấn đề, PP seminar PP sử dụng bài tập hóa học theo hướng dạy học tích cực
4 Tinh thể nguyên tử PP giải quyết vấn đề PP thuyết trình kết hợp
đàm thoại, PP nghiên cứu,
PP seminar, PP sử dụng bài tập hóa học theo hướng dạy học tích cực
5 Tinh thể phân tử PP giải quyết vấn đề PP thuyết trình kết hợp
đàm thoại, PP nghiên cứu,
PP seminar, PP sử dụng bài tập hóa học theo hướng dạy học tích cực
2.4.1.2 Quy trình xây dựng kế hoạch bài học theo hướng phát triển năng lực tự học
[14]
- “ Bước 1: Xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung
Ngoài kiến thức kỹ năng chuẩn cần thiết, GV chú ý mục tiêu và nội dung để phát triển NLTH cho SV, đây chính là điểm khác so với giáo án bình thường
- Bước 2: Lựa chọn PPDH chủ yếu
Chọn PPDH phải phát triển được một số năng lực cần thiết cho SV, nhất là NLTH Ngoài ra cần phải kết hợp thêm một số PPDH khác để tăng tính hiệu quả phát triển NLTH
- Bước 3: Chuẩn bị của GV và SV
Tùy theo“các PPDH chủ yếu và nội dung cụ thể mà GV và SV có thể chuẩn
bị khác nhau Ví dụ: để áp dụng các PPDH giải quyết vấn đề thì GV phải chuẩn bị
hệ thống câu hỏi của từng vấn đề để phát vấn SV, SV cần nghiên cứu kĩ bài giảng trước khi đến lớp.”
- Bước 4: Thiết kế các hoạt động của GV và SV theo hướng phát triển NLTH
Xác định rõ từng hoạt động, mỗi hoạt động ứng với một nội dung của bài học
và có thời gian cụ thể
Trang 40Trong mỗi hoạt động cần dự kiến chi tiết các hoạt động của GV và SV theo hướng phát triển NLTH SV phải được tự do khám phá, sáng tạo và tự chiếm lĩnh kiến thức GV chỉ là người tổ chức, định hướng, giúp củng cố kiến thức
- Bước 5: Tổ chức đánh giá NLTH của SV
GV tổ chức đánh giá qua bộ công cụ đã được thiết kế như: Bảng kiểm quan sát, các phiếu hỏi và đề kiểm tra theo từng KHBH Trước khi dạy mỗi KHBH, GV phát đề kiểm tra nhanh kiến thức kĩ năng cho SV (thời gian làm bài 15 phút) để kiểm tra khả năng tự học của SV, trong quá trình dạy GV quan sát và đánh giá SV bằng bảng kiểm quan sát với các tiêu chí rõ dàng, sau tiết dạy GV hướng dẫn SV tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng vào phiếu hỏi theo các tiêu chí, cuối giờ GV phát
đề kiểm tra nhanh kiến thức kĩ năng cho SV (thời gian làm bài 15 phút) cùng nội dung đề với kiểm tra trước để so sánh kết quả và NLTH của SV.”
2.4.2 Xây dựng kế hoạch bài học theo phương pháp nghiên cứu
2.4.2.1 “ Mục đích
- Phát triển NLTH cho SV thông qua việc nghiên cứu tài liệu tự học ở nhà và cách GV hướng dẫn SV tự học ở nhà và trên lớp
- Tăng cường khả năng hợp tác nghiên cứu một vấn đề với nhóm SV và GV
- Cho SV tiếp cận với PP học tập tích cực mới.”
2.4.2.2 Kế hoạch bài học minh họa
KẾ HOẠCH BÀI HỌC 1 MỘT SỐ ĐẠI LƯỢNG VỀ CẤU TRÚC TINH THỂ
(Trong tiểu module: Đại cương về tinh thể)
+ Công thức tính khối lượng riêng của tinh thể
+ Số phối trí của một ô mạng cơ sở