1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng đất ven biển huyện hậu lộc, tỉnh thanh hoá

114 1,3K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng đất ven biển huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá
Tác giả Nguyễn Thị Liền
Người hướng dẫn PGS.TS Phạm Chớ Thành
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn, tiến sĩ, thạc sĩ, báo cáo, khóa luận, đề tài

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-* -

NGUYỄN THỊ LIÊN

NGHIÊN CỨU CHUYỂN ðỔI CƠ CẤU CÂY TRỒNG PHÙ HỢP VỚI VÙNG ðẤT VEN BIỂN HUYỆN HẬU LỘC -TỈNH THANH HOÁ

LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-* -

NGUYỄN THỊ LIÊN

NGHIÊN CỨU CHUYỂN ðỔI CƠ CẤU CÂY TRỒNG

PHÙ HỢP VỚI VÙNG ðẤT VEN BIỂN HUYỆN HẬU LỘC

TỈNH THANH HOÁ

Chuyên ngành: Trồng trọt

Mã số: 606201

LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Chí Thành

Trang 3

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện ñề tài, tôi ñã nhận ñược sự quan tâm, giúp ñỡ của nhiều cá nhân và tập thể Nhân ñây tôi xin bày

tỏ lòng cảm ơn của mình:

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn giáo viên hướng dẫn khoa học PGS.TS Phạm Chí Thành ñã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi trong suốt thời gian thực hiện ñề tài

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn tới Ban lãnh ñạo Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, các ñồng chí lãnh ñạo, các cô, các thầy và toàn thể anh chị em cán

bộ Ban ñào tạo của Viện ñã giúp ñỡ, dạy bảo tôi trong quá trình học tập

Qua ñây tôi cũng xin ñược gửi lời cảm ơn tới UBND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá và các cơ quan có liên quan tạo ñiều kiện thuận lợi giúp ñỡ cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện ñề tài này tại ñịa phương

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia ñình, bạn bè và ñồng nghiệp ñã nhiệt tình

cổ vũ, ñộng viên và tạo ñiều kiện giúp ñỡ ñể tôi hoàn thành tốt ñề tài này

Tôi xin trân trọng cảm ơn !

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Liên

Trang 4

LỜI CAM ðOAN

Tôi cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong ñề tài là trung thực và chưa từng ñược ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam ñoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Liên

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ðOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

MỞ ðẦU 1

Chương 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ðỀ TÀI…… …… 3

1.1 Cơ sở lý luận của ñề tài 3

1.1.1 Một số lý thuyết về hệ thống 3

1.1.2- Phương pháp tiếp cận nghiênn cứu 7

1.1.3 – Những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng tới hệ thống cây trồng…….… 11

1.1.4 – Phát triển nông nghiệp trên quan ñiểm hệ thống 20

1.1.5 – Hệ thống canh tác tiến bộ 23

1.1.6 - Phát triển nông nghiệp bền vững……….25

1.2 - Những nghiên cứu trên thế giới và trong nước 26

1.2.1 - Những nghiên cứu trên thế giới 26

1.2.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam 29

Chương 2 - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………… ………34

2.1 ðối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 34

2.1.1 ðối tượng nghiên cứu 34

2.1.2 Nội dung nghiên cứu 34

2.1.3 ðịa ñiểm và thời gian nghiên cứu 34

2.2 Phương pháp nghiên cứu 34

2.2.1 Sử dụng thông tin ñã có 34

2.2.2 Thử nghiệm chọn giống cây trồng 35

2.2.3 Triển khai thực hiện mô hình, thực hiện trong năm 2009-2010 tại xã Hoà Lộc 47

Trang 6

2.3 Phân tắch kết quả thắ nghiệm 49

Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬNẦẦẦ Ầ.50

3.1 điều kiện tự nhiên kinh tế Ờ xã hội của Hậu Lộc. 50

3.1.1 điều kiện tự nhiên 50

3.1.2 đặc ựiểm kinh tế xã hội huyện Hậu Lộc 55

3.1.3 Một số thuận lợi và khó khăn trong sản xuất nông nghiệp ở Hậu Lộc 60

3.2 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm 63

3.2.1 Kháo sát ựánh giá hiện trạng cơ cấu câu trồng trên vùng ựất nhiễm mặn của xó Hũa Lộc - Hậu Lộc. 63

3.2.2 Thử nghiệm chọn bộ giống cây trồng phù hợp với vùng ựất nhiễm mặn 65

3.2.3 Kết quả xõy dựng mụ hỡnh luõn canh cải tiến trờn ựất mặn. 75

3.3 đánh giá kết quả và khả năng ứng dụng phát triển 78

3.3.1.Giỏ trị thực tiễn của kết quả nghiên cứu 78

3.3.2 Hiệu quả kinh tế xó hội rút ra từ kết quả nghiên cứu 79

3.3.3 Khả năng ứng dụng và phát triển công nghệ: 80

KẾT LUẬN VÀ đỀ NGHỊ 82

*Kết luận 82

*đề nghị: 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC 1 92

PHỤ LỤC 2 101

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng Tên bảng Trang 3.1: đặc trưng của một số yếu tố thời tiết ở Hậu Lộc 50 3.2: Diện tắch, sản lượng trồng trọt năm 2005 - 2009ẦẦ Ầ ẦẦẦ.Ầ 55 3.3: Hiện trạng cơ cấu cây trồng trên ựất nhiễm mặm 64 3.4: Một số ựặc ựiểm sinh trưởng và phát triển của các giống lạc vụ xuân 2009 66 3.5: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lạc trồng trên chân ựất nhiễm mặn vụ xuân 2009 66 3.6: Một số ựặc ựiểm giống Khoai Tây vụ ựông 2009 68 3.7: Năng suất và một số yếu tố cấu thành năng suất của một số giống Khoai Tây ựược trồng trên ựất nhiễm mặn vụ ựông 2009 68 3.8: So sánh hiệu quả kinh tế của 2 giống khoai tây cho 1 ha trên chân ựất nhiễm mặn vụ đông xuân 2009ẦẦẦ.Ầ.69 3.9: So sánh một số ựặc ựiểm sinh trưởng và phát triển của các giống lúa vụ mùa 2009 70 3.10: Một số chỉ tiêu về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các giống lúa năm 2009 Ờ Hòa Lộc 71 3.11: So sánh hiệu quả kinh tế của các giống lúa ựược cơ cấu trên chân ựất nhiễm mặn xó Hòa Lộc trung bình trong năm 2009 72 3.12: Sinh trưởng, phát triển và tình hình sâu bệnh của 2 giống dưa hấu 73 3.13: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của 2 giống dưa 73 3.14: So sánh hiệu quả kinh tế của 2 giống dưa hấu cho 1 ha trên chân ựất nhiễm mặnẦẦẦ 74 3.15: Năng suất của các công thức luân canh cải tiến cho vùng ựất nhiễm mặn

xã Hòa LộcẦẦẦ ẦẦ ẦẦẦ 76 3.16: Hiệu quả kinh tế các công thức luân canh cải tiến cho 1 ha ựất canh tác vùng ựất nhiễm mặn 77

Trang 8

5 HSTNN Hệ sinh thái Nông nghiệp

6 CCCT Cơ cấu cây trồng

7 MDRC Tỷ suất lợi nhuận

8 IPM Quản lý dịch hại tổng hợp

9 NNHL Nông nghiệp hợp lý

10 TGST Thời gian sinh trưởng

Trang 9

Mẻ ậẵU

Hậu Lộc là huyện ựồng bằng ven biển nằm ở phắa đông Bắc của tỉnh Thanh Hoá Với tổng diện tắch tự nhiên của huyện là 14.367,19ha, trong ựó ựất sản xuất nông nghiệp 7.406,54 ha (chiếm 51,55% tổng diện tắch tự nhiên) Theo thống kê tại huyện Hậu Lộc, cơn bão số 7 năm 2005 ựã làm vỡ tuyến ựê biển, nước biển tràn vào làm cho một số xã phắa đông Ờ Tây kênh De bị nhiễm mặn Song tình trạng này càng ựặc biệt nghiêm trọng từ tháng 3-2007

do lượng mưa ựầu nguồn ắt, mực nước sông xuống thấp nên nước biển theo sông Lèn xâm thực sâu vào ựồng ruộng của hầu hết các xã Vụ chiêm xuân năm 2007, toàn huyện có tổng diện tắch gieo trồng là 7.000 ha, diện tắch gieo cấy lúa là 5.049 ha thì có 2.259 ha ở 13 xã trong huyện ựều nhiễm mặn, trong

ựó có 1.636 ha nhiễm mặn nặng ựã ảnh hưởng nghiêm trọng ựến sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng và toàn huyện có 590ha lúa và mầu hoàn toàn mất trắng Mức ựộ nhiễm mặn nặng nề nhất là 5 xã gồm: Hoà Lộc, Minh Lộc,

đa Lộc, Hưng Lộc, Hải Lộc với ựộ mặn ựo ựược khi cao nhất là 27,4Ẹ, thấp nhất là 0,4Ẹ, ựộ mặn bình quân trên ựồng ruộng trong huyện là 2Ẹ

Trong hơn 2 năm vừa qua huyện ựã thực hiện nhiều giải pháp thau chua, rửa mặn khẩn cấp cho toàn bộ diện tắch ựất nhiễm mặn của huyện Và hầu hết diện tắch ựất nhiễm mặn ựã ựược ựưa vào sản xuất, song năng suất cây trồng còn thấp, hiệu quả kinh tế không cao Riêng năm 2007, diện tắch lúa cấy trên ựất nhiễm mặn chỉ ựạt bình quân gần 20 tạ/ha/vụ, thấp hơn 30 tạ/ha/vụ so với trước khi bị nhiễm mặn

để từng bước khắc phục những hạn chế, góp phần khai thác hiệu quả và bền vững diện tắch ựất bị nhiÔm mặn của huyện Hậu Lộc chúng tôi chọn

nghiên cứu ựề tài: ỘNghiên cứu chuyÓn ệữi cơ cấu cây trồng phù hợp với

phục những hạn chế, góp phần khai thác hiệu quả và bền vững diện tắch ựất ven biển của huyện

Trang 10

Mục ựắch nghiên cứu: Hình thành hệ thống cây trồng phát triển bền

vững ở vùng ven biển của huyện Hậu Lộc

Yêu cầu

- đánh giá ựúng tác ựộng của ựiều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng tới hệ thống cây trồng

- đánh giá thực trạng của hệ thống cây trồng rút ra những ựiểm mạnh ựể

kế thừa và những tồn tại ựể ựưa ra giải pháp khắc phục

- Nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật góp phần hoàn thiện hệ thống cây trồng

Trang 11

chương 1 cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

Hệ thống canh tác (farming systems) là một hệ thống quan trọng và là trung tâm của hệ thống nông nghiệp cho một vùng Vì vậy muốn cho nông nghiệp của vùng phát triển, trước hết cần nghiên cứu phát triển tốt hệ thống canh tác Để có thể nghiên cứu hệ thống canh tác được tốt phải đứng trên quan

điểm của phân tích hệ thống, hệ thống nông nghiệp và áp dụng các phương pháp phân tích hệ thống cho đề tài

1.1.1 Một số khỏi niệm

Hệ thống nông nghiệp (HTNN)

Theo FAO, 1989 khái niệm về hệ thống trang trại (Farming systems) đB

có từ thế kỷ XIX do nhà nông học người Đức Vonwalfen đề xuất Khái niệm

hệ thống nông nghiệp (Agricultural systems) đầu tiên được các nhà địa lý sử dụng để phân kiểu nông nghiệp trên thế giới và nghiên cứu sự tiến hoá của chúng (Grigg, 1979) (dẫn theo Đào Thế Tuấn, 1984) [70] Hệ thống nông nghiệp (HTNN) là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp các ngành sản xuất và kỹ thuật do một xB hội thực hiện để thoả mBn nhu cầu cho họ Nó biểu hiện sự tác động qua lại giữa hệ thống sinh học, sinh thái mà môi trường tự nhiên là đại diện, hệ thống văn hoá-xB hội qua các hoạt động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật (Vissac, 1979 Dẫn theo Nguyễn Duy Tính, 1995) [62] HTNN thích ứng với các phương thức khai thác nông nghiệp trong không gian nhất định do một xB hội tiến hành, là kết quả của sự phối hợp giữa các nhân tố tự nhiên, xB hội-văn hoá, kinh tế và kỹ thuật (Touve, 1988 Dẫn theo Nguyễn Duy Tính, 1995) [18]

Đào Thế Tuấn (1989) [72] cho thấy về thực chất HTNN là sự thống nhất của hai hệ thống: 1) Hệ sinh thái nông nghiệp (HSTNN) là một bộ phận của hệ sinh thái tự nhiên bao gồm các vật sống trao đổi năng lượng, vật chất và thông tin với ngoại cảnh, tạo nên năng suất sơ cấp (trồng trọt) và thứ cấp (chăn nuôi) của

Trang 12

hệ sinh thái 2) Hệ kinh tế xB hội, chủ yếu là hoạt động của con người trong sản xuất để tạo ra của cải vật chất cho toàn xB hội Nếu so với HSTNN thì HTNN khác ở chỗ ngoài yếu tố ngoại cảnh và sinh học còn có yếu tố kinh tế-xB hội

Hệ thống canh tác (HTCT)

Một số nhà khoa học Mỹ cho rằng HTCT (Farming systems) hay hệ thống nông trai, hệ thống nông nghiệp là sự bố trí một cách thống nhất và ổn định các ngành nghề trong nông trại, được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, kinh tế xB hội phù hợp với mục tiêu, mong muốn và nguồn lực của hộ (Shannor, W.W., và người khác, 1982) [92] Một số tác giả của viện nghiên cứu lúa quốc tế cho rằng HTCT là tập hợp các đơn vị có chức năng riêng biệt đó là: hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và tiếp thị Các đơn vị đó có mối quan hệ qua lại với nhau vì cùng dùng chung những nguồn lực nhận từ môi trường HTCT là hình thức tập hợp của một tổ hợp đặc thù các tài nguyên trong nông trại ở mọi môi trường nhất định, bằng những công nghệ sản xuất ra những sản phẩm nông nghiệp sơ cấp Định nghĩa này không bao gồm hoạt động chế biến, nó vượt quá hình thức phổ biến của nông trại cho các sản phẩm chăn nuôi và trồng trọt riêng biệt, nhưng nó bao gồm các nguồn lực của nông trại được sử dụng cho việc tiếp thị những sản phẩm đó Như vậy, đặc điểm chung nhất của hệ thống canh tác là bao gồm nhiều hệ thống: trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, tiếp thị, quản lý kinh tế

được bố trí một cách có hệ thống, ổn định và phù hợp với mục tiêu của mỗi nông trại hay mỗi tiểu vùng nông nghiệp (Nguyễn Duy Tính, 1995) [62] Về thực chất, HTCT đồng nhất với khái niệm HTNN HTCT được sử dụng nhiều trong các nước nói tiếng Anh còn HTNN được dùng nhiều trong nghiên cứu nông nghiệp của Pháp Các khái niệm về HTCT cũng như HTNN là một phương thức khai thác môi trường trong một không gian và thời gian nhất định nhằm thoả mBn nhu cầu của con người và phát triển bền vững [72], [87]

Hệ thống trồng trọt (HTTT)

HTTT là hệ thống con và là trung tâm của HTNN vì cấu trúc của nó quyết

định sự hoạt động của các hệ phụ khác như chăn nuôi, ngành nghề, chế biến, vậy HTTT là gì?

Trang 13

Theo Dufumier, 1997 hệ thống trồng trọt là thành phần các giống và loài cây

được bố trí trong không gian và thời gian của một hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế-xB hội (Dufumier M 1997)[87] Vấn đề phức tạp của nghiên cứu hệ thống trồng trọt là nó liên quan chặt chẽ

đến các yếu tố môi trường như : đất đai, khí hậu, sâu bệnh, mức đầu tư, trình

độ của người sản xuất do vậy cần phải nghiên cứu nó trên quan điểm hệ thống

Trong hệ thống trồng trọt lại bao gồm hệ thống cây trồng (HTCTr) và

hệ thống các biện pháp kỹ thuật đi kèm nên khi nghiên cứu hệ thống trồng trọt trước hết phải nghiên cứu hệ thống cây trồng

Hệ thống cây trồng (HTCT)

HTCTr là thành phần các giống và loài cây được bố trí trong không gian

và thời gian của các loại cây trồng trong mọi HSTNN nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế-xB hội (Đào Thế Tuấn, 1984) [70] Hệ thống cây trồng là hoạt động sản xuất cây trồng của nông trại bao gồm tất cả các hợp phần cần thiết để tạo ra tổ hợp các cây trồng, mối quan hệ của chúng với môi trường, các hợp phần này bao gồm tất cả các yếu tố vật lý, sinh học cũng như kỹ thuật, lao động và quản lý (Zandstra, 1981)[93]

Hình 1.1 Vị trí của hệ thống trồng trọt trong hệ thống nông nghiệp Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hệ thống nông nghiệp

kỹ thuật

Năng suất, chất lượng, giá cả

Đầu vào

Đầu

ra

Trang 14

Thông qua sơ đồ trên cũng như ý kiến của nhiều tác giả đều thống nhất cho rằng trong hệ thống nông nghiệp thì hệ thống trồng trọt là một hệ phụ trung tâm, sự thay đổi cũng như phát triển của HTTT sẽ quyết định xu hướng phát triển của HTNN vậy khi nói đến nghiên cứu HTNN cũng như HTCTr luôn gắn liền với nghiên cứu HTTT Trong hệ thống trồng trọt, hệ thống cây trồng lại là trung tâm của nghiên cứu và kèm theo là hệ thống các biện pháp kỹ thuật

Nghiên cứu HTTT nhằm bố trí lại các bộ phận trong hệ thống hoặc chuyển đổi chúng để tăng hệ số sử dụng đất, sử dụng đất có hiệu quả hơn, tận dụng lợi thế của mỗi vùng sinh thái nông nghiệp cũng như sử dụng một cách

có hiệu quả tiền vốn, lao động và kỹ thuật để nâng cao giá trị sản xuất cũng như lợi nhuận trên một đơn vị diện tích canh tác để tiến tới xây dựng nền nông nghiệp bền vững (Nguyễn Duy Tính, 1995)[62]

Chỉ quan tâm đến cây trồng thì hệ thống cây trồng bao gồm những nội dung sau: Công thức luân canh và đa canh; cơ cấu cây trồng hay tỷ lệ diện tích dành cho những mùa vụ cây trồng nhất định; kỹ thuật canh tác cho cả hệ thống đó Cơ cấu cây trồng về mặt diện tích, là tỷ lệ các loại cây trồng trên diện tích canh tác, tỷ lệ này phần nào nói lên trình độ sản xuất của từng vùng

Tỷ lệ cây lương thực cao, tỷ lệ cây công nghiệp, cây thực phẩm thấp, phản ảnh trình độ phát triển sản xuất thấp Tỷ lệ các loại cây trồng có sản phẩm tiêu thụ tại chỗ cao, các loại cây trồng có giá trị hàng hoá và xuất khẩu thấp, chứng tỏ sản xuất nông nghiệp ở đó kém phát triển và ngược lại

Vì vậy, khi nói đến hệ thống cây trồng là nói đến cơ cấu cây trồng vì hệ thống cây trồng thay đổi thế nào, được xác lập ra sao là do cơ cấu cây trồng trong đó quyết định

1.1.2 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu

Hệ thống là một vấn đề được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu hệ thống được đề cập đến

từ rất sớm, một số phương pháp nghiên cứu phổ biến như phương pháp mô hình hoá, phương pháp chuyên khảo, phương pháp phân tích kinh tế…, sau

đây là một số quan điểm, phương pháp của các nhà khoa học khi nghiên cứu

Trang 15

có vai trò đảo ngược tình thế

FAO (1992) [89] đưa ra phương pháp phát triển hệ thống canh tác và cho đây là một phương pháp tiếp cận nhằm phát triển các hệ thống nông nghiệp và cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững, việc nghiên cứu xây dựng các hệ thống canh tác tiến bộ phải được bắt đầu từ phân tích hệ thống canh tác truyền thống

Những nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác của FAO là một nỗ lực nhằm bổ sung và hoàn thiện cho các tiếp cận đơn lẻ Xuất phát điểm của hệ thống canh tác là nhìn nhận cả nông trại như một hệ thống; phân tích toàn bộ hạn chế và tiềm năng; xác định các nghiên cứu thích hợp theo thứ tự ưu tiên và những thay đổi cần thiết được thể chế vào chính sách; thử nghiệm trên thực tế

đồng ruộng, hoặc mô phỏng các hiệu ứng của nó bằng các mô hình hoá trong trường hợp chính sách thay đổi Sau đó tiến hành phân tích, đánh giá hiệu quả hiện tại trên quy mô toàn nông trại và đề xuất hướng cải tiến phát triển của nông trại trong thời gian tới

Spedding, C.R.W (1975) [91], đB đưa ra 2 phương pháp cơ bản trong nghiên cứu hệ thống canh tác:

- Nghiên cứu hoàn thiện hoặc cải tiến hệ thống đB có sẵn, tức là dùng phương pháp phân tích hệ thống để tìm ra “điểm hẹp” hay chỗ “thắt lại” của

hệ thống, đó là chỗ có ảnh hưởng không tốt, hạn chế đến hoạt động của hệ thống, cần tác động cải tiến, sửa chữa khai thông để cho hệ thống hoàn thiện hơn, có hiệu quả hơn

Trang 16

- Nghiên cứu xây dựng hệ thống mới: Phương pháp này đòi hỏi phải có

đầu tư, tính toán và cân nhắc kỹ lưỡng, cách nghiên cứu này cần có trình độ cao hơn để tổ chức, sắp đặt các bộ phận trong hệ thống dự kiến đúng vị trí, trong các mối quan hệ giữa các phần tử để đạt được mục tiêu của hệ thống tốt nhất

Phạm Chí Thành (1996) [55] và Mai Văn Quyền (1996) [48] đB có đúc kết các phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu hệ thống canh tác bao gồm:

- Tiếp cận từ dưới lên trên (bottm - up) là dùng phương pháp quan sát phân tích tìm điểm ách tắc của hệ thống để xác định phương pháp can thiệp thích hợp và có hiệu quả Trước đây, thường dùng phương pháp tiếp cận từ trên xuống, phương pháp này tỏ ra không hiệu quả vì nhà nghiên cứu không thấy được hết các điều kiện của nông dân, do đó giải pháp đề xuất thường không phù hợp và được thay thế bằng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của nông dân (PRA) (Robert Chambers, 1994) [6]

- Tiếp cận hệ thống (System approach): đây là phương pháp nghiên cứu dùng để xét các vấn đề trên quan điểm hệ thống, nó giúp cho sự hiểu biết và giải thích các mối quan hệ tương tác giữa các sự vật và hiện tượng

- Tiếp cận theo quá trình phát triển lịch sử từ thấp lên cao: phương pháp này coi trọng phân tích động thái của sự phát triển cơ cấu cây trồng trong lịch

sử Vì qua đó, sẽ xác định được sự phát triển của hệ thống trong tương lai, đồng thời giúp cho việc giải quyết các trở ngại phù hợp với hướng phát triển đó Năm 1981, Zandstra H.G và cộng sự [83] đB đề xuất một phương pháp nghiên cứu hệ thống canh tác của nông trại Các tác giả đB chỉ rõ: sản lượng hàng năm trên một đơn vị diện tích đất có thể tăng lên bằng cách cải thiện năng suất cây trồng hoặc trồng tăng thêm các cây trồng khác trong năm Nghiên cứu hệ thống canh tác là tìm kiếm những giải pháp để tăng sản lượng bằng cả hai cách

Phương pháp nghiên cứu hệ thống canh tác về sau được Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) và các chương trình nghiên cứu về cơ cấu cây trồng quốc gia trong mạng lưới hệ thống cây trồng Châu á (Asian Cropping System Network - ACSN) sử dụng và phát triển (Bùi Huy Hiển và CTV, 2001) [85]

Trang 17

Quá trình nghiên cứu liên quan đến một loạt các hoạt động trong nông trại Tổ chức thực hiện theo các bước sau:

(i) Chọn điểm: địa điểm nghiên cứu là một hoặc vài loại đất Tiêu chí để chọn điểm nghiên cứu là có tiềm năng năng suất, đại diện cho vùng rộng lớn, nông dân sẵn sàng hợp tác Sẽ rất thuận lợi nếu chọn điểm nghiên cứu được Chính phủ ưu tiên vì chương trình sản xuất sau này sẽ thực hiện dễ dàng hơn (ii) Mô tả điểm: điểm nghiên cứu sau khi chọn sẽ được mô tả về đặc

điểm tự nhiên, kinh tế - xB hội, hiện trạng cơ cấu cây trồng cần phải được

đánh giá

(iii) Thiết kế hệ thống canh tác: các mô hình cây trồng được thiết kế trên những đặc điểm của điểm nghiên cứu, nhằm đạt được sản lượng, lợi nhuận cao, ổn định và bảo vệ môi trường sinh thái

(iv) Thử nghiệm cây trồng mới: cây trồng được thử nghiệm trên ruộng nông dân, nhằm xác định khả năng thích nghi và ổn định của chúng Chỉ tiêu theo dõi gồm năng suất nông học, hiệu quả sử dụng đất, yêu cầu về tài nguyên (lao động, vật tư và hiệu quả kinh tế)

(v) Đánh giá sản xuất thử: những mô hình canh tác có năng suất và hiệu quả được xác định dựa trên kết quả thử nghiệm, sau đó được đưa vào sản xuất thử nhằm đánh giá khả năng thích nghi trên diện rộng của mô hình triển vọng trước khi xây dựng những chương trình sản xuất ở qui mô lớn hơn

(vi) Chương trình sản xuất: sau khi xác định những hệ thống canh tác thích hợp nhất và những biện pháp kỹ thuật liên hoàn kèm theo, các tổ chức khuyến nông với sự giúp đỡ của chính quyền, xây dựng chương trình quảng bá, thực hiện chương trình sản xuất

Mạng lưới hệ thống cây trồng Châu á (ACSN) khi đưa ra hướng dẫn quá trình thiết kế và thử nghiệm hệ thống cây trồng cũng chỉ bằng "Nghiên cứu hệ thống cây trồng cải tiến cho một vùng bao gồm cả thâm canh, thay thế cây trồng năng suất thấp và đưa vào những kỹ thuật thâm canh cải tiến ở những nơi kỹ thuật thâm canh còn hạn chế hoặc chưa có sẵn, các nhà nghiên cứu hệ thống cây trồng sẽ thực hiện các thử nghiệm đơn giản trên ruộng nông dân

Trang 18

"International Rice Reseach Institute", (1984) [90]

Quan điểm hệ thống là phương pháp nghiên cứu khoa học, là sự khám phá đặc điểm của hệ thống bằng cách nghiên cứu hệ thống bản chất và đặc tính của các mối tương tác qua lại giữa các bộ phận (Đào Thế Tuấn, 1989) [72] Nghiên cứu hệ thống cần dựa trên cách nhìn mọi sự vật và hiện tượng như một thể thống nhất chứ không phải cách cộng đơn giản của các thành phần trong hệ, sự tác động lẫn nhau giữa các thành phần trong qúa trình vận

động từ đầu vào đến đầu ra và có sự phân cấp Do vậy mỗi hệ thống con là một phần của hệ thống lớn hơn N Jameison, 1996 [12] cho rằng nếu ta tách riêng từng bộ phận của hệ thống và nghiên cứu chúng dù có tỷ mỷ đến đâu đi chăng nữa thì vẫn chưa phải là tư duy của hệ thống Vấn đề chính là quan hệ chứ không phải là bộ phận Toàn bộ hệ thống hơn hẳn tổng số các bộ phận bởi vì hệ thống có tổ chức Vậy vấn đề chính của hệ thống là mối quan hệ của các

bộ phận Ngoài những yếu tố bên trong, các yếu tố bên ngoài hệ thống không nằm trong hệ thống nhưng có tác động tương tác với hệ thống gọi là yếu tố môi trường Những yếu tố môi trường tác động lên hệ thống gồm có các đầu vào và đầu ra lại tác động trở lại hệ thống (Hoàng Tuỵ, 1987)[78] Trong tự nhiên có hai hệ thống cơ bản là hệ thống mở và hệ thống kín Hệ mở là trong

đó các phần tử ngòai việc tác động lẫn nhau còn có tác động với bên ngoài Còn hệ kín là trong đó các yếu tố tác động lẫn nhau trong phạm vi của hệ thống Khi có một yếu tố thay đổi thì hệ thống có sự thay đổi và được gọi là những phản hồi Có hai loại phản hồi: Tích cực và tiêu cực Phản hồi tiêu cực

là những phản hồi tạo ra sự ổn định, tạo điều kiện cho hệ thống đáp ứng với những biến đổi trong môi trường của nó, phản hồi tích cực là phản hồi tự khuếch trương, có thể rất nguy hiểm trong các hệ thống phức hợp vì nó tăng cường một biến số trong hệ thống mà không tính đến tương tác với các biến số khác Những hệ thống phức hợp hầu như bao giờ cũng có thứ bậc trên dưới Khi nghiên cứu hệ thống phải biết ta đang đứng ở thứ bậc nào [29], [80]

Trang 19

1.1.3- Những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng tới hệ thống cây trồng

1.1.3.1- Nhiệt độ và cơ cấu cây trồng

Từng loại cây, giống cây, các bộ phận của cây, các quá trình sinh lý của cây, chúng sẽ phát triển thích hợp và chỉ an toàn ở một nhiệt độ nhất định Cây ưa nóng là những cây sinh trưởng và ra hoa kết quả tốt ở nhiệt độ trên

200C, cây ưa lạnh là những cây sinh trưởng và ra hoa kết quả tốt ở nhiệt độ dưới 200C, cây trung gian là những cây yêu cầu nhiệt độ xung quanh 200C để sinh trưởng, phát triển bình thường

Theo Lý Nhạc, 1987 [43], Đào Thế Tuấn đB đề nghị bố trí cơ cấu cây trồng trong một năm như sau:

Bảng1.1: Bố trí cơ cấu cây trồng trong một năm

Cơ cấu cây trồng Vùng Tổng số

nhiệt độ 0C

Số ngày có nhiệt độ < 200C Cây

ưa nóng

Cây

ưa lạnh

Cây ngày ngắn

bố trí mùa vụ, cải tiến cơ cấu cây trồng, né tránh thời tiết bất thuận

1.1.3.2- Lượng mưa và cơ cấu cây trồng

Nước là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với cây trồng Cây trồng đòi hỏi một lượng nước lớn gấp nhiều lần trọng lượng chất khô của chúng Lượng nước mà cây tiêu thụ để hình thành một đơn vị chất khô của một số cây trồng (gọi là hệ số tiêu thụ nước) như ngô 250 - 400, lúa 500 - 800, bông 300 - 600, rau 300 - 500, cây gỗ 400 - 600, (dẫn theo Trần Đức Hạnh, 1997)[25]

Trang 20

Hầu hết lượng nước sử dụng cho nông nghiệp là nước mặt và một phần nước ngầm, các nguồn này được cung cấp chủ yếu từ lượng mưa hàng năm Nước mưa ảnh hưởng đến quá trình canh tác như làm đất, thu hoạch Mưa ít hoặc nhiều quá so với yêu cầu đều làm ảnh hưởng tới thời vụ gieo trồng và thu hoạch

Tuỳ theo lượng mưa hàng năm, khả năng cung cấp và khai thác nước

đối với một vùng cụ thể để xem xét lựa chọn cơ cấu cây trồng thích hợp

1.1.3.3 Đất đai và cơ cấu cây trồng

Đất đai là nguồn tài nguyên đặc biệt, là công cụ sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp Đất và khí hậu hợp thành phức hệ tác động vào cây trồng Phải nắm được đặc điểm mối quan hệ giữa cây trồng với đất thì mới xác

định được cơ cấu cây trồng hợp lý Tuỳ thuộc vào địa hình, chế độ nước, thành phần lý hoá tính của đất để bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp

Thành phần cơ giới của đất quy định tính chất của đất như chế độ nước, chế độ không khí, nhiệt độ và dinh dưỡng Đất có thành phần cơ giới nhẹ thích hợp cho trồng cây lấy củ; Đất có thành phần cơ giới nặng và có nước trên mặt phù hợp cho các cây ưa nước Các cây trồng cạn như ngô, lạc, đậu tương thường sinh trưởng tốt và cho năng suất cao trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ (Lý Nhạc, 1987) [43]

Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất quyết định đến năng suất cây trồng hơn là quyết định đến tính thích ứng Tuy vậy, trong các loại cây trồng cũng có những cây ưa trồng trên những loại đất có hàm lượng dinh dưỡng cao và cũng có cây chịu được đất có hàm lượng dinh dưỡng thấp, đất chua, mặn, có độ

độc Bón phân và canh tác hợp lý là biện pháp điều khiển dinh dưỡng đất

Sử dụng "hợp lý đất và nước" chính là một bộ phận cấu thành của khái niệm "nông nghiệp sinh thái", nó vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện để phục vụ cho nền nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững Nắm được các đặc điểm lý, hoá tính của đất, con người có thể tác động, cải tạo đất phù hợp dần với cây trồng hơn như: thau chua, rửa mặn, trồng cây xanh cải tạo đất, bón phân là những biện pháp tích cực cải tạo đất đem lại hiệu quả kinh tế [43],[49]

Trang 21

1.1.3.4 Cây trồng và cơ cấu cây trồng

Cây trồng là thành phần chủ yếu của hệ sinh thái nông nghiệp Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là lựa chọn loại cây trồng nào để lợi dụng được tốt nhất các điều kiện tự nhiên cũng như các nguồn tài nguyên khác của vùng Sử dụng những nguồn lợi đó một cách tốt nhất, nghĩa là phải lựa chọn cho cây trồng những điều kiện thuận lợi nhất để chúng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao [53], [43]

Khác với khí hậu và đất đai là các yếu tố mà con người ít có khả năng thay đổi, còn với cây trồng thì con người có thể thay đổi, chọn lựa, di thực Với trình độ công nghệ sinh học ngày nay, con người có thể thay đổi bản chất của cây trồng theo ý muốn thông qua các biện pháp như lai tạo, chọn lọc, gây

đột biến, nuôi cấy vô tính

Để bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý với một vùng nào đó, cần nắm vững yêu cầu của loài, của từng giống cây trồng, đối chiếu các điều kiện tự nhiên với khả năng thích ứng của cây trồng để đưa ra những quyết định đúng đắn nhất

1.1.3.5- Hệ sinh thái và cơ cấu cây trồng

Xây dựng cơ cấu cây trồng là xây dựng hệ sinh thái nhân tạo, đó là hệ sinh thái nông nghiệp Ngoài thành phần chính là cây trồng, hệ sinh thái này còn có các thành phần sống khác như cỏ dại, sâu, bệnh, vi sinh vật, các động vật, các côn trùng và những sinh vật có ích khác Các thành phần sống ấy cùng với cây trồng tạo nên một quần thể sinh vật, chúng chi phối lẫn nhau, tạo nên các mối quan hệ rất phức tạp Tạo dựng và duy trì cân bằng sinh học trong hệ sinh thái theo hướng hạn chế được các mặt có hại, phát huy mặt có lợi đối với con người là vấn đề cần quan tâm trong hệ sinh thái nông nghiệp

Bố trí cơ cấu cây trồng cần chú ý đến các mối quan hệ giữa các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái nông nghiệp, dựa theo các nguyên tắc sau:

- Lợi dụng mối quan hệ tốt giữa các sinh vật với cây trồng

- Khắc phục, phòng tránh hoặc tiêu diệt mầm mống có hại đối với cây trồng cũng như đối với lợi ích của con người

Trang 22

Các mối quan hệ giữa sinh vật với cây trồng trong hệ sinh thái được biểu hiện qua các mối quan hệ cạnh tranh, cộng sinh, ký sinh và ăn nhau theo nguyên tắc hình tháp số lượng trong dây chuyền dinh dưỡng Vì vậy, khi chuyển đổi cơ cấu cây trồng cần chú ý đến các mặt sau:

- Xác định thành phần, tỷ lệ giống cây trồng thích hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng cơ sở sản xuất

- Chọn thời vụ tốt nhất để tránh thời tiết bất thuận, tránh độc canh, chọn giống gieo trồng hợp lý sẽ bảo đảm năng suất, sản lượng, chất lượng cây trồng, hạn chế được tác hại của cỏ dại, sâu bệnh và thời tiết bất lợi gây ra

- Trồng xen nhiều loại cây trồng trong cùng một diện tích một cách hợp

lý có thể hạn chế được sự gây hại của cỏ dại, sâu bệnh, đồng thời làm tăng

được hệ số sử dụng đất

1.1.3.6 - Hiệu quả kinh tế và cơ cấu cây trồng

Để phát triển bền vững giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích có thể tăng vụ, thay đổi giống cây trồng hoặc tăng đầu tư thâm canh Vấn đề tăng

vụ lại chỉ có thể giải quyết được trong một phạm vi nhất định và chịu sự chi phối lớn của điều kiện tự nhiên

Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là phải sản xuất đa dạng, ngoài cây trồng chủ yếu cần bố trí những cây trồng bổ sung để tận dụng các nguồn lợi thiên nhiên của vùng và cơ sở sản xuất Tóm lại, về mặt kinh tế cơ cấu cây trồng cần thỏa mBn các điều kiện sau đây:

Đảm bảo yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hoá cao

Đảm bảo việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng các nguồn lợi tự nhiên

Đảm bảo thu hút lao động và vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế

Đảm bảo chất lượng và giá trị hàng hoá cao hơn cơ cấu cây trồng cũ Khi đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng có thể dựa vào một

số chỉ tiêu như: năng suất, tổng sản lượng, giá thành, thu nhập và mức lBi của các sản phẩm hàng hoá Việc đánh giá này rất phức tạp do giá cả sản phẩm tuỳ thuộc vào sự biến động của thị trường

Trang 23

1.1.3.7 - Thị trường và cơ cấu cây trồng

Trong Kinh tế học vĩ mô, 1999 [30] Robert S Pindyck, Daniel L Rubingeld đB cho thấy thị trường là tập hợp những người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau dẫn đến khả năng trao đổi Thị trường là trung tâm các hoạt động kinh tế

Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường có nhiều người mua và người bán, không một cá nhân nào có ảnh hưởng đáng kể tới giá cả Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo thường phổ biến một giá duy nhất là giá thị trường

Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là những người bán khác nhau có thể đặt những giá khác nhau cho cùng một loại sản phẩm, khi đó giá thị trường được hiểu là giá trung bình phổ biến

Thị trường là động lực thúc đẩy cải tiến cơ cấu cây trồng hợp lý Theo cơ chế thị trường thì cơ cấu cây trồng phải làm rõ được các vấn đề: Trồng cây gì, trồng như thế nào và trồng cho ai Thông qua sự vận động của giá cả, thị trường

có tác dụng định hướng cho người sản xuất nên trồng cây gì, với số lượng, chi phí như thế nào để đáp ứng được nhu cầu của xB hội và thu được kết quả cao Thông qua thị trường, người sản xuất điều chỉnh quy mô sản xuất, cải tiến cơ cấu cây trồng, thay đổi giống cây trồng, mùa vụ cho phù hợp với thị trường

Thị trường có tác dụng điều chỉnh cơ cấu cây trồng, chuyển dịch theo hướng ngày càng đạt hiệu quả cao hơn Cải tiến cơ cấu cây trồng chính là điều kiện và yêu cầu để mở rộng thị trường Khu vực nông thôn là thị trường cung cấp nông sản hàng hoá cho toàn xB hội và là thị trường tiêu thụ sản phẩm của ngành công nghiệp, cung cấp nông sản cho ngành dịch vụ và đó cũng là nơi cung cấp lao động cho các ngành trong nền kinh tế quốc dân Do vậy, thị trường và sự cải tiến cơ cấu cây trồng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Thị trường là động lực thúc đẩy cải tiến cơ cấu cây trồng, song nó có mặt hạn chế

là nếu để cho phát triển một cách tự phát sẽ dẫn đến sự mất cân đối ở một giai

đoạn, một thời điểm nào đó Vì vậy, cần có những chính sách của nhà nước

điều tiết kinh tế vĩ mô để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của thị trường

Trang 24

Kinh tế hàng hoá là một hình thức tổ chức kinh tế trong đó người ta sản xuất ra sản phẩm để mua bán, trao đổi trên thị trường, giá trị của sản phẩm hàng hoá phải thông qua thị trường và được thị trường chấp nhận

Giá thành sản phẩm bị chi phối bởi các yếu tố như vốn, trình độ lao

động, giá cả dịch vụ, phạm vi địa lý Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng cần phải xem xét một cách tổng quát

Có thể sử dụng tỷ suất lợi nhuận MBCR (Marginal Benefit Cost Ratio)

để đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng [30] :

cũCCCT phichiTổng -mớiCCCT phichiTổng

cũCCCT nhapthuTổng -mớiCCCT nhapthuTổngMBCR =Khi MBCR > 2 thì có hiệu quả kinh tế Hiện nay, thị trường nông thôn

đang phát triển với sự tham gia đắc lực của tư thương, kể cả các mặt hàng xuất khẩu Các hộ nông dân ngày càng phụ thuộc vào thị trường tự do, thiếu hoạt

động của hợp tác xB chế biến và tiêu thụ nông sản Nếu các hợp tác xB nắm

được khoảng 30% khối lượng hàng hoá thì tư thương sẽ mất độc quyền trong buôn bán (Đào Thế Tuấn, 1997) [67]

1.1.3.8 - Nông hộ và cơ cấu cây trồng

Nông hộ là đơn vị kinh tế tự chủ và đB góp phần to lớn vào sự phát triển sản xuất nông nghiệp của nước ta trong những năm qua Tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện thông qua nông hộ Do vậy, quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng thực chất là sự cải tiến sản xuất nông nghiệp ở các hộ nông dân Vì vậy, nông hộ là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn

Kinh tế nông hộ là kinh tế của hộ sống ở nông thôn, bao gồm cả thu nhập từ nông nghiệp và phi nông nghiệp Hộ nông dân là các nông hộ có phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản

được đặc trưng bằng việc tham gia hoạt động trong thị trường với một trình độ

ít hoàn chỉnh Hộ nông dân có những đặc điểm sau:

Trang 25

- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng

- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của

hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hoá hoàn toàn Trình độ này quyết

định đến quan hệ giữa nông hộ với thị trường

- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt

động phi nông nghiệp với mức độ khác nhau, nên khó giới hạn như thế nào là một hộ nông dân Vì vậy, hộ nông dân tái sản xuất giản đơn nhờ vào ruộng đất thông qua quá trình cải tiến cơ cấu cây trồng, nhờ đó mà tái sản xuất mở rộng trong nông nghiệp, phục vụ lợi ích chung của xB hội nên cần thiết phải có chính sách xB hội đầu tư thích hợp cho lĩnh vực này

Hộ nông dân không phải là một hình thái sản xuất đồng nhất mà là tập hợp các kiểu nông hộ khác nhau, có mục tiêu và cơ chế hoạt động khác nhau Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động của nông hộ để phân biệt được các kiểu hộ nông dân

- Kiểu hộ hoàn toàn tự cấp: Trong điều kiện này người nông dân ít có phản ứng với thị trường, nhất là thị trường lao động và vật tư

- Kiểu nông hộ chủ yếu tự cấp, có bán một phần nông sản đổi lấy hàng tiêu dùng, có phản ứng ít nhiều với giá cả (chủ yếu giá vật tư)

- Kiểu hộ bán phần lớn sản phẩm nông sản, có phản ứng nhiều với thị trường

- Kiểu hộ hoàn toàn sản xuất hàng hoá, có mục tiêu kiếm lợi nhuận như

là một xí nghiệp tư bản chủ nghĩa

Mục tiêu sản xuất của các hộ quyết định sự lựa chọn sản phẩm kinh doanh, cơ cấu cây trồng, quyết định mức đầu tư, phản ứng với giá cả vật tư, lao động và sản phẩm của thị trường

Quá trình phát triển của các hộ nông dân trải qua các giai đoạn từ thu nhập thấp đến thu nhập cao

- Giai đoạn nông nghiệp tự cấp: Nông dân trồng một cây hay một vài cây lương thực chính, năng suất thấp, kỹ thuật thô sơ, rủi ro rất nhiều Do sợ rủi ro nên việc tiếp thu kỹ thuật mới bị hạn chế và thị trường nông thôn là thị trường chưa hoàn chỉnh

Trang 26

- Giai đoạn kinh doanh tổng hợp và đa dạng: Lúc mới chuyển sang sản xuất hàng hoá, nông dân bắt đầu trồng thêm các cây hàng hoá, đa canh giảm bớt rủi ro của sản xuất nông nghiệp Nhờ có thêm thu nhập nên có thể đầu tư

để cải tiến kỹ thuật và thâm canh, nếu lao động thừa nhiều có thể phát triển ngành nghề phi nông nghiệp (Đào Thế Tuấn, 1997) [67]

Như vậy, hộ nông dân tiến hoá từ tình trạng tự cấp sang sản xuất hàng hoá ở các mức độ khác nhau và quá trình cải tiến cơ cấu cây trồng gắn với thị trường được thực hiện ngày càng hoàn thiện hơn Trong thực tế nếu không có

sự hỗ trợ của Nhà nước, quá trình này cũng diễn ra nhưng rất chậm và trong quá trình phát triển sẽ nảy sinh các vấn đề làm cản trở tiến trình cải tiến cơ cấu cây trồng, cải tiến hệ thống canh tác [31]

1.1.3.9 - Chính sách và cơ cấu cây trồng

Muốn quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng có hiệu quả phải thúc đẩy một cách đồng bộ sự phát triển của tất cả các kiểu hộ nông dân chứ không thể chỉ thúc đẩy các hộ sản xuất giỏi Hơn nữa, nếu không thúc đẩy được các vùng hay tất cả các hộ phát triển nhanh thì sẽ gây nên những khó khăn cho quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp

Quá trình phát triển kinh tế sẽ phân hoá giàu nghèo, có sự chênh lệnh

về thu nhập giữa nông thôn và thành thị, cần thiết phải rút lao động ra khỏi nông nghiệp bằng cách phát triển công nghiệp nông thôn và thâm canh tăng

vụ để sản xuất hàng hoá Đa dạng cây trồng nhằm đa dạng hoá sản phẩm là quá trình chủ yếu cải tiến cơ cấu cây trồng nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường nông nghiệp ngày càng đa dạng

Đào Thế Tuấn, (1997) cho rằng, quá trình đa dạng hoá cây trồng là do

sự phát triển của kinh tế hộ quyết định và còn tuỳ vào từng vùng, nhưng yếu tố khó khăn về vốn mang tính quyết định nhất Các hộ nghèo kinh doanh rất đa dạng, chỉ khi họ giàu lên thì mới tập trung vào một số ngành nhất định Như vậy, chuyên môn hoá chỉ có thể xảy ra khi trình độ sản xuất hàng hoá đB phát triển đến mức cao

Trang 27

Một khó khăn khác làm cho nông dân ngần ngại không dám đầu tư vào sản xuất và cải tiến cơ cấu cây trồng là do thiếu thị trường cho nông sản Để giải quyết vấn đề thị trường, Nhà nước cần tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển của thị trường và xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu là giao thông, thuỷ lợi, thông tin

Sự phân hoá của hộ nông dân và trình độ sản xuất của các kiểu hộ ảnh hưởng rất lớn đến cải tiến cơ cấu cây trồng Các kiểu hộ nông dân khác nhau

có trình độ tiếp thu và áp dụng kỹ thuật ở các mức khác nhau Kỹ thuật là yếu

tố quan trọng trong sự cải tiến cơ cấu cây trồng của các hộ nông dân trong giai

đoạn đầu sản xuất hàng hoá, khi kỹ thuật áp dụng chưa phải cần nhiều vốn thì việc đa dạng hoá sản xuất là một xu thế cần cho sự phát triển

Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng một cách có căn cứ

và kịp thời, nhà nước cần có chính sách về khoa học - công nghệ để thông qua nghiên cứu, nhằm thiết lập ngay trên đồng ruộng của người nông dân những mô hình chuyển đổi cây trồng có hiệu quả và chuyển giao kỹ thuật thích ứng cho nông dân Đồng thời, sự phát triển đa dạng trong sản xuất nông nghiệp và ngành nghề nông thôn cần có chính sách quan tâm đến sự phát triển về giới (Gender Development)

1.1.4 - Phát triển nông nghiệp trên quan điểm hệ thống

Khi nghiên cứu phát triển nông nghiệp phải coi nông nghiệp là một hệ thống để có thể tác động một cách đồng bộ Phải coi nông nghiệp là sự đan xen, kết hợp giữa ba lĩnh vực: khoa học sinh hoc, kinh tế và xB hội Phải căn

cứ điều kiện tự nhiên kinh tế xB hội của vùng cụ thể để định hướng phát triển cho trước mắt và tương lai (Phạm Bình Quyền, Phạm Chí Thành, Trần Đức Viên, 1992)[47]

Phạm Chí Thành, Trần Đức Viên và cộng sự, 1996 cho rằng: xác định

và phân tích hệ thống canh tác là một nội dung chính của nghiên cứu hệ thống canh tác Hiện nay đang tồn tại hai quan điểm về phát triển nông nghiệp:1) phát triển nông nghiệp theo quan điểm sinh thái, có nghĩa là đặt cây trồng, vật nuôi vào đúng vị trí của nó trong môi trường đB xác định sao cho có năng suất

Trang 28

cao, ổn định và bảo vệ môi trường 2) Phát triển nông nghiệp theo quan điểm kinh tế thị trường, nghĩa là tự do kinh doanh, lấy lợi ích kinh tế làm mục tiêu chính, họ chỉ sản xuất những gì mà khách hàng cần, họ cạnh tranh trong sản xuất và tiền tệ hoá quá trình sản xuất Cả hai xu hướng phát triển trên đều có

ưu và khuyết điểm riêng Hợp lý hơn cả là phát triển nông nghiệp theo kinh tế thị trường kết hợp hài hoà với nông nghiệp sinh thái [29]

Mỗi quốc gia cũng như mỗi vùng sinh thái có các đặc điểm, điều kiện

tự nhiên, kinh tế-xB hội khác nhau nên có thể quyết định hướng phát triển nông nghiệp khác nhau Đào Thế Tuấn, 1986 [71] cho thấy các nước đang phát triển muốn đưa nông nghiệp phát triển với tốc độ tăng trưởng từ 1% đến 4% năm đB áp dụng một trong những mô hình, thuyết sau đây để giải thích quá trình phát triển: 1) Thuyết mô hình bảo vệ: Thuyết này cho rằng sở dĩ nông nghiệp bị thoái hoá là do độ màu mỡ bị giảm dần và kiệt quệ Muốn tăng năng suất phải phục hồi và bảo vệ độ màu mỡ của đất bằng luân canh và bón phân 2) Thuyết mô hình thúc đẩy của thành thị công nghiệp: thuyết này chủ trương rằng nông nghiệp chỉ phát triển mạnh ở những vùng quanh và gần thành thị, nguyên nhân chính gây nên hiện tượng này là do thành thị cung cấp vật tư cho nông nghiệp nhưng lại là thị trường tiêu thụ các sản phẩm do nông nghiệp làm ra 3) Mô hình khuếch tán: thuyết này cho rằng kỹ thuật tiên tiến

và phương pháp quản lý trong nông nghiệp phổ biến dần từ nông dân này sang nông dân khác, từ vùng này sang vùng khác như giống cây trồng chẳng hạn nếu tốt sẽ được lan truyền từ trung tâm trước, sau đó sẽ lan sang các vùng xung quanh hoặc từ người làm đầu tiên sang các nông dân khác xung quanh 4) Thuyết mô hình đầu tư hiệu quả cao: thuyết này cho rằng nông dân cổ truyền sở dĩ không tiếp thu được kỹ thuật mới vì thiếu đầu tư có hiệu quả cao Tình trạng này được thay đổi lúc xuất hiện giống lúa mỳ, ngô có năng suất cao

do các trung tâm nghiên cứu quốc tế tạo ra Các giống này phản ứng mạnh với phân bón, thuốc trừ sâu, cải tạo đất nên mang lại hiệu quả cao cho nông dân,

đB thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhanh và tạo nên“cuộc cách mạng xanh" 5) Thuyết mô hình phát triển bị kích thích: theo thuyết này sự thay đổi giá cả

Trang 29

trên thị trường kích thích cải tiến kỹ thuật và tạo nên sự phát triển Để có thể phát triển nông nghiệp Việt Nam một cách bền vững không nên áp dụng đơn

lẻ một trong các thuyết nêu trên mà phải kết kợp đủ các mặt của các thuyết trên một cách hài hoà Vì nông nghiệp Việt Nam hiện nay đang trong quá trình phát triển, chuyển sang sản xuất hàng hoá, đang tìm kiếm thị trường, thu hút đầu tư, cải tiến kỹ thuật công nghệ, đặc biệt là công nghệ chế biến nên cần hội tụ đủ cả năm thuyết nêu trên đây để nhanh tiến tới sự phát triển bền vững Thực tiễn nông nghiệp Việt Nam đB cho thấy thị trường đầu ra là rất quan trọng, nó sẽ quyết định sự phát triển Có đầu ra sản xuất sẽ phát triển rất mạnh

và ổn định: sản xuất cà phê hay hồ tiêu của Việt Nam trong những năm qua là các minh chứng có ý nghĩa

Trên quan điểm hệ thống, nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác phải bắt đầu từ phân tích một cách có hệ thống hiện trạng canh tác của nông dân trong vùng để tìm được điểm hạn chế cần được cải tiến, có như vậy mới tạo tính trồi cao, hiệu quả sản xuất sẽ cao hơn Do vậy mà Robert Chambers, 1991 [50] đề xuất hướng nghiên cứu bắt đầu từ nông dân, bắt đầu từ mô hình "nông dân - trở lại - nông dân" Điểm xuất phát vấn đề được bắt đầu từ sự lựa chọn của nông dân, nông dân trực tiếp tham gia thực hiện công tác nghiên cứu cùng với nhà khoa học và phổ biến, chuyển giao kiến thức kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất lại cho nông dân trong vùng

1.1.5 - Hệ thống canh tác tiến bộ

Nói đến hệ thống canh tác là hoặc hệ thống cây trồng hoặc hệ thống vật nuôi hoặc cả hai Muốn có hệ thống canh tác tiến bộ, trước hết chúng phải là các hệ thống hợp lý với các điều kiện sinh thái của một vùng nhất định và sau

đó được thay thế bằng một hoặc một số biện pháp kỹ thuật mới trên cơ sở của các tiến bộ kỹ thuật hiện hành như các tiến bộ của kỹ thuật trồng trọt, các tiến

bộ của ngành chăn nuôi thú y,

Trong hệ thống cây trồng, yếu tố tạo thành cơ bản của hệ thống này chính là cơ cấu cây trồng, các công thức luân canh và các biện pháp kỹ thuật kèm theo Tất cả các yếu tố trên đây cần phải được xác định hợp lý cho mỗi

Trang 30

vùng sản xuất bằng các kỹ thuật hiện có và tiến bộ hơn các kỹ thuật trước để

đạt được tiêu chuẩn hệ thống cây trồng tiến bộ và cũng là góp phần tạo dựng

hệ thống canh tác tiến bộ

1.1.5.1- Khái niệm về cơ cấu cây trồng hợp lý

Cơ cấu cây trồng hợp lý là sự định hình về mặt tổ chức cây trồng trên

đồng ruộng về số lượng, tỷ lệ, chủng loại, vị trí và thời điểm, nhằm tạo ra sự cộng hưởng các mối quan hệ hữu cơ giữa các loại cây trồng với nhau để khai thác và sử dụng một cách tiết kiệm và hợp lý nhất các nguồn tài nguyên cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xB hội (Đào Thế Tuấn, 1978) [68]

Theo Phùng Đăng Chinh và cộng tác viên (1987) [4] đB xác định: Cơ cấu cây trồng hợp lý là cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế - xB hội của vùng Cơ cấu cây trồng hợp lý còn thể hiện tính hiệu quả của mối quan

hệ giữa cây trồng được bố trí trên đồng ruộng, làm cho sản xuất ngành trồng trọt trong nông nghiệp phát triển toàn diện, mạnh mẽ vững chắc theo hướng sản xuất thâm canh gắn với đa canh, sản xuất hàng hoá và có hiệu quả kinh tế cao Cơ cấu cây trồng là một thực tế khách quan, nó được hình thành từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xB hội cụ thể và vận động theo thời gian

Cơ cấu cây trồng hợp lý là phát triển hệ thống cây trồng mới trên cơ sở cải biến hệ thống cây trồng cũ hoặc phát triển hệ thống cây trồng mới Trên cơ

sở thực tế là sự tổ hợp lại các công thức luân canh, tổ hợp lại các thành phần cây trồng và giống cây trồng, đảm bảo các thành phần trong hệ thống có mối quan hệ tương tác với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, nhằm khai thác tốt nhất lợi thế

về điều kiện đất đai, tạo cho hệ thống có sức sản xuất cao, bảo vệ môi trường sinh thái (Lê Duy Thước, 1991) [60]

Theo Đào Thế Tuấn (1978) [68], đứng về quan điểm sinh thái học, bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là chọn một cấu trúc cây trồng trong hệ sinh thái nhân tạo, làm thế nào để đạt năng suất sơ cấp cao nhất Về mặt kinh tế, cơ cấu cây trồng hợp lý cần thỏa mBn yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao, bảo đảm việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn

Trang 31

nuôi, tận dụng nguồn lợi tự nhiên, ngoài ra còn phải đảm bảo việc đầu tư lao

động và vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao

Xác định cơ cấu cây trồng hợp lý ngoài việc giải quyết tốt mối liên hệ giữa cây trồng với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xB hội, cần phải dựa trên phương hướng sản xuất của vùng Phương hướng sản xuất quyết định cơ cấu cây trồng, nhưng cơ cấu cây trồng hợp lý sẽ là cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách xác định phương hướng sản xuất [53]

1.1.5.2- Các tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp

Tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp là những kỹ thuật mới được hình thành theo thời gian, những kỹ thuật này góp phần làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng vật nuôi trong một hệ thống canh tác đB xác định và mang lại hiệu quả kinh tế hơn các biện pháp kỹ thuật thông thường trước đây

Các tiến bộ kỹ thuật trước hết cần đề cập tới là các giống cây trồng mới

ra đời như các giống lúa, ngô, có năng suất cao, phẩm chất tốt trong những năm gần đây là: Hương thơm 1, Bắc thơm số 7, Xi 23, LT2, Khâm dục cho vùng đồng bằng sông Hồng Các giống ngô như LVN4, LVN10, CP888, HQ2000, VN4, các giống lạc tiến bộ như L14, L23, Sen lai 75/23, MD7, V79, Chùm Cam lộ, Các giống đậu tương tiến bộ như DT 84, MTD 176, AK 03, V74, ĐH4, DT99, Da bò, ngoài ra còn nhiều giống cây trồng tiến bộ khác như rau, cà chua M386, Pháp, TN005, Mỹ, VL2000, Hồng, Red crown 250, (Phạm Hồng Quảng, 2006) [46]

Các tiến bộ kỹ thuật khác như quy trình nhân giống và nuôi lan Hồ

điệp, biện pháp nhân nhanh giống hoa đồng tiền bằng kỹ thuật nuôi cấy mô, biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) với bọ hà Cylas formicarius F Hại cây khoai lang, phân đạm viên nén – VĐN, NPK viên nén, NK viên nén,

Với tất cả các tiến bộ kỹ thuật ra đời sẽ có tác động trực tiếp đến việc thay đổi các hệ thống canh tác ở mỗi vùng, làm cho các hệ thống canh tác ngày càng đổi mới, tiến bộ hơn dưới sự quyết định của cán bộ kỹ thuật, của nông dân Với các cán bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp cần thường xuyên nắm bắt các tiến bộ kỹ thuật để đưa vào thay đổi các hệ thống canh tác sao cho tiến bộ và hướng tới các hệ thống bền vững hơn

Trang 32

1.1.6- Phát triển nông nghiệp bền vững

Theo David C K (1996) [7], chiến lược tăng trưởng bền vững theo hướng công bằng gồm 6 giai đoạn: 1) Chuẩn bị cho sự thay đổi; 2) Cải cách về tư liệu sản xuất và hạ tầng cơ sở nông thôn; 3) Nông nghiệp thâm canh và đa canh; 4) Công nghiệp hoá nông thôn; 5) Công nghiệp hoá thành thị; và 6) Khuyến khích xuất khẩu Tuy nhiên, không phải bắt buộc tuần tự theo 6 giai

đoạn nêu trên đây Như vậy, nông nghiệp thâm canh và đa canh rất đáng được coi trọng trong phát triển bền vững

Đến nay có tới 70 định nhĩa khác nhau về nông nghiệp bền vững Mỗi

định nghĩa đều thể hiện các khía cạnh ưu tiên khác nhau cho vấn đề phát triển bền vững FAO, 1999 [104] cho rằng: phát triển bền vững là việc quản lý bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên, định hướng các thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương thức sao cho đạt đến sự thoả mBn một cách liên tục những nhu cầu của con người của những thế hệ hôm nay và mai sau Nông nghiệp bền vững là

xu thế tất yếu của quá trình phát triển nông nghiệp, thực chất đB được các nước công nghiệp hoá chú ý trước, sau đó ngày nay đB trở thành đối tượng cho nhiều nước đang thực hiện theo Mollison B, Slay R.M (1994) [38]

Gần đây Việt Nam dùng cụm từ: nông nghiệp sinh thái để chỉ một nền nông nghiệp tôn trọng môi trường và vệ sinh thực phẩm như vậy có sự nhầm lẫn về khái niệm Nhóm từ này được dùng để gọi nhiều kiểu nông nghiệp khác nhau: Bắc Âu dùng nhóm từ này để chỉ nông nghiệp sinh học hay hữu cơ, trái lại ở Trung Quốc dùng để chỉ nông nghiệp bền vững Theo ông có một số kiểu nông nghiệp khác như: nông nghiệp nông dân, nông nghiệp năng suất cao, nông nghiệp sinh học, hữu cơ, sinh thái, nông nghiệp tổng thể, nông nghiệp chính xác Đặc biệt ông nhấn mạnh khái niệm nông nghiệp bền vững và nông nghiệp hợp lý:

- Nông nghiệp bền vững là một nền nông nghiệp có sức sống về mặt kinh tế, sạch về môi trường và công bằng về xB hội Nông nghiệp bền vững

đảm bảo nhu cầu cho hiện tại và không tổn hại đến nguồn lợi tự nhiên cho các thế hệ mai sau

Trang 33

- Nông nghiệp hợp lý (NNHL) là nền nông nghiệp có sức cạnh tranh, chú

ý một cách cân bằng các mục tiêu kinh tế của người sản xuất, mong đợi của người tiêu dùng và tôn trọng môi trường, sản xuất có lBi và bảo vệ môi trường 1.2 - Những nghiên cứu trên thế giới và trong nước

1.2.1 - Những nghiên cứu trên thế giới

Các viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới hàng năm đB lai tạo, tuyển chọn ra nhiều loại giống cây trồng mới, đưa ra nhiều công thức luân canh, quy trình kỹ thuật tiến bộ, đề xuất hệ thống canh tác tiến bộ, thích hợp cho từng vùng sinh thái nhằm tăng năng suất, sản lượng và giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích canh tác Viện nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI đB góp nhiều thành tựu về cơ cấu giống lúa ở Thái Lan, trong điều kiện thiếu nước, từ hệ thống canh tác hai vụ lúa hiệu quả thấp vì chi phí nước tưới quá lớn, công thức sản xuất độc canh lúa ảnh hưởng xấu đến kết cấu đất nên đB được thay bằng mô hình đậu tương xuân - lúa mùa làm cho hiệu quả kinh tế gấp đôi, độ phì

đất tăng lên rõ rệt

ấn Độ đB tiến hành chương trình nghiên cứu nông nghiệp trên phạm vi cả nước từ 1962 - 1972, lấy hệ thâm canh, tăng vụ, chu kỳ một năm là hướng chiến lược phát triển nông nghiệp đB thu về kết quả: Hệ thống canh tác giành

ưu tiên cho cây lương thực, chu kỳ một năm hai cốc (hoặc hai vụ lúa nước hoặc một vụ lúa - một vụ màu), đưa vụ đậu đỗ vào luân canh đáp ứng 3 mục tiêu: khai thác tối đa đất đai, cải tạo độ phì nhiêu và tăng lợi ích cho nông dân

Các nghiên cứu ở Indonesia 1975 - 1976 đB thí nghiệm thành công các mô hình tăng vụ và đa dạng hóa cây trồng ở đất có tưới 10 tháng, 7 tháng và 5 tháng Các mô hình chọn thử nghiệm như: 3 vụ lúa, 2 vụ lúa, 1 vụ lúa - 1 vụ màu, 2 vụ lúa 1 vụ màu (màu chủ yếu là đậu đỗ, rau và ngô)

ở Đài Loan, các nghiên cứu giống rau chịu bóng râm, trồng xen trong ruộng lúa nước đB làm tăng sản phẩm và giá trị sản phẩm trên một đơn vị diện tích đất (dẫn theo Vũ Tuyên Hoàng, 1995 [27], Trần Đình Long, 1997 [34]

Nhật Bản là một nước có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho sản

Trang 34

xuất nông nghiệp Do đó, các nhà khoa học nông nghiệp Nhật Bản đB tập trung nghiên cứu và đề ra các chính sách quan trọng, xây dựng những chương trình có mục tiêu như an toàn lương thực, cải cách ruộng đất, ổn định thị trường nông sản và đẩy mạnh công tác khuyến nông, nhằm đảm bảo an ninh lương thực và thực hiện một số giải pháp kỹ thuật, cải cách nông thôn… nhờ vậy đến nay Nhật Bản đB trở thành một quốc gia có nền công nghiệp, nông nghiệp (nền nông nghiệp hiện đại) hàng đầu thế giới (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 1996) [66]

Các nhà khoa học Nhật Bản đB hệ thống hóa 4 tiêu chuẩn của hệ thống canh tác tiến bộ là phối hợp giữa cây trồng và vật nuôi, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi gia súc, cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất và sản phẩm làm ra, tính chất hàng hóa của sản phẩm (Nguyễn Duy Tính, 1995) [62]

Zandstra H.G., (1981) [93] đB dẫn số liệu của FAO cho thấy trên thế giới

có khoảng 5,6 tỷ người Để đảm bảo nhu cầu nông sản ngày càng tăng phải thực hiện ba giải pháp: mở rộng diện tích, tăng năng suất và đa dạng hóa cây trồng; trong đó, giải pháp thâm canh và đa dạng hóa được coi là quan trọng

ở miền Bắc ấn Độ có tổng số nhiệt độ cả năm 9.0000C, có 3 - 4 tháng nhiệt độ dưới 200C Từ xưa đến nay nhân dân vẫn có tập quán trồng 2 vụ/năm trên đất có tưới: một cây xứ lạnh như lúa mỳ, đại mạch, đậu đỗ mùa đông, cải dầu, khoai tây và một số cây xứ nóng như lúa, ngô Gần đây đB xác định nhiều công thức 3 vụ tiến bộ trên năm như:

+ Lúa - lúa - lúa mì

+ Ngô - khoai tây - cải dầu

+ Ngô - khoai tây - lúa mì

+ Đậu xanh (hay kê) - ngô - khoai tây ( cải dầu) - lúa mì.(4 vụ/năm) Chương trình nghiên cứu nông nghiệp phối hợp toàn ấn Độ năm 1960-

1972 lấy hệ thâm canh tăng vụ chu kỳ 1 năm làm hướng chiến lược phát triển sản xuất nông nghiệp đB kết luận: “Hệ canh tác dành ưu tiên cho cây lương thực chu kỳ 1 năm 2 vụ cốc (2 vụ lúa nước hoặc 1 vụ lúa và một vụ lúa mì)

đưa thêm vào một vụ đậu đỗ đB đáp ứng được 3 mục tiêu khai thác tối ưu tiềm

Trang 35

năng đất đai, ảnh hưởng tích cực đến độ phì nhiêu của đất trồng và đảm bảo lợi ích của người nông dân”( Bùi Huy Đáp, 1977)[16]

ở Philippin: với tổng số nhiệt độ 98000C, không có tháng nào dưới 200C thuộc nhiệt đới, từ trước đến nay nhân dân vẫn có tập quán làm 2 vụ cây xứ nóng ở đất có nước tưới, nay nhờ có giống cây trồng ngắn ngày đB xác định có thể trồng 3-4 vụ/năm Đưa cây trồng cạn vào hệ thống luân canh như lúa- lúa-

đậu tương hoặc lúa- khoai tây - đậu tương - ngô đường, đều cho kết quả tốt Trong những năm đầu thập kỷ 70 ở Châu á, nhiều vùng đB đưa các cây hoa màu trồng cạn vào hệ thống cây trồng trên đất lúa như ở Thái Lan trong

điều kiện thiếu nước, từ hệ thống cây trồng lúa xuân - lúa mùa hiệu quả thấp vì chi phí tiền nước quá lớn, mặt khác do độc canh cây lúa đB làm ảnh hưởng xấu đến độ phì của đất Bằng việc chuyển đổi cây lúa xuân sang cây đậu tương

đB làm cho giá trị tổng sản phẩm tăng lên đáng kể Hiệu quả kinh tế tăng lên gấp đôi độ phì nhiêu của đất tăng lên rõ rệt kết quả là mang lại thành tựu mới trong chuyển đổi hệ thống cây trồng ở Thái Lan ” (Bùi Huy Đáp, 1985) [58]

ở Trung Quốc đB xác định hệ thống cây trồng hợp lý trên các vùng đất

2 vụ, hệ thống phổ biến là 2 vụ lúa và 1 vụ lúa mì hoặc đậu Hà Lan, cải, khoai tây…(dẫn theo Đào Thế Tuấn, 1977)[53]

1.2.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu hệ thống cây trồng mới nói riêng hay hệ thống canh tác nói chung đB được các nhà khoa học Nông nghiệp Việt Nam bắt đầu nghiên cứu ngay từ đầu những năm 1960

Năm 1960 Viện sĩ Đào Thế Tuấn đB cùng các nhà nghiên cứu khoa học của Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam nghiên cứu cây lúa vụ xuân với các giống ngắn ngày có tiềm năng năng suất cao và tập đoàn cây vụ

đông vào chân đất hai vụ lúa, đưa cây màu vụ xuân vào chân đất vụ mùa, đB tạo nên bước chuyển biến rõ nét về sản xuất lương thực thực phẩm ở vùng

Đồng bằng sông Hồng (Đào Thế Tuấn, 1978)[68]

Bùi Huy Đáp (1974) [14] đB đề cập vấn đề luân canh, tăng vụ, xen

Trang 36

canh, trồng gối để sử dụng tối ưu nguồn lợi đất đai, khí hậu sẵn có tại các vùng sản xuất

- Thâm canh là sản xuất mà người ta sử dụng các yếu tố sản xuất đến mức tối đa để tăng năng suất và sản lượng cây trồng Các yếu tố sản xuất ở đây là chọn giống cây trồng tốt để tăng năng suất cây trồng, sử dụng tối đa mọi loại phân bón, phù hợp với yêu cầu của cây trồng và đầu tư nhân lực để thực hiện các khâu kỹ thuật thâm canh

- Tăng vụ là tăng số lần gieo trồng trên cùng một đơn vị diện tích đất trong năm có nghĩa là trên một diện tích đất và trong một thời gian nhất định, nếu sắp xếp để tăng thêm một vụ sản xuất nữa Để đánh giá mức độ tăng vụ của đất, người ta tính số vòng quay của đất Vòng quay của đất là số lượng vụ sản xuất đB tiến hành trên một đơn vị diện tích đất trong vòng một năm

- Luân canh là sự thay đổi cây trồng khác nhau trên cùng một mảnh đất một hay vài vụ Luân canh có tác dụng khai thác tốt tiềm năng của đất, bồi dưỡng cho đất, có khả năng ngăn chặn sâu bệnh và tránh được cỏ dại

- Luân canh tăng vụ: là làm tăng tổng sản lượng sản phẩm, tăng hệ số sử dụng đất Tạo điều kiện cho việc khai thác sử dụng tiềm năng lợi thế sẵn có về

điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu và tiềm năng xB hội Sử dụng nguồn lao động còn dư thừa trong nông nghiêp, tạo công ăn việc làm cho các lao động còn nhàn rỗi và tăng phần thu giá trị kinh tế trong nông nghiệp cao hơn, làm cho nông nghiệp đảm bảo được đa dạng hóa sản phẩm, Bùi Huy Đáp (1977) [14]

Thâm canh, luân canh tăng vụ là một trong những cơ sở cho việc bố trí

hệ thống cây trồng hợp lý Ngược lại, bố trí hệ thống cây trồng hợp lý tạo điều kiện cho việc thực hiện luân canh tăng vụ đạt hiệu quả cao trên nhiều khía cạnh như: kinh tế, xB hội, môi trường

Theo Bùi Huy Đáp (1977) [14], năm 1939, diện tích các loại cây lương thực chiếm 94,7% tổng diện tích gieo trồng miền Bắc, cây thực phẩm chiếm 1,8% và cây công nghiệp chiếm 34% đến năm 1955, vẫn 94,5% là cây lương thực, 2% là cây thực phẩm và 2,5% là cây công nghiệp Nhưng dến năm 1971,

tỷ lệ cây lương thực đB giảm xuống còn 87,6% (tuy dân số đB tăng gấp 2 lần),

Trang 37

cây thực phẩm đB tăng 5% Riêng trong cơ cấu các loại cây lương thực, lúa từ 86% đB giảm xuống còn 80% và hoa màu từ 14% đB tăng lên 19,6% Cây vụ

đông có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất, nhờ đó mà đất được che phủ trong suốt giai đoạn khí hậu khô hạn, tránh cho đất bạc màu, khỏi bị thoái hóa nhanh nhất bởi độ ẩm đất bị kiệt quệ các chất hữu cơ bị phân hủy nhiều Cây

vụ đông đB làm tăng độ ẩm của đất tới 30 - 50% so với đất không trồng cây vụ

đông Đất bạc màu được trồng cây vụ đông đều làm tăng năng suất cây trồng

vụ sau một cách rõ rệt

Khi nhu cầu nội địa không còn cấp bách và bắt đầu có dư xuất khẩu thì vấn đề “đa dạng hóa” cây trồng ngoài cây lúa được đặt ra Đa dạng hóa cây trồng là xu hướng bố trí những cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn trồng lúa, đồng thời góp phần cải thiện chế độ độc canh lúa Đa dạng hóa cây trồng và loại cây trồng cũng là biện pháp để nâng cao tính ổn định của hệ thống, (Trần Đình Long, 1997) [34]

Hệ thống canh tác lúa xuân đB xuất hiện ở miền Bắc Việt Nam từ năm

1965 như ở xB Phú Thạch, ứng Hoà Năm 1971 diện tích lúa xuân đB vượt diện tích lúa chiêm có nơi diện tích lúa xuân chiếm 60 - 65% diện tích lúa chiêm Năm 1970 nhờ chuyển vụ mạnh năng suất lúa chiêm xuân toàn miền Bắc được nâng lên 19,73 tạ/ha so với năng suất lúa Chiêm năm 1960 - 1969 là 13,6 đến 18,94 tạ/ha Năm 1985 năng suất chung của miền Bắc được nâng lên 31,9 tạ/ha

Điển hình là tỉnh Thái Bình, bình quân năng suất 48tạ/ha, Đan Phượng 55 tạ/ha

Có những Hợp tác xB đạt năng suất cao như: Hợp tác xB Vũ Thắng 70 tạ/ha, Trực Đông- Hải Hậu đạt 72 tạ/ha (Bùi Huy Đáp, 1987) [17]

Cùng thời gian nghiên cứu vụ xuân các nhà khoa học Nông nghiệp miền Bắc đB tiến hành nghiên cứu vụ đông cho các vùng sinh thái với mô hình canh tác 3 vụ/năm: 2 vụ lúa- 1 vụ đông hoặc 1 lúa - 1 màu- 1 vụ đông (Bùi Huy Đáp, 1977 [14]

Vụ đông ở miền Bắc Việt Nam là vụ thích hợp với cây trồng cạn trong mùa khô Theo Đào Thế Tuấn (1984) [69] vụ đông thích hợp với với các loại cây trồng ngắn ngày có nguồn gốc ôn đới như khoai tây, hành tây, bắp cải, su hào,

Trang 38

súp lơ, và một số cây trồng khác như thuốc lá, khoai lang, ngô, đậu tương, … Nguyễn Duy Tính (1995) [62] cho rằng hầu hết các diện tích canh tác

có nước tưới được sử dụng để trồng lúa, màu, cây công nghiệp ngắn ngày

Được sử dụng theo công thức luân canh phổ biến sau:

o Một vụ lúa/năm: một vụ lúa mùa bỏ hoá một vụ chiêm

o Hai vụ lúa/năm: (lúa chiêm - lúa mùa)

o Ba vụ lúa/năm: hai vụ lúa - 1 vụ màu (lúa chiêm - lúa mùa - vụ đông) Gần đây xuất hiện một số công thức luân canh 4 vụ/năm: lúa xuân- lúa hè thu - lúa mùa - vụ đông và công thức lúa - cá - cây ăn quả vv… Tuy nhiên, hai công thức này chiếm tỷ lệ diện tích chưa nhiều

Trong những năm gần đây, góp phần thực hiện mục tiêu sản xuất nông nghiệp của Đảng và Nhà nước cùng với việc chọn tạo, du nhập, khu vực hóa nhiều giống cây trồng vừa có năng suất cao, vừa có khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất lợi, vừa ngắn ngày, nhiều cơ quan khoa học đB quan tâm nghiên cứu và có nhiều kết quả quan trọng đóng góp cho sự phát triển của hệ thống canh tác mới, tiến bộ như:

+ Kết quả đưa cây đậu tương vào hệ thống canh tác ở miền Bắc Việt Nam,

đB chỉ ra rằng: đậu tương hè có năng suất cao khá ổn định, có thể mở rộng ở vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ trong hệ thống lúa xuân - đậu tương hè - lúa mùa (Lê Song Dự, 1990) [37]

+ Khi nghiên cứu về thời vụ ở miền Bắc Nguyễn Thế Côn (1994) [5] đB rút

ra một số kết luận: trong điều kiện vụ xuân thời vụ thích hợp đối với giống đậu xanh 044 có thể kéo dài từ giữa tháng 3 đến nửa cuối tháng 4 Các thời vụ trồng

đậu xanh có thể bố trí quanh năm, gồm các vụ như vụ xuân sớm, xuân muộn,

hè sớm, hè chính vụ, hè trung, hè thu

+ Chuyển đổi cơ cấu cây trồng truyền thống sang cơ cấu cây trồng hợp lý của một vùng sinh thái bằng cách đánh giá một cách toàn diện các điều kiện

tự nhiên, kinh tế, xB hội và thực trạng cơ cấu cây trồng ở vùng đó, trên cơ sở xác định hệ thống cây trồng thích hợp cho từng vùng đất, từng mùa vụ Tác giả đB đề xuất các giải pháp sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất, năng lượng

Trang 39

mặt trời kết hợp với luân canh, xen canh, gối vụ, đa dạng hóa cây trồng ở ngoại thành Hà Nội (Bùi Thị Xô, 1994) [82]

+ Dương Hữu Tuyền (1990) [79], khi nghiên cứu hệ thống canh tác 3 - 4 vụ/năm ở vùng lúa đồng bằng sông Hồng đB cho thấy đồng bằng sông Hồng

có thể trồng 3 - 4 vụ/năm khi trồng 3 vụ không nên độc canh 3 vụ lúa mà nên

bố trí 2 vụ lúa 1 vụ màu hay 2 vụ màu 1 vụ lúa, trong đó có thể 2 vụ cây ưa nóng, 1 vụ cây ưa lạnh hay cả 3 vụ là cây ưa nóng Trồng 4 vụ có thể thực hiện

được ở những chân ruộng đất có thành phần cơ giới nhẹ, tưới tiêu chủ động và dồi dào lao động

+ Khi nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại huyện sóc sơn đB chỉ rõ: mô hình 3 vụ cải tiến (lạc - lúa - ngô hoặc đậu tương - thuốc lá) mang lại lợi nhuận 12.537.000 đồng/ha/năm, tỷ suất lợi nhuận từ 12,7 - 176% Các mô hình 4 vụ (đậu xanh - đậu tương - lúa - khoai lang hoặc lúa CN2 - đậu tương - lúa ĐH60 - khoai tây) cho lợi nhuận 15.852.000 đồng/ha/năm, tỷ suất lợi nhuận 127,4 176%, Nguyễn Hữu Tề và ctv (1995) [54]

Như vậy có thể nói rằng trên cơ sở vận dụng các tiến bộ kỹ thuật về nông nghiệp, đB có nhiều nghiên cứu về hệ thống cây trồng theo hướng đổi mới tốt hơn (tiến bộ) ở nhiều vùng khác nhau, qua thời gian khác nhau và đB đạt được các kết quả nhất định nhưng như vậy không có nghĩa là dừng việc nghiên cứu Thời

điểm này hệ thống canh tác hiện tại là tiến bộ, hợp lý nhưng sang thời gian sau

có thể nó lại bị lạc hậu, kém hiệu quả do sự thay đổi của điều kiện môi trường như: nhu cầu của con người thay đổi, thị trường trong nước, quốc tế thay đổi, tiến

bộ khoa học kỹ thuật thay đổi Chính lẽ đó mà việc nghiên cứu đề xuất các hệ thống canh tác tiến bộ luôn luôn được đạt ra nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất và tiến tới xây dựng các hệ thống canh tác bền vững hơn

Trang 40

Chương 2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 2.1 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Môi trường tự nhiên, kinh tế xB hội của huyện Hậu Lộc

- Thực trạng hệ thống cây trồng ở huyện Hậu Lộc giai đoạn trước năm 2009

- Các giống cây trồng mới (lúa, lạc, khoai tây, dưa hấu)

2.1.2 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xB hội

- Đánh giá thực trạng hệ thống cây trồng

- Làm thí nghiệm so sánh giống

- Cải tiến một số công thức luân canh

2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu trên đất ven biển huyện Hậu Lộc mà xB đại diện

- Đặc điểm đất đai lấy ở số liệu thống kê tại huyện

- Đặc điểm kinh tế xB hội lấy số liệu thống kê tại huyện

- Khảo sát hiện trạng hệ thống trồng trọt xB Hoà Lộc với các thông tin (tổng diện tích, diện tích theo vụ và bộ giống cây trồng tương ứng)

2.2.2 Thử nghiệm chọn giống cây trồng

- Thử nghiệm 1 chọn giống lạc vụ xuân năm 2009

- Thử nghiệm được thực hiện trên đất

+ Địa hình cao, bị nhiễm mặt thấp 0,5%0 tại xB Hũa Lộc

- So sánh 4 giống: L14, MD7, V79 và Sen Lai (đối chứng)

Ngày đăng: 20/11/2013, 17:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Vị trí của hệ thống trồng trọt trong hệ thống nông nghiệp         Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hệ thống nông nghiệp - Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng đất ven biển huyện hậu lộc, tỉnh thanh hoá
Hình 1.1. Vị trí của hệ thống trồng trọt trong hệ thống nông nghiệp Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hệ thống nông nghiệp (Trang 13)
Bảng 3.1. ðặc trưng của một số yếu tố thời tiết ở Hậu Lộc  (Số liệu trung bình từ năm 2007-2009) - Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng đất ven biển huyện hậu lộc, tỉnh thanh hoá
Bảng 3.1. ðặc trưng của một số yếu tố thời tiết ở Hậu Lộc (Số liệu trung bình từ năm 2007-2009) (Trang 54)
Đồ thị 3.2: Năng suất trồng trọt năm 2005 – 2009 - Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng đất ven biển huyện hậu lộc, tỉnh thanh hoá
th ị 3.2: Năng suất trồng trọt năm 2005 – 2009 (Trang 59)
Bảng 3.3: Hiện trang cơ cấu cõy trồng trờn ủất nhiễm mặm  (giai ủoạn 2005 - 2008) - Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng đất ven biển huyện hậu lộc, tỉnh thanh hoá
Bảng 3.3 Hiện trang cơ cấu cõy trồng trờn ủất nhiễm mặm (giai ủoạn 2005 - 2008) (Trang 66)
Bảng 3.4: Một số ủặc ủiểm sinh trưởng và phỏt triển của cỏc giống lạc  vụ xuân 2009 - Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng đất ven biển huyện hậu lộc, tỉnh thanh hoá
Bảng 3.4 Một số ủặc ủiểm sinh trưởng và phỏt triển của cỏc giống lạc vụ xuân 2009 (Trang 67)
Bảng 3.5: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lạc  trồng trờn chõn ủất nhiễm mặn vụ xuõn 2009 - Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng đất ven biển huyện hậu lộc, tỉnh thanh hoá
Bảng 3.5 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lạc trồng trờn chõn ủất nhiễm mặn vụ xuõn 2009 (Trang 68)
Bảng 3.6: Một số ủặc ủiểm giống Khoai Tõy vụ ủụng 2009 - Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng đất ven biển huyện hậu lộc, tỉnh thanh hoá
Bảng 3.6 Một số ủặc ủiểm giống Khoai Tõy vụ ủụng 2009 (Trang 69)
Bảng 3.7: Năng suÊt và một số yếu tố cấu thành năng suất của một số  giống Khoai Tõy ủược trồng trờn ủất nhiễm mặn vụ ủụng 2009 - Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng đất ven biển huyện hậu lộc, tỉnh thanh hoá
Bảng 3.7 Năng suÊt và một số yếu tố cấu thành năng suất của một số giống Khoai Tõy ủược trồng trờn ủất nhiễm mặn vụ ủụng 2009 (Trang 70)
Bảng 3.10: Một số chỉ tiờu về cỏc yếu tố cấu thành năng suất và năng  suất các giống lúa năm 2009 – Hòa Lộc - Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng đất ven biển huyện hậu lộc, tỉnh thanh hoá
Bảng 3.10 Một số chỉ tiờu về cỏc yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các giống lúa năm 2009 – Hòa Lộc (Trang 72)
Bảng 3.11: So sỏnh hiệu quả kinh tế của cỏc giống lỳa ủược cơ cấu trờn  chõn ủất nhiễm mặn xó Hũa Lộc trung bỡnh trong năm 2009 - Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng đất ven biển huyện hậu lộc, tỉnh thanh hoá
Bảng 3.11 So sỏnh hiệu quả kinh tế của cỏc giống lỳa ủược cơ cấu trờn chõn ủất nhiễm mặn xó Hũa Lộc trung bỡnh trong năm 2009 (Trang 73)
Bảng 3.13: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của 2 giống dưa - Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng đất ven biển huyện hậu lộc, tỉnh thanh hoá
Bảng 3.13 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của 2 giống dưa (Trang 74)
Bảng 3.12: Sinh trưởng, phát triển và tình hình sâu bệnh của 2 giống dưa hấu  Thời gian từ - Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng đất ven biển huyện hậu lộc, tỉnh thanh hoá
Bảng 3.12 Sinh trưởng, phát triển và tình hình sâu bệnh của 2 giống dưa hấu Thời gian từ (Trang 74)
Bảng 3.14: So sánh hiệu quả kinh tế của 2 giống dưa hấu cho 1 ha trên  chõn ủất nhiễm mặn - Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng đất ven biển huyện hậu lộc, tỉnh thanh hoá
Bảng 3.14 So sánh hiệu quả kinh tế của 2 giống dưa hấu cho 1 ha trên chõn ủất nhiễm mặn (Trang 75)
Bảng 3.15: khả năng về năng suất của các công thức luân canh cải tiến  cho vựng ủất nhiễm mặn xó Hũa Lộc - Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng đất ven biển huyện hậu lộc, tỉnh thanh hoá
Bảng 3.15 khả năng về năng suất của các công thức luân canh cải tiến cho vựng ủất nhiễm mặn xó Hũa Lộc (Trang 77)
Bảng 3.16: Hiệu quả kinh tế cỏc cụng thức luõn canh cải tiến cho 1 ha ủất  canh tỏc vựng ủất nhiễm mặn - Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng đất ven biển huyện hậu lộc, tỉnh thanh hoá
Bảng 3.16 Hiệu quả kinh tế cỏc cụng thức luõn canh cải tiến cho 1 ha ủất canh tỏc vựng ủất nhiễm mặn (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w