1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động kinh tế văn hóa của cộng đồng người việt nam tại tỉnh xiêng khoảng lào từ năm 1986 đến năm 2017

89 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 4,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu: “Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người V

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu: “Hoạt động kinh tế, văn hóa

của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) từ năm 1986 đến năm 2017” dưới sự hướng dẫn của TS Kim Ngọc Thu Tranglà kết quả nghiên

cứu của cá nhân tôi, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực chưa được công bố

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

KHAMLA XAYAPHOUM

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người hướng

dẫn khoa học - TS Kim Ngọc Thu Trang đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình

thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên và sự giúp

đỡ của các thầy cô giáo khoa Lịch Sử Chân thành cảm ơn cán bộ Thư viện Viện nghiên cứu Đông Nam Á Xin cảm ơn Thư viện Quốc gia Lào, Hội người Việt Nam tại tỉnh Xiêng Khoảng

Lời cảm ơn cuối cùng, tôi xin gửi tới bạn bè ở Việt Nam, đồng nghiệp nơi tôi công tác và gia đình đã cổ vũ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

KHAM LA XAYAPHOUM

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục luc iii

Danh mục các bảng iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 5

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp của luận văn 6

6 Bố cục luận văn 6

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TỈNH XIÊNG KHOẢNG (LÀO) VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM TẠI LÀO 8

1.1 Khái quát về tỉnh Xiêng Khoảng 8

1.1.1 Lịch sử 8

1.1.2 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 9

1.1.2 Các thành phần dân tộc và đơn vị hành chính 11

1.2 Quá trình người Việt đến Lào và định cư tại tỉnh Xiêng Khoảng 11

1.2.1 Thời kỳ phong kiến nhà Nguyễn 12

1.2.2 Thời kỳ Pháp thuộc 13

1.2.3 Thời kỳ chiến tranh chống Mĩ 15

1.2.4 Thời kỳ sau giải phóng và phát triển kinh tế 16

1.3.Chính sách của chính phủ Lào đối với cộng đồng người Việt 18

Tiểu kết chương 1 23

Chương 2: HOẠT ĐỘNG KINH TẾ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM TẠI TỈNH XIÊNG KHOẢNG TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2017 24

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

2.1 Nông nghiệp và thủ công nghiệp 24

2.1.1 Nông nghiệp 24

2.1.2 Thủ công nghiệp 27

2.2 Công thương nghiệp và dịch vụ 27

2.2.1 Công nghiệp 27

2.2.2 Thương nghiệp 28

2.2.3 Dịch vụ 32

2.3 Những đóng góp về kinh tế của cộng đồng người Việt Nam ở tỉnh Xiêng Khoảng 35

Tiểu kết chương 2 37

Chương 3: ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM TẠI TỈNH XIÊNG KHOẢNG TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2017 39

3.1 Văn hóa vật chất 39

3.1.1 Ẩm thực 39

3.1.2 Trang phục 43

3.1.3 Nhà ở 45

3.1.4 Phương tiện đi lại, vận chuyển 46

3.2 Văn hóa tinh thần 47

3.2.1 Giáo dục bảo tồn bản sắc ngôn ngữ Việt 47

3.2.2 Tôn giáo, tín ngưỡng 50

3.2.3 Hôn nhân và gia đình 53

3.2.4 Tang ma 58

3.2.5 Phong tục lễ tết trong năm 63

Tiểu kết chương 3 65

KẾT LUẬN 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 PHỤ LỤC

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Thống kê số người Việt Nam tại tỉnh Xiêng Khoảng (2013-2017) 17 Bảng 2.1 Thống kê cửa hàng buôn bán lớn ở tỉnh Xiêng Khoảng năm 2017 30 Bảng 2.2 Thống kê cửa hàng buôn bán trung bìnhở tỉnh Xiêng Khoảng

năm 2017 31 Bảng 2.3 Số lượng người Việt và cơ cấu nghề nghiệptại tỉnh Xiêng Khoảng 34 Bảng 3.1.Thống kê sinh viên Việt Nam đã và đang học tậptại trường Cao

đẳng Sư phạm Khăng Khảy 49

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lào là một quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á, có lịch sử và văn hóa lâu đời, có nhiều dân tộc với những đặc trưng văn hóa riêng biệt.Việt Nam - Lào là hai nước láng giềng anh em gần gũi, có mối quan hệ chặt chẽ nhiều mặt trong quá khứ cũng như trong hiện tại, có nhiều nét tương đồng về văn hóa, con người

và thiên nhiên

Trong tiến trình phát triển lịch sử, một bộ phận người Việt Nam đã di cư tới Lào làm ăn, sinh sống Sự thân thiết, tính cởi mở của người Lào đã tạo điều kiện cho bộ phận cư dân người Việt hội nhập và trở thành một bộ phận của xã hội Lào Cùng với người Lào, người Việt đã đóng góp nhiều mặt cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Lào Đồng thời, họ cũng đóng vai trò quan trọng, là cầu nối thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị Việt - Lào ngày càng tốt đẹp

Mối quan hệ đó đã được thể hiện trong vần thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việt

- Lào hai nước chúng ta Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long” Chủ tịch Lào Kaysone Phomvihan cũng đã từng nói: “Trong lịch sử cách mạng thế giới đã có nhiều tấm gương sáng chói về tinh thần quốc tế vô sản nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài và toàn diện như vậy”[9, tr.1]

Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mĩ anh dũng của nhân dân Việt Nam

và Lào giành thắng lợi trọn vẹn Hai nước bước vào thời kì xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Phù hợp với xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa hiện nay, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Lào thực hiện chính sách mở rộng hợp tác quốc tế, tạo điều kiện cho nước ngoài vào đầu

tư tại Lào Trong bối cảnh đó, Lào đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ từ Việt Nam Người Việt đến Lào, làm ăn và sinh sống bằng nhiều nghề khác nhau từ Bắc Lào đến Nam Lào Có thể nói rằng, người Việt có mặt, sinh sống và làm ăn

ở hầu hết các tỉnh của Lào

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Xiêng Khoảng là một tỉnh nằm ở Đông Bắc của Lào và là nơi có khá đông người Việt Nam làm ăn, sinh sống.Trong quá trình cộng cư ở Lào, người Việt đã tạo nên một cộng đồng với hoạt động kinh tế - văn hóa mang những nét đặc trưng riêng

Hiện nay, những nghiên cứu trong giới khoa học về Lào chủ yếu quan tâm đến lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc hoặc mối quan hệ Việt - Lào trong lịch sử, những nghiên cứu về hoạt động kinh tế - văn hóa của người Việt tại Lào

và giao thoa văn hóa Việt - Lào nói chung, ở tỉnh Xiêng Khoảng nói riêng còn ít được quan tâm nghiên cứu.Vì vậy, việc nghiên cứu về hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Xiêng Khoảng ( Lào ) từ năm 1986 đến năm 2017 không chỉ làm rõ về quá trình di cư và hình thành cộng đồng người Việt ở Xiêng Khoảng (Lào) mà quan trọng hơn là đi sâu nghiên cứu về hoạt đồng, văn hóa của người Việt Nam tại đây góp phần làm rõ sự giao thoa văn hóa Việt

- Lào, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm mang tính chất tham khảo nhằm thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị hợp tác Việt - Lào ngày càng phát triển

Những vấn đề đặt ra trên đây là cơ sở để tác giả chọn “Hoạt động kinh tế,

văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) từ năm

1986 đến năm 2017” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình với hi vọng sẽ góp

phần làm sáng tỏ những vấn đề đặt ra ở trên

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề người Việt và hoạt động kinh tế, văn hóa của người Việt Nam tại Lào

đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu

2.1 Các tác giả Việt Nam

Các nhà khoa học Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu về Lào trên nhiều phương diện Tuy nhiên, số lượng các công trình nói chung chưa nhiều

và cho đến nay chưa có một công trình chuyên khảo nào về hoạt động kinh tế,

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) từ năm

1986 đến năm 2017

Công trình“Về lịch sử - văn hóa ba nước Đông Dương” của Viện nghiên

cứu Đông Nam Á xuất bản năm 1983 đã khái quát bức tranh về lịch sử, văn hóa của ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia; Những điểm tương đồng và khác biệt

về văn hóa giữa ba nước Công trình là một tài liệu tổng quát khi nghiên cứu về lịch sử, văn hóa ba nước Đông Dương

Cuốn “Người Việt ở Thái Lan - Campuchia - Lào” do PGS.TS Nguyễn

Quốc Lộ chủ biên, Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2006 đã trình bày một cách khái quát về sự xuất hiện của người Việt tại Thái Lan, Campuchia và Lào qua các thời kì lịch sử, những đóng góp thiết thực của Việt kiều trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước Đồng thời, tác giả còn đề cập đến các hoạt động kinh tế và việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

Cuốn sách “Vai trò của cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam - Lào” của tác giả Phạm Đức Thành được Nhà xuất bản Khoa học Xã

hội xuất bản năm 2008 đã trình bày về quá trình nhập cư của người Việt vào Lào trong quá khứ và vai trò của Việt kiều với mối quan hệ Việt - Lào

Trong cuốn “Di cư và chuyển đổi lối sống - Trường hợp cộng đồng người Việt tại Lào” được Nhà xuất bản Thế giới xuất bản năm 2008, tác giả Nguyễn

Duy Thiệu đã đi sâu nghiên cứu về quá trình di cư của người Việt đến Lào trong quá khứ, sự thay đổi trong quá trình cộng cư và lối sống hòa đồng của người Việt tại Lào Đồng thời, nêu lên các chủ trương, đường lối chính sách của chính phủ Lào đối với người Việt, từ đó, rút ra những nhận xét khái quát của tác giả về cộng đồng người Việt tại Lào

Liên quan đến đề tài luận văn nghiên cứu còn các bài báo viết về người Việt

đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong nước như: “Cộng đồng người Việt ở

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Lào sinh tồn và giữ gìn bản sắc” của tác giả Nguyễn Duy Thiệu in trên Tạp chí Đông Nam Á số 2 ( 2007 ); “Nguyên nhân và các đợt di dân của người Việt đến Lào” của tác giả Vũ Thị Vân Anh, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 2 ( 2007

)

2.2 Các tác giả Lào

Trong số những công trình nghiên cứu của người Lào mà chúng tôi tiếp cận được, nổi bật lên một số công trình như sau:

Công trình “Khái quát lịch sử tỉnh Xiêng Khoảng” của Nhà xuất bản Quốc

gia Lào phát hành năm 1994 đã trình bày khái quát về lịch sử tỉnh Xiêng Khoảng

từ quá khứ đến hiện tại, tái hiện lại truyền thống anh hùng của nhân dân Xiêng Khoảng trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc

Bài báo: “Tiếp xúc giao lưu và chuyển đổi bản sắc tộc người trong nhóm hôn nhân hỗn hợp Lào - Việt Nam , Việt Nam - Lào” của tác giả XomThon

Yerlobliayao đăng trên Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, 2007 đã trình bày khái quát về tình trạng hôn nhân giữa người Lào và người Việt Nam từ đó đưa

ra những nhận định về đặc điểm của quá trình tiếp xúc, giao lưu và chuyển đổi bản sắc tộc người trong nhóm hôn nhân hỗn hợp Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào

Bài báo “Yếu tố Việt trong tiến trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa tại Lào”của

tác giả Khampheng Thipmountaly đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á năm 2007 đã khái quátcác vấn đề về người Việt trong quá trình định cư, sinh sống ở Lào, những tiếp xúc, giao thoa văn hóa Lào - Việt về ngôn ngữ, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục, hôn nhân và gia đình…

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu người Lào, người Việt đã đạt được nhiều thành tựu trong việc nghiên cứu về lịch sử Lào, Việt Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể và toàn diện về hoạt động kinh tế - văn hóa của cộng đồng người Việt tại tỉnh Xiêng Khoảng (Lào).Mặc dù

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

vậy,những công trình kể trên đều là những nguồn tư liệu quý giá, có ý nghĩa với tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu mà Luận văn hướng tới là hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) từ năm 1986 đến năm 2017

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu những vấn đề trọng yếu sau:

- Khái quát về tỉnh Xiêng Khoảng (điều kiện tự nhiên, xã hội…), nguyên nhân và quá trình định cư của người Việt tại tỉnh Xiêng Khoảng

- Hoạt động kinh tế chủ yếu của người Việt Nam tại tỉnh Xiêng Khoảng

- Đời sống văn hóa của người Việt Nam tại tỉnh Xiêng Khoảng và giao thoa văn hóa Việt - Lào thể hiện qua tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, tập quán…

- Nhận xét, đánh giá chung về kinh tế, văn hóa của người Việt tại tỉnh Xiêng Khoảng

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Luận văn được hoàn thành dựa trên các nguồn tài liệu chủ yếu sau:

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Các công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam và Lào trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội văn hóa…Các luận án tiến sĩ, luân văn thạc sĩ, báo cáo trong các hội thảo, các bài báo trên các tạp chí chuyên ngành Nguồn tài liệu này gồm cả tiếng Việt và tiếng Lào đã được dịch hoặc nguyên bản và được lưu giữ tại các trung tâm nghiên cứu và các thư viện lớn của Việt Nam ( thư viện quốc gia Việt Nam, thư viện Viện nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Học viên Khoa học

Xã hội Việt Nam…)

- Tài liệu điền dã: Do tác giả đề tài thu thập trong quá trình tìm hiểu về cộng đồng người Việt tại Xiêng Khoảng

- Tài liệu lưu trữ của Hội Người Việt Nam tại tỉnh Xiêng Khoảng

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện, đề tài sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Đồng thời, để làm rõ các hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Xiêng Khoảng hiện nay, phương pháp điền dã được chúng tôi vận dụng Ngoài ra, Luận văn còn vận dụng các phương pháp tổng hợp và phân tích, so sánh đối chiếu, phương pháp điều tra, hệ thống hóa bằng bảng biểu, sơ đồ để Luận văn có cái nhìn tổng quát hơn

5 Đóng góp của luận văn

- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách cụ thể và hệ thống

về hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Xiêng

Khoảng (Lào)

- Luận văn có thể sử dụng như một công trình tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy về lịch sử quan hệ quốc tế, lịch sử Đông Nam Á, lịch sử

Lào, lịch sử văn hóa, tộc người

- Luận văn là cứ liệu lịch sử khẳng định quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào

trong quá khứ và hiện tại

6 Bố cục luận văn

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, thư mục tài liệu tham khảo và mục lục, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) và quá trình hình thành cộng đồng người Việt Nam tại Lào

Chương 2: Hoạt động kinh tế của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) từ năm 1986 đến năm 2017

Chương 3: Đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) từ năm 1986 đến năm 2017

Chương 1

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

KHÁI QUÁT VỀ TỈNH XIÊNG KHOẢNG (LÀO) VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM TẠI LÀO

1.1 Khái quát về tỉnh Xiêng Khoảng

1.1.1 Lịch sử

Xiêng Khoảng là một tỉnh của Lào, nằm trên cao nguyên Xiêng Khoảng, thuộc khu vực Đông Bắc Lào Xiêng Khoảng xưa gọi là “MuangPhuan” Dân tộc gốc vào sống ở MuangPhuan đầu tiên là Khom và Mon Về sau, người Lào (Lào Lum là dân tộc đồng nhất hiện nay) chuyển sang sinh sống cùng với nhóm dân tộc Khom và Mon và thành lập khu vực sở hữu Đến thế kỉ VIII, vua Chẹt Chương (con của vua Bu Lôm) tiến quân chiếm lấy khu vực này và đặt tên là

“MuangPhuan” [20, tr.4]

Kể từ thời cai trị của vua Chẹt Chương đến năm 1289, những tư liệu về lịch

sử MuangPhuan không còn bởi thời Xiêm xâm lược đã bị mất hoặc phá hủy Năm 1289, vua Khamphổng lên ngôi và cai trị MuangPhuan tương đối vững chắc Đến năm 1353 vua Phà Ngừm - Maharashtra tập trung các vương quốc Lào

to nhỏ thành “Vương quốc Lanxang” với trung tâm ở Mương Sua (tỉnh Luang Phabang hiện nay) Trong giai đoạn vua Phà Ngừm cai trị (1353-1373), vương quốc Lào phát triển thanh bình và vững chắc, những tranh chấp hầu như không xảy ra Sang thế kỷ XVIII, Lan Xang suy yếu dần vì những cuộc tranh chấp ngôi báu trong hoàng tộc Sau khi vua Xulinha Vôngxa Thammikalat qua đời, Lan Xang bị chia cắt thành ba tiểu quốc đối nghịch nhau: Luang Phabang, Viêng Chăn và Champasak Nhân cơ hội đó, Xiêm đã chiếm và cai trị Lào Năm 1827, Chậu A Nụ phất cờ khởi nghĩa, chống ách thống trị của Xiêm, nhưng bị thất bại Lào tiếp tục là thuộc địa của Xiêm Tình trạng đó kéo dài đến khi thực dân Pháp xâm lược và biến Lào thành thuộc địa vào năm 1893 Đến năm 1899, Lào trở thành một xứ nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Trải qua những năm tháng đấu tranh gian khổ, nhân dân Lào đã tiến hành nhiều cuộc đấu tranh bất khuất trên toàn lãnh thổ để chống lại ách nô dịch tàn bạo của thực dân Pháp, tiếp đó là đế quốc Mĩ Năm 1975, nước Lào hoàn toàn giành được độc lập Ngày 2 tháng 12 năm 1975, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào chính thức được thành lập do Hoàng thân Xuphanuvông làm Chủ tịch Theo quyết định của Chính phủ Lào, Xiêng Khoảng là một tỉnh của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

1.1.2 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Xiêng Khoảng là một tỉnh nằm ở Đông Bắc của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, cách thủ đô Viêng Chăn 400km Tổng diện tích toàn tỉnh là 15.880

km2 Phía Bắc giáp tỉnh Houaphan với 160km đường biên giới, phía Đông giáp tỉnh Nghệ An (Việt Nam) với 120km đường biên giới, phía Tây giáp tỉnh Luang Phabang với 100km đường biên giới và phía Nam giáp tỉnh Bolikhamxay và Xaysomeboun [20, tr.1] Thủ phủ là thị xã Phônsavăn

Địa hình của tỉnh Xiêng Khoảng tương đối phức tạp với ba khu vực riêng biệt: miền núi, cao nguyên và đồng bằng, trong đó diện tích khu vực miền núi chiếm 90%, khu vực cao nguyên chiếm 8% và khu vực đồng bằng chiếm 2% [20, tr.1]

Xiêng Khoảng là tỉnh có hàng trăm ngọn núi cao từ Đông đến Bắc và từ Tây xuống Nam như núi Phou Bia, Phou Sủng, Phou Nỏng, Phou Sam Che, Phou Buôm Lổng, Phou Pha Tung, Phou Chom Sỉ, Phou Xa, Phou Phả sút, Phou Sam Sum, Phou Lêk, Phou Mừn, Phou Nong, trong đó, ngọn núi Phou Bia cao 2817m

so với mực nước biển là đỉnh cao nhất trong tỉnh đồng thời cao nhất tại Lào

Xiêng Khoảng còn có nhiều con sông như sông Ngừm, sông Săn, sông Nơn, sông Tiên, sông Mặt, sông Mộ và các sông khác Các sông suối có vai trò rất lớn trong đời sống của người dân, cung cấp nguồn nước, nguồn thủy sản dồi

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

dào và đường giao thông thuận tiện Dọc theo dãy sông ở hai bên phía Tây và Đông là rừng nguyên sinh với nhiều loại gỗ quý có giá trị cao về mặt kinh tế như

gỗ giáng hương, gỗ kiền kiền, gỗ Lông lêng, gỗ hinh, gỗ pek và nhiều loại gỗ khác nữa Rừng của Xiêng Khoảng có nhiều loài chim và thú cần được bảo vệ Đây là những điều kiện để phát triển lâm nghiệp, công nghiệp chế biển lâm sản

và phát triển du lịch tự nhiên, sinh thái

Đất ở Xiêng Khoảng có nhiều loại, trong đó chủ yếu là đất trồng trọt Ngoài ra, còn có đất đồng cỏ nuôi gia súc và đất trồng lúa Đây là những thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa ngành tạo nguồn hàng nông sản cho thị trường nội địa và xuất khẩu

Nằm trong khu vực có núi đồi cao, khí hậu mát mẻ, nhiệt độ thấp nhất là 13°C, cao nhất là 32°C Thời tiết ở Xiêng Khoảng có 2 mùa: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 (dương lịch) Lượng nước mưa hằng năm đo được 1.250 mm/năm Nhìn chung, khí hậu của tỉnh Xiêng Khoảng khá thuận lợi cho hoạt động du lịch[20, tr.2]

Về giao thông, ngoài đường số 7A bắt đầu từ tam giác Diễn châu (Nghệ

An Việt Nam) đến huyện Hẹt, Xiêng Khoảng còn có đường số 4A bắt đầu từ cánh đồng Chum đến Thavieng, đường số 4B bắt đầu từ ngã ba Nongphet đi qua Lat Buak Xiêng Khoảng đến huyện Soui (huyện Phoukoud trong hiện nay) Ngoài ra còn phải kể đến những con đường được xây dựng trong thời kì chiến tranh chống Mĩ như đường Xam Thong Long Cheng [20, tr.3]

Xiêng Khoảng cũng là tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản như mỏ vàng ở Phu Bia, Phu Hẻ, mỏ sắt, mỏ kẽm , mỏ đồng, than đá ở làng Phày Đó là những thuận lợi cho sự phát triển ngành công nghiệp khai thác

Với những đặc điểm tự nhiên đặc thù của mình, Xiêng Khoảng có những thuận lợi để xây dựng một nền kinh tế đa ngành, bao gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp…

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.1.2 Các thành phần dân tộc và đơn vị hành chính

Qua thống kê mới nhất (năm 2017), Xiêng Khoảng có tổng dân số là 264.579 người, trong đó nữ 130.000 người chiếm 49,13%, mật độ dân số trung bình 18 - 19 người/km2 [24, tr.2]

Xiêng Khoảng có 7 dân tộc phân chia theo 3 nhóm ngôn ngữ sau:

Nhóm ngôn ngữ Lào - Tày có dân tộc Lào, dân tộc Tày Đen, Tày Đỏ và Tày

Trắng, có nhiều trong khu vực huyện Pek, huyện Kham, huyện Khoune và huyện Phou Kout

Nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me có dân tộc Khơ Mụ, dân tộc Phọong và dân

tôc Ơđu, tập trung ở huyện Kham, huyện Khoune, huyện Mok và huyện Phou Kout

Nhóm ngôn ngữ Mông - Miến có dân tộc Mông sinh sống ở hầu hết các

huyện của Xiêng Khoảng nhưng nhiều nhất là huyện Pek và huyện Noonghet

Về tổ chức hành chính, Xiêng Khoảng có 7 huyện bao gồm: huyện Pek, huyện Noonghet, huyện Kham, huyện Khoune, huyện Phaxay, huyện Mok và huyện Phou Kout Trong đó huyện có người Việt sinh sống đông nhất là huyện Pek Pek vừa là trung tâm đô thị vừa là trung tâm chính trị hành chính của tỉnh, đồng thời cũng là trung tâm phối hợp công tác giữa trung ương và địa phương

1.2 Quá trình người Việt đến Lào và định cư tại tỉnh Xiêng Khoảng

Việt Nam và Lào là hai nước anh em.Quá trình nhập cư của người Việt vào Lào diễn ra lâu dài, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển mối quan

hệ giữa hai nước Việt - Lào Quá trình di dân, nhập cư của người Việt Nam đến Lào nói chung và tỉnh Xiêng Khoảng được thúc đẩy bởi nhiều nhân tố chủ quan, khách quan khác nhau và có thể chia thành 4 giai đoạn:

- Thời kỳ phong kiến

- Thời kỳ Pháp thuộc

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Thời kỳ chiến tranh chống Mĩ

- Thời kỳ sau giải phóng và phát triển kinh tế

1.2.1 Thời kỳ phong kiến nhà Nguyễn

Theo thư tịch cổ ghi chép đầu tiên về quan hệ Việt - Lào, thời Tiền Lý, khi

bị quân Lương đàn áp, Lý Nam Đế buộc phải lánh nạn và anh ruột của vua là Lý Thiên Bảo đã chạy sang Lào lập căn cứ chống giặc ngoại xâm [17, tr 49] Thời Trần, nhiều quý tộc cũng sang Lào xây dựng căn cứ, nuôi dưỡng lực lượng làm

cơ sở để tìm đường khôi phục vương triều Nhìn chung, trước thời Nguyễn, việc

di dân đến Lào của các triều đại phong kiến Việt Nam diễn ra lẻ tẻ, không tạo thành các đợt cụ thể

Thế kỷ XIX, chính sách “cấm đạo” và “sát đạo” trên khắp cả nước của

nhà Nguyễn, đặc biệt dướithời vua Tự Đức (1823 - 1883) khiến nhiều người Công giáo buộc phải bỏ làng chạy sang các nước láng giềng như Lào, Thái Lan Các đạo dụ cấm đạo Thiên chúa ban hành vào các năm 1848, 1851 và tháng 7 năm 1857 với quy định nghiêm khắc như buộc đá vào cổ rồi ném xuống biển những người giảng đạo, thích chữ vào mặt rồi đầy đi nơi rừng sâu nước độc, phanh thây những người không chịu bỏ đạo hoặc chứa chấp giáo sỹ nước ngoài

đã dẫn đến cả một phong trào cấm đạo, giết đạo trên khắp cả nước, nhiều linh mục bị sát hại, nhiều nhà thờ và các xóm đạo bị đốt phá Cùng với đó,thiên tai, mất mùa, dịch bệnh, chế độ lao dịch và hàng loạt các loại sưu cao thuế nặng thời Nguyễn cũng là những nguyên nhân Việt phải chạy sang Lào để tìm kế sinh nhai.Đây có thể coi như giai đoạn đầu tiên của quá trình di dân lâu dài, tạo thành các cộng đồng người Việt ở Lào

Mặt khác, việc di cư của người Việt còn diễn ra trong bối cảnh xã hội rối ren với hàng loạt các cuộc nổi dậy chống triều đình và khởi nghĩa nông dân Thời

kỳ nửa cuối thế kỷ XIX là thời kỳ “rối ren thường xuyên, trên khắp nước” Đến

thế kỷ XX, sau khi triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước đầu hàng thực dân Pháp

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

năm 1883 thì các phong trào khởi nghĩa chống Pháp nổ ra khắp nơi, tiêu biểu là Phong trào Cần Vương Phong trào thất bại khi vua Hàm Nghibị bắt, một số người ủng hộ vua Hàm Nghi chống Pháp phải chạy sang Lào lánh nạn để tránh

sự tàn sát, truy đuổi gắt gao của Pháp

1.2.2 Thời kỳ Pháp thuộc

Các tài liệu lịch sử cho thấy, người Việt Nam sang Lào làm ăn, cư trú và trở thành kiều dân chủ yếu diễn ra vào thế kỷ XIX Đặc biệt, từ năm 1899, khi nước Lào (Ai Lao) bị thực dân Pháp sáp nhập vào Liên bang Đông Dương thì việc đi lại của người dân giữa các xứ trong cùng Liên bang trở nên thuận tiện và dễ dàng hơn

Trong thời kỳ 1858 - 1896, thực dân Pháp tiến hành xâm lược và bình định Đông Dương Từ năm 1897 đến những năm đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp dưới thời Toàn quyền Paul Doumer (1897 - 1902) tiến hành chính sách khai thác thuộc

địa lần thứ nhất với tên gọi “Chương trình khai thác lần thứ nhất” Những điểm chính trong công cuộc khai thác thuộc địa Đông Dương lúc đó là: “Xây dựng cho Đông Dương một hệ thống đường sắt, đường bộ, sông đào, bến cảng, những thứ cần thiết cho việc khai thác xứ Đông Dương…” và “Đẩy mạnh sản xuất và thương mại bằng việc phát triển công cuộc thực đân của người Pháp và lao động của người bản xứ…” Vì vậy, một bộ phận người Việt được chính quyền thực

dân đưa tới Lào để làm công chức trong bộ máy chính quyền thuộc địa Một bộ phận khác đi làm cu li đồn điền và phu, mở những con đường chiến lược sang Lào như đường nối liền đường số 6 Viêng Chăn - Hà Nội, đường số 13 Sài Gòn

- Krachie - Paksê - Luangprabang, đường số 12 Thà Khẹc - Hạ Lào, đường số 7 Luang Phabang - Xiêng Khoảng - Phú Diễn, Nghệ An, đường số 8 Thà Khẹc - Vinh, đường số 9 Đông Hà - Quảng Trị - Savannakhẹt Năm 1912, hệ thống đường xá thuộc địa nói chung của Đông Dương chưa phát triển, trong đó, Lào lại là nơi kém phát triển nhất Chính vì vậy, Pháp phải tăng cường nhiều nhân

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

công, đặc biệt là đưa nhân công người Việt Nam sang Lào làm phu đường nhằm

mở mang đường xá phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa tại xứ Lào Ngoài

ra, Pháp đưa người Việt sang đây làm cu li đồn điền trồng các loại cây công nghiệp

Sau Thế chiến I, từ năm 1919 trở đi, thực dân Pháp càng tích cực đẩy mạnh việc khai mỏ như các mỏ chì ở Phong Chiêu, Bộ Neng đồng thời mở rộng một

số xí nghiệp nên một bộ phận người Việt bị đưa tới Lào làm phu mỏ và làm “Cu li” công nhân để hoàn thành các công trình trong chính sách “Tích cực khai thác thuộc địa” ở toàn cõi Đông Dương

Tính đến năm 1930, ở Lào có khoảng trên 10.000 người Việt [9, tr.15], chủ yếu là tiểu thương và thợ thủ công ở các trung tâm, phần lớn họ cư trú ở Xiêng Khoảng và Viêng Chăn Ngoài mục đích phục vụ việc đẩy mạnh quá trình khai thác thuộc địa, thực dân Pháp còn đưa người Việt sang làm công chức trong bộ máy chính quyền thuộc địa ở Lào Trong thể chế chính quyền thuộc địa, cao nhất

là người Pháp còn dưới đó là các công chức người Việt

Trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp, quá trình di dân của người Việt đến Lào tiếp tục diễn ra Đặc biệt, nạn đói năm 1945 do Nhật và Pháp gây ra ở miền Bắc và Trung Việt Nam là nguyên nhân khiến nhiều người Việt từ các tỉnh Trung

Bộ như Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị theo đường số 8 sang tỉnh Thà Khẹc, theo đường số 9 sang tỉnh Savannakhet và các tỉnh Hạ Lào Không chỉ người nông dân mà ngay cả những gia đình khá giả có chức sắc ở các làng quê Việt Nam cũng phải đối mặt với nạn đói năm 1945 và họ cũng thấy khó có thể qua khỏi nếu cứ bám trụ lại nơi chôn nhau cắt rốn, nên nhiều người đã phải thiên di

đi tìm con đường sống [9, tr 69]

Những năm trong và sau khi Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, phát xít Nhật khi vào Đông Dương đã ra sức đàn áp không chỉ người Lào mà còn tấn

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

công vào cộng đồng người Việt trên toàn nước Lào Chính trong bối cảnh đó, lực lượng liên minh Việt - Lào được thành lập Lực lượng chủ chốt của đơn vị quân đội này chủ yếu là lớp thanh niên và trung niên người Việt cùng một số thanh niên Việt kiều từ Thái Lan sang phối hợp cùng với quân đội Lào kháng chiến chống Pháp Tháng 3 năm 1946, thực dân Pháp mở cuộc hành quân lớn vào thị

xã Thà Khẹc, Savannakhet và Viêng Chăn Nhiều Việt Kiều ở vùng này buộc phải tản cơ sang Isan (vùng Đông Bắc của Thái Lan) và ở lại sinh sống

Như vậy, hiện tượng di cư của người Việt đến Lào tăng theo thời gian từ khi vùng đất này là một xứ nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp và cộng đồng người Việt tại Lào cũng hình thành khá sớm Trong thời kỳ Pháp thuộc, do cuộc sống khó khăn, nạn đói hoành hành, một bộ phận dân các tỉnh miền Trung đã sang Lào sinh cơ lập nghiệp Một số công chức, sĩ quan, binh lính

bị Pháp đưa sang Lào phục vụ bộ máy cai trị và một số sang Lào làm ăn buôn bán Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, một bộ phận người Việt là quan chức, binh lính chế độ cũ đã ở lại định cư tại Lào

1.2.3 Thời kỳ chiến tranh chống Mĩ

Sau khi Pháp rút khỏi Lào, Mỹ tiếp quản và bắt đầu viện trợ cho chính phủ Lào để trả lương cho khoảng 12.800 - 15.000 nhân viên trong bộ máy quân sự, cảnh sát và hành chính Việc này đã tạo ra sự hấp dẫn, thúc đẩy sự phát triển của thị trường chợ đen buôn bán về đô la do mạng lưới buôn bán của người Hoa lũng đoạn Đây cũng là thời kỳ chính phủ cầm quyền ở Lào phụ thuộc hoàn toàn vào viện trợ của Mỹ, vì thế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Mỹ và cũng là thời kỳ ít

có người Việt di cư mới sang Lào

Sang đến những năm 60 - 70, khi miền Bắc Việt Nam đẩy mạnh quá trình thống nhất đất nước, việc tiếp tế cho miền Nam Việt Nam đánh Mỹ phụ thuộc nhiều vào đường mòn Hồ Chí Minh (một phần ở Lào) với những trận chiến khốc liệt giữa Liên quân Việt - Lào và Mỹ Do tính khốc liệt của chiến tranh Việt Nam,

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

một số người Việt đã chạy sang Lào, khi chiến tranh kết thúc họ ở lại làm ăn, sinh sống tại Lào

1.2.4 Thời kỳ sau giải phóng và phát triển kinh tế

Sau năm 1975, khi Mỹ rút khỏi Đông Dương, một số người Việt Nam do hoàn cảnh lịch sử hoặc do lo ngại chính quyền mới và những nguyên nhân về chính trị đã tới Lào định cư

Sau những thời kỳ chiến tranh, loạn lạc dưới chế độ thực dân Pháp và Mỹ, khi Việt Nam tiến vào thời kỳ xây dựng đất nước, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, các đợt di dân của người Việt sang Lào cũng diễn ra với số lượng khá lớn Đầu tiên phải kể đến những người Việt theo sự điều động của Chính phủ Việt Nam đến giúp Lào xây dựng các công trình phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở như làm đường giao thông, cầu cống, xây dựng các công trình thuỷ điện, nhà máy, xí nghiệp, nhà cao tầng… Khi công trình kết thúc, một bộ phận nhỏ công nhân không về quê mà tìm cách sinh sống tại

Lào Tiếp theo là những người “di cư tự do” đến Lào để tìm kiếm công ăn việc

làm theo mùa vụ, những người thuộc loại này đang ngày một gia tăng cùng với quá trình phát triển kinh tế của Lào

Đến giữa những năm 90, các thế hệ Việt kiều tại Lào đã tạo thành một cộng đồng khá đông đảo với gần 20.000 người, đa số sống ở thủ đô và các thành phố lớn như Viêng Chăn, Champasak, Savannakhet, Khăm Muộn, Luang Phabang, Xiêng Khoảng… Ông Trần Văn Chương - Chủ tịch Hội Việt kiều Viêng Chăn

tại Hội nghị Việt kiều Xuân Quý Dậu (1993) đã phát biểu: “Gần 20 ngàn Việt kiều chúng tôi từ các miền quê ra đi trong những năm tháng tối tăm dưới ách thực dân thuở trước trải qua những thời kỳ bị kìm kẹp của bộ máy thống trị … trong suốt chặng đường kháng chiến lâu dài đầy hy sinh gian khổ của hai dân tộc, cùng chiến đấu cùng giành thắng lợi Việt kiều chúng tôi đã không tiếc sức người, sức của và cả sự hy sinh xương máu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

độc lập tự do của mỗi nước Việt kiều chúng tôi tự hào về sự đóng góp tích cực của mình, được nhân dân Lào mến yêu, chính quyền Lào ngợi khen Từ sau giải phóng, toàn thể Việt kiều đùm bọc lẫn nhau làm ăn sinh sống, một lòng một dạ hướng về Tổ quốc thân yêu, gắn bó thuỷ chung với nhân dân Lào [1, tr.42]

Xiêng Khoảng là một tỉnh có khá đông người Việt Nam sang làm ăn và sinh sống Tại đây, người Việt định cư tạm thời chiếm số lượng đông nhất trong tổng

số người Việt Hiện nay, thống kê số lượng người Việt ở đây chưa có con số chính xác do số người Việt Nam mới sang Xiêng Khoảng làm ăn sinh sống mỗi năm luôn có sự thay đổi, cụ thể:

Bảng 1.1 Thống kê số người Việt Nam tại tỉnh Xiêng Khoảng (2013-2017)

Nguồn: Công an quản lý người nước ngoài tỉnh Xiêng Khoảng(2017) [19, tr.2]

Hội người Việt Nam tỉnh Xiêng Khoảng được thành lập từ năm 1984 Hội người Việt là mái nhà chung của cộng đồng người Việt Dưới sự lãnh đạo và tổ chức của Hội, hội viên thường xuyên được tham gia những sinh hoạt xã hội mang tính dân tộc trong cộng đồng theo đúng định hướng của nhà nước Việt Nam và Lào Đặc biệt, Hội còn giúp cộng đồng nhận thức được nhiệm vụ quan trọng của từng thành viên trong việc phát huy tình đoàn kết,giúp đỡ thương yêu nhau, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam anh hùng, nêu cao tinh thần yêu nước và không ngừng hướng về quê hương [5, tr.19]

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Như vậy, bằng nhiều con đường khác nhau, người Việt đã đến định cư ở Lào ngày một đông hơn Quá trình nhập cư diễn ra lâu dài suốt từ thời phong kiến nhà Nguyễn Chính những đợt nhập cư đó đã hình thành nên cộng đồng người Việt sinh sống trên đất Lào

1.3 Chính sách của chính phủ Lào đối với cộng đồng người Việt

Chính phủ Lào không có chính sách riêng đối với người Việt, mà chỉ có chính sách chung đối với người nước ngoài Đối cộng đồng người Việt tại Lào, luật định của chính phủ Lào quy định rất cụ thể Người Việt ở Lào gồm 3 bộ phận: Bộ phận Việt kiều (những người định cư lâu dài ở Lào nhưng chưa có quốc tịch Lào); Bộ phận người Lào gốc Việt; Bộ phận người Việt cư trú tạm thời (Những người mới đến Lào trong những năm gần đây với nhiều hình thức khác nhau)

Bộ phận Việt Kiều là những người Việt Nam định cư ở Lào từ lâu đời nhưng

chưa nhập quốc tịch Lào Nhà nước Lào quản lý họ theo những luật định đối với

người nước ngoài Tại điều 36, trang 11, Hiến pháp Lào quy định: “Những ngoại kiều mà chưa có quốc tịnh Lào đều có quyền được bảo vệ nhân quyền và quyền

tự do theo như Hiến pháp Lào quy định, có quyền khiếu kiện trước tòa án và các

cơ quan nhà nước Lào Mặt khác, họ phải tuân thủ luật pháp cũng như các quy

20/2/1997 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lào về việc tổ chức quản lý người nước

ngoài trong điều 4 trang đã nêu: “Những người nước ngoài mà được Bộ Nội vụ đồng ý định cư và làm ăn sinh sống tự do vĩnh viễn ở Lào thì được cấp chứng minh thư tạm thời của Cục quản lý xuất - nhập cảnh và được Cục An ninh kiểm soát Nếu trong 7 năm những người đó có biểu hiện tốt thì giao cho Cục quản lý dân số thuộc Văn phòng Quản lý người nước ngoài, cho phép được nhập hộ

Việt kiều được chính phủ Lào cho phép định cư ở Lào với những quy định hết sức cụ thể Tuy được cấp hộ khẩu và chứng minh thư Lào nhưng họ vẫn mang

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

quốc tịch Việt Nam, họ được nhà nước Lào quản lý theo những quy định của ngoại kiều không được tham gia bầu và ứng cử ở Lào Con cái của người Việt thuộc đối tượng này chịu nhiều thiệt thòi, nếu học tốt và muốn học các trường Đại học ở Lào thì phải xin làm con nuôi người Lào, mang họ Lào Người Lào lấy vợ hay chồng là người Việt hay người Việt lấy vợ chồng là người Lào, con cái của họ có quyền chọn quốc tịch của bố hay mẹ Nhìn chung,Việt kiều ở Xiêng Khoảng luôn chấp hành, chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng, nhà nước Lào, tích cực tham gia đóng góp vào các hoạt động xã hội của nơi cư trú Bên cạnh đó, họ luôn luôn hướng về tổ quốc thân yêu của mình bằng việc làm như hưởng ứng tích cực giúp đỡ đồng bào trong nước, ủng hộ giúp đỡ nạn nhân, chất độc màu da cam, các đoàn bộ đội Việt Nam sang tìm hài cốt các đồng đội

đã hy sinh tại đất Lào cũng như tỉnh Xiêng Khoảng Một số Việt kiều chưa về Việt Nam bao giờ nhưng họ luôn yêu thương Việt Nam và hướng về tổ quốc của mình [9, tr.18] Số lượng Việt kiều sinh sống tại tỉnh Xiêng Khoảng cũng như các tỉnh khác ở Lào không nhỏ Khá nhiều người trong số họ cần cù lao động, tiết kiệm trong sinh hoạt nên cũng có số vốn nhất định Luật pháp Lào không cho phép họ sở hữu bất động sản nên họ cũng gặp khó khăn nhất định Nếu muốn phát triển kinh tế nông nghiệp, họ không được sở hữu đất đai mà chỉ ở vị trí thuê hoặc làm thuê Trong lĩnh vực kinh doanh họ không được chính phủ Lào cấp thẻ môn bài mà họ phải thuê lại của người Lào gốc…Đây là một trong những nguyên nhân giải thích tại sao người Việt đến Lào chủ yếu sống ở các thành phố và hoạt động kinh doanh của họ mang quy mô vừa hoặc nhỏ và có những bất cập nhất định

Bộ phận thứ hai là người Việt Nam đã nhập quốc tịch Lào gọi là người

Lào gốc Việt, những người Việt nhập quốc tịch Lào có quyền lợi và nghĩa vụ đầy đủ như người Lào Họ được làm tất cả mọi ngành nghề như người Lào, có thể mua bán đất động sản như nhà ở, đất, xe và được cấp giấy phép kinh doanh, được học tại các trường học ở Lào, kể cả trường đại học trong nước và nước

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ngoài [8, tr 44].Ngoại kiều được nhập quốc tịch Lào được quy định tại điều 9, điều 14, điều 16 và điều 25 của Luật quốc tịch Lào Từ năm 1993-1994, chính phủ Lào cho phép người Việt nhập quốc tịch Lào Công dân nước ngoài hoặc người không có quốc tịch Lào có thể được nhập quốc tịch theo đơn xin gia nhập quốc tịch của người đó, nếu xét thấy có đủ các điều kiện sau:

1 Từ 18 tuổi trở lên

2 Tuân thủ hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

3 Biết nói, viết, đọc chữ Lào thành thạo

4 Có bằng chứng có thể chứng minh mình đã hòa nhập vào cộng đồng xã hội

và phong tục tập quán Lào; tôn trọng truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc Lào

5 Có sức khỏe tốt, không mắc bệnh truyền nhiễm, không nghiện ma túy

6 Không có tiền án, tiền sự

7 Có công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Lào

8 Không gây thiệt hại đến lợi ích của tổ quốc Lào

9 Đã thôi hoặc đã từ bỏ quốc tịch cũ của mình

10 Đã ở Lào liên tục từ 10 năm trở lên, đã có hộ nhân khẩu và chứng minh thư do Lào cấp; riêng với người có trình độ chuyên môn bậc chuyên gia quy định thời hạn trên có thể ngắn xuống

11 Có cuộc sống kinh tế ổn định [17, tr 65]

Nhiều Việt kiều cho con cái của mình nhập quốc tịch Lào theo hình thức hôn nhân hoặc nhận làm con nuôi của người Lào Nhìn chung, chưa có thống kê chính xác số lượng người Việt nhập quốc tịch Lào tại tỉnh Xiêng Khoảng

Bộ phận thứ ba là người Việt cư trú tạm thời Đây là những người Việt sang

Lào sau năm 1975 Cuộc sống của họ phần lớn là không ổn định và thành phần hết sức đa dạng Quản lý đối tượng này được ghi rõ trong điều 4, điều 6 và điều

7 tại bổ sung mới, công bố năm 2004 trong luật quốc tịch Lào Những người mới nhập cư, khi vào Lào họ có giấy thông hành hoặc hộ chiếu Giấy thông hành do

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

các tỉnh biên giới cấp nhưng không thể đi sâu vào nội địa Giấy thông hành và

hộ chiếu khi hết hạn không được phép ở Lào Trong thời gian ở Lào, họ có quyền

sở hữu tư nhân đối với nguồn thu nhập hợp pháp, có quyền thừa kế tài sản theo luật pháp Lào quy định Khi không tiếp tục cư trú nữa, họ có quyền mang theo tài sản của mình Đương nhiên, họ cũng không có quyền sở hữu đối với bất động sản Luật pháp Lào rất nghiêm khắc đối với người nước ngoài vi phạm luật định Đối với người đến Lào lao động nhưng trốn thuế, theo chỉ thị số 110 (20/10/1997) của Bộ An Ninh, mức phạt từ 100 đến 1000 USA và bị trả về nước Nếu vi phạm luật cư trú và kinh doanh không khai báo bị phạt từ 500 đến 5000 USA [15, tr 397]; Trốn tránh, làm giả sổ hộ khẩu gia đình hoặc chứng minh thư thành ngoại kiều hoặc thành công dân Lào mà không được phép của Bộ An Ninh bị đưa ra tòa xét theo luật pháp…

Nhìn chung,người Việt ở Lào có nhiều thuận lợi trong hoạt động kinh tế bởi

Việt Nam và Lào là hai nước có “mối quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện”

Người Việt ở Lào được hưởng hầu như trọn vẹn tình hữu nghị đặc biệt đó Người Việt sinh sống tại Xiêng Khoảng nói riêng và Lào nói chung lao động cần cù, sống hài hòa, tôn trọng luật pháp Cho đến nay, ở tỉnh Xiêng Khoảng đã có Hội Việt Kiều để góp phần giúp đỡ bà con người Việt trong làm ăn sinh sống, phát triển sản xuất và gắn bó với quê hương, xứ sở Thêm vào đó, nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến cộng đồng người Việt ở nước ngoài với những chủ trương, chính sách hết sức thuận lợi Với sự quan tâm, hướng dẫn, giúp đỡ của Tổng lãnh

sự quán Việt Nam tại Lào, người Việt càng có thêm nhiều điều kiện thuận lợi để làm ăn sinh sống Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài nêu rõ: Đối với bà con người Việt ở các nước lân cận, còn nghèo như Lào, Campuchia, nhà nước có những hỗ trợ nhất định cho bà con nhất là về giáo dục đào tạo, tạo điều kiện học hành cho cộng đồng người Việt Ngày nay, trong không khí của sự hợp tác toàn diện, đặc biệt, quan hệ Việt - Lào

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ngày càng tốt đẹp, địa vị của người Việt Nam ở Lào ngày càng được cải thiện hơn trước

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Tiểu kết chương 1

Lào là một quốc gia nằm ở trung tâm của tiểu vùng sông Mê Công Trong lịch sử thời phong kiến, Lào là một quốc gia độc lập, phát triển hùng mạnh Do mâu thuẫn nội bộ, nước Lào rơi vào trạng thái phân liệt và trở thành thuộc địa của Xiêm, sau trở thành thuộc địa của thực dân Pháp từ năm 1983 Trải qua những năm tháng đấu tranh cách mạng, giành độc lập dân tộc, năm 1975 Lào là thực sự được giải phóng Nhân dân các bộ tộc Lào bước vào thời kỳ khôi phục

và xây dựng đất nước Lào là một quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không có đường biên giới biển nhưng Lào luôn là một quốc gia có nhiều tiềm năng phát triển, một vùng đất văn hóa đa dạng, có nền chính trị - xã hội hài hòa, cởi mở nhưng dân số ít nên từ rất sớm Lào là điểm đến của cư dân các nước láng giềng trong quá trình di cư tự phát

Xiêng Khoảng là một tỉnh nằm ở Đông Bắc của Lào Lịch sử Xiêng Khoảng gắn kết chặt chẽ với lịch sử của đất nước Lào Quá trình nhập cư của người Việt Nam vào Lào nói chung và Xiêng Khoảng nói riêngdiễn ra trong suốt chiều dài lịch sử, dần dần hình thành cộng đồng người Việt sinh sống và làm việc tại Lào, với 3 bộ phận chủ yếu: Bộ phận đã nhập quốc tịch Lào (người Lào gốc Việt); Bộ phận được sinh ra hoặc làm ăn sinh sống lâu đời tại Lào từ năm 1975 về trước chưa nhập quốc tịch Lào (Việt kiều); Bộ phận mới sang cư trú tại Lào hoặc sang làm ăn theo mùa vụ Người Việt tại Lào được chính phủ Lào giúp đỡ, tạo điều kiện làm ăn, sinh sống Chính sách của chính phủ Lào đối với cộng đồng người Việt tại Lào là một nhân tố thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp giữa Lào - Việt Nam Ngày nay, người Việt đã trở thành cầu nối cho quan hệ Lào - Việt ngày càng trở nên bền vững Dưới sự lãnh đạo của Hội người Việt Nam tại Xiêng Khoảng, hoạt động kinh tế, văn hóa của người Việt phát triển mạnh, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Xiêng Khoảng nói riêng và cả đất nước Lào

Chương 2

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

HOẠT ĐỘNG KINH TẾ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM TẠI TỈNH XIÊNG KHOẢNG TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2017

Trước năm 1986, người Hoa giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Lào Sau năm 1986, những người Hoa giàu có ở Lào đều chạy ra nước ngoài, vì vậy, người Việt có điều kiện tiếp nhận thị trường và ngày càng khẳng định vai trò của mình

Từ năm 1986 đến nay, công cuộc đổi mới do Đảng nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo đã đưa nước Lào phát triển toàn diện, thoát khỏi tình trạng nước kém phát triển và tiếp tục thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mở rộng hội nhập với khu vực và quốc tế, bảo đảm tốc độ phát triển kinh tế cao Đảng và nhà nước Lào luôn quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt ở Lào nói chung,

ở tỉnh Xiêng Khoảng nói riêng làm ăn

Người Việt vốn có đức tính cần cù, chăm chỉ, thông minh, tháo vát, đầy sáng tạo trong mọi lĩnh vực từ học hành đến chuyên môn nghề nghiệp Có những nghề họ quen làm và có kinh nghiệm từ Việt Nam, có những nghề trong điều kiện thiên nhiên và môi trường ở Lào họ sớm thích ứng và khẳng định được ưu thế Cùng với quá trình hình thành và phát triển của nền sản xuất hàng hóa, kinh

tế thị trường và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Lào, người Việt ở đây làm ăn giỏi, nhiều người thành đạt Ngành nghề kinh tế của người Việt ở Xiêng Khoảng khá đa dạng, trong đó, chiếm phần lớn là các ngành nghề kinh doanh, dịch vụ ở quy mô vừa và nhỏ Cộng đồng người Việt là thành phần đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của tỉnh Xiêng Khoảng nói riêng, nước Lào nói chung

2.1 Nông nghiệp và thủ công nghiệp

2.1.1 Nông nghiệp

Ngành nông nghiệp của người Việt Nam tại tỉnh Xiêng Khoảng chưa phát triển và số người Việt Nam làm nông nghiệp ở đây cũng rất ít Thời Pháp thuộc, một số lính khố xanh người Việt khi giải ngũ về quê bị mất đất đã trở lại Lào, họ

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

phải thuê ruộng đất của người Lào để trồng lúa nước, ngô và rau Do làm nông nghiệp theo mùa vụ, sử dụng công cụ canh tác lạc hậu, mùa thu hoạch phải trả phí thuê đất bằng tiền hoặc thóc gạo, sản phẩm nông nghiệp không đủ cho cuộc sống khiến họ gặp nhiều khó khăn nên một số người lại trở về Việt Nam

Hiện nay, mặc dù nông nghiệp vẫn là nghề chính của người Lào và chính phủ Lào không cấm người Việt Nam làm ruộng, chăn nuôi nhưng lại không cho phép người nước ngoài cư trú tại Lào được sở hữu ruộng đất, vì vậy, người Việt phải thuê đất của người Lào bản xứ, mặt khác sản phẩm nông nghiệp ít đem lại lợi nhuận, vì vậy, số người Việt Nam làm nông nghiệp ở Xiêng Khoảng cũng vẫn rất ít Phần lớn họ làm các nghề khác như buôn bán, dịch vụ và công nhân

Các hoạt động kinh tế nông nghiệp của người Việt ở Xiêng Khoảng chủ yếu phục vụ các nhu cầu cuộc sống của họ và gia đình Các loại cây trồng chủ yếu của người Việt gồm có các loại cây lương thực như:

Lúa tẻ: Đây là loại cây lương thực mà một số Việt Kiều ở tỉnh Xiêng

Khoảng thường trồng để nấu cơm ăn vào dịp Tết và những ngày có khách Việt Nam đến thăm nhà Giống lúa tẻ người Việt thường trồng là lúa tẻ thơm, khi xay xát, nấu cơm có mùi thơm, hạt cơm mềm và màu trắng trong Một năm, người Việt trồng lúa tẻ này một vụ

Lúa nếp: Là cây lương thực chủ đạo mà cả người Lào và người Việt trồng

khắp nơi Nhiều gia đình Việt Kiều do sinh sống ở Lào đã lâu nên quen với việc

sử dựng gạo nếp làm lương thực hàng ngày, vì vậy, đã trồng giống lúa này Các giống lúa được trồng phổ biến là lúa Khậu Đo, Khậu Ko Khó, Khậu Hóm Ma Lị, hầu hết các gia đình trồng các loại lúa này, bởi các loại lúa này trồng khá dễ, thời gian thu hoạch ngắn

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Ngoài các loại lúa trên, người Việt còn trồng các loại ngô, khoai làm thức

ăn cho mình và vật nuôi trong gia đình Tỉnh Xiêng Khoảng là một trong những vùng sản xuất ngô chính của Lào

Bên cạnh các loại cây lương thực chủ đạo, người Việt còn trồng thêm các loại rau Rau là thức ăn không thế thiếu được trong mỗi mâm cơm của gia đình người Việt Để tiết kiệm tiền, các gia đình Việt đã dùng một mảnh đất nhỏ làm vườn trồng các loại rau muống, bắp cải, rau dền đỏ, rau mồng tơi, rau ngót, lá lốt, xà lách Các loại rau được người Việt chế biến thành các món ăn theo kiểu Việt và Lào như: luộc, canh, xào, nộm và ăn sống với món ăn khác Ngoài các loại rau đã kể trên đây, trong vườn người Việt còn trồng các nhiều loại cây gia

vị như mùi tàu, thì là, húng quế, gừng, riềng và xả…

Ngoài trồng lúa, người Việt ở Xiêng Khoảng còn chăn nuôi một số loại gia súc, gia cầm như lợn, gà, vịt…Chăn nuôi vừa đảm bảo phục vụ nhu cầu cuộc sống vừa mang lại nguồn thu cho các gia đình làm nghề nông.Gà là loại gia cầm mà người Việt nuôi nhiều để phục vụ cho cuộc sống của mình Giống

gà người Việt nuôi phổ biến là gà Kày Lạt, một loại gà truyền thống của Lào Loại gà này khá dễ nuôi, chỉ cần có chuồng để ban đêm gà ngủ và khi đẻ có chỗ cho gà ấp trứng, còn ban ngày thả tự tìm ăn ở sân làng Từ gà Kày Lạt, người Việt chế biến được nhiều món ăn rất ngon như nướng, luộc, món Lạp

và món Koy…

Vịt cũng là vật nuôi thường gặp tại các gia đình của người Việt tại tỉnh Xiêng Khoảng, có nhiều giống như: vịt Pết Ga, vịt Pết Thệt và vịt Pết Lạt, người Việt nuôi vịt nhằm để phục vụ nguồn thức ăn trong gia đình

Ngoài gà và vịt, trong các gia đình người Việt còn nuôi lợn Thông thường người Việt xây chuồng lợn ở sau nhà, họ nuôi khoảng 1-2 con lợn để thịt vào những ngày lễ, Tết, đây cũng là loại thịt mà họ chế biến thức ăn để thờ cúng trong dịp tết của người Việt

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nhìn chung, người Việt ở tỉnh Xiêng Khoảng không coi nông nghiệp là nghề chủ đạo trong đời sống của mình, việc trồng trọt, chăn nuôi chỉ là để tăng thêm nguồn lương thực, thực phẩm cho gia đình của họ

2.1.2 Thủ công nghiệp

Người Việt ở Xiêng Khoảng thành thạo nhiều nghề thủ công khác nhau, phần lớn là những nghề mang tính gia truyền: Nghề mộc, nghề đúc, nghề rèn, nghề gò hàn, đan dệt, thêu thùa…

Các nghề thủ công đã góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm

và tăng thêm nguồn thu nhập cho người Việt tại tỉnh Xiêng Khoảng Đặc biệt, nghề may là nghề khá phổ biến của người Việt ở tỉnh Xiêng Khoảng, trong đó phải kể đến tiệm may của anh HT tại làng Phônngamnua, huyện Pek tỉnh Xiêng Khoảng; tiệm may của anh Bùi Đặc Tin ở làng Thuân huyện Pek tỉnh Xiêng Khoảng cũng may quần, áo và bộ vest nam nữ

Hiện nay, nhiều người Lào thích may quần áo hơn đi mua ở chợ nên họ thường xuyên may quần áo mới vào các dịp quan trọng như ngày đám cưới, lễ mừng nhà mới, đi chùa…

2.2 Công thương nghiệp và dịch vụ

2.2.1 Công nghiệp

Với những thuận lợi về điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển kinh tế và các chính sách của chính phủ Lào đối với nước ngoài, Xiêng Khoảng là tỉnh thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến, trong đó, phần lớn là người Việt Nam và Trung Quốc

Xiêng Khoảng chưa có các công ty và nhà máy công nghiệp lớn mà chủ yếu

là các cơ sở sản xuất nhỏ với khoảng 30 công nhân Người Việt tại Xiêng Khoảng làm việc trong các dự án đầu tư của Việt Nam như nhà máy chế biến gỗ, nhà máy sản xuất giấy vệ sinh, nhà máy ốt gai lưới, nhà máy sản xuất bột khoai…

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Các nhà máy chế biến gỗ có nhiều ở huyện Pek, tiêu biểu như nhà máy chế biến gỗ của chị Nguyễn Thị Hà có 13 công nhân, trong đó 11 công nhân Việt Nam và 2 công nhân Lào Nhà máy chế biến gỗ của anh Bùi Huy Đạt (Tên tiếng Lào là Si Phăn) có 10 công nhân đều là người Việt Nam Nhà máy chế biến gỗ của anh Đạt Thương có 10 công nhân, trong đó có 9 công nhân Việt Nam Sản phẩm chủ yếu của các nhà máy là bàn ghế, giường, tủ phục vụ cho dân trong tỉnh và xuất khẩu về Việt Nam

Tỉnh Xiêng Khoảng có 1 nhà máy sản xuất giấy vệ sinh ở làng Nặm Tộm huyện Pek Nhà máy được xây dựng từ năm 2012, rộng 25x45m, có 12 công nhân người Việt Nam và 1 công nhân người Lào

Xiêng Khoảng chỉ có 2 nhà máy ốt gai lưới Một nhà máy của chị Liên Phương ở huyện Khăm mới xây dựng tháng 2 năm 2017, có 6 công nhân người Việt Nam và 1 công nhân là người Lào Nhà máy thứ hai của anh Ngyễn Văn Toàn cũng ở huyện Khăm, có 2 công nhân và vợ chồng chủ nhà

Nhà máy sản xuất bột khoai có ở làng Nậm Xiểm huyện Pha Xay do anh

Hồ Văn Nông làm chủ, được xây dựng ngày 26 tháng 3 năm 2017, với tổng diện tích 62 ha trồng khoai tây Sản lượng trung bình một ngày của nhà máy là 1,3 tấn Nhà máy có 18 công nhân người Việt Ngoài ra còn phải kể đến nhà máy chế biến bột khoai mì của anh Nguyễn Văn Phong ở làng Phiêng Luang huyện Phu Kuot, có 16 công nhân Việt Nam và 2 công nhân Lào

2.2.2 Thương nghiệp

Trước đây, nền kinh tế Lào chưa phát triển, hàng hóa không nhiều nên người Lào cũng như người Việt tại đây không mặn mà với nghề buôn bán, chạy chợ Sau này, quy định của luật pháp Lào thuận lợi cho kinh doanh vừa và nhỏ

đã tạo điều kiện cho người Việt phát triển các hoạt động thương mại, buôn bán

Từ năm 1945 đến năm 1975, người Hoa nắm vai trò chủ đạo trong thị trường buôn bán ở Lào Sau năm 1975, đặc biệt từ năm 1986 đến nay, Việt Nam và Lào

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tăng cường quan hệ hợp tác đã tạo môi trường thuận lợi cho người Việt ở Lào làm ăn và sinh sống

Tại tỉnh Xiêng Khoảng, buôn bán là nghề chính của người Việt Trên những con đường chính của thành phố Xiêng Khoảng, dạo quanh các khu chợ như Suanphukham, Nậm Ngam dễ dàng nhận thấy cộng đồng người Việt có những cửa hàng hết sức khang trang, buôn bán đông đảo tấp nập

Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Thương mại, năm 2017, người Việt làm nghề buôn bán rất nhiều, đông nhất là huyện Pek Ven các con đường hoặc chợ đều có nhiều cửa hàng của người Việt Nam Địa bàn buôn bán của người Việt tập trung chủ yếu trong các chợ lớn ở Xiêng Khoảng như: chợ SuanPhuKham, chợ Nậm Ngam, chợ Nong Pêt, chợ Lát Khài và chợ Jom Thong … Mặt hàng kinh doanh phong phú, đa dạng như: đá quý, quần áo, đồ điện tử, dày dép, vải vóc… Xuất xứ của hàng hóa chủ yếu từ Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan

Hoạt động buôn bán của người Việt tại tỉnh Xiêng Khoảng tương đối phong phú, gồm một số loại hình và cấp độ như sau:

Các cửa hàng buôn bán lớn có công nhân làm thuê:Các cửa hàng này

thường kinh doanh các mặt hàng như quần áo, vật liệu xây dựng, quán cơm, hàng điện tử, nội thất Tiêu biểu đó là cửa hàng bán dụng cụ thể thao, quần áo thể thao của chị Hoa Thị Hà ở làng Thơn thành phố Phônsavăn Cửa hàng của chị Chân Xuân Qúy ở Phônsavăn bán hàng ăn và nhận đặt tiệc, cưới hỏi, sinh nhật Cửa hàng luôn có 6 nhân viên người Việt và 2 nhân viên Lào Ngoài bán tại nhà hàng còn phục vụ vận chuyển hàng hóa tận nơi Ngoài ra, còn có cửa hàng bán buôn bán lẻ đồ dùng gia đình và mỹ phẩm của chị Pham Thị Hoan ở chợ Nằm Ngăm; cửa hàng bánh mì của chị La Thiên Thành; cửa hàng bán phụ tùng ô tô cũ của ông Lê Văn Thắng ở làng Phônngamtai; cửa hàng sửa ô tô và bán phụ tùng của

Lê Vật Liệu ở làng Phônsaarttai huyện Pek

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Bảng 2.1 Thống kê cửa hàng buôn bán lớn ở tỉnh Xiêng Khoảng năm 2017

STT

Họ và tên chủ

cửa hàng

Mặt hàng kinh doanh

Địa điểm

10 Nguyễn Anh Toàn Thiết bị gia dùng và đồ vệ sinh Phônsavăn

Nguồn: Sở Nông nghiệp và Thương mại tỉnh Xiêng Khoảng [28, tr.2]

Các cửa hàng buôn bán trung bình:Loại hình buôn bán này có cửa hàng

cửa hiệu, có quầy hàng cố định Những cửa hàng này thường tập trung ở quanh thành phố Phônsavan và các chợ lớn của Xiêng Khoảng như chợ Suan Phu Khăm, chợ Na Nằm Ngăm, chợ Joom Thoong…Số người Việt Nam buôn bán tại các cửa hàng trung bình chiếm đa số Mặt hàng kinh doanh chủ yếu là quần

áo, giày dép, vải vóc, mỹ phẩm, đồ máy tính, đồ điện…Một số cửa hàng kinh

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

doanh có uy tín, rất đông khách như cửa hàng Trần Văn Quang bán giày dép ở ven đường thành phố Phônsavăn

Bảng 2.2 Thống kê cửa hàng buôn bán trung bình

ở tỉnh Xiêng Khoảng năm 2017

STT Họ và tên chủ cửa

hàng Mặt hàng kinh doanh Địa điểm

Nguồn: Sở Nông nghiệp và Thương mại tỉnh Xiêng Khoảng [28, tr.3]

Các cửa hàng buôn bán nhỏ: Bao gồm các sạp hàng, quán nhỏ của người

Việt Nam kinh doanh các mặt hàng hóa như hoa quả, thực phẩm, đồ trang sức, trang phục… Nhìn chung, các mặt hàng buôn bán đa dạng, phong phú và phần lớn được nhập từ Việt Nam Cũng thuộc loại hình buôn bán nhỏ còn phải kể đến

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

những người không thuê được sạp hàng cố định trong chợ nên phải bán hàng rong ruổi trên các con đường, ngõ nhỏ Thu nhập hàng tháng được khoảng 1.000.000 Kíp Cuộc sống eo hẹp nên họ phải làm thêm những nghề khác như: thợ xây và thợ mộc…

2.2.3 Dịch vụ

Ngoài buôn bán, các nghề dịch vụ cũng chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu ngành nghề của người Việt ở Xiêng Khoảng Trước năm 1986, các dịch vụ của người Việt chưa phát triển nhiều Từ sau 1986, do những chính sách rộng mở của chính phủ Lào và Việt Nam, số lượng người Việt làm các nghề dịch vụ tại Xiêng Khoảng tăng lên nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế của tỉnh Xiêng Khoảng

Theo thống kêcủa Sở Nông nghiệp và Thương mại cho biết năm 2017, có khoảng 274 người làm nghề dịch vụ Người Việt tại Xiêng Khoảng tham gia các hoạt động dịch vụ như: Cửa hàng ăn uống nhỏ, nhà hàng, khách sạn, du lịch, thợ may, thợ mộc, lái xe, sửa chữa xe máy, ô tô, thợ cắt tóc và các dịch vụ khác Đặc biệt, một lĩnh vực hoạt động kinh tế mà người Việt ở Xiêng Khoảng khẳng định được vị trí và đang phát triển đó là chế biến và dịch vụ ẩm thực Nhiều món ăn

do người Việt chế biến như giò chả, nem cuốn, dưa muối, cà muối từ lâu đã trở thành món ăn được nhiều người dân Lào ưa chuộng Tại Xiêng Khoảng, các cửa hàng ăn uống của người Việt chiếm tỉ lệ khá cao Tuy nhiên, các nhà hàng cao cấp không nhiều, phần lớn là các hàng cơm bụi hoặc hàng cơm bình dân Các quán ăn không chỉ là nơi buôn bán đồ ăn thức uống mà còn là nơi người Việt gặp

gỡ, giao tiếp, trao đổi và chia sẻ công việc

Ngoài các dịch vụ ăn uống trên, kinh doanh khách sạn cũng là một trong những nghề rất phát đạt ở Xiêng Khoảng Tại tỉnh Xiêng Khoảng chỉ có hai nhà nghỉ và một khách sạn do người nước ngoài làm chủ Các nhà nghỉ và khách sạn này thuộc loại trung bình, giá cả phù hợp với khách du lịch hoặc đi công tác tại

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Lào Số phòng khách thuê hàng ngày chiếm tỷ lệ cao từ 70% đến 80% số phòng, thậm chí có những thời điểm không đủ phòng cho thuê Hai nhà nghỉ là của ông Liệu Pi Mi Xay ở làng Phônsavănkang (Chồng Việt vợ Lào) Còn một khách sạn

là khách sạn Xiêng Khoảng (COECOC) của ong Nguyễn Thanh Minh nằm ở làng Phônsavănxay, huyện Pek rất gần các điểm tham quan như: Chợ đêm, chợ Suanphukham, bảo tàng Phumivongvichit Khách sạn Xiêng Khoảng có 3 tầng gồm 47 phòng (đều có Wifi free, TV, và máy lạnh), có phòng nghỉ, nhà hàng và các dịch vụ khác (ăn uống, cưới hỏi, hội thảo, hội nghị, du lịch thể thao), có giá từ 170.000 - 200.000 kíp/đêm và đón khách 24h Khách sạn này có 19 nhân viên, 12 nhân viên Việt Nam và 7 nhân viên Lào Đội ngũ nhân viên thông thạo cả tiếng Việt - tiếng Lào - tiếng Anh sẵn sàng hướng dẫn khách hàng.Với mức giá phòng hợp lý, đội ngũ nhân viên nhiệt tình và thân thiện, bãi đỗ xe rộng rãi, không gian

vả cảnh quan thoáng đãng, dịch vụ ăn nghỉ được đảm bảo theo tiêu chuẩn tốt nhất ở khách sạn Xiêng Khoảng

Du lịch cũng là một ngành dịch vụ khá phát triển ở Xiêng Khoảng Lợi thế

về mặt lịch sử với Cánh đồng Chum và điều kiện khí hậu thuận lợi, Xiêng Khoảng thu hút được khá đông khách du lịch Trong lĩnh vực này, Việt kiều ở cả hai nước Lào và Việt Nam với lợi thế hiểu biết cả hai nền văn hóa, ngôn ngữ, nên họ hoạt động ở lĩnh vực du lịch và môi giới kinh doanh rất có hiệu quả Trong những năm qua, sự giao lưu và trao đổi giữa các nhà kinh doanh của hai nước ngày một nhiều, hiệu quả công việc có lẽ sẽ kém hiệu suất nếu không có phiên dịch là Việt kiều Việt kiều không chỉ tham gia các giao dịch thông thường mà còn xử lí văn bản và tài liệu bằng tiếng Lào và tiếng Việt

Cùng với những dịch vụ trên, còn phải kể tới các nghề dịch vụ khác như chăm sóc sắc đẹp, cắt tóc gội đầu, sơn sửa móng tay của người Việt ở Xiêng Khoảng Những nghề này chủ yếu do phụ nữ làm Họ đa phần là những người Việt mới đến Lào tìm việc làm Một số ít mở các cửa hàng nhỏ còn lại hầu hết là đi làm dạo quanh các chợ, các khu buôn bán, đông dân cư Thu nhập của họ nói chung

Ngày đăng: 30/03/2021, 13:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thị Vân Anh (2007), “ Nguyên nhân và các đợt di dân của người Việt đến Lào ”, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân và các đợt di dân của người Việt đến Lào ”, "Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Vũ Thị Vân Anh
Năm: 2007
2. D.G.Hall (1997), “Lịch sử Đông Nam Á”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lịch sử Đông Nam Á”
Tác giả: D.G.Hall
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
3. Trương Sỹ Hùng (2013), “Tín ngưỡng dân gian trong đời sống văn hóa Lào và Việt Nam”, Viện nghiên cứu Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tín ngưỡng dân gian trong đời sống văn hóa Lào và Việt Nam”
Tác giả: Trương Sỹ Hùng
Năm: 2013
4. Nguyễn Văn Khoan (2008), “Việt - Lào hai nước chúng ta”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Việt - Lào hai nước chúng ta”
Tác giả: Nguyễn Văn Khoan
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
5. Layphone Phamahesack (2015), “Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn(Lào)”, Luận văn Thạc sĩ nhân văn, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn(Lào)”
Tác giả: Layphone Phamahesack
Năm: 2015
6. Nguyễn Quốc Lộ (2006), “Người Việt ở Thái Lan - Campuchia - Lào”, Nhà xuất bản Văn nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Người Việt ở Thái Lan - Campuchia - Lào”
Tác giả: Nguyễn Quốc Lộ
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
7. Phạm Thị Mùi (2007), “Nghi lễ vòng đời của người Việt ở Lào và vấn đề giao thoa văn hóa Việt Nam - Lào”, Viện nghiên cứu Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghi lễ vòng đời của người Việt ở Lào và vấn đề giao thoa văn hóa Việt Nam - Lào”
Tác giả: Phạm Thị Mùi
Năm: 2007
8. Phongsavath SILIPANYA (2015), “Kinh tế, văn hóa của người Việt ở thành phố Viêng Chăn (Lào) năm 1975 - 2014”, Luận văn thạc sĩ nhân văn, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kinh tế, văn hóa của người Việt ở thành phố Viêng Chăn (Lào) năm 1975 - 2014”
Tác giả: Phongsavath SILIPANYA
Năm: 2015
9. Sombath KINGBOUAKAI (2018), “Kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt tại tỉnh LuangPrabang (Lào) từ năm 1986 đến năm 2015”, Luận văn thạc sĩ nhân văn, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt tại tỉnh LuangPrabang (Lào) từ năm 1986 đến năm 2015”
Tác giả: Sombath KINGBOUAKAI
Năm: 2018
10. Phạm Đức Thành (2008), “Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam - Lào”, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam - Lào”
Tác giả: Phạm Đức Thành
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 2008
11. Phạm Đức Thành (2007), “Vai trò kinh tế của người Việt tại Lào”, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò kinh tế của người Việt tại Lào"”, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Phạm Đức Thành
Năm: 2007
12. Nguyễn Lệ Thi (2007), “Chùa người Việt ở Lào”, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa người Việt ở Lào”, "Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, s
Tác giả: Nguyễn Lệ Thi
Năm: 2007
13. Nguyễn Duy Thiệu (2007), “Cộng đồng người Việt tại Lào sinh tồn và giữ gìn bản sắc”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng người Việt tại Lào sinh tồn và giữ gìn bản sắc”, "Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Duy Thiệu
Năm: 2007
14. Nguyễn Duy Thiệu (2008), “Di cư và chuyển đổi lống sống - Trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào”, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Di cư và chuyển đổi lống sống - Trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào”
Tác giả: Nguyễn Duy Thiệu
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2008
15. Nguyễn Duy Thiệu (2008), “Chuyển đổi trong đời sống xã hội và đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt ở Lào”, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi trong đời sống xã hội và đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt ở Lào”
Tác giả: Nguyễn Duy Thiệu
Năm: 2008
16. Nguyễn Duy Thiệu (2012), “Tập tục thờ phụng tổ tiên của người Lào theo phật giáo Tiểu thừa (THERAVADE)”, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập tục thờ phụng tổ tiên của người Lào theo phật giáo Tiểu thừa (THERAVADE)”, "Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Duy Thiệu
Năm: 2012
17. Nguyễn Duy Thiệu, Amthilo LATHANHO (2007), “Bước đầu tìm hiểu luật pháp và chính sách của Lào đối với người nước ngoài và người việt tại Lào”,Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu luật pháp và chính sách của Lào đối với người nước ngoài và người việt tại Lào”,"Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Duy Thiệu, Amthilo LATHANHO
Năm: 2007
18. Nguyễn Văn Thoàn (2013), “Chùa Phật giáo trong đời sống văn hóa của hai dân tộc Việt Nam - Lào”, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 12.Tiếng Lào Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Phật giáo trong đời sống văn hóa của hai dân tộc Việt Nam - Lào”, "Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Văn Thoàn
Năm: 2013
19. Công an quản lý người nước ngoài tỉnh Xiêng Khoảng (2017), “Bản thống kê người nước ngoài ở tỉnh Xiêng Khoảng 2012-2017” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản thống kê người nước ngoài ở tỉnh Xiêng Khoảng 2012-2017
Tác giả: Công an quản lý người nước ngoài tỉnh Xiêng Khoảng
Năm: 2017
20. Khamdee Duangthanusone(1994),“Lịch sử tỉnh Xiêng Khoảng”, Nhà xuất bản Quốc gia Lào Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lịch sử tỉnh Xiêng Khoảng”
Tác giả: Khamdee Duangthanusone
Nhà XB: Nhà xuất bản Quốc gia Lào
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w