Tỉnh Ninh Bình I. Lịch sử hình thành: Khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong 12 sứ quân thống nhất đất nước lập nên triều Đinh (968980) đóng đô ở Hoa Lư thì đất này gọi là châu Đại Hoàng của nước Đại Cồ Việt. Đến đời Tiền Lê (9811009) gọi là châu Trường Yên. Đời nhà Lý (10101225) gọi là phủ Trường Yên, sau gọi là châu Đại Hoàng nước đại cồ Việt. Đầu đời Trần gọi là lộ, sau đổi là trấn Trường Yên. Năm Quang Thái thứ 10 (1398) đời Trần Thuận tông đổi thành trấn Thiên Quan. Thời kỳ thuộc Minh (14071428) lại gọi là châu Trường Yên. Đến triều Lê vẫn theo như đời Trần trước. Đời Thiệu Bình (14341440) dưới triều Lê Thái Tông (14331442) chia làm 2 phủ Trường Yên và Thiên Quan thuộc về trấn Thanh Hoa
Trang 1Môn Tổng quan du lịchBài kiểm tra điều kiện
Tỉnh Ninh Bình
I. Lịch sử hình thành:
Khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong 12 sứ quân thống nhất đất nước lập nên triều Đinh(968-980) đóng đô ở Hoa Lư thì đất này gọi là châu Đại Hoàng của nước Đại Cồ Việt.Đến đời Tiền Lê (981-1009) gọi là châu Trường Yên Đời nhà Lý (1010-1225) gọi là phủTrường Yên, sau gọi là châu Đại Hoàng nước đại cồ Việt Đầu đời Trần gọi là lộ, sau đổi
là trấn Trường Yên Năm Quang Thái thứ 10 (1398) đời Trần Thuận tông đổi thành trấnThiên Quan
Thời kỳ thuộc Minh (1407-1428) lại gọi là châu Trường Yên Đến triều Lê vẫn theonhư đời Trần trước Đời Thiệu Bình (1434-1440) dưới triều Lê Thái Tông (1433-1442)chia làm 2 phủ Trường Yên và Thiên Quan thuộc về trấn Thanh Hoa (Thanh Hoá ngàynay) gồm 6 huyện Phủ Trường Yên có 3 huyện Gia Viễn, Yên Khang và Yên Mô ĐờiHồng Đức (1470-1498), Lê Thánh Tông cho nhập 2 phủ ấy vào Sơn Nam thừa tuyên.Đời Nhà Mạc (1527-1592) gọi hai phủ này là Thanh Hoa ngoại trấn, ngăn cách vớiThanh Hoa nội trấn bởi dãy núi Tam Điệp Nhà Lê Trung hưng đóng đô ở Thanh Hoa
Từ phủ Trường Yên trở ra ngoài bắc do nhà Mạc cai quản; trừ Trường Yên trở vào, bắtđầu từ 1533 do nhà Lê Trung hưng quản Sau khi nhà Mạc bị diệt (1592), nhà Lê lại đem
2 phủ Trường Yên và Thiên Quan nhập vào Thanh Hoa gọi là Thanh Hoa ngoại trấn.Thời Tây Sơn cũng gọi là Thanh Hoa ngoại trấn thuộc Bắc thành.Dưới triều Nguyễn vẫntheo như cũ: Thanh Hoa ngoại trấn Năm Gia Long thứ 5 (1806) đổi thanh Hoa ngoạitrấn gọi là đạo Thanh Bình vẫn thuộc trấn Thanh Hoa Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) đổitên đạo Thanh Bình làm đạo Ninh Bình Địa danh Ninh Bình có từ đó, nhưng vẫn là mộtđạo thuộc trấn Thanh Hoa Đến năm Minh Mệnh thứ 10 (1829) mới chính thứ đổi làmtrấn Ninh Bình
Trang 2Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) đổi trấn Ninh Bình thành tỉnh Ninh Bình và bỏTổng trấn Bắc thành theo chương trình cải cách hành chính của Minh Mệnh Tỉnh NinhBình dưới triều Nguyễn có 2 phủ gồm 7 huyện.
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Ninh Bình là một trong những tỉnhsớm có cơ sở Đảng và phong trào cách mạng Trước Cách mạng Tháng 8 (1945), NinhBình có 6 phủ huyện độc lập với nhau (phủ không quản huyện gồm hai phủ Nho Quan,Yên Khánh, các huyện Gia Viễn, Gia Khánh, Kim Sơn và Yên Mô cùng với thị xã NinhBình
Sau Cách mạng Tháng 8 (1945), một số tỉnh thành mang tên các danh nhân hay địadanh thì Ninh Bình mang tên là tỉnh Hoa Lư trong một thời gian ngắn Các phủ huyệnđều được gọi chung là huyện, gồm 6 huyện và một thị xã Nhưng ngày 9/10/1945, Hộiđồng Chính phủ quyết định các tỉnh lấy lại tên cũ thì Hoa Lư lại được gọi là tỉnh NinhBình thuộc Bắc Kỳ, sau gọi là Bắc Bộ
Trong kháng chiến chống Pháp (1946-1954), tỉnh Ninh Bình thuộc khu 3 Ngày25.1.1948, hợp nhất các khu 2, khu 3 và khu 11 thành Liên khu thì Ninh Bình thuộc Liênkhu 3
Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976 Ninh Bình hợp với tỉnh Hà Nam (gồmNam Định và Hà Nam) thành tỉnh Hà Nam Ninh Thời gian này đất Ninh Bình cũ chỉcòn 4 huyện năm trong tỉnh Hà Nam Ninh, thị xã Ninh Bình hạ xuống thành thị trấnthuộc Huyện Hoa Lư
Tháng 12.1991, Quốc Hội khoá VIII kỳ họp thứ 10 quyết định tách tỉnh Ninh Bình
ra khỏi tỉnh Hà Nam Ninh Ninh Bình trở lại tỉnh cũ khi này gồm 7 đơn vị hành chính làthị xã Ninh Bình, thị xã Tam Điệp và 5 huyện là Hoàng Long, Hoa Lư, Gia Viễn, TamĐiệp, Kim Sơn
Đến ngày nay, Ninh Bình là một tỉnh có diện tích 1387,5 km2 với dân số 93 vạnngười, bao gồm 8 đơn vị hành chính ( 1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện): Thành phố NinhBình, thị xã Tam Điệp, huyện Nho Quan, huyện Gia Viễn, huyện Hoa Lư, huyện Yên
Mô, huyện Yên Khánh và huyện Kim Sơn
II. Điều kiện tự nhiên:
Trang 3- Là một tỉnh nằm ở cực Nam của Đồng bằng Bắc Bộ với diện tích 1.400 km2
- Nằm ở vị trí ranh giới 3 khu vực địa lý : Tây Bắc, châu thổ sông Hồng và BắcTrung Bộ
- Nằm giữa 3 vùng kinh tế : vùng Hà Nội, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và vùngDuyên hải miền Trung
- Bao gồm: 1 thành phố , 1 thị xã và 6 huyện thành phố Ninh Bình, thị xã TamĐiệp, 6 huyện bao gồm Gia Viễn, Hoa Lư, Kim Sơn, Nho Quan, Yên Khánh, Yên Mô
- Tiếp giáp :
+ Phía bắc với Hòa Bình, Hà Nam
+ Phía đông với Nam Định
+ Phía tây giáp Thanh Hóa
+ Phía nam giáp biển
- Diện tính khoảng 101 nghìn ha, chiếm 71,1% diện tích tự nhiên toàn tỉnh
- Vùng này độ cao trung bình từ 0,9÷1,2m
- đất đai chủ yếu là đất phù sa được bồi và không được bồi
b Vùng đồi núi và bán sơn địa
- Vùng này nằm ở phía tây và Tây Nam của tỉnh, bao gồm các khu vực phía TâyNam huyện Nho Quan và thị xã Tam Điệp, phía tây huyện Gia Viễn, phía Tây Namhuyện Hoa Lư và Tây Nam huyện Yên Mô
- Diện tích toàn vùng này khoảng 35.000 ha, chiếm 24% diện tích tự nhiên toàntỉnh
- Độ cao trung bình từ 90-120m Đặc biệt khu vực núi đá có độ cao trên 200m
- Vùng này tập trung tới 90% diện tích đồi núi và diện tích rừng của tỉnh
Trang 4c Vùng chiêm trũng chuyển tiếp
- Vùng này thuộc diện tích của 4 xã ven biển huyện Kim Sơn là: Kim Trung, KimHải, Kim Đông, Kim Tân
- Diện tích khoảng 6.000 ha, chiếm 4,2% diện tích tự nhiên toàn tỉnh
- Đất đai ở đây còn nhiễm mặn nhiều do mới bồi tụ nên đang trong thời kỳ cải tạo
3 Khí hậu
- Ninh Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa Thời tiết hàng năm chia thành 4 mùa rõrệt là xuân, hạ, thu, đông
- Nhiệt độ trung bình năm khoảng 230c
- Số lượng giờ nắng trong năm trung bình trên 1100 giờ Lượng mưa trungbình/năm đạt 1.800mm
4 Sông ngòi và thủy văn
- Hệ thống sông ngòi ở Ninh Bình bao gồm hệ thống sông Đáy, sông Hoàng Long,sông Bôi, sông Ân, sông Vạc, sông Lạng, sông Vân Sàng, với tổng chiều dài 496km,phân bố rộng khắp trochiếm diện tích 3.401ha, mật độ đạt 0,5km/km2.ng toàn tỉnh
- Mật độ sông suối bình quân 0,5km/km2, các sông thường chảy theo hướng TâyBắc – Đông Nam để đổ ra biển Đông
5 Tài nguyên
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.390 km2 với các loại đất phù sa, đấtFeralitic
b Nước : Bao gồm tài nguyên nước mặt và tài nguyên nước ngầm
- Tài nguyên nước mặt: Khá dồi dào, trong tỉnh còn có 21 hồ chứa nước lớn, diệntích 1.270ha, với dung tích 14,5 triệu m3 nước, năng lực tưới cho 4.438 ha
- Nguồn nước ngầm: Nước ngầm ở Ninh Bình chủ yếu thuộc địa bàn huyện NhoQuan và thị xã Tam Điệp Tổng lượng nước ngầm Rịa (Nho Quan) đạt 361.391m3/ngày.Vùng Tam Điệp 112.183m3/ngày
c Rừng
So với các tỉnh đồng bằng sông Hồng, Ninh Bình là tỉnh có diện tích rừng lớn nhấtvới khoảng 19.033ha, chiếm 23,5% diện tích rừng của vùng, chiếm 13,3% diện tích tựnhiên toàn tỉnh
- Rừng tự nhiên: Tổng diện tích là 13.633,2ha, trữ lượng gỗ 1,1 triệu m3, tập trungchủ yếu ở huyện Nho Quan
Trang 5- Rừng nguyên sinh Cúc Phương thuộc loại rừng nhiệt đới điển hình, động thực vật
đa dạng, phong phú
- Rừng trồng: Diện tích đạt 5.387ha, tập trung ở huyện Nho Quan, Hoa Lư, KimSơn, thị xã Tam Điệp, với các cây trồng chủ yếu là thông nhựa, keo, bạch đàn, cây ngậpmặn (vẹt và sậy)
- Bờ biển Ninh Bình dài trên 15km với hàng nghìn hecta bãi bồi Cửa Đáy là cửalớn nhất, có độ sâu khá, đảm bảo tàu thuyền lớn, trọng tải hàng ngàn tấn ra vào thuậntiện
- Vùng biển Ninh Bình có tiểm năng nuôi trồng, khai thác, đánh bắt nguồn lợi hảisản với sản lượng từ 2000÷2.500tấn/năm
e Khoáng sản
- Tài nguyên đá vôi:
Đá vôi là nguồn tài nguyên khoáng sản lớn nhất của Ninh Bình Với những dãy núi
đá vôi khá lớn, chạy từ Hoà Bình, theo hướng tây bắc – đông nam, qua Nho Quan, GiaViễn, Hoa Lư, thị xã Tam Điệp, Yên Mô, tới tận biển Đông, dài hơn 40 km, diện tíchtrên 1.2000ha, trữ lượng hàng chục tỷ mét khối đá vôi và hàng chục triệu tấn đôlômít.Đây là nguồn nguyên liệu lớn để sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng và một số hóachất khác
- Tài nguyên đất sét:
Phân bố rải rác ở các vùng đồi núi thấp thuộc xã Yên Sơn, Yên Bình (thị xã TamĐiệp), huyện Gia Viễn, Yên Mô, dùng để sản xuất gạch ngói và nguyên liệu ngành đúc
- Tài nguyên nước khoáng:
Nước khoáng Ninh Bình chất lượng tốt, tập trung chủ yếu ở Cúc Phương ( NhoQuan) và Kênh Gà (Gia Viễn) có thể khai thác phục vụ sinh hoạt và du lịch với trữ lượnglớn Đặc biệt nước khoáng Kênh Gà có độ mặn, thường xuyên ở độ nóng 53÷540C.Nước khoáng Cúc Phương có thành phần Magiêbicarbonat cao, sử dụng chế phẩm nướcgiải khát và chữa bệnh
- Tài nguyên than bùn:
Trang 6Trữ lượng nhỏ, khoảng trên 2 triệu tấn, phân bố ở các xã Gia Sơn, Sơn Hà (NhoQuan), Quang Sơn ( thị xã Tam Điệp), có thể sử dụng để sản xuất phân vi sinh, phục vụsản xuất nông nghiệp.
III. Hệ thống di sản văn hóa:
Hiện Ninh Bình có hơn 800 di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh, trong
đó có gần 80 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia, cùng với 114 lễ hội truyền thống vànhiều hội làng đậm chất dân gian
1. Di tích lịch sử văn hóa
• Khu di tích lịch sử văn hoá Cố đô Hoa Lư được công nhận là di tích quốc gia đặcbiệt quan trọng với 47 di tích trong đó nổi bật là: Đền Vua Đinh Tiên Hoàng, lăng mộVua Đinh, đền thờ và lăng mộ Vua Lê Đại Hành, nhà bia tưởng niệm Vua Lý Thái Tổ,đền thờ Công chúa Phất Kim, đền thờ thần Quý Minh, phủ Khống, phủ Đột, động Hoa
Lư, núi Mã Yên, bia Câu Dền, sông Sào Khê, phủ Đông Vương, phủ Vườn Thiên, hệthống chùa cổ Hoa Lư
• Khu di tích lịch sử phòng tuyến Tam Điệp gắn liền với triều đại Tây Sơn có cácđịa danh đèo Ba Dội, Kẽm Đó, lũy Quang Trung, núi Cắm Gươm, núi Cắm Cờ, núiChong Đèn, núi Hầu Vua, Vương Ngự, đền Dâu, đền Quán Cháo, luỹ Quèn Thờ, đềnQuèn Thờ, động Trà Tu, hồ Yên Thắng, hồ Mừng, hồ Đoòng Đèn
• Hệ thống các đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng ở Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư phíabắc tỉnh; hệ thống các đền thờ Vua Lê Đại Hành ở Hoa Lư, Tp Ninh Bình, Yên Mô phíanam tỉnh; hệ thống các đền thờ Vua Triệu Quang Phục ở Yên Khánh, Kim Sơn
• Hệ thống các đền thờ danh nhân khác: Trương Hán Siêu, Nguyễn Công Trứ, đềnThái Vi, cửa Thần Phù,, v.v
• Di tích lịch sử cách mạng: Khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu, núi Non Nước, ditích chiến dịch Hà Nam Ninh.v.v
Trang 7• Quần thể nhà thờ Phát Diệm với 9 nhà thờ có kiến trúc độc đáo kết hợp hài hoàgiữa truyền thống và hiện đại được ví như kinh đô công giáo của Việt Nam, là kỳ quanthiên chúa giáo hấp dẫn ở Ninh Bình.
• Di tích tâm linh nho giáo: chùa Bích Động, chùa Nhất Trụ, chùa Đồng Đắc, chùaĐịch Lộng, chùa Bàn Long, chùa Bái Đính, chùa Kim Ngân, chùa Duyên Ninh, chùaNon Nước v.v
• Quần thể kiến trúc nhà cổ Cố Viên Lầu với nhiều ngôi nhà cổ đặc trưng ở đồngbằng Bắc Bộ
2. Di tích thắng cảnh
• Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động với nhiều tuyến du thuyền trên sông và cácđiểm hang động, di tích lịch sử như Tam Cốc, chùa Bích Động, đền Thái Vi, động ThiênHà
• Khu du lịch sinh thái Tràng An với hệ thống rừng đặc dụng trên núi đá vôi, cáchang động và hệ thống hồ, đầm
• Các ngọn núi, hang động đẹp: núi Ngọc Mỹ Nhân, núi Non Nước, núi Kỳ Lân,động Địch Lộng, động Vân Trình, động Thiên Hà, động Mã Tiên, động Bích Động, độngTam Giao, động Vái Giời, động Trà Tu, động Thiên Tôn, động Tiên, hang Sinh Dược,hang Múa
Di tích Thung Lang (Nam Sơn - Tam Điệp) tại đây đã tìm thấy răng người HomoErectus cách đây khoảng 30.000 năm cùng một số dấu ấn cho thấy có sự xuất hiện của
cư dân văn hóa Hòa Bình cách đây trên dưới 10.000 năm
Di tích hang Đắng hay còn gọi là động Người Xưa thuộc Vườn quốc gia CúcPhương nơi đây là một di chỉ cư trú thuộc giai đoạn văn hóa Hòa Bình cách đây từ 7.000đến 8.000 năm
Trang 8Di tích hang Đáo (Đông Sơn - Tam Điệp) nơi đây có tìm thấy những công cụ đồ đácủa cư dân văn hóa Hòa Bình.
Di tích hang Yên Ngựa (Trung Sơn - Tam Điệp) xuất lộ dấu ấn cư đân văn hóa HòaBình
Di tích động Mã Tiên xuất lộ tầng vỏ nhuyễn thể cùng công cụ cuội thuộc Văn hóaHòa Bình
Di tích hang Bói thuộc khu hang động Tràng An nằm giáp gianh giữa hai xã TrườngYên và Gia Sinh nơi đây có dấu ấn của cư dân cổ sống cách đây từ 5.000 năm đến30.000 năm
Di tích hang Bụt (Lạc Vân - Nho Quan) là địa điểm cư trú của con người cổ sốngcách đây từ 2.000 đến 10.000 năm
Di tích hang Dẹ (Nam Sơn - Tam Điệp) có dấu ấn của cư dân Văn hóa Hòa Bình ởgiai đoạn sớm trên 10.000 năm
Di tích núi hang Sáo (Quang Sơn - Tam Điệp) với nhiều hang động và mái đá códấu ấn của cư dân văn hóa Hòa Bình và cư dân văn hóa Đa Bút sống cách ngày nay từ5.000 đến 10.000 năm
Di tích Mái đá Thung Bình (Gia Sinh - Gia Viễn) xuất lộ dấu tích cư dân văn hóaHòa Bình
Cụm di tích hang ốc; Núi ốp (Yên Sơn - Tam Điệp) xuất lộ dấu ấn cư dân văn hóa
Đa Bút và Cư dân văn hóa Đông Sơn
Cụm di tích hang Mo; hang Cò; hang Trâu; hang Hũ Ngoài; hang Hũ Trong; mái đáThung Bình (hang động Tràng An) có dấu ấn văn hóa Hòa Bình và văn hóa Đa Bút
Di tích hang Khỉ (Đông Sơn - Tam Điệp) xuất lộ một số mảnh gốm cùng vỏ nhuyễnthể trên bề mặt nơi đây có dấu ấn văn hóa Đa Bút
Di tích Đồng Vườn (Yên Thành - Yên Mô) là một di chỉ thuộc thời đại văn hóa ĐaBút Đây là di chỉ cư trú ngoài trời ở Ninh Bình
Di tích hang Chợ Ghềnh hay còn gọi là hang Núi Một (Bắc Sơn - Tam Điệp) thuộcthời đại kim khí cách đây từ 2.000 đến 3.000 năm
Di tích núi Hai (Bắc Sơn - Tam Điệp) xuất lộ rất nhiều gốm và xương động vậtthuộc thời đại kim khí cách đây khoảng 3.000 năm
Trang 9Di tích Mán Bạc (Yên Thành - Yên Mô) là một làng của người cổ sống cách đây từ3.000 đến 4.000 năm Nơi đây con lưu giữ được nhiều di cốt của tiền nhân còn nguyênvẹn được các nhà nhân chủng học hết sức chú ý.
Di tích mái đá Hang Chợ (Ninh Hải - Hoa Lư) thuộc quần thể hang động Tràng An
có tầng văn hóa Hòa Bình cách đây trên 10.000 năm
3. Các chùa ở Ninh Bình
Hoa Lư - Ninh Bình là kinh đô của Việt Nam dưới thời nhà Đinh (968-980) và nhàTiền Lê (980-1009) Sau khi đã là kinh đô, Hoa Lư dần trở thành trung tâm Phật giáo.Theo các thư tịch và dấu vết còn sót lại, vào thế kỷ 10, tại đây đã có khá nhiều chùatháp Theo chính sử, Vua Đinh Tiên Hoàng là người đầu tiên đặt chức tăng thống phậtgiáo trong lịch sử mà quốc sư đầu tiên của Việt Nam là Khuông Việt Ninh Bình cũng làquê hương của quốc sư triều Lý Nguyễn Minh Không, ông đã sáng lập ra ở quê hươngmình khá nhiều chùa tháp như: chùa Bái Đính, chùa Địch Lộng, động chùa Am Tiên,chùa Non Nước Ở Việt Nam có 3 chùa động được mệnh danh là "Nam thiên đệ nhấtđộng" là chùa Hương, chùa Bích Động, chùa Địch Lộng thì 2 trong số đó nằm ở NinhBình Điều độc đáo ở đây là có khá nhiều chùa được xây dựng trong các hang núi đá vôi,dựa vào núi đá hoặc tận dụng hẳn núi đá làm chùa mà tiêu biểu là các động chùa: HoaSơn, Thiên Tôn, Bích Động, Địch Lộng, Bái Đính, Linh Cốc…
Tỉnh Ninh Bình hiện có 344 ngôi chùa, tập trung dày đặc ở khu vực cố đô Hoa Lưthuộc 2 huyện Hoa Lư và Gia Viễn Chỉ riêng trên địa bàn xã Trường Yên, Hoa Lư hiện
có 6 ngôi chùa là chùa Nhất Trụ, chùa Kim Ngân, chùa Duyên Ninh, chùa Am Tiên, chùa
Cổ Am, chùa Bà Ngô đều được xếp hạng di tích
Về niên đại xây dựng, chủ yếu các chùa thuộc vùng cố đô Hoa Lư được xây dựng
từ thời Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành; rất nhiều chùa được xây dựng thời Trần vàHậu Lê
Một số chùa nổi tiếng như:
• Chùa Bái Đính là chùa lớn nhất Ninh Bình đồng thời cũng là chùa lớn nhất ViệtNam
• Chùa Bích Động được mệnh danh là "Nam thiên đệ nhị động"
• Chùa Địch Lộng được mệnh danh là "Nam thiên đệ tam động"
Trang 10• Chùa Duyên Ninh là ngôi chùa cầu duyên được xếp vào danh sách 4 đền, chùa cầuduyên linh thiêng nổi tiếng Việt Nam
• Chùa Nhất Trụ là ngôi chùa cổ kính nằm trong quần thể di tích cố đô Hoa Lư
4. Nhà thờ công giáo ở Ninh Bình
Địa bàn Ninh Bình thuộc Giáo phận Phát Diệm, vốn là một giáo phận Công giáoRôma tại Việt Nam Đây là giáo phận đầu tiên ở Việt Nam được ủy thác cho hàng giáo
sĩ Việt Nam cai quản thay cho các giáo sĩ truyền giáo ngoại quốc, vì thế mà nơi đây được
ví như "kinh đô của Công giáo" ở Việt Nam
Địa giới giáo phận Phát Diệm rộng 1.787 km² Năm 2004, giáo phận Phát Diệm cókhoảng 144.721 giáo dân (15,9% dân số), 31 linh mục và 76 giáo xứ Nhà thờ Đức mẹMân Côi (còn gọi là nhà thờ đá Phát Diệm) ở thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn tỉnh(Ninh Bình) được chỉ định làm nhà thờ chính tòa của giáo phận
5. Lễ hội
Theo thống kê, Ninh Bình có 443 lễ hội truyền thống, trong đó quản lý cấp tỉnh 2 lễhội, cấp huyện 13 lễ hội, cấp xã 428 lễ hội Các lễ hội văn hóa ở Ninh Bình chủ yếu diễn
ra ở mùa xuân, trừ số ít các lễ hội tưởng niệm ngày mất của các vị danh nhân
• Lễ hội chùa Bái Đính (Gia Viễn): bắt đầu ngày 6/1 âm lịch đến hết tháng 3 hàngnăm, phần lễ tổ chức dâng hương, tưởng nhớ các vị danh nhân như Lý Quốc Sư, Đinh
Bộ Lĩnh, thần Cao Sơn, bà chúa Thượng Ngàn và tín ngưỡng thờ Phật Phần hội diễn rasôi động với các trò chơi dân gian
• Lễ hội làng Yên Vệ: ngày 4/1 âm lịch ở làng Yên Vệ xã Khánh Phú, Yên Khánhtại đền Thượng thờ Nguyễn Minh Không và chùa Phúc Long
• Lễ hội đền Áp Lãng - cửa Thần Phù diễn ra ngày 6/1 âm lịch tại xã Yên Lâm, YênMô
• Lễ hạ cây nêu của cộng đồng người Mường xã Cúc Phương, Nho Quan diễn ravào ngày mùng 7 tháng Giêng âm lịch
• Lễ hội đền Năn - chùa Quảng Thượng - đền núi Hầu diễn ra vào ngày mồng 10tháng giêng hàng năm ở làng Quảng Thượng, xã Yên Thắng, Yên Mô suy tôn các vịtướng thời Hùng Vương
• Lễ hội báo bản làng Nộn Khê: vào hai ngày 13, 14/1 âm lịch hằng năm tại xã Yên
Từ, Yên Mô