luận văn, tiến sĩ, thạc sĩ, báo cáo, khóa luận, đề tài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
PHẠM THỊ MINH HUỆ
NGHIÊN CỨU ðẶC ðIỂM NÔNG SINH HỌC MỘT SỐ
GIỐNG NHÃN CHÍN MUỘN VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT NHÃN CHÍN MUỘN HTM - 1
TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số : 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: TS ðOÀN VĂN LƯ
HÀ NỘI - 2010
Trang 2LỜI CAM ðOAN
- Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn
ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Phạm Thị Minh Huệ
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành bản luận văn này, ngoài
sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn ñược sự giúp ñỡ tận tình của thầy cô giáo Trường ñại học nông nghiệp Hà Nội
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ñến thầy hướng dẫn khoa học TS ðoàn Văn Lư - bộ môn rau hoa quả, khoa Nông học, Trường ñại học nông nghiệp Hà Nội - người trực tiếp hướng dẫn và giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện ñề tài
Tôi xin chân chân thành cảm ơn tập thể cán bộ công nhân viên Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Rau Hoa Quả Gia Lâm ñã giúp ñỡ và ñóng góp
ý kiến quý báu cho bản luận văn này
Xin cảm ơn các bạn ñồng nghiệp, người thân ñã cổ vũ và giúp ñỡ tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2010
Tác giả luận văn
Phạm Thị Minh Huệ
Trang 42.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn trên thế giới và Việt Nam 5 2.3 Các giống nhãn ñược trồng phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam 11 2.4 Những nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh trưởng phát triển và yêu cầu
2.5 Những nghiên cứu nhằm thúc ñẩy quá trình sinh trưởng, phát
triển, ra hoa, ñậu quả và tăng năng suất nhãn 19
3 ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 ðối tượng, thời gian và vật liệu nghiên cứu 30
4.1 ðặc ñiểm nông sinh học của các giống nhãn chín muộn 36 4.1.1 Khả năng sinh trưởng của các giống nhãn chín muộn 36 4.1.2 Thời gian xuất hiện lộc và màu sắc các ñợt lộc của các giống
Trang 54.1.3 Khả năng sinh trưởng và kích thước các ñợt lộc của các giống
4.1.10 Một số chỉ tiêu về quả của các giống nhãn chín muộn 49 4.1.11 Một số chỉ tiêu về thành phần hoá sinh của các giống nhãn chín muộn 51 4.1.12 Tình hình sâu bệnh hại trên các giống nhãn chín muộn 52 4.2 nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá ñến năng suất và phẩm
Trang 64.3.1 Ảnh hưởng của kỹ thuật tỉa quả ñến khả năng giữ quả của giống
4.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật tỉa lá ñến năng suất, chất
4.4.1 Ảnh hưởng của kỹ thuật tỉa lá ñến khả năng giữ quả của giống
Trang 84.6 ðặc ñiểm ra hoa và kích thước chùm hoa của các giống nhãn muộn 44 4.7 Khả năng giữ quả sau khi tắt hoa của các giống nhãn chín muộn 45 4.8 ðộng thái tăng trưởng quả từ sau tắt hoa của các giống nhãn muộn 47 4.9 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống 48 4.10 Một số chỉ tiêu về quả của các giống nhãn chín muộn 50 4.11 Một số chỉ tiêu về phẩm chất quả của các giống nhãn chín muộn 51 4.12 Tình hình sâu bệnh hại trên các giống nhãn chín muộn 53 4.13 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến khả năng giữ quả của giống
Trang 94.16 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến các yếu tố chất lượng quả của
Trang 10DANH MỤC HÌNH
4.1 Khả năng giữ quả sau tắt hoa của các giống nhãn chín muộn 46
4.3 Ảnh hưởng của phun phân bón lá ñến khả năng giữ quả 56 4.4 Ảnh hưởng của phun phân bón lá ñến năng suất quả 58 4.5 Ảnh hưởng của kỹ thuật tỉa quả ñến tỷ lệ giữ quả sau tắt hoa 63
4.7 Ảnh hưởng của kỹ thuật tỉa lá ñến năng suất 71
Trang 111 MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhãn (Dimocarpus longan Lour) là cây ăn quả cĩ giá trị kinh tế cao,
một loại quả quý trong tập đồn giống cây ăn quả ở nước ta Phân tích thành phần dinh dưỡng trong quả nhãn cho thấy hàm lượng đường tổng số 12,38 – 22,55% trong đĩ đường glucoza 3,85 – 10,16%, axit tổng số 0,096 – 0,109%, hàm lượng vitamin C 43,12 – 163,70mg/100g, vitamin K 196,5mg/100g Ngồi ra trong cùi nhãn cịn chứa các khống chất Ca, Fe, P, K, Na thì độ đường, vitamin C và K khá cao là các chất dinh dưỡng rất cần cho sức khoẻ của con người
Trong những năm gần đây nhãn là cây ăn quả được nhiều địa phương quan tâm, một mặt mở rộng diện tích, mặt khác chú ý thâm canh Nhãn được coi là cây trồng quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nơng nghiệp ở các tỉnh đồng bằng cũng như trung du và miền núi Do đĩ đã hình thành nhiều vùng nhãn lớn như Hưng Yên, Sơng Mã - Sơn La, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hồ Bình, Phú Thọ, Sĩc Trăng, ðồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long v.v [33]
Phát triển cây ăn quả theo hướng sản xuất hàng hố địi hỏi sản phẩm ngồi chất lượng tốt, mẫu mã đẹp cần phải đa dạng và cĩ mặt thường xuyên trên thị trường Với yêu cầu trên nhiều năm qua cơng tác điều tra, tuyển chọn giống nhãn theo hướng phục vụ sản xuất hàng hố với bộ giống rải vụ thu hoạch đã được tiến hành ở khắp các địa phương trong cả nước, thu thập được tập đồn các dịng ưu tú khá phong phú và đa dạng gồm 25 dịng, trong đĩ cĩ
3 nhĩm chín sớm, 10 nhĩm chính vụ và 12 nhĩm chín muộn [11]
Trong thời gian vừa qua Viện nghiên cứu rau quả phối hợp với Trung tâm khuyến nơng tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) đã điều tra và tuyển chọn
Trang 12ựược giống nhãn chắn muộn HTM Ờ 1 đây là giống nhãn chắn muộn có năng suất cao, ổn ựịnh và chất lượng tốt tương ựương như các giống nổi tiếng của Thái Lan, Trung Quốc, thời vụ cho thu hoạch của giống có thể kéo dài tới 20/9 vẫn không ảnh hưởng tới chất lượng Do có thời gian chắn muộn và chất lượng tốt nên giống này ựã ựem lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng nhãn
và hiện nay ựang ựược trồng ở các tỉnh Hà Nội, Hưng Yên, Bắc GiangẦ
Giống HTM Ờ 1 là giống mới ựược tuyển chọn trong những năm gần ựây nên nguồn giống cung cấp cho người trồng chưa ựược nhiều và ựảm bảo ựúng chất lượng giống mặt khác chưa có biện pháp kỹ thuật tác ựộng cụ thể nhằm nâng cao năng suất và chất lượng chắnh vì thế chúng tôi ựã thực hiện ựề
tài: ỘNghiên cứu ựặc ựiểm nông sinh học một số giống nhãn chắn muộn và biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất và phẩm chất nhãn chắn muộn HTM -1 tại Gia Lâm - Hà NộiỢ
1.2 Mục ựắch và yêu cầu của ựề tài
1.2.1 Mục ựắch
đánh giá ựặc ựiểm nông sinh học của một số giống nhãn chắn muộn và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm tăng năng suất, phẩm chất nhãn làm cơ sở chọn cây ựầu dòng và hoàn thiện quy trình thâm canh nhãn cho vùng Hà Nội và phụ cận
1.2.2 Yêu cầu
- đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, ra hoa, ựậu quả, năng suất
và phẩm chất của một số giống nhãn chắn muộn ựã ựược tuyển chọn M99-1.1, HTM-1, HTM-2) làm cơ sở chọn cây ựầu dòng và xây dựng vườn giống cây mẹ
(PH Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm tăng năng suất
và phẩm chất giống nhãn muộn HTM - 1
+ Nghiên cứu vai trò của một số loại phân bón lá (Atonik, Botrac,
Trang 13Komix) ñến khả năng ñậu quả, năng suất và chất lượng của giống nhãn HTM - 1 + Nghiên cứu kỹ thuật tỉa quả sau ñậu quả nhằm tăng năng suất và ñộ ñồng ñều của giống nhãn HTM-1
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật cắt tỉa lá ñến năng suất và chất lượng quả của giống nhãn HTM-1
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của ñề tài sẽ là cơ sở cho công tác nghiên cứu chọn tạo giống
và xây dựng biện pháp kỹ thuật thâm canh cho các giống nhãn chín muộn nói chung và giống HTM – 1 nói riêng
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Trên cơ sở ñánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống nhãn tuyển chọn ñể chọn tạo cây ñầu dòng nhằm bổ sung vào cơ cấu giống sản xuất hiện tại của các ñịa phương góp phần rải vụ cung cấp nhãn quả cho thị trường
- Kết quả nghiên cứu của ñề tài sẽ góp phần bổ sung vào việc xây dựng hoàn thiện quy trình thâm canh các giống nhãn chín muộn ở Miền Bắc nước
ta nói chung và cây nhãn giống HTM – 1 nói riêng
Trang 142 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc phân bố của cây nhãn
Theo nhiều nhà khoa học thì nhãn có nguồn gốc ở miền nam Trung Quốc, ựời Hán Vũ đế cách ựây hơn 2000 năm, ựã có sách ghi chép về nhãn [23],[1] Một số ý kiến cho rằng nguồn gốc nhãn có từ Ấn độ, nơi trồng nhiều nhãn thuộc vùng tây Ghats có ựộ cao 1000m [48]
Nhãn ựược trồng ở nhiều nước trên thế giới: Trung Quốc, Thái Lan,
Ấn độ, Malaisia, Philippin, Việt Nam Ầ Cho ựến cuồi thế kỷ 19 nhãn mới ựược ựưa vào trồng ở châu Mỹ, Châu Phi, Châu đại Dương ở các vùng Nhiệt ựới và Á nhiệt ựới
Trung Quốc là quốc gia trồng nhiều nhãn nhất trên thế giới, diện tắch nhãn của Trung Quốc ựến năm 1995 ước tắnh khoảng hơn 8 vạn ha, các ựịa phương trồng nhãn nhiều và tập trung là các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Tây, Quảng đông,
Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu, Hải Nam Trong ựó Phúc Kiến là nơi trồng nhãn nhiều và lâu ựời nhất, chiếm khoảng gần 50% diện tắch của cả nước Ở ựây còn tồn tại nhiều cây nhãn cổ thụ trên 100 năm tuổi, ựặc biệt có một số cây trên
380 năm tuổi Ở Quảng Tây, nhãn ựược trồng nhiều hai bên ựường từ Phúc Châu ựến Hạ Môn có chiều dài hơn 300 km, có nơi mở rộng ựến 30 Ờ 40km Ở Quảng đông, nhãn ựược trồng nhiều tập trung ở vùng Châu Giang [22]
Ở Thái Lan, giống nhãn ựược nhập từ Trung Quốc và ựược trồng với diện tắch tương ựối lớn với khoảng 31.855 ha [33] Nhãn ựược trồng chủ yếu
ở các tỉnh phắa Bắc, đông Bắc và vùng ựồng bằng miền Trung, nổi tiếng nhất
là ở các vùng như: Chiềng Mai, Lam Phun, Prae Nhãn Thái Lan chủ yếu ựược tiêu thụ trong nước, ngoài ra còn xuất khẩu sang thị trường Malaisia, Philippin, Xingapo, Hồng Kông và các nước Tây Âu [29],[44]
Trang 15Ở Việt Nam, nhãn ựược trồng từ bao giờ chưa ựược nghiên cứu, xác ựịnh mặc dù cây nhãn ựã có mặt rộng rãi ở khắp mọi miền trên ựất nước Leenhouto (trắch theo Vũ Công Hậu, 1996) [12] cho rằng, Kilimantan (Indonesia) cũng là một trong cái nôi của cây nhãn Tác giả cuốn sách này
ựã gặp cây nhãn dại ở vùng ven biển gần Cà Ná cách Phan Rang khoảng
30 km về phắa Nam Vũ Công Hậu (1996) [12], cũng cho rằng miền Bắc của nước ta có thể là một trong những vùng quê hương của cây nhãn Cây nhãn ựược trồng lâu nhất ở chùa Phố Hiến thuộc xã Hồng Châu, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên (Cách ựây khoảng 300năm) [12],[32]
Hiện nay nhãn ựược trồng nhiều ở các tỉnh ựồng bằng Bắc Bộ: Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Thái Bình, Hà Nội, Hà Tây, Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang Nhãn còn ựược trồng ở vùng ựất phù sa ven sông Hồng, sông Thao, sông Lô, sông Mã, sông tiền, sông Hậu và các tỉnh Hoà Bình, Phú Thọ, Vĩnh PhúcẦ.và lẻ tẻ ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên
Trong những năm gần ựây do nhu cầu quả tươi tại chỗ, cây nhãn ựược phát triển mạnh ở các tỉnh phắa nam: Cao Lãnh (đồng Tháp), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), cù lao An Bình, đồng Phú (Vĩnh Long)Ầđặc biệt là các tỉnh Vĩnh Long, Bến TreẦdiện tắch trồng nhãn tăng rất nhanh.[33]
2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn trên thế giới
Trên thế giới, Trung Quốc là nước có diện tắch và sản lượng lớn nhất, năm
1995 ước tắnh khoảng hơn 8 vạn ha Vùng trồng nhãn chủ lực là các tỉnh Phúc Kiến, Quảng đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, và cũng là thị trường tiêu thụ nhãn lớn nhất thế giới Năm 2001, diện tắch trồng nhãn ở Trung Quốc ựạt khoảng 444.400
ha, sản lượng ựạt khoảng 495.800 tấn [33]
Tại đài Loan, năm 1998, diện tắch trồng nhãn chỉ ựạt khoảng 11,808
ha, sản lượng khoảng 53,385 tấn Năm 2002, diện tắch trồng tăng không
Trang 16ñáng kể 12,258 ha nhưng sản lượng tăng gấp ñôi 110,925 tấn Cây nhãn chiếm 5% tổng diện tích trồng cây ăn quả của cả nước ñứng sau cam quýt và xoài Sản lượng quả tươi phần lớn ñược tiêu thụ nội ñịa còn long nhãn xuất khẩu ñi Mỹ và Singapore với số lượng ít [46],[42],[44],[50]
Bảng 2.1 Diện tích và sản lượng nhãn của một số nước trên thế giới
1997, Thái Lan có sản lượng nhãn xuất khẩu là 135.923 tấn (bao gồm nhãn tươi, nhãn sấy khô, nhãn ñông lạnh và nhãn ñóng hộp) với giá trị 201 triệu USD Các nước nhập khẩu nhãn từ Thái Lan là Hồng Kông, Canada, Indonexia, Singapo, Anh, Pháp [42],[44]
Ở Mỹ, nhãn ñược trồng tập trung ở phía nam Florida với các giống nhãn
Trang 17ựược ựưa từ Trung Quốc sang từ những năm 1940 Sản phẩm nhãn của Mỹ chủ yếu ựược bán ở thị trường ựịa phương [45]
Ở Australia, năm 1995 cây nhãn ựược trồng ước lượng khoảng 200 ha, năng suất khoảng 1000 tấn quả tươi, cho ựến năm 2000 ựã có khoảng 72.000 cây ựã ựược trồng mới Các giống trồng phổ biến ựược nhập từ Trung Quốc, đài Loan, Thái Lan như: Biew Khiew, Chompoo, Haew, Dang, Kay Sweeney, và Fuhko2[47]
Ở các nước: Campuchia, Lào, Mianma, Inựonexia, Malayxia, Ấn độ, Nam Phi nhãn ựược trồng với diện tắch nhỏ vì họ ưu tiên cho cây vải Giống nhãn trồng ở các nước này chủ yếu ựược nhập từ Thái Lan, Israel [44]
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn ở Việt Nam
Ở nước ta, cây nhãn là một trong những loại cây ăn quả chủ ựạo và ựược nhiều ựịa phương quan tâm Theo số liệu của tổng cục thống kê năm 2005, cả nước có trên 60 tỉnh trồng nhãn với diện tắch cả nước ựạt 120.300 ha và sản lượng ựạt 628.800 tấn Trong ựó, miền Bắc chiếm 46.700 ha, sản lượng ựạt 135.500 tấn (chiếm 38,8% về diện tắch và 21,5% về sản lượng), miền Nam là 73.700 ha với sản lượng ựạt 439.300 tấn (chiếm 62,2% về diện tắch và 78,5%
về sản lượng) So với năm 2000, diện tắch tăng là 50.457 ha và sản lượng tăng 375.490 tấn Trong những năm gần ựây, diện tắch và sản lượng của nhãn có
xu hướng tăng so với những năm 1996, 1997 (ựạt 6.200 ha và sản lượng ựạt 275.900 tấn) Năm 2007, diện tắch nhãn cả nước là 97,9 nghìn ha sản lượng ựạt
578 nghìn tấn riêng các tỉnh phắa Bắc là 44 nghìn ha (45% so với cả nước) nhưng sản lượng chỉ bằng 28,8% (166,5 nghìn tấn) do năng suất thấp: trong các năm từ 2004 Ờ 2007, năng suất nhãn bình quân tại các tỉnh phắa Bắc ựạt 3,5 Ờ 5,1 tấn/ha, thấp hơn bình quân chung cả nước (6,5 Ờ 7,0 tấn/ha)[29]
Trang 18
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 8
Bảng 2.2 Diện tích, sản lượng nhãn của một số ñịa phương một số năm gần ñây
(ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Trang 19Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 9
Nguồn: Số liệu thống kê về Nông – Lâm nghiệp – Thủy sản Việt Nam năm 2005 [ 29 ]
Trang 20Một số tỉnh có diện tắch và sản lượng nhãn lớn trong vùng như: Sơn La diện tắch 13.500 ha (30,7%), sản lượng 39.400 tấn (23,7%); Hưng Yên diện tắch 2.800 ha, sản lượng ựạt 40.300 tấn; Hà Tây, Hòa Bình, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên Ầ[2]
Diện tắch trồng nhãn tập trung nhiều ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
và đông Nam Bộ Tắnh ựến năm 2005 diện tắch trồng nhãn của vùng đồng bằng sông Cửu Long ựạt (47.700 ha), sản lượng ựạt khoảng 413.000 tấn Trong ựó, 3 tỉnh có diện tắch lớn nhất là Vĩnh Long (10.700 ha), sản lượng ựạt 112.400 tấn; Tiền Giang (9.800 ha), sản lượng ựạt 104.300 tấn tại vùng đông Nam Bộ diện tắch trồng nhãn ựạt (24.800 ha), tập trung ở các tỉnh: bình Phước (7.600 ha), Tây Ninh (3.600 ha), đồng Nai (4.900 ha)[29]
Theo số liệu của tổng cục thống kê năm 2005, cả nước có trên 60 tỉnh trồng nhãn Diện tắch trồng nhãn giữa hai miền Nam Bắc chênh lệch nhau khá
rõ Năm 2004, tổng diện tắch trồng nhãn của cả nước là 121.096 ha, sản lượng khoảng 606.433 tấn Trong ựó, Miền Nam ựạt khoảng 76.914 ha và sản lượng khoảng 488.205 tấn, miền Bắc là 44.902 ha và sản lượng 118.228 tấn.[29] đối với Việt Nam, trồng nhãn trước hết ựáp ứng nhu cầu qủa tươi trong nước Một số sản phẩm nhãn sấy khô ựược bán sang Trung Quốc bằng con ựường tiểu ngạch Vì vậy, vào các thời kỳ thu hoạch sản phẩm thường bị ứ ựọng, ựặc biệt là những năm ựược mùa Theo Sở Nông Nghiệp & phát triển Nông thôn tỉnh Hưng Yên các sản phẩm nhãn của Hưng Yên ựược tiêu thụ qua 3 con ựường chắnh:
Trang 21ựồ hộp, ép nước Mặt khác, cần tìm ựược thị trường tiêu thụ mới và ổn ựịnh,
có như vậy mới kắch thắch ựược sản xuất phát triển [6], [27]
2.3 Các giống nhãn ựược trồng phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam
2.3.1 Các giống nhãn ựược trồng phổ biến trên thế giới
Hiện nay, cây nhãn ựược trồng ở rất nhiều nước trên thế giới với bộ giống phong phú và ựa dạng
Trung Quốc có khoảng 400 giống khác nhau và có 40 giống ựược trồng với mục ựắch thương mại trong ựó 14% là giống chắn sớm, 68% là giống chắnh vụ, 18% là giống chắn muộn Thời gian thu hoạch của nhãn kéo dài từ cuối tháng 7 ựến cuối tháng 9 Các giống nổi tiếng như đại Ô Viên, Thạch Hiệp Trữ Lương, Ô Long Linh, đông Bắch, Quảng Nhân, Băng đường Nhục [29] Ngoài ra, Jin Song Huang và cộng sự ở Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Phúc Kiến 2000 cũng ựã theo dõi và ựánh giá một số dòng nhãn hạt lép trên 30 năm Các dòng nhãn có triển vọng là: Minjiao N02, Minjiao N03, N04, N05 Trong ựó dòng Minjiao N04 là dòng có triển vọng nhất là dòng có triển vọng nhất, vì có tỷ lệ hạt lép cao, quả to, chất lượng tốt và năng suất cao.[43],[51],[52]
đài Loan có hơn 40 giống nhãn và ựược phân chia thành 3 nhóm giống: chắn sớm, chắnh vụ và chắn muộn Những giống chủ yếu gồm: Giống nhãn trên vỏ có phấn, giống nhãn vỏ ựỏ, giống nhãn vỏ xanh, giống nhãn tháng 10
Một số giống nhãn ựược dân Thái Lan thắch trồng nhất: giống nhãn E Daw, Champoo, Haew, Biew-Kiew Các giống nhãn của Thái Lan cho thu hoạch vào tháng 6 ựến tháng 8.[33]
-Ở Mỹ các loại cây ăn quả thuộc họ bồ hòn ựược sản xuất chủ yếu ở Florida, Hawaii, Puerto Rico and California Florida có khoảng 405 ha nhãn với các giống Blackball, Kona, Homestead N01, N02, Dagelmen,
Trang 22Choompook, Sweenay[44] Ở khu vực Hawaii có cả vải và nhãn khoảng 123
ha với các giống nhãn chủ yếu là Kohala, Biew, Chompoo, Egami, R3, R9, Florida có các giống: Fukho N02, Wai, Carambo, [47]
2.3.2 Các giống nhãn ñược trồng phổ biến ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam
Nhãn là cây chụi hạn, chịu ngập úng, trồng ñược trên ñất chua, ñất nghèo dinh dưỡng vùng gò ñồi và vùng ñồng bằng ñất thấp So với một số cây
ăn quả khác nhãn là cây dễ trồng, tuổi thọ lại dài, năng suất cao, thu nhập khá nên ñược nhiều ñịa phương quan tâm, một mặt mở rộng diện tích, mặt khác chú ý thâm canh[33]
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong ñó là việc sử dụng phương thức nhân giống bằng hạt, dưới tác ñộng của các yếu tố ngoại cảnh, sự biến dị
ñã tạo nên quần thể các giống nhãn rất ña dạng về kiểu hình Kết quả ñiều tra
về các giống nhãn ở hai miền ñất nước cho thấy: Giống nhãn ở miền Bắc khác
xa so với giống nhãn ở miền Nam Giống nhãn ở miền Bắc thuộc loài phụ Dimocarpus Sub Sp.longan, giống nhãn ở miền Nam thuộc loài phụ Dimocarpus Sub Sp.longan var Obtutus [12] Có thể xếp các giống nhãn dựa vào một số ñặc ñiểm:
* Dựa vào ñặc ñiểm hình thái thực vật và phẩm chất quả có thể xếp các giống nhãn miền Bắc theo hai nhóm chủ yếu sau
- Nhóm nhãn cùi: Bao gồm các giống
Giống nhãn lồng: Quả nhãn lồng thường to hơn các giống khác Trọng lượng trung bình quả ñạt 11 – 12g/quả Tỷ lệ cùi/quả ñạt trung bình 62.7% Quả chín ăn giòn, ngọt ñậm
Giống nhãn bàm bàm: Quả to bằng quả nhãn lồng, khối lượng trung bình ñạt 11 -13g/ quả Trôn quả hơi vẹo, vỏ quả gồ ghề, cùi dày, khô ít nước,
ăn có vị ngọt nhạt
Giống nhãn ñường phèn: Quả nhỏ hơn nhãn lồng Khối lượng trung
Trang 23bình 7 -12g/quả Tỷ lệ cùi/quả 60% Cùi quả ăn thơm có vị sắc, chín muộn hơn nhãn cùi 10 -15 ngày
Giống nhãn cùi: Khối lượng quả 7-11g/quả Trung bình ñạt 8,5g/quả
ðộ ngọt, thơm kém nhãn lồng Tỷ lệ cùi/ quả 58%
Giống nhãn cùi ñiếc: Khối lượng trung bình quả 8,6g/quả khối lượng trung bình của hạt 0,6g/quả Tỷ lệ cùi/quả ñạt 74,7% ðộ ngọt và hương thơm của quả ở mức trung gian giữa nhãn ñường phèn và nhãn cùi
Nhãn Hương Chi: Quả to trung bình 13 - 14g/quả, cùi giòn, sắc nước, hạt nhỏ, vỏ mỏng mã quả ñẹp, chùm quả có dạng chùm sung, sai quả
- Nhóm nhãn nước:
Giống nhãn nước: Quả bé, khối lượng trung bình 6,15g/quả, hạt to, cùi mỏng và trong Tỷ lệ cùi/quả ñạt 31% Hàm lượng ñường tổng số trong quả thấp (11,7%), trong khi ñó các giống thuộc nhóm nhãn cùi lớn hơn 16,3% Giống nhãn thóc: Khối lượng quả trung bình ñạt 5,3g/quả Tỷ lệ quả/cùi rất thấp chỉ ñạt 27,4%, khối lượng hạt/quả chiếm 55% [33]
• Dựa vào thời gian thu hoạch có thể chia nhãn thành 3 nhóm sau:
- Nhóm chín sớm: Có thời gian thu hoạch từ 15/7 – 05/8
- Nhóm chính vụ: Có thời gian thu hoạch từ 05 -25/8
- Nhóm chín muộn: Có thời gian thu hoạch từ 25/8 – 15/9
Từ năm 1993 ñến nay, Viện Nghiên cứu Rau Quả phối hợp với các tổ chức và người làm vườn ñịa phương ñã tiến hành ñiều tra tuyển chọn giống, kết hợp với hội thi cây nhãn ñược tổ chức tại Sơn La và Hà Tây, ñã chọn ra ñược rất nhiều cây nhãn ñầu dòng có năng suất cao; ổn ñịnh; phẩm chất tốt tại Hưng Yên sau hơn 4 năm tuyển chọn ñược 14 giống nhãn thuộc 3 nhóm: nhóm chín sớm, chính vụ, nhãn chín muộn, có năng suất cao chất lượng tốt ñã ñược Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận cây ñầu dòng ðây cũng là nguồn vật liệu khởi ñầu quý giá cho công tác chọn tạo giống trong tương lai
Trang 24[16],[37],[38],[41],[39] Năm 2005, ba giống nhãn PH - M99 -1.1, PH - M99 - 1.2 và giống nhãn HTM - 1 ựã ựược Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống tạm thời
Giống nhãn HTM Ờ 1 là giống có năng suất cao, ổn ựịnh và chất lượng rất tốt tương ựương như các giống nổi tiếng của Thái Lan, Trung Quốc và chắn muộn hơn một số dòng nhãn chắn muộn ựược tuyển chọn từ Hưng Yên, thời vụ thu hoạch của giống có thể kéo dài ựến 20/9 vẫn không ảnh hưởng tới chất lượng [11]
2.3.3 Các giống nhãn ựược trồng phổ biến ở các tỉnh miền Nam Việt Nam
Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng đông Nam Bộ, các giống nhãn ựược trồng phổ biến là: Nhãn Long, nhãn Tiêu Huế, nhãn Xuồng Cơm Vàng, nhãn tiêu Lá Bầu, nhãn Da Bò, nhãn Vĩnh Châu Các giống nhãn này
có nguồn gốc nhiệt ựới, có thể cho 2 vụ quả trong năm [39],[42] Bộ giống nhãn ở miền Nam tuy phong phú hơn ở miền Bắc nhưng cây thường bé hơn, quả ra sớm và nhiều vụ quả hơn
Giống nhãn Xuồng Cơm Vàng, nhãn Tiêu Da Bò và Tiêu Lá Bầu có nguồn gốc ở Bà Rịa Vũng Tàu và huyện chợ Lách - Bến Tre ựã ựược viện cây
ăn quả miền Nam tuyển chọn là hai giống có năng suất cao và chất lượng tốt Hai giống nhãn này ựược Bộ NN & PTNT công nhận và ựã ựược ựưa ra trồng phổ biến trong sản xuất [35],[36]
Giống nhãn Tiêu Da Bò : Quả khi chắn có màu da bò sẫm hơn Trọng lượng quả trung bình 10g/quả Quả có cùi dày, hạt nhỏ, ráo nước Phần ăn ựược khoảng 60% trọng lượng quả Vỏ hạt không nứt độ ngọt vừa phải, ắt thơm, chủ yếu dùng ựể ăn tươi
Giống nhãn Cơm Vàng: Quả trên chùm to ựều, khối lượng quả 16 - 25g, phần ăn ựược 60 Ờ 70%, ựộ Brix 21 - 24 %, cùi dày, màu vàng ắt nước nhưng ngọt thịt quả rất ráo giòn, ngọt, khá thơm, dùng ựể ăn tươi là chắnh
Trang 25Giống nhãn Tiêu Lá Bầu: Khối lượng quả trung bình 9 – 14g, vỏ quả khi còn non màu xanh, chín màu vàng da bò, thịt quả dày trung bình 5 – 6
mm, phần ăn ñược 60 -70%, vị rất ngọt ñộ Brix 23 – 26% Quả có cùi dày nhiều nước, ngọt thơm Chùm quả ñều, quả dùng ñể ăn tươi là chủ yếu
Giống nhãn long: Khối lượng trung bình 15g Vỏ quả màu vàng sáng hoặc màu vàng ngà, có ñường nứt ở vỏ Cùi quả mềm, mỏng, tỷ lệ cùi khoảng 50%, nhiều nước ăn ngọt và thơm, ít dùng ñể ăn tươi mà ñể sấy khô là chính Giống nhãn giống Da Bò: Quả chín có màu vàng da bò hoặc vàng sáng hay hồng, cùi dày dai, tỷ lệ cùi 65%, ít thơm Khối lượng trung bình 16g, hạt tương ñối to không nứt vỏ hạt Thích nghi với ñất xấu, ñất có ảnh hưởng mặn.[33]
2.4 Những nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh trưởng phát triển và yêu cầu
ngoại cảnh của cây nhãn
2.4.1 ðặc ñiểm sinh trưởng, phát triển của cây nhãn
+ Thân, cành nhãn:
Mầm ngọn hay mầm nách của nhãn ñều có thể phát triển thành cành, việc hình thành thân cành của nhãn có những ñặc ñiểm khác với những cây ăn quả khác là khi cây ñã ngừng sinh trưởng, mầm ở ñỉnh ngọn ñược các lá kép non bao bọc, ñến khi gặp ñiều kiện thuận lợi thì các mầm ở ñỉnh lại kéo dài thêm Cành càng thành thục thì lớp vỏ càng cứng và thô, có màu nâu sẫm và trên vỏ có những ñường vân nứt [33]
Thông thường, nhãn có 4 ñợt lộc (cành) chính trong năm là: lộc xuân, lộc hè, lộc thu, lộc ñông trong ñó cành thu là cành cho quả năm sau [13] Những năm vào ñầu mùa ñông có thời tiết ấm áp và ñủ ẩm thì lộc ñông rất dễ hình thành và phát triển Do cành ñông có thời gian mọc ngắn và trong thời gian mọc có nhiều yếu tố bất lợi nên cành thường yếu, khó có khả năng hình
Trang 26thành cành cho quả ở vụ xuân năm sau Dựa vào mùa vụ phát sinh các cành lộc, nắm ñược quy luật sinh trưởng của từng loại cành ñể ñiều khiển một cách hợp lý trong quá trình chăm sóc cây là rất cần thiết [7]
+ Lá nhãn
Lá nhãn thuộc lá kép lông chim, lá ñơn mọc ñối xứng hay so le, thông thường nhãn có từ 3-5 ñôi lá, có giống từ 1-2 ñôi Lá nhãn hình lưỡi mác, mặt
lá xanh ñậm, lưng lá xanh nhạt, cuống lá ngắn, gân chính nổi rõ, lá non màu
ñỏ, tím hoặc nâu tùy thuộc vào giống và thay ñổi theo thời tiết Có thể căn cứ vào cấu tạo, hình thái của lá ñể phân biệt ñược các giống [3]
+ Hoa nhãn
Vào ñầu mùa xuân, chồi hoa nhú ra từ chồi ngọn cành, phân hoá thêm một bước rồi phát sinh chùm hoa Nhãn ra hoa và kết quả trong cùng một năm Quá trình phân hoá mầm hoa nhãn diễn ra trong thời gian từ ñầu tháng 2 ñến cuối tháng 3, ñây là thời kỳ phát triển chùm hoa [7]
Thời gian ra hoa của nhãn tuỳ thuộc vào vùng trồng, tuổi cây, giống, hình thức nhân giống và ñiều kiện ngoại cảnh, nhưng thông thường là vào khoảng ñầu tháng 2 ñến cuối tháng 3
Hoa nhãn xếp thành từng chùm mọc ở ngọn và nách lá Chùm hoa có 10 – 20 nhánh chính, mỗi nhánh chính lại có nhiều nhánh nhỏ, trên mỗi nhánh nhỏ thường có 3 hoa và thông thường trên mỗi chùm hoa có từ 2.000 ñến 3.000 hoa [31],[33] Căn cứ vào hình thái chùm hoa chia ra làm 3 dạng:
“chùm sung”, “ chùm bị”, “ chùm dâu da”
- Chùm sung: dạng chùm quả gần giống với chùm quả sung, cuống chùm quả từ trục chính ñến quả thường ngắn và ñều
- Chùm bị: Là dạng trung gian giữa chùm sung và chùm dâu da, cuống của các nhánh chùm quả không ñều nhau Chùm quả có dạng hình chóp hay
Trang 27hình cái bị
- Chùm dâu da: Cuống chùm quả từ trục chính ra thường dài có khi ñạt tới 50cm tạo cho chùm quả có ñộ uốn cong mền mại, quả trên chùm phân bố thoáng.[33]
Nhãn có các loại hoa: Hoa ñực, hoa cái là chủ yếu, ngoài ra còn có hoa lưỡng tính và hoa dị hình Trên cây, hoa ñực chiếm số lượng nhiều nhất, chiếm ñến 80%, nở nhiều lần và thời gian nở dài
+ Quá trình hình thành và phát triển quả
Kết quả ñiều tra nghiên cứu cho thấy, số nụ hoa có thể nở hoa ñạt 60 – 90%, số còn lại rụng Số hoa cái không ñậu ñược quả có tới trên 60%, chỉ còn khoảng 10 – 20% là ñậu thành quả Tỷ lệ ñậu quả là khá cao so với một số cây ăn quả khác như cam, chanh thường chỉ ñạt 1,9 – 3,0%, các loại quýt 3,5 – 4,7% thì nhãn là cây ăn quả có khả năng ñạt ñược sản lượng cao
Trên cây nhãn hoa ñực và hoa cái nở nhiều ñợt, nhưng hoa cái thường
nở tập trung vào một ñợt, thời gian lại ngắn nên trên một chùm quả ñộ lớn của quả tương ñối ñồng ñều Sau khi thụ tinh xong, quả bắt ñầu phát triển, tháng ñầu tiên tăng về chiều cao của quả nhanh hơn tăng về ñường kính Tiếp ñó là hạt phát triển, khoảng giữa tháng 6 cùi quả dần dần hình thành và phát triển nhanh từ cuối tháng 6 ñến ñầu tháng 7 Quả nhãn phát triển nhanh từ ñầu tháng 7 trở ñi Vì vậy, ở thời kỳ này việc cung cấp ñầy ñủ nước và dinh dưỡng hết sức quan trọng
Thời gian chín của nhãn phụ thuộc vào giống, ñịa ñiểm trồng, ñiều kiện khí hậu Các tỉnh miền Bắc nhãn chín vào giữa tháng 7 ñến hết tháng 8, cá biệt có giống nhãn chín muộn sang ñầu tháng 9[33]
Trang 282.4.2 Yêu cầu ñiều kiện ngoại cảnh của cây nhãn
Cũng như các cây trồng khác, một số yếu tố môi trường, ngoại cảnh chủ yếu có tác ñộng ñến sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất, chất lượng của nhãn là: nhiệt ñộ, nước, ánh sáng, yếu tố ñất ñai và ảnh hưởng của gió, bão
+ Ảnh hưởng của nhiệt ñộ
Theo Phạm Văn Côn (2005), Trần Thế Tục (1998) [4],[32] thì nhiệt ñộ
có ảnh hưởng rõ rệt ñến quá trình sinh trưởng, phát triển, ra hoa, ñậu quả và năng suất cây nhãn Những vùng có nhiệt ñộ bình quân năm từ 20 0 C trở lên là thích hợp với cây nhãn và là vùng trồng nhãn có hiệu quả kinh tế Nhiệt ñộ tối thấp không ñược dưới 1 0 C Theo Menzel và Simpson (1994), cây nhãn phải có một mùa ñông ngắn với nhiệt ñộ thấp từ 15 – 22 0 C trong 8 – 10 tuần ñể kích thích sự phân hóa mầm hoa Khi nhãn ra nụ, gặp năm có nhiệt ñộ cao, lá ở chùm hoa phát triển sẽ ảnh hưởng ñến sự ra hoa và ñậu quả của nhãn Khi hoa nhãn nở, yêu cầu nhiệt ñộ cao hơn từ 18 – 27 0 C Nếu gặp nhiệt ñộ thấp, việc thụ tinh không thuận lợi dẫn ñến năng suất thấp Vào thời ñiểm thu hoạch quả, nhiệt ñộ không khí có tác dụng cải thiện chất lượng quả Tuy nhiên, nhiệt ñộ lớn hơn 40 0 C gây rụng quả, nếu nhiệt ñộ nhỏ hơn 0 0 C có thể làm cho nhãn bị chết, hoặc bị tổn thương rất nặng [5],[12],[33]
+ Ảnh hưởng của nước
Trong quá trình sinh trưởng phát triển cây nhãn rất cần nước, lượng mưa hàng năm cần thiết 1300 - 1600 mm Lúc cây ra hoa gặp thời tiết ấm, tạnh ráo có lợi cho thụ phấn thụ tinh, ñậu quả tốt và năng suất cao Nhãn thường cho năng suất cao nhất khi lượng mưa ñạt 1200 – 1400 mm và phân bố chủ yếu vào tháng
3 – 6 hàng năm Nhãn là cây ưa nước, nhưng ñồng thời là cây chịu hạn nhờ bộ
rễ, do vậy nhãn trồng ở vùng ñồi nếu chăm sóc tốt vẫn ñạt ñược năng suất cao Nhãn còn là cây chịu úng, nếu ngập nước 3 - 5 ngày vẫn chịu ñược, nhưng nếu
Trang 29ñể ngập lâu, rễ bị thối, cây yếu dần và chết [6],[12],[30]
+ Ảnh hưởng của ánh sáng
Nhãn cần ñầy ñủ ánh sáng và thoáng nhưng so với vải, nhãn thích râm hơn Nhãn không chịu ñược những nơi quá khô và ánh sáng gay gắt, nhất là thời kì cây con cần thiết phải làm mái che ñể hạn chế ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp lên cây nhãn Trong tạp chí Pacific garden, ông Barnhant ñã viết
“chúng tôi nghĩ rằng phải bảo vệ nhãn vì nó không chịu ñược ánh sáng gay gắt và khí hậu khô vào mùa hè của chúng ta, và cũng không chịu ñược giá rét của mùa ñông" [51]
+ Ảnh hưởng của ñất
Cây nhãn không kén chọn ñất lắm, người Trung Quốc cho rằng trồng cây nhãn trên ñất ñỏ nghèo dinh dưỡng, khô hạn và chua cũng sinh trưởng ñược ðất ñỏ sườn ñồi có tầng canh tác dầy, thoát nước nhanh, thoáng khí, ánh sáng dồi dào Nếu cải tạo ñất bón nhiều phân hữu cơ thì cây nhãn sinh trưởng rất tốt và cho thu hoạch cao Nhưng trồng nhãn ở sườn ñồi cần chú ý giữ ñất, giữ nước, chọn sườn phía ñông – nam, phía nam hoặc phía tây – nam
ñể làm vườn trồng nhãn là thích hợp, tránh ñược gió rét gây hại [28]
2.5 Những nghiên cứu nhằm thúc ñẩy quá trình sinh trưởng, phát triển,
ra hoa, ñậu quả và tăng năng suất nhãn
Có rất nhiều yếu tố làm ảnh hưởng ñến năng suất, chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế của cây nhãn trong ñó yếu tố kỹ thuật có vai trò cực kì quan trọng, tiếp ñến là các yếu tố về khí hậu, sinh thái Hiện nay, những nghiên cứu
về các biện pháp kỹ thuật, ứng dụng một số loại phân bón qua lá, chất ñiều tiết sinh trưởng ñể thúc ñẩy quá trình sinh trưởng, phát triển, tăng khả năng
ra hoa, ñậu quả của nhãn nhằm nâng cao năng suất, phẩm chất và mang lại hiệu quả cao cho người trồng nhãn là những yêu cầu hết sức cần thiết
Trang 30Hạn chế lớn của sản xuất nhãn hiện nay là năng suất thấp, sản lượng không ổn ựịnh, năm ựược mùa, năm mất mùa Một trong những nguyên nhân chắnh là nhãn ra hoa không ựều, năm có, năm không do nhãn là cây có hiện tượng ra quả cách năm ựiển hình, muốn nâng cao và ổn ựịnh năng suất nhãn, vấn ựề ựầu tiên là làm thế nào ựể nhãn ra hoa ựược và ra hoa ựồng ựều Vấn
ựề này ựã ựược các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Theo Vũ Mạnh Hải,
đỗ đình Ca và cộng sự khi xây dựng mô hình thâm canh một số giống nhãn chắn muộn tại vùng ựồng bằng sông Hồng ựã kết luận: các mô hình thâm canh một số giống nhãn chắn muộn với 4 nhóm yếu tố tác ựộng: xử lý ra hoa, kỹ thuật cắt tỉa, sử dụng chế phẩm phân bón lá và thuốc BVTV phòng trừ sâu bệnh hại ựã thể hiện ựược ưu thế vượt trội về khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế mang lại cho người trồng ở vùng đồng bằng sông Hồng[40]
2.5.1 Nghiên cứu các hoá chất ựiều tiết quá trình ra hoa tạo quả ở nhãn
Theo nghiên cứu của Hoàng Cầm và cộng sự (2000-2003) việc ựiều khiển nhãn ra hoa tại Hưng Yên với các biện pháp như: khoanh, thắt thân cành, phun hoá chất qua lá và tưới gốc cho thấy: Phun KNO 3 qua lá, tưới KNO 3 qua gốc có khả năng cho nhãn ra hoa ở mức ựộ cao, nồng ựộ xử lý từ 0,3-0,6 % ở thời gian xử lý trong các tháng có nhiệt ựộ trung bình (15-18 0 C) khoảng tháng 9 ựến tháng 12 Viện nghiên cứu Rau Quả khi nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng KClO 3 ựến khả năng ra hoa ựậu quả của nhãn trên các cành có ựộ tuổi khác nhau cho thấy liều lượng thắch hợp nhất là 90g/cây và cành xử lý ở ựộ tuổi 50-60 ngày cho hiệu quả cao nhất [38]
Ở các tỉnh Miền Nam ựã sử dụng rộng rãi KClO 3 xử lý cho nhãn tiêu
Da Bò ra trái vụ: Sau khi thu hoạch quả chăm bón cho cây chu ựáo, cây rẽ ra ựợt lộc, cành khoẻ Khi lá trên cành chuyển màu xanh ựậm tiến hành xử lý KClO 3 sau xử lý phải tưới ựẫm nước vào gốc liên tục trong 7 ngày [20]
Trang 31Theo kinh nghiệm của ông Năm Y [20] cần kết hợp các biện pháp kỹ thuật với một số loại phân bón cũng như hoá chất ñể làm cho nhãn ra hoa ñồng loạt và năng cao ñược năng suất nhãn, hoá chất quan trọng nhất là KClO 3 (Clorat kali) Bằng cách tỉa cành bấm ngọn kết hợp với phân bón lá, phân hoá học sau khi thu hoạch 10 ngày nhãn sẽ ra ñược hai ñợt lộc dài, to và khoẻ Khi lá chuyển sang màu ñậm tiến hành xử lý KClO 3 bằng cách hoà ra nước rồi tưới xung quanh tán cây Sau khi xử lý phải tưới nước ñẫm gốc liên tục 7 ngày và sau 25 – 35 ngày cây sẽ nhú mầm hoa ñồng loạt tuỳ theo ñiều kiện thời tiết
Theo Wong, nồng ñộ xử lý KClO 3 tuỳ thuộc vào các yếu tố: tán cây ñất ñai, nguồn nước, tình trạng của cây, giống nhãn [44]
Khi nghiên cứu áp dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao và
ổn ñịnh năng suất nhãn Nguyễn Thị Bích Hồng [17] ñã kết luận:
- Về xử lý ra hoa ñối với những cây ra quả cách năm: người ta khoanh
vỏ trước lập xuân 45 ngày có tác dụng tốt ñến hầu hết các chỉ tiêu như số hoa/chùm, tỷ lệ hoa cái, số quả, năng suất Xử lý NaClO 3 có tác dụng kích thích nhãn ra hoa trong ñiều kiện không thuận lợi và liều lượng 100g - 120g/cây (cây 6 năm tuổi) cho kết quả tốt nhất
- Xử lý KClO 3 có tác dụng kích thích khả năng phân hoá hoa và có quan
hệ mật thiết ñến tuổi cành xử lý, trong ñó liều lượng thích hợp là 90g/cây (cây
5 năm tuổi) và các cành ở ñộ tuổi 50-60 ngày tuổi có hiệu quả cao nhất [20]
ñã nghiên cứu xử lý nhãn ra hoa bằng 3 cách:
- Cách 1: Khấc cành (thích hợp cho nhãn tơ) ñể nhãn ra hoa chắc chắn hơn trước khi khấc cành 1 tuần phun 2 lần TOBASUN, chiều rộng vết khấc 6
- 12 mm và khi khấc xong bôi ngay thuốc Rhidomil ñể sát trùng Khoảng
25-35 ngày sau nhãn sẽ ra hoa ñồng loạt
Trang 32- Cách 2: Tưới hoặc rải KClO 3 ở gốc (thắch hợp cho nhãn từ 3-5 tuổi) lượng thuốc KClO 3 cần dùng là 100-120 g/cây có ựường kắnh tán 2,5 m Có thể rải hoặc hoà KClO 3 vào 10 lắt nước, tưới quanh hình chiếu tán cây, sau khi xử lý trong vòng 1 tuần cứ 2 ngày tưới nước 1 lần cho thuốc thấm ựều vào ựất và sau 25 - 35 ngày nhãn sẽ ra hoa
- Cách 3: Khấc cành kết hợp với rải KClO 3 (thắch hợp cho nhãn lớn tuổi): Khi lộc có màu xanh nõn chuối thì khấc cành nhẹ, vết khấc rộng 4 mm, 5 ngày sau rải hoặc tưới KClO 3 với liều lượng là 40g/cây có ựường kắnh tán 2,5m Với cách này cây sẽ ra hoa triệt ựể hơn mặc dù cành hoa có ngắn hơn cách 2 và ựây là cách rất thắch hợp cho những cây tốt ựặc biệt trong vườn
Nguyễn Thị Thanh (2000)[25] phun ethrel nồng ựộ 1000ppm, GA 3 , IAA phối hợp với ethrel, GA 3 phối hợp với Ethrel làm tăng tỷ lệ ra hoa cái và tăng tỷ ựậu quả, do vậy làm tăng năng suất rõ rệt Sử dụng thuốc trừ bệnh rhidonim MZ và oxyclorur ựồng trong thời kỳ ra hoa cũng làm tăng tỷ lệ ựậu quả, do vậy cũng ựã cải thiện năng suất vải và phun oxyorua ựồng cho hiệu quả cao hơn Trên cây nhãn các công trình nghiên cứu về tác ựộng của chất ựiều tiết sinh trưởng cũng ựược thúc ựẩy và ựã có nhiều kết quả
Ở Thài Lan, hiện nay nhãn ựược bán quanh năm, do người sản xuất ựã nắm ựược và tác ựộng một số biện pháp kỹ thuật sản xuất trái vụ Tuy nhiên việc sử dụng giống, và các hoá chất ra hoa trái vụ ựể thúc ựẩy nhãn ra hoa tái
vụ ựã ựược nhiều người quan tâm [43],[49]
để có quả trái vụ vào Tết Nguyên đán ựầu tháng 8 âm lịch, ở Miền Nam dùng ethphon 0,1 % phun ướt ựều cho lá nhãn Lá này sẽ xanh ựậm hay xanh nhạt hay lá hơi co lại một chút Khoảng 30 ngày xử lý hoa hình thành [56]
Theo Viện nghiên cứu Rau Quả, cần khống chế lộc ựông bằng cách hạn chế nước, chất dinh dưỡng hoặc phun chất ựiều hoà sinh trưởng Khống chế
Trang 33lộc ñông bằng cách phun B9 nồng ñộ 1000ppm hoặc ethrel nồng ñộ 400- 800 ppm phun ở bộ phận lá non, phun 1-2 lần cách nhau 7-10 ngày Ngoài ra có thể dùng tay vặt bỏ khi lộc ñông dài 5-10cm hoặc làm ñứt rễ khi lộc dài 3cm trong khu vực hình chiếu của tán, cuốc sâu từ 20-30cm
Cùng với nghiên cứu các biện pháp ñiều tiết quá trình ra hoa thì quá trình duy trì khả năng ñậu quả, phát triển quả cũng ñược nghiên cứu
ðể chống rụng quả trong thời kỳ quả non, xử lý bằng việc phun α-NAA 0,025 % (250ppm), kích phát tố Thiên Nông khi quả bằng hạt ñậu xanh.[24]
2.5.2 Nghiên cứu biện pháp bón phân nhằm thúc ñẩy quá trình ra hoa
và tạo quả của nhãn
Ngoài phương pháp bón phân vào ñất, người ta có thể bón phân trực tiếp qua lá non, lộc non ñều có sức hấp thụ phân bón mạnh và nhanh Ở Trung Quốc, các loại phân bón qua lá thường dùng là urê, kali, dihydrogen, phosphate, supe lân, cloruakali cách 10 – 15 ngày phun 1 lần ðặc biệt là lộc thu phát ra chồi muộn hoặc thế sinh trưởng của cây hơi kém, phun 0,3% urê, 0,3 – 0,4% kali hydrogen phôt phát thuận lợi cho lộc thu chuyển xanh nhanh
và thành thục, nâng cao chất lượng lộc thu Lộc thu sau khi thành thục phun kali hydrogen phôt phat có thể nâng cao hàm lượng kali trong lá, thuận lợi cho phân hoá mầm hoa, nâng cao tỷ lệ phát sinh chùm hoa [28]
Ở Việt Nam, các loại phân bón qua lá cũng ñã ñược sử dụng với các loại phân như Komix, Superzin – K, Thiên nông, Bayfolan, Orgamin…và có hiệu quả khá rõ rệt giảm tỷ lệ rụng quả, tăng khối lượng quả, tăng năng suất, tăng ñộ sáng vỏ quả [4],[41]
Trần Minh Trí, Bùi Thị Mỹ Hồng, Nguyễn Minh Châu khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá cho biết: phân Thiên Nông ñã hạn chế ñược sự rụng trái non, phân Komix, Superzin – K làm tăng khối lượng trái [15],[38]
Trang 34Sử dụng ure 0,2%, KH 2 PO 4 0,2 – 0,3% hay axit Boric, Sunlfat kẽm khi hoa nở có tác dụng làm tăng khả năng thụ phấn thụ tinh, tăng tỷ lệ ñậu quả [32] Các nguyên tố vi lượng ñược sử dụng làm phân bón cho hiệu quả rõ rệt Nguyên tố vi lượng có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và kích thích hoạt ñộng của các hệ thống men giúp cho các quá trình sinh lý, sinh hóa
và vận chuyển các hợp chất hữu cơ trong cây Nguyên tố vi lượng xét về mặt
số lượng cây không cần nhiều nhưng mỗi nguyên tố ñều có vai trò xác ñịnh và không thể thay thế trong ñời sống cây trồng [10]
Hoàng Minh Tấn và cộng sự, 1993 [24] boric có ảnh hưởng ñến hầu hết tất cả các quá trình trao ñổi chất của cây Bo có ảnh hưởng ñến sự hút các nguyên tố khác vào trong cây, ảnh hưởng tích cực ñến sự nảy mầm của hạt phấn và sự phát triển của ống phấn như: giảm bớt khả năng oxy hóa một số chất hữu cơ ñể giữ năng lượng, thúc ñẩy quả trình hình thành ống phấn, rút ngắn thời gian sinh trưởng, tăng tỷ lệ ñậu quả, tăng kích thước, khối lượng quả, tăng tính chống chịu Cây thiếu bo sinh trưởng của rễ ngừng lại, sau ñó xuất hiện vết vàng ở ñiểm sinh trưởng tận cùng, thiếu bo nghiêm trọng ñiểm sinh trưởng sẽ bị chết
Nghiên cứu cải tiến phương pháp bón phân bằng cách phun phân lên lá
ñể cho lá trực tiếp hấp thu chất dinh dưỡng qua các lỗ khí khổng ñã ñược thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng Tác dụng của phân bón qua lá là cung cấp nhanh và kịp thời các chất dinh dưỡng ña lượng và vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây trồng, ñặc biệt là vào các thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cây cần tập trung chất dinh dưỡng ñể tạo hoa, quả và nuôi hạt Dùng phân bón lá tốn rất ít về số lượng mà hiệu quả lại cao, năng lượng trong quá trình vận chuyển lại ñược tiết kiệm ñến mức tối ña, nhờ vậy có thể dùng trên ñất xấu, ñất mặn, ñất nghèo dinh dưỡng, có khả năng giữ nước, giữ phân kém Phun phân bón lá
Trang 35trong thời gian bị hạn giúp cho cây tăng khả năng chống chịu, duy trì ñược các quá trình hoạt ñộng sinh lý của cây trong những mức ñộ nhất ñịnh [8],[9],[10]
Một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước ñã cho thấy: trong quá trình ra hoa, ñậu quả, phun phân bón lá có tác dụng làm tăng tỷ lệ ñậu quả, tăng khối lượng quả và tăng năng suất trên cây Các loại phân thiên nông ñã hạn chế ñược sự rụng trái non, phân Komix, supe pzing K ñã làm tăng khối lượng quả
và màu sắc vỏ quả của những cây ñược xử lý sáng ñẹp hơn [15]
Vũ Văn Liết, Cao Anh Long, Nguyễn Quang Thạch [19] ñã xử lý Spray -
N - Grow (SNG) và bón Bill’s perfect fertilize (BPF) cho cây và nhận thấy: SNG + BPS có tác dụng làm tăng kích thước quả rõ rệt nhưng khối lượng quả tăng không rõ vì cùi có hàm lượng nước thấp hơn ñối chứng, tỷ lệ cùi tăng, tỷ lệ hạt giảm, vỏ quả sáng bóng và năng suất quả tăng trung bình 10,69%
Theo Vũ Mạnh Hải, Nguyễn Thị Bích Hồng thì hai nhóm yếu tố là các loại phân bón lá và chế phẩm sinh học ñều có tác ñộng ñến việc chống rụng quả non, tăng khối lượng quả và làm tăng năng suất của giống nhãn chín muộn HC4 Trong ñó, kích phát tố Thiên nông và Cimbat thể hiện ưu thế vượt trội hơn cả [40]
2.5.3 Một số nghiên cứu về biện pháp cắt tỉa, khoanh vỏ nhằm thúc ñẩy quá trình ra hoa và tạo quả
Ngoài việc xử lý bằng hoá chất thì việc sử dụng biện pháp cơ giới nhằm ñiều chỉnh chất ñiều hoà sinh trưởng nội sinh cũng ñã ñược nghiên cứu khoanh vỏ là biện pháp làm tăng khả năng ñậu quả của nhãn [24]
Qua những kết quả nghiên cứu ñó cho thấy:
Quá trình sinh trưởng, phát triển của cây nhãn yêu cầu khá chặt chẽ về
Trang 36ñiều kiện thời tiết khi hậu, nhất là các yếu tố nhiệt ñộ, lượng mưa ðây là những yếu tố cơ bản quyết ñịnh khả năng phân hoá mầm hoa, phát triển hoa, phát triển quả
Ngoài một số yếu tố tự nhiên như giống, ñiều kiện thời tiết khí hậu, ñặc biệt là mùa ñông ñủ lạnh và khô ñể ngừng sinh trưởng, chuyển giai ñoạn, thì một số ñiều kiện do con người tác ñộng ñúng lúc và hợp lý cũng có thể giúp cho cây vượt qua ñiều kiện bất thuận sẽ thuận lợi cho quá trình ra hoa ñậu quả cũng như phát triển quả
Nguyễn Thị Thanh (2000) [25] khi nghiên cứu về các biện pháp tăng
tỷ lệ ñậu quả của một số giống vải ở Phú Hộ ñã ñưa ra nhận xét: ðối với những cây vải có ñặc tính sinh trưởng mạnh, biện pháp khoanh vỏ có ý nghĩa
rõ rệt trong việc làm giảm sự phát lộc ñông, xúc tiến sự phân hoá mầm hoa tốt
và phương pháp khoanh xoắn ốc có hiệu quả cao nhất
Theo Phạm Văn Côn (2005), sử dụng các biện pháp kỹ thuật ñiều khiển ra hoa bằng các biện pháp tác ñộng cơ giới như khoanh vỏ thân, buộc vòng trên thân cây hoặc buộc dây thép, dây nilon có ñường kính 2,5 – 3,0 mm thắt chặt vòng quanh thân hoặc cành khung sau 1 – 1,5 tháng nhằm hạn chế rụng qủa và tăng khả năng ñậu quả, có thể dùng một biện pháp hoặc áp dụng các biện pháp ñể nâng cao tỷ lệ ñậu quả [4], [41]
Các biện pháp kỹ thuật tác ñộng ñến cây nhãn ở miền Nam mang lại hiệu quả hơn Miền Bắc do ñặc ñiểm thời tiết khí hậu cũng như ñặc ñiểm của các giống nhãn Ở Miền Bắc khả năng phân hoá mầm hoa của cây vải và nhãn phụ thuộc nhiều vào nhiệt ñộ của các tháng 11, 12 và tháng 1 Khi nhiệt ñộ trong các tháng này xuống thấp và kéo dài thì sự phân hoá mầm hoa của cây mới thuận lợi Cây nhãn tuy không yêu cầu khắt khe về nhiệt ñộ thấp như cây vải, song vẫn cần một thời gian có nhiệt ñộ thấp và khô hạn vừa phải nhằm
Trang 37hạn chế lộc ñông, tăng cường khả năng quang hợp, tích luỹ chất khô và tăng nồng ñộ dịch bào Do vậy, khi không có tác ñộng những biện pháp kỹ thuật ñặc biệt, do những biến ñộng thất thường của thời tiết hàng năm thì việc vải, nhãn ra hoa cách năm là rất có thể xảy ra và thậm chí là nhiều năm liên tục Những năm có nhiệt ñộ cao trong mùa ñông cây thường ra lộc, ñể khống chế lộc ñông ở Trung Quốc thường xử dụng các cách: Cắt tỉa kịp thời, bón phân hợp lý, ñúng lúc, cuốc lật ñất làm ñứt rễ thích ñáng hoặc phun Ethrel
400 ppm khi lộc ñông mọc dài 5 - 10 cm Ở nước ta biện pháp tiện vỏ cũng ñược áp dụng ñể khống chế lộc ñông nhưng chỉ nên làm ở những cây khoẻ, ñiều kiện chăm sóc, phân bón và nước ñầy ñủ, không nên áp dụng với những cây già yếu Tiện vỏ nhằm cắt ñứt ñường vận chuyển nhựa luyện từ lá xuống
rễ và nhựa nguyên từ rễ lên trên, do vậy cây sẽ không phát sinh lộc mà thúc ñẩy quá trình hình thành mầm hoa [4]
Khi nghiên cứu áp dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao và ổn ñịnh năng suất, Nguyễn Bích Hồng [17]ñã kết luận: Xử lý ra hoa ñối với những cây ra quả cách năm khoanh vỏ trước lập xuân 45 ngày có tác dụng tốt ñến hầu hết các chỉ tiêu như số hoa/chùm, tỷ lệ hoa cái, số quả, năng suất Khi nghiên cứu về cắt tỉa chùm hoa và tỉa quả Nguyễn Chí Thành [26]ñã kết luận:
- Cắt tỉa cành ñã ảnh hưởng ñến mật ñộ chùm hoa trên tán, tỉ lệ hoa lưỡng tính trên chùm, tỉ lệ ñậu quả, tình hình sâu bệnh hại và năng suất Cắt tỉa sau thu hoạch + cắt tỉa vụ Xuân + cắt tỉa vụ hè cho năng suất cao gấp 1,5 lần so với công thức không tỉa
- Mức ñộ cắt tỉa chùm hoa ñã ảnh hưởng nhiều ñến mật ñộ chùm hoa, tỉ
lệ ñậu quả ban ñầu, ñộ lớn và năng suất quả Mức ñộ cắt tỉa 15% tổng số chùm và mức cắt tỉa 25% tổng số chùm hoa cho năng suất quả cao nhất,
Trang 38- Tỉa quả ñã ảnh hưởng tới tỉ lệ giữ quả, quá trình tăng trưởng quả và năng suất quả Công thức tỉa quả tỉ lệ giữ quả và kích thước quả cao hơn nhiều so với ñối chứng không tỉa
2.5.4 Nghiên cứu về phòng trừ sâu bệnh
Kết quả ñiều tra côn trùng và bệnh hại cây ăn quả ở Việt Nam ñã cho biết: có 428 loài côn trùng, 166 loài bệnh hại trên 23 loại cây ăn quả ở nước
ta, trong ñó trên nhãn có 12 loại bệnh và 38 loại sâu hại[37]
Theo nhiều tài liệu của các tác giả khác [16],[18],[31],[32],[33],[34], ở nước ta trên nhãn có rất nhiều loại dịch hại nhưng các loài chủ yếu là:
- Sâu hại: bọ xít, rệp sáp, sâu ñục quả, sâu ñục thân, sâu tiện vỏ, sâu ñục gân lá
- Bệnh hại: bệnh sương mai, khô cháy hoa, phấn trắng, vàng lá, tổ rồng hại hoa, bệnh ñốm bồ hóng, xém mép lá
- Các loại dịch hại khác: nhện, mối, dơi, chuột
Kết quả ñiều tra cũng cho thấy bọ xít, rệp sáp và bệnh sương mai là ba ñối tượng gây hại nguy hiểm nhất ñối với cây nhãn, vào các tháng 2,3,4 trong năm thì 100% số cây bị bọ xít gây hại Bệnh sương mai thường gây hại nặng cho các chùm hoa, lá, quả non và làm ảnh hưởng ñến quá trình hoa, ñậu quả
và làm ảnh hưởng nghiêm trọng ñến năng suất nhãn
ðể phòng trừ tốt cần có các biện pháp tổng hợp kết hợp như biện pháp
cơ giới vật lý, kỹ thuật nông nghiệp, biện pháp sinh học, biện pháp hóa học (Trần Thế Tục, 2004) [33] Biện pháp hóa học chỉ có ý nghĩa khi sử dụng ñúng thuốc, ñúng kỹ thuật, ñúng liều lượng và ñúng thời ñiểm Trên quan ñiểm ñó, ông cũng ñưa ra lịch dùng thuốc trong năm như sau: tháng 2-3 trừ nhện, tháng 3- 4 trừ bọ xít, tháng 5-7 trừ ñục thân, tháng 7- 8 vệ sinh vườn cây, tháng 10-12 trừ sâu ñục thân
Nguyễn Hữu Hiếu (2008) [14] khi thực hiện thí nghiệm bao quả trên
Trang 39cây nhãn ñưa ra kết luận: bao quả làm hạn chế ñược sâu bệnh hại, ñặc biệt là sâu ñục cuống quả và làm tăng ñộ sáng của vỏ quả Bao quả sau khi ñậu quả
45 ngày cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất khi áp dụng trên giống nhãn chín muộn PHM - 99 - 1.1
Nghê Diệu Nguyên, Ngô Tố Phần, Lưu Quang Vinh [21],[22] cho biết trên cây nhãn cũng có rất nhiều loại dịch hại ñáng chú ý là các loại: bọ xít nhãn vải, rầy hại hoa, xén tóc ñốm sao, xén tóc mai rùa, ngài nhỏ vằn chéo, bướm ngài sáp nâu vàng, rệp sáp, sâu ñục cành, bệnh sương mai, ñốm lá, héo cành, muội ñen, tổ rồng rồng, nhện lông nhung, mối, chuột, dơi
Trang 403 ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 3.1 ðối tượng, thời gian và vật liệu nghiên cứu
3.1.1 ðối tượng nghiên cứu
Thí nghiệm ñược tiến hành trên các giống nhãn chín muộn PH - M99 - 1.1, HTM-1, HTM-2
Ký hiệu giống Tên giống Nguồn gốc giống
Cây ñược ghép trên gốc ghép là các giống nhãn thóc
3.1.2 Thời gian và ñịa ñiểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2009 ñến tháng 9 năm 2010
- ðịa ñiểm nghiên cứu: Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm Rau Hoa Quả Gia Lâm
3.1.3 Vật liệu nghiên cứu
- Các loại phân bón qua lá: Atonik, Bortrac, Komix
- Thành phần dinh dưỡng:
Atonik: Hợp chất Nitro thơm….18g/lit
Bortrac: B: 10,9% w/w (150g/l)