1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để góp phần xác định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện nghĩa đàn tỉnh nghệ an

102 562 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để góp phần xác định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Hà Quế
Người hướng dẫn PGS.TS Phạm Chí Thành
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Nông nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn, tiến sĩ, thạc sĩ, báo cáo, khóa luận, đề tài

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo bộ nông nghiệp và PTNT

Viện khoa học nông nghiệp việt nam

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Phạm Chí Thành

Hà nội - 2010

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chính xác Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và ch−a từng đ−ợc công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu hoặc sử dụng để bảo vệ bất cứ một học vị khoa học nào

Trang 3

Lời cảm ơn

Đề tài “Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để

góp phần xác định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện Nghĩa

Đàn – tỉnh Nghệ An” được tiến hành từ năm 2008 đến năm 2010 tại huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An đồng thời được bổ sung bằng các kết quả điều tra ở một số xã và các Nông trường lân cận ở huyện Tân Kỳ và Quỳ Hợp trong vùng Phủ Quỳ

Đề tài được hoàn thành tại huyện Nghĩa Đàn, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và Ban Đào tạo Sau đại học – Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

Để hoàn thành được Luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi còn nhận

được sự giúp đỡ nhiệt tình của tập thể cán bộ Ban Đào ttttạo Sau

đại học –Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, UBND huyện Nghĩa Đàn, Trung tâm Nghiên cứu Cây ăn quả và Cây công nghiệp Phủ Quỳ, của bạn bè và đồng nghiệp

Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc P.GS–T.S Phạm Chí Thành – nguyên giáo viên Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi từ khi chọn đề tài

và trong quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn GS–T.S Vũ Mạnh Hải – P.Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến về phương hướng, phương pháp và nội dung nghiên cứu của Luận văn

Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ và giúp đỡ về mọi mặt để tôi yên tâm học tập và hoàn thành Luận văn Thạc sỹ này

Nguyễn Hà Quế

Trang 4

Mục lục

Trang Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Mục lục bảng vi

Danh mục các chữ viết tắt viii

Mở đầu 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

2.1 ý nghĩa khoa học 2

2.2 ý nghĩa thực tiễn 2

3 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

3.1 Mục đích 2

3.2 Yêu cầu 2

4 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

Chương 1 Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1 Vai trò và ý nghĩa của nghề trồng cây ăn quả và của cây ăn quả trong nền kinh tế quốc dân và trong đời sống xF hội 4

1.2 Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới yếu tố cây trồng 7

1.2.1 Nhiệt độ và hệ thống cây trồng 7

1.2.2 Lượng mưa và hệ thống cây trồng 8

1.2.3 Đất đai và hệ thống cây trồng 9

1.2.4 Cây trồng và hệ thống cây trồng 9

Trang 5

1.2.5 Hệ sinh thái và hệ thống cây trồng 10

1.2.6 Hiệu quả kinh tế và hệ thống cây trồng 11

1.2.7 Thị trường và hệ thống cây trồng 12

1.2.8 Nông hộ và hệ thống cây trồng 14

1.2.9 Chính sách và hệ thống cây trồng 16

1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 17

1.3.1 Nghiên cứu ở ngoài nước 17

1.3.2 Nghiên cứu ở trong nước 25

1.3.3 Nghiên cứu về cây ăn quả ở Nghĩa Đàn 33

Chương 2 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 38

2.1 Đối tượng nghiên cứu 38

2.2 Nội dung nghiên cứu 38

2.3 Phương pháp nghiên cứu 38

2.3.1 Khai thác các số liệu đF có để phân tích 38

2.3.2 Những số liệu điều tra 39

2.3.3 Thu thập số liệu từ nhóm những người am hiểu (KIP) 40

2.3.4 Phân tích kết quả 40

Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 42

3.1 Môi trường phát triển cây ăn quả ở huyện Nghĩa Đàn 42

3.1.1 Môi trường tự nhiên 42

3.1.2 Môi trường kinh tế - xF hội 49

3.2 Lợi thế phát triển cây ăn quả huyện Nghĩa Đàn 55

3.2.1 Lợi thế về tài nguyên cây ăn quả 55

3.2.2 Lợi thế về quỹ đất 57

3.2.3 Một số ý kiến thảo luận xung quanh về hệ thống cây trồng trên quỹ đất cao dùng vào mục đích trồng cây nông nghiệp 62

3.3 Định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện Nghĩa Đàn 71

Trang 6

3.3.1 Phát triển cây ăn quả trên đất cao độ dốc từ 50-150

71

3.3.2 Phát triển cây ăn quả trên đất cao, độ dốc dưới 50 ở Nghĩa Đàn 72

3.3.3 Vấn đề sử dụng quỹ đất để trồng cỏ nuôi bò sữa 72

3.3.4 Một số ý kiến đánh giá của những người am hiểu 72

3.3.5 Những đề xuất và định hướng phát triển cây ăn quả 75

Kết luận và đề nghị 77

1 Kết luận 77

2 Đề nghị 77

Tài liệu tham khảo 79

Phụ lục 84

Trang 7

Mục lục bảng

Trang Bảng 1.1: Bố trí cơ cấu cây trồng trong một năm 8

Bảng 1.2: Sản lượng các loại quả chủ yếu trên thế giới (1000 tấn) 19

Bảng 1.3: Tốc độ tăng trưởng hàng năm về sản xuất và nhu cầu đối với

một số nông sản chính trên thế giới (% năm) 20

Bảng 1.4: Sự thay đổi tỷ lệ giá trị một số nông sản chính ở Nhật Bản 20

Bảng 1.5: Diện tích cây ăn quả các vùng trong nước 27

Bảng 1.6: Diện tích một số cây ăn quả chủ yếu ở Việt Nam 28

Bảng 1.7: Sản lượng một số cây ăn quả chủ yếu ở Việt Nam 29

Bảng 3.1: Số liệu bình quân năm từ năm 1991 đến năm 2000 45

Bảng 3.2: Số liệu bình quân tháng từ năm 2001 đến tháng 6 năm 2010 46

Bảng 3.3: Các loại cây ăn quả có khả năng phát triển 47

Bảng 3.4 Diện tích các loại đất ở Nghĩa Đàn 48

Bảng 3.5: Dân số, lao động và % số người đF từng sản xuất cây ăn quả 50

Bảng 3.6: Diện tích cơ cấu đất nông nghiệp 51

Bảng 3.7: Yêu cầu về đất thích nghi của một số loại cây ăn quả chủ yếu 56

Bảng 3.8: Phân bố các loại đất ở Nghĩa Đàn theo địa hình 57

Bảng 3.9: Phân loại quỹ đất cao ở huyện Nghĩa Đàn theo cấp độ dốc (1) 58

Bảng 3.10: Hiệu quả kinh tế 1 ha cây ăn quả trong 1 năm của một số cây

ăn quả chủ yếu trên đất cao địa hình 50-150 59

Bảng 3.11: Tình hình sản xuất cây trồng nông nghiệp ngắn ngày trên quỹ

đất cao độ dốc dưới 50 (năm 2009) 60

Bảng 3.12: Hiệu quả kinh tế của các hệ thống cây trồng trên quỹ đất cao,

Bảng 3.13: Lượng phân bón cho cây cam, quýt 63

Bảng 3.14: Thời gian bón và tỷ lệ bón phân cho cây cam quýt 63

Trang 8

Bảng 3.15: Năng suất cam (tạ/ ha) ở các chu kỳ trồng khác nhau trên đất

Trang 9

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

FAO Food and Agriculture Organization

PTNT Ph¸t triÓn n«ng th«n

Trang 10

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghĩa Đàn là huyện trung du miền núi ở về phía Bắc - Tây Bắc tỉnh Nghệ An và là một trong bốn huyện Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Tân Kỳ thuộc vùng

đất đỏ Phủ Quỳ giàu có với nhiều sản phẩm đặc sắc như cà phê, cao su, cam, chanh, quýt, bưởi, dứa, trẩu…

Huyện Nghĩa Đàn diện tích đất đồi núi rộng và đF từng là vùng trồng cây ăn quả nổi tiếng của Việt Nam.Trải qua thời gian, một vùng chuyên canh cam không còn nữa, thay vào đó là cây công nghiệp, cây lương thực, cây thực phẩm và cả cây lâm nghiệp Một câu hỏi đặt ra là nguyên nhân gì đF dẫn tới hiện tượng trên, cách khắc phục như thế nào là việc làm cần thiết để khai thác hợp lý quỹ đất còn ở dạng tiềm tàng này, cần thiết phải có công trình nghiên cứu nghiêm túc

Cây ăn quả là một trong những nhóm cây trong hệ thống cây trồng cung cấp cho sinh hoạt hàng ngày của dân sinh, cung cấp nguyên liệu cho nền công nghiệp chế biến Cây ăn quả không những mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn mang lại hiệu quả xF hội, bảo vệ đất đai và cải tạo môi trường sinh thái

Trên thực tế sản xuất cây ăn quả nếu xem xét nghiêm túc về cả ba mặt: hiệu quả kinh tế, số lượng và chất lượng sản phẩm, làm đẹp cảnh quan và cải tạo môi trường sinh thái thì cây ăn quả có một vai trò và vị trí vô cùng quan trọng

Nghị quyết T.Ư Đảng khoá VII (6/1993) [22] đF chỉ rõ “ phát triển mạnh cây ăn quả trên tất cả các vùng… để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu ” và Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành T.Ư Đảng khoá

IX đF đề ra mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn là: “ xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá hiệu quả, bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản

Trang 11

xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế xF hội phát triển ngày càng hiện đại ”

Trên thực tế, việc khuyến khích nghề trồng cây ăn quả ở tất cả các vùng trong nước, chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng lựa chọn cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên, phù hợp với nhu cầu của thị trường, mở rộng diện tích, nghiên cứu và tuyển chọn giống cây trồng tốt cho năng suất cao, phẩm chất tốt phù hợp với từng vùng sinh thái đang diễn ra rất sôi động và đF thu được nhiều kết quả như vùng vải thiều Lục Ngạn, vùng cam, quýt Văn Giang…

Đề tài “Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để góp phần xác

định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An” nhằm:

- Xác định hướng phát triển cây ăn quả hợp lý ở huyện Nghĩa Đàn

- Hình thành một vùng trồng cây ăn quả ở huyện Nghĩa Đàn đảm bảo cả ba mặt: hiệu qủa kinh tế, bảo vệ đất đai và cải tạo môi trường sinh thái

2 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2.1 ý nghĩa khoa học

Phân tích nguyên nhân diện tích trồng cây ăn quả giảm và đưa ra định hướng đúng để phát triển cây ăn quả ở huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An 2.2 ý nghĩa thực tiễn

Góp phần phát triển kinh tế xF hội của vùng

3 Mục đích và yêu cầu của đề tài

3.1 Mục đích

Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để góp phần xác định hướng phát triển cây ăn quả hợp lý ở huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An

3.2 Yêu cầu

- Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên, kinh tế xF hội của huyện Nghĩa

Đàn-tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000 - 2010 làm căn cứ đề xuất hệ thống cây trồng mới giai đoạn 2010 - 2030

Trang 12

- Đánh giá đúng thực trạng phát triển cây ăn quả, hiệu quả kinh tế của sản xuất từng loại cây ăn quả hiện có so với các loại cây trồng khác (nhóm cây lương thực, cây thực phẩm và cây công nghiệp)

- Đề xuất hướng phát triển cho từng loại cây ăn quả (giống, đất trồng,

kỹ thuật canh tác)

4 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Điều kiện tự nhiên, kinh tế xF hội và hệ thống cây trồng hiện có ở huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn trong việc xác định hướng phát triển cây ăn quả trong hệ thống cây trồng ở điều kiện của huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An

Trang 13

Chương 1 Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của đề tài

1.1 Vai trò và ý nghĩa của nghề trồng cây ăn quả và của cây ăn quả trong nền kinh tế quốc dân và trong đời sống xã hội

Theo (Trần Thế Tục, 1998, 2006) [42], [43] nghề trồng cây ăn quả là một bộ phận của sản xuất nông nghiệp mà đối tượng của nó chủ yếu là những cây lâu năm có quả ăn được

Khoa học cây ăn quả nghiên cứu các đặc tính sinh học của cây ăn quả,

vị trí và vai trò của chúng trong hệ sinh thái, những quy luật về mối quan hệ giữa cây ăn quả với điều kiện ngoại cảnh Từ đó đặt cơ sở lý luận cho việc phát triển nghề trồng cây ăn quả với những biện pháp kỹ thuật thích hợp cho từng loại cây trong điều kiện khí hậu đất đai cụ thể của nơi trồng nhằm thâm canh tăng năng suất và phẩm chất quả

Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam – một đất nước có truyền thống nông nghiệp lâu đời – trồng cây ăn quả là một bộ phận quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.Phát triển nghề trồng cây ăn quả đem lại nhiều lợi ích thiết thực đối với đời sống và phát triển kinh tế của đất nước Nghề trồng cây ăn quả

có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với con người bởi những giá trị cụ thể sau đây:

- Các loại quả là nguồn dinh dưỡng quý giá của con người ở mọi lứa tuổi và nghề nghiệp khác nhau.Trong quả có nhiều loại đường dễ tiêu, các axít hữu cơ, protein, lipit, chất khoáng, pectin, tananh, các hợp chất thơm và rất nhiều chất khác vv… có nhiều loại Vitamin như Vitamin A, B1, B2, B6, C,

PP Đặc biệt Vitamin C rất cần cho cơ thể con người ở mọi lứa tuổi, Vitamin

A rất cần cho trẻ em

Trong khẩu phần ăn của con người không những phải cần đầy đủ calo

mà còn cần có Vitamin, muối khoáng, các axit hữu cơ và các hoạt chất khác

để cho hoạt động sinh lý được tiến hành bình thường Nhu cầu về calo dựa vào

Trang 14

việc cung cấp đạm, mỡ, hyđrat cacbon từ nguồn động vật và thực vật, còn Vitamin và các hoạt chất khác thì chủ yếu là dựa vào quả và rau

Để con người hoạt động được bình thường, theo các công trình nghiên cứu y học, hàng năm phải cung cấp khoảng 100 kg quả các loại/người/năm ( gồm: nho, táo, chuối, xoài, cam, chanh, quýt, bưởi, mơ, mận, đu đủ vv…) Đó cũng là những chỉ tiêu cơ bản để định kế hoạch phát triển cây ăn quả ở mỗi quốc gia

- Các loại quả và các bộ phận khác của cây như rễ, lá, hoa, vỏ, hạt vv…

đều là những vị thuốc được sử dụng khá phổ biến trong đông y, có khả năng chữa các bệnh cao huyết áp, tim mạch, suy nhược thần kinh, dạ dày, đường tiêu hoá, kiết lỵ… Chức năng chữa bệnh của cây ăn quả là ở chỗ làm tăng tính thich nghi của con người với những điều kiện ngoại cảnh bất lợi, chống nhiễm xạ Có thể nói hầu hết cây ăn quả đều là cây thuốc và các loại quả đều là vị thuốc

- Phát triển nghề trồng cây ăn quả nhằm cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy Một số loại cây ăn quả lại vừa là cây công nghiệp cung cấp nguyên liệu để chế biến thực phẩm, bánh kẹo, rượu, xirô, đồ hộp mứt, quả sấy khô

Đặc biệt là nước quả ép nguyên chất có ý nghĩa về mặt dinh dưỡng cũng như chữa bệnh Một số khác thì dùng để ép dầu cho sản phẩm nổi tiếng như dầu ô liu, dầu dừa, dầu vỏ hạt điều, papain chiết xuất từ quả và cây đu đủ… Công nghiệp chế biến quả đF góp phần giải quyết được nhu cầu của đời sống là cung cấp quả quanh năm cho nhân dân

- Cây ăn quả có tác dụng lớn trong việc bảo vệ môi trường sinh thái với các chức năng làm sạch môi trường, giảm tiếng ồn, làm rừng phòng hộ, làm

đẹp cảnh quan Nhiều giống cây ăn quả là cây nguồn lấy mật có chất lượng cao được người tiêu dùng rất ưa thích ở vùng nhiệt đới, cây ăn quả còn có tác dụng che phủ, bảo vệ đất, chống xói mòn, làm hàng rào chống gió bFo, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc ở các khu dân cư, các thành phố và đô thị người

ta trồng cây ăn quả với mục đích cây cảnh, cây bóng mát, nhiều cây ăn quả có

Trang 15

dáng vẻ và tán lá đẹp, màu sắc hấp dẫn được trồng ở các công viên hoặc xung quanh các công trình kiến trúc, các nhà bảo tàng, đền chùa, khu điều dưỡng, các điểm du lịch sinh thái để tạo nên cảnh quan hấp dẫn, tạo môi trường sống

tự nhiên, trong lành cho cư dân ở nông thôn, đô thị và ngay cả trong các thành phố nhỏ ngày nay đang có xu hướng hình thành và tạo lập các phố- vườn bằng cách trồng cây ăn quả trên sân thượng, ở hành lang hay trên ban công của các hộ gia đình để vừa cải thiện môi trường sống, vừa mang ý nghĩa cảnh quan, sinh thái từ những vườn cây

- Cây ăn quả còn chứa đựng một giá trị văn hoá - xF hội đặc trưng Đó là vào những ngày rằm, mồng một âm lịch hàng tháng hay các dịp lễ hội, Tết Nguyên ủán hàng năm, các loại quả đF trở thành đồ cúng lễ sẵn có, tiện lợi, thanh đạm và rất truyền thống, thiêng liêng đặt lên bàn thờ để cúng tổ tiên ở cả hai miền Nam, Bắc những năm gần đây, người Việt đang dần trở lại thói quen tổ chức các lễ hội trái cây và khôi phục lại những địa danh, tên làng, tên xóm mà từ xa xưa đF mang đậm dấu ấn của những loại cây ăn quả như Dốc Xoài (Gia Lai), Dốc Chuối (Lâm Đồng), Làng Cam (Hà Nội), Làng Chanh (Nghệ An), Quán Mít, Khe Bưởi, Đội Cam (Nghĩa Đàn - Nghệ An) Có thể nói cây ăn quả đF đi vào đời sống văn hoá tâm linh của dân cư các vùng miền

và của cả dân tộc Việt

- Cuối cùng, không thể không đề cập đến giá trị kinh tế do trồng cây ăn quả mang lại cho con người và cho nền kinh tế quốc dân ở nhiều nước trên thế giới, nghề trồng cây ăn quả cho thu nhập rất cao ở Việt Nam, tuỳ từng vùng trồng, tuỳ từng loại cây ăn quả khác nhau nhưng nói chung, 1 ha cây ăn quả cho thu nhập gấp 3-5 lần thậm chí gấp 10 lần trồng cây lương thực Vốn trồng cây ăn quả được thu hồi lại nhanh trong một số năm sau khi cây bước vào thời kỳ kinh doanh ở các Nông trường Quốc doanh, các vườn tập thể và các vườn hộ gia đình giá trị kinh tế do trồng cây ăn quả hấp dẫn hơn nhiều so

Trang 16

với trồng lúa, trồng màu Mặt khác, trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong hơn 10 năm qua cho thấy việc phát triển sản xuất cây ăn quả đF tạo thêm công ăn việc làm, thu hút được lực lượng lao động dư thừa ở nông thôn, góp phần xoá đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, thúc đẩy nông nghiệp bền vững, an ninh quốc phòng đảm bảo Điển hình như vùng trồng vải thiều ở huyện Lục Ngạn - tỉnh Bắc Giang, vùng trồng thanh long ở tỉnh Bình Thuận, vùng trồng cam ở Phủ Quỳ - tỉnh Nghệ An

Với những ý nghĩa to lớn nói trên, ngày nay nhiều nước trên thế giới đang say mê và ra sức phát triển cây ăn quả đặc sản dựa vào những lợi thế về khí hậu,

đất đai, nguồn lao động và kinh nghiệm cổ truyền kết hợp với việc vận dụng các thành tựu hiện đại của khoa học kỹ thuật để có nhiều sản phẩm có chất lượng phục vụ cho tiêu dùng, chế biến và xuất khẩu làm giàu cho đất nước Trung Quốc nổi tiếng thế giới với quả táo tàu; ấn Độ xuất khẩu xoài; Italia và Tây Ban Nha xuất khẩu chanh; Israen, Ai Cập, Ma Rốc xuất khẩu cam; Equado, Philippin có chuối Những năm gần đây Newdilan xuất khẩu kivi (Actinidia chinensis) đF thu về cho đất nước một nguồn ngoại tệ rất đáng kể 1.2 Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới yếu tố cây trồng

1.2.1 Nhiệt độ và hệ thống cây trồng

Từng loại cây trồng, các bộ phận của cây như rễ, thân, hoa, lá, quả… và các quá trình sinh lý của cây như hút nước, quang hợp, hút khoáng… sẽ phát triển tốt ở nhiệt độ thích hợp và chỉ an toàn ở một khoảng nhiệt độ nhất

định.Theo (Đào Thế Tuấn, 1984) [37] thì cần phải phân biệt giữa cây ưa nóng

và cây ưa lạnh Bên cạnh đó phải nắm được tình hình nhiệt độ các tháng trong năm, thời gian nóng bố trí cây ưa nóng, thời gian lạnh bố trí cây ưa lạnh Cần phải phân loại cây trồng theo yêu cầu nhiệt độ có thể lấy mốc 200C để phân biệt cây ưa nóng và cây ưa lạnh Cây ưa nóng là những cây sinh trưởng tốt và

ra hoa, kết quả tốt ở nhiệt độ trên 200C như lúa, lạc, mía… Cây ưa lạnh là

Trang 17

những cây sinh trưởng tốt và ra hoa, kết quả tốt ở nhiệt độ dưới 200C như khoai tây, su hào, bắp cải… Những cây trung gian là những cây có thể sinh trưởng tốt, ra hoa, kết quả tốt ở nhiệt độ xung quanh 200C

Để hoàn thành chu kỳ sinh trưởng, mỗi cây trồng cần đạt được tổng tích

ôn nhất định.Tổng tích ôn này phụ thuộc vào thời gian sinh trưởng, đặc điểm sinh học của cây trồng và lượng bức xạ mặt trời cung cấp được Đó là những căn cứ dể bố trí mùa vụ, cải tiến cơ cấu cây trồng, né tránh thời tiết bất thuận Theo (Đào Thế Tuấn, 1984) [37] cơ cấu cây trồng trong một năm có thể bố trí như sau:

Bảng 1.1: Bố trí cơ cấu cây trồng trong một năm

Cơ cấu cây trồng, vụ Vùng tích ôn Tổng

(0C)

Số ngày có nhiệt độ dưới

200C Cây ưa nóng Cây ưa lạnh Cây ngày ngắn

Hầu hết lượng nước sử dụng cho nông nghiệp là nước mặt và một phần nước ngầm, các nguồn này được cung cấp chủ yếu từ lượng mưa hằng năm Nước mưa ảnh hưởng tới quá trình canh tác như làm đất, thu hoạch Mưa ít hoặc nhiều quá so với yêu cầu đều làm ảnh hưởng tới vụ gieo trồng và thu hoạch Tuỳ theo lượng mưa hàng năm, khả năng cung cấp và khai thác nước

đối với một vùng cụ thể để xem xét lựa chọn cơ cấu cây trồng thích hợp

Trang 18

1.2.3 Đất đai và hệ thống cây trồng

Đất đai là nguồn tài nguyên đặc biệt, là công cụ và tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp Đất và khí hậu hợp thành phức hệ tác động vào cây trồng Phải nắm được đặc điểm mối quan hệ giữa cây trồng với đất thì mới xác định được cơ cấu cây trồng hợp lý.Tuỳ thuộc vào địa hình, chế độ nước, thành phần lý, hoá tính của đất để bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp (Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên, 1995, 1997) [29]

Thành phần cơ giới của đất quy định tính chất của đất như chế độ nước, chế độ không khí, nhiệt độ và dinh dưỡng Đất có thành phần cơ giói nhẹ thích hợp cho trồng cây lấy củ; đất có thành phần cơ giới nặng và có nước trên mặt phù hợp cho các cây ưa nước Các cây trồng cạn như ngô, lạc, đậu tương… thường sinh trưởng tốt và cho năng suất cao trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ (Lý Nhạc, 1987) [24]

Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất quyết định năng suất cây trồng hơn là tính thích ứng.Tuy vậy, trong các loại cây trồng cũng có những cây

ưa trồng trên những loại đất có hàm lượng dinh dưỡng cao và cũng có cây chịu

được đất có hàm lượng dinh dưỡng thấp, đất chua, mặn, có độ độc Khi cây đF

có đủ điều kiện và khả năng thích ứng thì năng suất được quyết định bởi chế độ nước và hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất Bón phân và canh tác hợp lý là biện pháp điều khiển dinh dưỡng đất (Trần An Phong, 1995) [26]

Sử dụng “ hợp lý đất và nước” chính là một bộ phận cấu thành của khái niệm “nông nghiệp sinh thái”, nó vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện để phục vụ cho nền nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững Nắm được các đặc điểm lý, hoá tính của đất, con người có thể tác động, cải tạo đất phù hợp dần với cây trồng hơn như thau chua, rửa mặn, trồng cây xanh cải tạo đất, bón phân là những biện pháp tích cực cải tạo đất đem lại hiểu quả kinh tế

1.2.4 Cây trồng và hệ thống cây trồng

Cây trồng là thành phần chủ yếu của hệ sinh thái nông nghiệp Nội

Trang 19

dung của việc bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là chọn loại cây trồng nào để lợi dụng được tốt nhất các điều kiện về khí hậu và đất đai Mặt khác, cây trồng là những nguồn lợi tự nhiên, nhiệm vụ của nông nghiệp là phải sử dụng nguồn lợi tự nhiên ấy một cách tốt nhất, nghĩa là phải dành cho chúng các điều kiện

đất đai và khí hậu thích hợp nhất để chúng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao (Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Phùng Đăng Chính, 1987) [24]

Khác với khí hậu và đất đai là các yếu tố mà con người ít có khả năng thay đổi, còn với cây trồng thì con người có thể thay đổi, chọn lựa, di thực… Với trình độ công nghệ sinh học thời nay, con người có thể thay đổi bản chất của cây trồng theo ý muốn thông qua các biện pháp như lai tạo, chọn lọc, gây

đột biến, nuôi cấy vô tính

Để bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý với một vùng nào đó, cần nắm vững yêu cầu của loài, của từng giống cây trồng, đối chiếu các điều kiện tự nhiên và khả năng thích ứng của cây trồng để đưa ra những quyết định đúng đắn nhất (Phạm Chí Thành,Trần Văn Diễn, Phạm Tiến Dũng, Trần Đức Viên, 1993, 1996) [32]

1.2.5 Hệ sinh thái và hệ thống cây trồng

Xây dựng cơ cấu cây trồng là xây dựng hệ sinh thái nhân tạo, đó là hệ sinh thái nông nghiệp Ngoài thành phần sống chủ yếu là cây trồng còn có các thành phần khác như cỏ dại, sâu, bệnh, các vi sinh vật, các động vật…các thành phần sống này cùng với cây trồng tạo nên một quần thể sinh vật, chúng chi phối sự sinh trưởng, phát triển, tạo nên các mối quan hệ rất phức tạp, duy trì và cân bằng sinh học theo hướng hạn chế được các mặt có hại, phát huy mặt có lợi của cây trồng trong suốt cả chu kỳ sống (Trần Đức Hạnh, Đoàn Văn Điếm, Nguyễn Văn Viết, 1997) [13]

Theo các tác giả (Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Phùng Đăng Chính, 1987) [24] thì khi bố trí cơ cấu cây trồng cần chú ý đến các mối quan hệ dựa theo nguyên tắc:

Trang 20

+ Lợi dụng mối quan hệ tốt giữa các sinh vật với cây trồng

+ Khắc phục, phòng tránh hoặc tiêu diệt mầm mống tác hại đối với cây trồng do các vi sinh vật gây nên

Trong quần thể cây trồng, quần thể chủ đạo của cơ cấu cây trồng có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

+ Mật độ của quần thể do con người quy định từ lúc gieo trồng

+ Sự sinh sản, tử vong và phát tán không xảy ra một cách tự phát mà luôn chịu sự điều khiển của con người

+ Sự phân bố không gian tương đối đồng đều là do con người điều khiển + Độ tuổi của quần thể cũng đồng đều vì có sự tác động của con người Trong cơ cấu cây trồng cũng xảy ra sự cạnh tranh cùng loài hoặc khác loài Khi gieo trồng một loại cây trồng thì vấn đề cạnh tranh cùng loài rất quan trọng Cần xác định mật độ cây trồng và các biện pháp điều chỉnh quần thể để giảm sự cạnh tranh trong loài Sự cạnh tranh khác loài cũng xảy ra khi

ta trồng xen hoặc giữa cây trồng với cỏ dại.Vì vậy khi xác định cơ cấu cây trồng cần chú ý các vấn đề sau:

+ Xác định thành phần cây trồng và giống cây trồng thích hợp với điều kiện cụ thể của cơ sở sản xuất

+ Bố trí cây trồng theo thời vụ tốt cũng tránh được tác hại của cỏ dại, sâu bệnh vì dịch sâu, bệnh phát triển theo lứa và theo mùa, tác hại của chúng xảy ra rất nghiêm trọng trong thời kỳ sinh trưởng, phát triển nhất định của cây trồng 1.2.6 Hiệu quả kinh tế và hệ thống cây trồng

Để phát triển bền vững giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích có thể tăng vụ, thay đổi giống cây trồng hoặc tăng đầu tư thâm canh Vấn đề tăng

vụ chỉ có thể giải quyết được trong một phạm vi nhất định và chịu sự chi phối lớn của điều kiện tự nhiên

Sau khi xác định cơ cấu cây trồng cần tính toán hiệu quả kinh tế sao cho cơ cấu cây trồng mới cao hơn cơ cấu cây trồng cũ Để đạt được hiểu quả

Trang 21

kinh tế cao thì các loại cây trồng trong cơ cấu cây trồng đều phải đạt năng suất cao (Phạm Chí Thành, 1988) [31]

Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là phải sản xuất đa dạng Ngoài cây trồng chủ yếu, cần bố trí cây trồng bổ sung để tận dụng điều kiện tự nhiên, xF hội của vùng và của cơ sở sản xuất.Về mặt kinh tế cơ cấu cây trồng cần phải đạt được các yêu cầu sau đây:

+ Đảm bảo yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao

+ Đảm bảo việc hỗ trợ cho các ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng các nguồn lợi tự nhiên

+ Đảm bảo việc đầu tư lao động và vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao + Đảm bảo giá trị sử dụng và giá trị cao hơn cơ cấu cây trồng cũ

Việc đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng có thể dựa vào một

số chỉ tiêu như năng suất, giá thành, thu nhập (giá trị bán sản phẩm sau khi đF trừ đi các chi phí đầu tư) và mức lFi (% của thu nhập so với đầu tư) Khi đánh giá giá trị kinh tế của cơ cấu cây trồng cần dựa vào năng suất bình quân của cây trồng và giá cả thu mua của thị trường.Tuy nhiên cũng cần chú ý đến những điều kiện ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm như khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý và các điều kiện xF hội khác

1.2.7 Thị trường và hệ thống cây trồng

Trong Kinh tế học vĩ mô,1999 [57] Robert S.Pindyck, Daniel L.Rubingeld đF cho thấy thị trường là tập hợp những người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau dẫn đến khả năng trao đổi, thị trường là trung tâm của các hoạt động kinh tế

Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường có nhiều người mua và người bán, không có cá nhân nào có ảnh hưởng đáng kể đến người mua và người bán.Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo thường phổ biến một giá duy nhất là thị trường Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là những người bán khác nhau có thể đặt giá khác nhau cho cùng một loại sản phẩm, khi đó giá thị

Trang 22

trường được hiểu là giá bình quân phổ biến

Thị trường là động lực thúc đẩy cải tiến cơ cấu cây trồng hợp lý.Theo cơ chế thị trường thì cơ cấu cây trồng phải làm rõ được các vấn đề:Trồng cây gì? Đối tượng phục vụ là ai? Thông qua sự vận động của giá cả thị trường có tác động đến việc định hướng cho người sản xuất nên trồng cây gì, số lượng bao nhiêu, chi phí như thế nào để đáp ứng được nhu cầu của xF hội và thu

được kết quả cao Thông qua thị trường, người sản xuất điều chỉnh quy mô sản xuất, cải tiến cơ cấu cây trồng, thay đổi giống cây trồng, cơ cấu mùa vụ cho phù hợp với thị trường

Thị trường còn có tác dụng điều chỉnh cơ cấu cây trồng, chuyển dịch theo hướng ngày càng đạt hiệu quả cao hơn Cải tiến cơ cấu cây trồng chính là

điều kiện, là yêu cầu để mở rộng thị trường Khu vực nông thôn là thị trường cung cấp nông sản hàng hoá cho toàn xF hội và là thị trường tiêu thụ sản phẩm của ngành công nghiệp, cung cấp nông sản cho ngành dịch vụ và cũng là nơi cung cấp lao động cho các ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân Do vậy thị trường và việc cải tiến cơ cấu cây trồng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Thị trường là động lực thúc đẩy cải tiến cơ cấu cây trồng, song nó cũng có mặt hạn chế là nếu để cho cơ cấu cây trồng phát triển một cách tự phát sẽ dẫn đến

sự mất cân đối ở một giai đoạn, một thời điểm nào đó Chính vì lẽ đó mà phải cần những chính sách của Nhà nước điều tiết kinh tế vĩ mô để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của thị trường

Kinh tế hàng hoá là một hình thức tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm sản xuất ra dùng để mua bán, trao đổi trên thị trường, giá trị của sản phẩm hàng hoá phải thông qua thị trường và được thị trường chấp nhận – dẫn theo (Hồ Giám, 2003) [11]

Gía thành sản phẩm bị chi phối bởi các yếu tố như vốn, trình độ lao

động, giá cả dịch vụ, phạm vi địa lý…Vì vậy khi đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng cần phải xem xét một cách tổng quát

Trang 23

Có thể sử dụng tỷ suất lợi nhuận MBCR (Marginal Benefit Cost Ratio)

để đánh giá hiệu quả kinh tế của hệ thống cây trồng:

Tổng thu nhập CCCT mới – Tổng thu nhập CCCT cũ

Theo (Đào Thế Tuấn, 1997) [40] nông hộ là đơn vị kinh tế tự chủ và đF góp phần to lớn vào sự phát triển sản xuất nông nghiệp của nước ta trong những năm qua.Tất cả những hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu dược thực hiện thông qua nông hộ.Do vậy quá trình chuyển

đổi cơ cấu cây trồng thực chất là sự cải tiến sản xuất nông nghiệp ở các hộ nông dân Do đó nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn

Kinh tế nông hộ là kinh tế của hộ nông nghiệp sống ở nông thôn, bao gồm cả thu nhập từ hoạt động của sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp

Hộ nông dân là các hộ gia đình có tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông nghiệp nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn.Với một trình độ ít hoàn chỉnh, hộ nông dân có những

đặc điểm sau:

+ Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là đơn vị sản xuất vùa là

đơn vị tiêu dùng

+ Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của

hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn.Trình độ này quyết

Trang 24

định dến quan hệ giữa nông hộ với thị trường

+ Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với mức độ khác nhau nên khó giới hạn được thế nào là một hộ nông dân thuần túy.Vì vậy, hộ nông dân tái sản xuất giản đơn nhờ vào ruộng đất thông qua cải tiến cơ cấu cây trồng, nhờ đó mà tái sản xuất

mở rộng trong nông nghiệp phục vụ lợi ích chung của xF hội nên cần thiết phải có chính sách xF hội đầu tư thích hợp Hộ nông dân không phải là một hình thái sản xuất đồng nhất mà là tập hợp các kiểu nông hộ khác nhau, có mục đích và cơ chế hoạt động khác nhau

+ Kiểu nông hộ hoàn toàn tự cấp là kiểu hộ nông dân ít có phản ứng với thị trường, nhất là thị trường lao động và vật tư

+ Kiểu nông hộ chủ yếu tự cấp, có trao đổi một phần nông sản lấy hàng tiêu dùng, có phản ứng ít hay nhiều với giá cả (chủ yếu giá vật tư)

+ Kiểu nông hộ bán phần lớn sản phẩm nông sản, có phản ứng nhiều với thị trường

+ Kiểu nông hộ hoàn toàn sản xuất hàng hóa, có mục đích thu lợi nhuận Mục tiêu sản xuất của các nông hộ quyết định sự lựa chọn sản phẩm kinh doanh, cơ cấu cây trồng, quyết định mức đầu tư, phản ứng với giá cả vật tư, lao động và sản phẩm của thị trường

Theo (Đào Thế Tuấn, 1997) [40] quá trình phát triển của các hộ nông dân trải qua các giai đoạn từ thu nhập thấp dến thu nhập cao:

+ Giai đoạn nông nghiệp tự cấp: nông dân trồng một loại cây hay vài loại cây lương thực chủ yếu, ít đầu tư thâm canh, năng suất thấp, gặp nhiều rủi ro + Giai đoạn kinh doanh tổng hợp và đa dạng khi mới chuyển sang sản xuất hàng hóa, nông dân bắt đầu sản xuất những loại cây trồng phục vụ cho nhu cầu thị trường, thị trường cần loại nông sản gì thì sản xuất cây trồng đó, sản xuất đa canh nên giảm bớt rủi ro

Tóm lại, hộ nông dân chuyển từ sản xuất nông nghiệp tự cấp, tự túc

Trang 25

sang sản xuất hàng hóa gắn với thị trường tiêu thụ ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào trình độ, điều kiện kinh tế xF hội và các chính sách của Nhà nước

hỗ trợ, thúc ủẩy nông nghiệp phát triển.Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay,

để áp dụng thành công một tiến bộ kỹ thuật mới hay một phương thức canh tác mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và giá trị thu nhập/đơn vị diện tích canh tác thì cần phải có chính sách đầu tư, hỗ trợ giá của Nhà nước

1.2.9 Chính sách và hệ thống cây trồng

Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng một cách có căn cứ khoa học, phù hợp với nhu cầu của thực tiễn và xu thế phát triển của xF hội cần có chính sách về khoa học- công nghệ để thông qua nghiên cứu, nhằm thiết lập ngay trên đồng ruộng của người nông dân những mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng có hiệu quả Đồng thời chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân nhằm nhân rộng mô hình Bên cạnh đó, cũng cần có những cơ chế chính sách về tài chính để hỗ trợ cho người nông dân khi mới bắt đầu thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũng như chính sách khen thưởng để khuyến khích những hộ, địa phương chuyển đổi cơ cấu cây trồng thành công

Quá trình đa dạng hoá cây trồng là do sự phát triển của kinh tế hộ quyết định và tuỳ thuộc vào từng vùng, những vấn đề khó khăn về vốn đầu tư cho sản xuất là yếu tố quyết định cơ bản Các hộ nghèo thường kinh doanh rất

đa dạng, chỉ khi họ giàu lên mới tập trung vào các ngành, nghề nhất định Như

Trang 26

vậy, chuyên môn hoá chỉ có thể xảy ra khi trình độ sản xuất hàng hoá đF phát triển đến mức cao (Đào Thế Tuấn, 1997) [40]

Một khó khăn khác làm cho nông dân ngần ngại không dám đầu tư vào sản xuất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng là thiếu thị trường tiêu thụ nông sản

Do đó, để tìm kiếm và mở rộng thị trường, Nhà nước cần có chính sách để tạo môi trường lành mạnh, sòng phẳng trong phát triển thị trường và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường giao thông, mạng lưới điện và thông tin vv…

Sự phân hoá của nông hộ và trình độ sản xuất chênh lệch của các kiểu nông hộ ảnh hưởng rất lớn đến cải tiến cơ cấu cây trồng Các kiểu nông hộ khác nhau có trình độ tiếp thu và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật ở mức độ khác nhau.Trình độ là yếu tố quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng của các nông hộ trong giai đoạn đầu của sản xuất nông nghiệp hàng hoá, khi kỹ thuật áp dụng chưa phải cần nhiều vốn thì việc đa dạng hoá sản xuất là một xu thế cần thiết cho sự phát triển

1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.3.1 Nghiên cứu ở ngoài nước

Từ khi con người xuất hiện trên trái đất thì thức ăn đầu tiên trong cuộc sống là các loại quả thiên nhiên với phương thức “ săn bắn, hái lượm ”.Từ đó tới ngày nay và cả sau này rau quả vẫn luôn luôn có vị trí và vai trò không thể thiếu trong đời sống con người

Nghiên cứu nguồn gốc các loài cây trồng trên thế giới Viện sỹ Vavilop cho rằng quê hương của nhiều loài cây ăn quả là vùng Đông Nam á, Tiểu á, Trung á, ngoại Capcaz và ven bờ Địa Trung Hải

Nghề trồng cây ăn quả ở Trung Quốc đF có cách đây 2500 - 3000 năm, còn ở ấn Độ đF có từ 1280 năm trước công nguyên Các tài liệu và Thư tịch cũ còn cho thấy các cây ăn quả như táo, đào, lê, mơ, mận, táo tàu, hạt dẻ vv… đó

được đưa trồng cách đây hơn 4000 năm; còn cam, chanh, anh đào và một số

Trang 27

cây ăn quả khác thì chỉ có trên dưới 2000 năm

Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều phát triển cây ăn quả Những nước có diện tích trồng cây ăn quả lớn là Mỹ,Trung Quốc, ấn Độ vv… Năm 1995 Trung Quốc có 6,4 triệu ha cây ăn quả với sản lượng khoảng 35 triệu tấn, ấn Độ có 2,94 triệu ha với sản lượng 25,5 triệu tấn

Những nghiên cứu chung về sự phát triển cây ăn quả trên thế giới cho thấy sản xuất hoa quả nói chung luôn có xu hướng gia tăng và ngày càng được chú trọng trong cơ cấu nông sản của nhiều nước

Theo (Singh R.N, 1993) [59] lượng quả tiêu thụ bình quân đầu người toàn thế giới thời kỳ 1985-1987 là 65,5 kg/năm.Trong đó, nước có mức bình quân đầu người cao nhất là Papua New guinea (307,8 kg), Newdilan (170,7 kg), úc (151,3 kg), Philippin (113,6 kg).Trong khi đó, khu vực Châu á - Thái Bình Dương mức tiêu thụ mới chỉ xấp xỉ 46% của thế giới

Tổng sản lượng quả các loại trên toàn thế giới thời kỳ 1976-1981 là 301,1 triệu tấn Đến năm 1993 đF lên tới 371 triệu tấn.Trong đó, sản lượng của

20 loại quả chủ yếu đạt 359,4 triệu tấn, tăng 14,6% so với sản lượng bình quân thời kỳ 1976 - 1981, trong đó 55% là các loại quả nhiệt đới và ỏ nhiệt đới, còn 45% là quả ôn đới Các loại quả có sản lượng lớn là nho (57,2 triệu tấn), cam (56,8 triệu tấn), chuối (50,6 triệu tấn) và táo tây, xoài, dứa, lê, đào Năm 1993 những sản phẩm có sản lượng lớn để xuất khẩu là chuối (11,6 triệu tấn), cam quýt (6,35 triệu tấn), táo tây (4,28 triệu tấn) (FAO, 1993) [9]

Theo (Brown, 1972) [48] đF rút ra trong cơ cấu năng lượng tiêu thụ tổng

số của thế giới là hoa quả và rau đF cung cấp 9,6%, trong khi đó diện tích các loại cây này chỉ chiếm 3,7% cơ cấu diện tích đất nông nghiệp Hiệu ích cung cấp năng lượng của rau và quả rất cao so với các sản phẩm lương thực Cây lương thực chiếm tới 76,2% diện tích đất nông nghiệp nhưng chỉ cung cấp 62,7% tổng năng lượng

Cũng tương tự như vậy, theo (FAO, 1998) [50] thì hiện nay trên thế

Trang 28

giới có 76% quỹ đất sản xuất cây lấy hạt, cây lấy củ đF cung cấp 62,7% năng lượng cho tiêu thụ trong khi chỉ có 3,7% quỹ đất để trồng rau quả đF cung cấp 4,6% năng lượng cho tiêu thụ Như vậy đF hình thành một xu thế mới là giảm diện tích cây lấy hạt, cây lấy củ và mở rộng diện tích trồng rau quả

Loài người càng văn minh, cuộc sống của con người ngày càng được năng cao thì rau quả tươi được tiêu thụ ngày càng nhiều với tốc độ tăng nhanh hơn lương thực và các thức ăn khác

Bảng 1.2: Sản lượng các loại quả chủ yếu trên thế giới (1000 tấn)

Đào Mận Mơ

Dâu tây Xoài Dứa

đu đủ Chà là Bơ

66.099 34.844 38.751 7.870 5.310 4.670 2.783 38.162 22.868 34.862 8.591 7.380 5.515 1.690 1.768 13.995 9.584 3.016 2.578 1.440

56.754 25.882 55.899 9.170 7.448 4.723 3.548 49.148 27.055 36.468 8.952 8.811 5.744 2.074 2.362 16.284 10.849 5.024 3.724 2.047

61.470 28.900 57.376 9.742 7.749 4.663 3.616 5.108 27.112 44.436 10.851 10.326 6.380 2.433 2.289 17.152 11 445

5421 3.657 2.120

57.165 26.349 56.818 9.570 7.632 5.319 7.322 50.596 27.902 42.388 10.333 9.785 6.197 2.248 2.305 17.744 11.740 5.563 3.823 2.104 Cộng 311.191 341.966 368.259 359.403

Nguồn: FAO Yearbook - production Vol 47 1993 Rome 1994 [49] Theo Đề ỏn nông sản năm 2000 của FAO (1994) [10], trong khi tốc độ phát triển sản xuất và nhu cầu tiêu thụ hàng năm của hầu hết các nông sản chính giảm đi, thì riêng các loại quả lại tăng lên một cách rõ rệt (Bảng 1.3)

Trang 29

Bảng 1.3: Tốc độ tăng trưởng hàng năm về sản xuất và nhu cầu đối

với một số nông sản chính trên thế giới (% năm)

Nhóm nông sản

Bình quân 1978-

1988

Bình quân 1988-

2000

Bình quân 1978-

1988

Bình quân 1988-

Trang 30

ở ấn độ, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao hơn nhiều so với các cây trồng khác.Hiệu quả kinh tế (lFi) của một số cây ăn quả chính so với các cây lương thực khác (tiền lFi tính bằng Rupia) như: lúa 1844; ngô 341; lúa mỳ 340; đậu 256; khoai tây158; xoài 11326; cam 9529; ổi 6132; táo bom 11326 (Vũ Công Hậu, 1987) [14] Sự so sánh có thể chỉ là tương đối nhưng cũng đủ thấy hiệu quả của trồng cây ăn quả gấp nhiều lần trồng cây lương thực

ở một số nước khác, cây ăn quả cũng đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp như Trung Quốc vùng Qixi - tỉnh Quảng

Đông thu nhập táo tây chiếm 16% tổng thu nhập nông nghiệp ở vùng này, các huyện sản xuất nhFn chủ yếu của tỉnh Phúc Kiến (Putian, Jijiang) thu nhập từ nhFn chiếm 40 - 45% tổng thu nhập nông nghiệp (Sing R.B, 1993) [59]

Về thị trường của các sản phẩm hoa quả thì một số nghiên cứu của (FAO, 1994) [49] cho thấy: việc buôn bán quả tươi những năm gần đây đang liên tục phát triển Những yếu tố chính góp phần phát triển mạnh mẽ thị trường quả là sự quan tâm của người tiêu dùng về mùi vị, màu sắc, mẫu mF, các yếu tố kỹ thuật trong khâu đóng gói, bao bì, vận chuyển cộng với sự giao lưu, thông tin, quảng cáo và thái độ, trách nhiệm, sự phát triển của các cơ sở sản xuất, kinh doanh Nhu cầu thị trường đF thúc đẩy sự hình thành nền sản xuất cây ăn quả được tổ chức ngày càng chuyên môn hoá, hợp lý đồng bộ từ sản xuất, thu hoạch và tiêu thụ ở nhiều nước trên thế giới Trên thực tế, các sản phẩm cây ăn quả buôn bán lớn hiện nay đang được quan tâm là dứa tươi, xoài, thanh long, cam, chuối, bên cạnh các sản phẩm thứ yếu là vải, nhFn, chanh, ổi nhưng đều có giá trị và lFi suất cao

và thị trường của chúng đang có xu hướng phát triển mạnh Hơn 20 năm qua, ở Châu á, các nước Trung Quốc, Đài Loan, Philippin, Thái Lan … đF trở thành các nước xuất khẩu rau quả lớn bên cạnh EEC, Mỹ là những nước xuất khẩu rau quả lớn nhất (Hans G.P Jansen, 1991) [51]

Tiêu thụ quả trên thế giới bình quân đầu người ở các vùng còn thấp và

có sự khác nhau cho dù việc sản xuất cây ăn quả có tăng: ở úc và Newdilan

Trang 31

tiêu thụ bình quân đầu người về quả và sản phẩm chế biến từ quả trong năm là

90 kg, Châu Mỹ 70 kg, Châu Âu 40-50 kg, Châu á và Châu Phi khoảng trên dưới 20 kg Mức tiêu thụ thấp ở các nước Châu Phi là do phải giải quyết vấn

đề lương thực và dân số quá đông, còn ở các nước phát triển thì do quy mô vườn quá bé nên không phát huy được hết các thành tựu và tiến bộ khoa học

kỹ thuật vào sản xuất

Như vậy, việc thúc đẩy đa dạng hoá nông nghiệp và xuất khẩu, chủ động

sử dụng tối ưu tiềm năng của mỗi nước, đẩy mạnh xuất khẩu các nông sản không truyền thống như hoa quả tươi và chế biến là vấn đề cực kỳ quan trọng

Kỹ thuật trồng cây ăn quả đF được gắn với nhiều yếu tố như đặc điểm giống, khí hậu, đất đai, phân bón, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh, năng suất và hiệu quả kinh doanh cả chu kỳ.Ví dụ như đối với cam, quýt ở các nước cơ giới hoá như Cu Ba thì trồng thưa (4 x 8m), trong khi đó một số nước khác lại có xu hướng trồng dày như ở Quảng Tây (Trung Quốc) quýt trồng với mật độ 1600 -

1700 cây/ ha (khoảng cách 2 x 3m ).ở vùng Shantou - tỉnh Quảng Đông, quýt

được trồng từ 1500 - 2000 cây/ ha, kết hợp với thâm canh cao để bù đắp cho vườn cây bị rút ngắn tuổi thọ do sâu bệnh Các vườn quýt được duy trì trong hệ thống canh tác: lúa + quýt, trong đó thời gian trồng quýt từ 10 - 12 năm (Aubert B, 1990) [47]

Xu hướng trên thế giới kể cả ở vùng ôn đới và nhiệt đới là trồng cây ăn quả với mật độ dày và tìm nhiều biện pháp làm cây lùn xuống.Trồng dày có những lợi ích rất cơ bản ngoài việc tăng sản lượng, chóng thu hoạch còn dễ thu hoạch, dễ chăm sóc, nhất là dễ phòng trừ sâu bệnh cho cây.Vấn đề chính

là trồng dày nhưng phải có một hệ thống kỹ thuật kèm theo như giống, tỉa cây, tỉa cành, bón phân, chất điều tiết sinh trưởng, phòng ngừa sâu bệnh…

ở nhiều nước như Italia, Cu Ba, Nhật Bản … trên cam, quýt có những biện pháp làm cho rụng bớt quả trong trường hợp quá sai quả, chỉ giữ lại một

sồ lượng quả kinh tế ở Australia, việc cắt khoanh vỏ thân cây vải (sâu, rộng 3

Trang 32

mm) với kỹ thuật thích hợp đF làm tăng năng suất 15 - 40 kg/ cây ở độ tuổi

8.-10 năm ở Quảng Tây (Trung Quốc) đF tạo được giống xoài ra hoa muộn vào tháng 4 để tránh gặp lạnh (Menzel C.M, 1996) [55]

Việc bón phân, tưới nước, giữ ẩm, chống xói mòn cho cây ăn quả đF dược nhiều nước chú ý như xác định liều lượng phân bón, bón phân qua lá, phân vi lượng, sử dụng các chất điều hoà, chất kích thích sinh trưởng, xây dựng hệ thống tưới tiêu hợp lý (tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa, tưới rFnh, tưới tràn, tưới ngập…), kết hợp trồng cây che phủ đất…

Các Chương trình Quản lý dịch hại tồng hợp (Integrated Pest Management – IPM ) cho cây ăn quả đF dược ứng dụng và phát triển trong nhiều thập kỷ gần đây và ngày càng phát huy tác dụng.Trong IPM, việc loại trừ tác hại của sâu bệnh được đặt trong mối quan hệ tổng hợp giữa sinh vật và môi trường sinh thái, trong đó chú trọng bảo vệ các sinh vật, vi sinh vật có ích

là thiên địch của sâu bệnh phá hoại.Khi mật độ sâu bệnh hại tăng đến một ngưỡng nhất định thì mới trừ bằng thuốc hoá học Đây chỉ là một biện pháp và phải sử dụng một cách hợp lý nhất để giảm ô nhiễm môi trường Có thể nói IPM là cẩm nang trồng cây ăn quả đang được nhiều nước quan tâm nhất là các nước có nền nông nghiệp phát triển như Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Cu Ba…

Công tác chọn, tạo giống cây ăn quả trong nhhững năm gần đây của các nước đF thu được nhiều kết quả nhờ ứng dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật cây ăn quả Từ đó, tập đoàn giống cây ăn quả ở mỗi nước, mỗi vùng ngày càng phong phú về cả số lượng và chất lượng ở Trung Quốc đánh giá có khoảng 10.000 giống thuộc 300 loài cây ăn quả trong đó có hơn 7.000 mẫu cây đF dược tập hợp ở ấn Độ có hơn 6.000 mẫu cây ăn quả đang được duy trì (Singh R.B, 1993) [59]

Cây ăn quả có rất nhiều loài, giống khác nhau và rất mẫn cảm với các

điều kiện ngoại cảnh Việc duy trì giống tốt, tạo giống mới rất công phu Có những giống quý bị mai một Để giải quyết những vấn đề trên, xu hướng

Trang 33

nghiên cứu giống tập trung vào bảo tồn, sử dụng tài nguyên di truyền để cải thiện giống cây ăn quả và phát triển kỹ thuật nhân giống Trong những năm

đầu thập kỷ 80, các nước Indonexia, Philippin, Thái Lan đF tập hợp thêm cho quỹ gen cây ăn quả (Fruit Germ Plasm ) gồm: chuối 708 mẫu, citrus (cây có múi) 735 mẫu, nhFn 43 mẫu, sầu riêng 6.122 mẫu, xoài 1.163 mẫu, măng cụt

153 mẫu, chôm chôm 587 mẫu

Trong việc cải thiện giống, ứng dụng công nghệ sinh học trên chuối đF cho phép nhân nhanh hàng loạt cây giống có độ đồng đều cao và tính sạch bệnh virus, vi khuẩn, tuyến trùng…(Sara J.L và Jonce.D, 1993) [58]

Trên xoài, ở ấn Độ đF có nhiều giống xoài được chọn là cây thực sinh lai tự nhiên, một số giống này đF được trồng ở những vùng khác nhau trên thế giới (Singh R.B, 1993) [59]

Australia mới trồng vải khoảng 150 năm lại nay nhưng đF có nhiều công trình nghiên cứu rất kết quả Nghiên cứu giống cây ăn quả ở Australia gắn với nghiên cứu sinh lý, sinh thái quá trình ra hoa, đậu quả của cây vải Người ta cũng đF nghiên cứu cơ cấu vải sớm, trung bình, muộn cho từng vùng khí hậu khác nhau (Menzel C.M, 1985, 1996) [54], [55]

ở Malayxia trong nghiên cứu tài nguyên di truyền cây ăn quả, đF chú ý

đến các cây có quả hoang dại chưa được con người sử dụng Những cây có quả này được nghiên cứu để chọn lọc thành cây ăn quả mới hoặc làm gốc ghép, hoặc lai tạo để cải thiện giống cây trồng (Wong Kai Choo, 1993) [60]

Để đảm bảo nông sản trong đó có sản phẩm cây ăn quả cho trên 6 tỷ người trên hành tinh thì ngoài hướng thâm canh, tăng vụ…trên các vùng đất bằng, chiều hướng hiện nay trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển

là tập trung nghiên cứu khai thác đất nông nghiệp ở vùng đồi núi theo hướng

đa dạng hoá cây trồng và bảo vệ đất canh tác trên đất dốc ( Hoey.M, 1990) [52] khi xây dựng mô hình sử dụng đất dốc, đF nhấn mạnh việc làm các đường

đồng mức, trồng cỏ thành băng để hạn chế làm đất đến mức tối thiểu… ở Bắc

Trang 34

Thái Lan nghiên cứu này đF góp phần phát triển nông nghiệp ổn định Những kết quả trên đất Kandihult trồng cây ăn quả theo băng kết hợp bón phân đF cho hiệu quả kinh tế cao, có tác dụng cải tạo, nâng cao độ phì cho đất

Vùng Crưm (Liên Xô cũ) và ở Indonexia, người ta cũng đF thành công với việc trồng cây ăn quả trên đất dốc theo băng kết hợp với các biện pháp chống xói mòn như đắp bờ, trồng cây theo đường đồng mức, làm nương bậc thang với các công trình ngăn nước (Phùng Đăng Chính, Lý Nhạc, 1987) [5] Hiện nay tiêu thụ quả trên thế giới tăng gấp 1,5 lần so với thập kỷ trước Mức tiêu thụ quả ở các nước phát triển đạt 160-190 kg/người/năm.Theo

dự báo của (FAO, 1994) [10] xu hướng tiêu thụ quả của thị trường thế giới trong những năm đầu thế kỷ 21 sẽ tăng 6 - 8%/năm, giá quả tăng 2%/năm trong giai đoạn 2000 - 2010

Nhìn chung, triển vọng phát triển cây ăn quả trên toàn cầu rất lớn Đây cũng chính là cơ sở xây dựng chiến lược phát triển cây ăn quả ở Việt Nam 1.3.2 Nghiên cứu ở trong nước

Nghề trồng cây ăn quả đF có ở Việt Nam cách đây hơn 2000 năm.Theo các Thư tịch cổ của người Trung Quốc thì đến đầu công nguyên, sau nghề trồng lúa là nghề làm vườn trồng một số cây ăn quả, cây có củ, rau, đậu, dưa ( Lịch sử Việt Nam.Tập 1- 1971).Sách Dị Vật Chí, Nam Phương Thảo Mộc Trạng, Tề Dân Yếu Thuật có kể lại rằng: bấy giờ ở Việt Nam (từ thế kỷ I-VI) nhà nào cũng có vườn trồng rau và cây ăn quả Nông thôn Giao Châu, Giao Chỉ, Cửu Châu có đủ các loại chuối, vải, nhFn, cam quýt, dứa, khế, sấu, trám, vả, táo, lựu, mơ vv… Sách cũng nói đến nhân dân ta thời đó đF có những kỹ thuật độc đáo trừ sâu bệnh cho cây ăn quả bằng biện pháp sinh học.Người Giao Chỉ lấy chiếu bó tổ kiến vàng vào cành cam giống đem ra chợ bán.ở miền Nam, cây cam được loại kiến đó đốt chết sâu, châm vào quả cam bảo vệ cây (Bùi Huy Đáp, 1998) [7]

Các chuyện cổ tích Việt Nam thì có sự tích Quả Dưa hấu, Quả Thị

Trang 35

trong chuyện Tấm Cám, Quả Khế trong chuyện Cây Khế, Quả Sầu riêng trong

sự tích Trái Sầu riêng vv… và tục bày mâm ngũ quả ngày lễ, tết để cúng tổ tiên Điều đó chứng tỏ rằng cây ăn quả đF sớm quen thuộc trong đời sống của người dân Việt và nghề trồng cây ăn quả ở nước ta đF có từ lâu đời, cha ông ta

đF biết lựa chọn trồng các loại cây ăn quả quý và biết sử dụng những biện pháp kỹ thuật trong sản xuất cây ăn quả.Trải qua thăng trầm của lịch sử đất nước, nghề trồng cây ăn quả ở nước ta ngày càng được củng cố, bổ sung và phát triển

ở Việt Nam, theo số liệu của Nhà Xuất bản Thống kê, Hà Nội 2002 thì trong vòng 20 năm (1980 - 2000) diện tích cây ăn quả không ngừng tăng lên: năm 1980 cả nước có 210.800 ha, đến năm 1990 có 281.200 ha, đến năm

1993 đF đạt đến diện tích 325.000 ha với sản lượng 3,4 triệu tấn, chiếm 6,2% giá trị sản lượng nông nghiệp và 8,4% giá trị sản lượng ngành trồng trọt Năm

1995 diện tích trồng cây ăn quả trong cả nước là 346.400 ha, trong đó Đồng bằng Sông Cửu Long 175.700 ha (50,7%), Trung du và miền núi Bắc Bộ 47.600 ha (13,7%), Đồng bằng Sông Hồng 33.800 ha (9,8%), miền Đông Nam Bộ 32.700 ha (9,5%), Khu IV cũ 27.400 ha (7,9%), Duyên hải miền Trung 20.600 ha (6,9%), Tây Nguyên 86.00 ha (2,5%) Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đứng đầu về diện tích cây ăn quả trong cả nước và về sản lượng cũng

đứng hàng đầu, chiếm tỷ trọng 49,05% Đến cuối năm 2000 diện tích trồng cây

ăn quả trong cả nước là 520.000 ha

Nếu so sánh với giai đoạn 1980 - 1990 thì 10 năm cuối thế kỷ 20 (1991-2000) diện tích cây ăn quả của cả nước tăng nhanh gấp 3,4 lần, đặc biệt

có năm tăng lên hơn 50.000 ha so với năm trước (1997).Vùng có diện tích cây

ăn quả lớn nhất cả nước là Đồng bằng Sông Cửu Long (chiếm 38- 46% diện tích và 45-50% sản lượng), tiếp đến là Trung du miền núi phía Bắc, thứ ba là

Đồng bằng Nam Bộ, tiếp theo là Đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và cuối cùng là Tây Nguyên (Bảng 1.5)

Trang 36

Bảng 1.5: Diện tích cây ăn quả các vùng trong nước

Đơn vị tính: 1000 ha Năm

1996 1997 1998 1999 2000 Cả nước 383.8 426.1 438.4 496.0 544.7 Miền Bắc 139.9 162.0 166.2 204.1 221.1

59.0 25.9 20.2 34.8

49.0 50.6 23.5 38.7

49.4 52.3 24.9 39.6

51.9 79.7 30.2 42.3

58.3 90.0 28.8 44.0 Miền Nam 244.9 264.1 272.2 291.9 323.6

15.4 11.9 50.8 186.0

18.0 12.9 51.6 191.3

20.8 12.9 66.9 191.3

21.9 12.9 2.5 206.3 Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT, Vụ Kế hoạch và Quy hoạch - Nhà Xuất bản Nông nghiệp Hà Nội - 2002

Theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và PTNT, năm 2000 trên toàn quốc, chuối có diện tích lớn nhất (98.366 ha); tiếp đến là cây có múi (Citrus) (cam, quýt, bưởi, chanh) (68.614 ha); xoài (46.782 ha); thanh long (3.223 ha) và nho (1.820 ha) (Bảng 1.6 và Bảng 1.7)

Trang 37

B¶ng 1.6: DiÖn tÝch mét sè c©y ¨n qu¶ chñ yÕu ë ViÖt Nam

Trang 38

Bảng 1.7: Sản lượng một số cây ăn quả chủ yếu ở Việt Nam

và ngành trồng trọt nói riêng

Nghị quyết Hội nghị T.Ư Đảng lần thứ V (khoá VII - 2000) [23] đF chỉ rõ:

“phát triển mạnh cây ăn quả trên tất cả các vùng” Các nghiên cứu định hướng

Trang 39

phát triển cây ăn quả Việt Nam đF khẳng định: phát triển cây ăn quả là một hướng góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn và về lâu dài sản xuất cây ăn quả phải trở thành ngành sản xuất chính với mục tiêu đến năm

2010 sản lượng hoa quả các loại đạt 11 triệu tấn, trong đó tiêu dùng trong nước là 7,5 triệu tấn, xuất khẩu 3,5 triệu tấn ( kim ngạch xuất khẩu đạt 700 -

800 triệu USD )

Thực tế trong những năm gần đây, tình hình sản xuất cây ăn quả ở nước

ta đF có bước phát triển mới.Trên cả nước, những vùng trồng cây ăn quả chuyên canh tập trung đF được hình thành như xoài ởTiền Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Khánh Hoà; nhFn ở Hưng Yên,Sơn La (vùng Sông MF),Tuyên Quang và các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long như Tiền Giang,Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, Sóc Trăng; vải thiều ở Lục Ngạn (Bắc Giang),Thanh Hà (Hải Dương), Đông Triều (Quảng Ninh); na ở Chi Lăng (Lạng Sơn), Núi Bà

Đen (Tây Ninh); mơ ở Bạch Thông (Bắc Kạn); mận ở Bắc Hà (Lào Cai), Mộc Châu (Sơn La); thanh long ở Bình Thuận vv…Trong đó điển hình nhất là vùng trồng vải thiều ở huyện Lục Ngạn - tỉnh Bắc Giang; cam quýt ở huyện Bắc Quang - tỉnh Hà Giang; dưa hấu ở huyện Tân Phước - tỉnh Tiền Giang; nho ở tỉnh Ninh Thuận; thanh long ở tỉnh Bình Thuận Sản phẩm cây ăn quả Việt Nam không những cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị có mặt ở 48 nước trên thế giới và đF thu về 200 - 300 triệu USD/ năm

Trong nông nghiệp, cây ăn quả là nhóm cây có giá trị và hiệu quả kinh

tế cao hơn nhiều so với các nhóm cây trồng khác.Nhưng cây ăn quả đòi hỏi

đầu tư thâm canh và kỹ thuật cao Do vậy vấn đề tổ chức sản xuất cây ăn quả rất quan trọng, tuỳ thuộc trình độ khai thác tiềm năng thiên nhiên, khoa học

kỹ thuật, tiềm lực kinh tế và chủ trương, chính sách của Nhà nước

Công tác quy hoạch phát triển cây ăn quả có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng và phải đặt lên hàng đầu.Quy hoạch phát triển cây ăn quả phải dựa trên

Trang 40

sự đánh giá đúng hiện trạng và những vấn đề đang đặt ra cho nghề trồng cây

ăn quả kết hợp với việc dự báo nhu cầu thị trường trong nước và thị trường thế giới, dự báo các tiến bộ khoa học và công nghệ … Dựa vào điều kiện sinh thái, khí hậu, đất đai tài nguyên cây ăn quả ở mỗi vùng để quy hoạch sản xuất cây ăn quả mang lại hiệu quả kinh tế cao, thu hút được nhiều lao động và đạt

được các mục tiêu kinh tế - xF hội đF đặt ra (Trần Thế Tục, 2006) [43]

Theo (Trần Thế Tục, 1996) [41] ở các tỉnh miền núi phía Bắc căn cứ vào điều kiện địa hình có thể chia thành 3 vùng trồng cây ăn quả:

- Vùng thấp: độ cao dưới 300 m so với mực nước biển, có thể trồng cây

ăn quả nhiệt đới như chuối, dứa, mít, na, ổi, hồng xiêm …

- Vùng giữa: độ cao từ 300 - 800 m so với mực nước biển, có thể trồng

nhFn, hồng, hạt dẻ, mơ…

- Vùng cao: độ cao từ 800 m trở lên so với mực nước biển, chủ yếu trồng các loại cây ăn quả ôn đới như lê, đào, mận, óc chó, nho, dâu tây… Tác giả cũng cho biét hiện nay ở Việt Nam có gần 140 loài và hàng trăm giống cây ăn quả khác nhau, tập trung trong gần 40 họ thực vật và được chia thành 3 nhóm:

- Nhóm cây ăn quả nhiệt đới như chuối, dứa, mít, na, xoài, hồng xiêm,

ổi, sầu riêng, măng cụt, khế, vú sữa, trứng gà, chôm chôm, đào lộn hột, nho nhiệt đới, táo gai, thanh long, đu đủ, giâu gia…

bơ, hồng, nhót Nhật Bản, hạt dẻ, mơ…

- Nhóm cây ăn quả ôn đới như táo tây, lê, đào, mận, dâu tây, nho… Ngoài 3 nhóm trên, trong rừng còn có nhiều cây ăn quả hoang dại và bán hoang dại như cây dâu rượu, trám, vả rừng, bơ dại, mít nài… là những nguyên liệu quý dùng làm gốc ghép cho cây ăn quả hoặc dùng làm nguồn gen

để lai tạo các giống cây ăn quả

Ngày đăng: 20/11/2013, 18:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. B ản đồ Đất tỉnh Nghệ An, Tỷ lệ 1:200.000 Khác
2. Bản đồ Đất và Địa hình Huyện Nghĩa Đàn, Tỷ lệ 1:10.000 3. Bản Đồ Hành chính Huyện Nghĩa Đàn Khác
4. Báo cáo tóm tắt Điều chỉnh, Bổ sung Quy hoạch và Kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 Huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An Khác
5. Phùng Đăng Chỉnh, Lý Nhạc (1987), Canh tác học – NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
6. Bùi Huy Đáp (1983), Về cơ cấu Nông nghiệp Việt Nam - NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
7. Bùi Huy Đáp, Nguyễn Điền (1998), Nông nghiệp Việt Nam b−ớc vào thế kỷ XXI - NXB Chính trị Quốc Gia Khác
8. Đề án Phát triển Cây ăn quả có múi ở Việt Nam thời kỳ 1996 – 2000 và sau năm 2000, Bộ Nông nghiệp, 1994 Khác
9. FAO, Thị trường các sản phẩm nghề vườn nhiệt đới trên thế giới. Rome, 1988 NXB Nông nghiệp Hà Nội, 1993 Khác
10. FAO, Đề ỏn Nông sản năm 2000 - NXB Nông nghiệp Hà Nội, 1994 Khác
11. Hồ Giám (2003), Nghiên cứu góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo h−ớng sản xuất hàng hóa tại huyện Dak, tỉnh Dak Lak - Luận văn Thạc sỹ Nông nghiệp. ĐH Nông nghiệp I Hà Nội Khác
12. Trần Đức Hạnh (1997), Nguồn Tài nguyên khí hậu nông nghiệp - NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
13. Trần Đức Hạnh, Đoàn Văn Điếm, Nguyễn Văn Viết (1997), Lý thuyết về khai thác hợp lý nguồn tài nguyên khí hậu nông nghiệp - NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
14. Vũ Công Hậu (1987), Cây ăn quả miền Nam - NXB Nông nghiệp TP Hồ ChÝ Minh Khác
15. Vũ Công Hậu (1987), Trồng cây ăn quả ở Việt Nam - NXB Nông nghiệp TP Hồ Chí Minh Khác
16. Kết quả nghiên cứu khoa học - Trạm Thí nghiệm Cây Nhiệt đới Tây Hiếu (1990), NXB Nông nghiệp Khác
17. Kết quả nghiên cứu khoa học - Trung tâm Nghiên cứu Cây ăn quả Khác
18. Kết quả nghiên cứu khoa học về rau quả (1995 – 1997) - Viện Nghiên cứu rau quả, NXB Nông nghiệp Khác
20. Trần Đình Long (1997), Chọn giống Cây trồng - NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
21. Đoàn Thế L−, (1998), Cây ăn quả - NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
22. Nghị quyết T.Ư Đảng Cộng Sản Việt Nam. Khóa VII (Tháng 6 – 1993) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Bố trí cơ cấu cây trồng trong một năm - Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để góp phần xác định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện nghĩa đàn   tỉnh nghệ an
Bảng 1.1 Bố trí cơ cấu cây trồng trong một năm (Trang 17)
Bảng 1.5: Diện tích cây ăn quả các vùng trong n−ớc - Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để góp phần xác định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện nghĩa đàn   tỉnh nghệ an
Bảng 1.5 Diện tích cây ăn quả các vùng trong n−ớc (Trang 36)
Bảng 1.7: Sản l−ợng một số cây ăn quả chủ yếu ở Việt Nam - Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để góp phần xác định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện nghĩa đàn   tỉnh nghệ an
Bảng 1.7 Sản l−ợng một số cây ăn quả chủ yếu ở Việt Nam (Trang 38)
Bảng 3.2: Số liệu bình quân tháng từ năm 2001 đến tháng 6 năm 2010 - Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để góp phần xác định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện nghĩa đàn   tỉnh nghệ an
Bảng 3.2 Số liệu bình quân tháng từ năm 2001 đến tháng 6 năm 2010 (Trang 56)
Bảng 3.3:  Các loại cây ăn quả có khả năng phát triển. - Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để góp phần xác định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện nghĩa đàn   tỉnh nghệ an
Bảng 3.3 Các loại cây ăn quả có khả năng phát triển (Trang 57)
Bảng 3.4. Diện tích các loại đất ở Nghĩa Đàn  STT        Loại đất  Diện tích (ha)             Hiện trạng sử dụng - Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để góp phần xác định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện nghĩa đàn   tỉnh nghệ an
Bảng 3.4. Diện tích các loại đất ở Nghĩa Đàn STT Loại đất Diện tích (ha) Hiện trạng sử dụng (Trang 58)
Bảng 3.6: Diện tích cơ cấu đất nông nghiệp - Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để góp phần xác định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện nghĩa đàn   tỉnh nghệ an
Bảng 3.6 Diện tích cơ cấu đất nông nghiệp (Trang 61)
Bảng 3.11: Tình hình sản xuất cây trồng nông nghiệp ngắn ngày trên quỹ - Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để góp phần xác định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện nghĩa đàn   tỉnh nghệ an
Bảng 3.11 Tình hình sản xuất cây trồng nông nghiệp ngắn ngày trên quỹ (Trang 70)
Bảng 3.12: Hiệu quả kinh tế của các hệ thống cây trồng trên quỹ đất cao, - Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để góp phần xác định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện nghĩa đàn   tỉnh nghệ an
Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế của các hệ thống cây trồng trên quỹ đất cao, (Trang 71)
Bảng 3.13: L−ợng phân bón cho cây cam, quýt - Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để góp phần xác định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện nghĩa đàn   tỉnh nghệ an
Bảng 3.13 L−ợng phân bón cho cây cam, quýt (Trang 73)
Bảng 3.16: Một số tính chất hoá học của đất bazal đã trồng cam, quýt ở Nghĩa Đàn Hàm l−ợng tổng số  (%) - Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để góp phần xác định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện nghĩa đàn   tỉnh nghệ an
Bảng 3.16 Một số tính chất hoá học của đất bazal đã trồng cam, quýt ở Nghĩa Đàn Hàm l−ợng tổng số (%) (Trang 78)
Bảng 3.18: Một số tính chất hoá học của đất phù sa cổ đã trồng cam, quýt - Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để góp phần xác định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện nghĩa đàn   tỉnh nghệ an
Bảng 3.18 Một số tính chất hoá học của đất phù sa cổ đã trồng cam, quýt (Trang 79)
Bảng 3.19: Một số tính chất hoá học của đất đá vôi đã trồng cam - Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để góp phần xác định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện nghĩa đàn   tỉnh nghệ an
Bảng 3.19 Một số tính chất hoá học của đất đá vôi đã trồng cam (Trang 80)
Bảng 3.20: Hiệu quả trồng cam trên các loại đất ở Nghĩa Đàn - Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để góp phần xác định hướng phát triển cây ăn quả ở huyện nghĩa đàn   tỉnh nghệ an
Bảng 3.20 Hiệu quả trồng cam trên các loại đất ở Nghĩa Đàn (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w