1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại ngân hàng tmcp đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh sa pa

126 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, sau khi bàn giao và thành lập Chi nhánh mới, thực trạng hoạt động tín dụng bán lẻ của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sa Pa còn rất nhiều tồn tại: số

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QTKD THÁI NGUYÊN

LÊ THÚY VÂN

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

- CHI NHÁNH SA PA

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

THÁI NGUYÊN – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QTKD THÁI NGUYÊN

LÊ THÚY VÂN

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

– CHI NHÁNH SA PA

Ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 8.34.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Trọng Xuân

THÁI NGUYÊN – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Giải pháp phát triển hoạt động tín

dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sa Pa” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập

và nghiêm túc của cá nhân tôi Các số liệu trong luận văn được thu thập từ thực

tế, có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy, được xử lý trung thực và khách quan Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung, những kết quả và kết luận nghiên cứu trong luận văn này

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Lê Thúy Vân

Trang 4

Xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Nguyễn Trọng Xuân, người hướng

dẫn khoa học của luận văn, đã tận tình chỉ bảo, quan tâm, giúp đỡ và hết lòng động viên tôi về phương diện lý thuyết cũng như những nghiên cứu triển khai trong thực

tế trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn trân trọng nhất đến Ban lãnh đạo và đồng nghiệp của tôi tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sa Pa, đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc thu thập thông tin và cung cấp những số liệu quý giá liên quan đến vấn đề nghiên cứu, tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này Sau cùng, tôi xin trân trọng cám ơn bạn bè, người thân và gia đình đã đồng hành cùng tôi, luôn bên cạnh giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn và hỗ trợ rất nhiều cho tôi

về mặt tinh thần cũng như vật chất trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tác giả luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Kết cấu luận văn 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ của Ngân hàng thương mại 5

1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng bán lẻ 5

1.1.2 Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại 23

1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại 37

1.2.1 Kinh nghiệm phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ của một số ngân hàng thương mại 37

1.2.2 Bài học kinh nghiệm đối với Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sa Pa 40

TÓM TẮT NỘI DUNG CHƯƠNG 1 43

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 44

2.2 Phương pháp nghiên cứu 44

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 44

Trang 6

2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 47

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 47

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 49

2.3.1 Chỉ tiêu đánh giá quy mô tăng trưởng của hoạt động tín dụng bán lẻ 49

2.3.2 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng bán lẻ 50

2.3.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng bán lẻ 51

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH SA PA 53

3.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sa Pa (BIDV Chi nhánh Sa Pa) 53

3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của BIDV Chi nhánh Sa Pa 53

3.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam Chi nhánh Sa Pa 53

3.1.3 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam Chi nhánh Sa Pa 54

3.1.4 Hoạt động chính của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam Chi nhánh Sa Pa 56

3.2 Kết quả hoạt động của BIDV Chi nhánh Sa Pa giai đoạn 2015 – 2017 58

3.2.1 Hoạt động huy động vốn 58

3.2.2 Hoạt động tín dụng 60

3.3 Thực trạng phát triển tín dụng bán lẻ tại BIDV Chi nhánh Sa Pa 61

3.3.1 Phát triển quy mô tín dụng bán lẻ tại BIDV Chi nhánh Sa Pa 61

3.3.2 Phát triển chất lượng tín dụng bán lẻ tại BIDV Chi nhánh Sa Pa 66

3.3.3 Phát triển hiệu quả tín dụng bán lẻ tại BIDV Chi nhánh Sa Pa 70

3.4 Thực trạng các hoạt động phát triển tín dụng bán lẻ tại BIDV Chi nhánh Sa Pa 72

3.4.1 Đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ 72

3.4.2 Mở rộng kênh phân phối 73

3.4.3 Công tác quảng bá, tiếp thị sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ 74

Trang 7

3.4.4 Thiết kế chính sách lãi suất phù hợp 75

3.4.5 Tăng cường phòng ngừa rủi ro cho hoạt động tín dụng bán lẻ 75

3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại BIDV Chi nhánh Sa Pa 76

3.5.1 Yếu tố chủ quan 76

3.5.2 Các yếu tố khách quan 88

3.6 Đánh giá phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại BIDV Chi nhánh Sa Pa 89

3.6.1 Kết quả đạt được 89

3.6.2 Hạn chế tồn tại 90

3.6.3 Nguyên nhân hạn chế tồn tại 92

CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH SA PA 94

4.1 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại BIDV Chi nhánh Sa Pa 94

4.1.1 Mục tiêu phát triển BIDV Chi nhánh Sa Pa 94

4.1.2 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại BIDV Chi nhánh Sa Pa 94 4.2 Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại BIDV Chi nhánh Sa Pa 95

4.2.1 Giải pháp về nguồn vốn 95

4.2.2 Giải pháp về sản phẩm tín dụng bán lẻ 96

4.2.3 Giải pháp đa dạng kênh phân phối 97

4.2.4 Giải pháp về nguồn nhân lực 98

4.2.5 Hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng và nâng cao vai trò kiểm tra, giám sát ngân hàng 100

4.3 Một số kiến nghị và đề xuất 100

4.3.1 Kiến nghị và đề xuất với Chính phủ, các Bộ, Ban, Ngành 101

4.3.2 Kiến nghị và đề xuất với NHNN 101

4.3.3 Kiến nghị và đề xuất với NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 103

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

STT Từ viết tắt Nguyên nghĩa

1 ATM Automatic Teller Machine – Máy giao dịch tự động

2 BIDV Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt

7 NHTM Ngân hàng thương mại

8 NHTMCP Ngân hàng Thương mại Cổ phần

9 PGD Phòng giao dịch

10 POS Point Of Sale – Máy chấp nhận thanh toán bằng thẻ

11 TCTD Tổ chức tín dụng

12 Vietcombank Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam

13 Vietinbank Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Tình hình nhân sự tại BIDV Chi nhánh Sa Pa 56

tính đến ngày 01/12/2018 56

Bảng 3.2: Tình hình hoạt động huy động vốn tại BIDV Chi nhánh Sa Pa 59

giai đoạn 2015 – 2017 59

Bảng 3.3: Tình hình hoạt động tín dụng tại BIDV Chi nhánh Sa Pa 60

giai đoạn 2015 – 2017 60

Bảng 3.4: Tình hình dư nợ tín dụng tại BIDV Chi nhánh Sa Pa 62

giai đoạn 2015 – 2017 62

Bảng 3.5: Số lượng khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ tại BIDV Chi nhánh Sa Pa giai đoạn 2015 – 2017 63

Bảng 3.6: Số lượng khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ tại BIDV Chi nhánh Sa Pa giai đoạn 2015 – 2017 64

Bảng 3.7: Cơ cấu tín dụng bán lẻ tại BIDV Chi nhánh Sa Pa 65

giai đoạn 2015 – 2017 65

Bảng 3.8: Tỷ lệ dư nợ tín dụng bán lẻ quá hạn tại BIDV Chi nhánh Sa Pa giai đoạn 2015 – 2017 66

Bảng 3.9: Tỷ lệ nợ xấu tín dụng bán lẻ tại BIDV Chi nhánh Sa Pa 67

giai đoạn 2015 – 2017 67

Bảng 3.10: Tỷ lệ dư nợ tín dụng bán lẻ có tài sản đảm bảo tại BIDV 69

Chi nhánh Sa Pa giai đoạn 2015 – 2017 69

Bảng 3.11: Mức sinh lời từ hoạt động tín dụng bán lẻ tại BIDV 70

Chi nhánh Sa Pa giai đoạn 2015 – 2017 70

Bảng 3.12: Tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng bán lẻ 71

tại BIDV Chi nhánh Sa Pa giai đoạn 2015 – 2017 71

Bảng 3.13: Số lượng các đơn vị liên kết với BIDV Chi nhánh Sa Pa 73

giai đoạn 2015 – 2017 73

Bảng 3.14: Tổng hợp ý kiến đánh giá của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ của BIDV Chi nhánh Sa Pa 78

Trang 10

Bảng 3.15: Tổng hợp ý kiến đánh giá của cán bộ nhân viên về sản phẩm, dịch vụ của

BIDV Chi nhánh Sa Pa 79

Bảng 3.16: Tổng hợp ý kiến đánh giá của khách hàng về đội ngũ cán bộ nhân viên của BIDV Chi nhánh Sa Pa 81

Bảng 3.17: Tổng hợp ý kiến đánh giá của cán bộ nhân viên về nguồn nhân lực của BIDV Chi nhánh Sa Pa 82

Bảng 3.18: Tổng hợp ý kiến đánh giá của khách hàng về mạng lưới, kênh phân phối của BIDV Chi nhánh Sa Pa 85

Bảng 3.19: Tổng hợp ý kiến đánh giá của cán bộ nhân viên về mạng lưới, kênh phân phối của BIDV Chi nhánh Sa Pa 86

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ Sơ đồ 3.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức tại BIDV Chi nhánh Sa Pa 54

Biểu đồ 3.1 Tỷ trọng dư nợ tín dụng bán lẻ trong tổng dư nợ 62

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ dư nợ tín dụng bán lẻ quá hạn 67

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ nợ xấu tín dụng bán lẻ 68

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ dư nợ tín dụng bán lẻ có tài sản đảm bảo 69

Biểu đồ 3.5 Tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng bán lẻ 72

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra cơ hội và thách thức đối với các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước về tiềm lực tài chính, vốn và công nghệ

Sự xuất hiện của các tập đoàn tài chính, các NHTM nước ngoài đã tạo ra sức

ép cạnh tranh đối với các NHTM trong nước Trong khi các NHTM trong nước mới chỉ bước đầu chú trọng đến phát triển mảng ngân hàng bán lẻ thì các ngân hàng nước ngoài đã tập trung hoạt động vào mảng thị trường giàu tiềm năng này Đây là bài toán mà các NHTM Việt Nam cần có lời giải để không ngừng phát triển một cách an toàn, hiệu quả và bền vững trên chính thị trường của mình

Thị trường bán lẻ tạo ra một nền tảng khách hàng vững chắc, ổn định, phân tán rủi ro trong hoạt động tín dụng, cơ hội tốt để bán chéo các sản phẩm dịch vụ khác, đặc biệt là các dịch vụ ngân hàng hiện đại Xét trên giác độ tài chính và quản trị ngân hàng, hoạt động bán lẻ nói chung và hoạt động tín dụng bán lẻ nói riêng tạo ra nguồn thu nhập thường xuyên, ổn định, chắc chắn Hoạt động bán lẻ là giải pháp hữu hiệu để phân tán rủi ro, mở rộng nền khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần đa dạng hóa hoạt động ngân hàng

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một tổ chức tín dụng (TCTD) có thương hiệu mạnh, hai năm liền được bình chọn là ngân hàng bán lẻ tốt nhất Việt Nam Tuy nhiên tại chi nhánh Sa Pa thì quy mô và hiệu quả hoạt động chưa xứng tầm với mạng lưới phòng giao dịch (PGD) và số lượng cán bộ nhân viên (CBNV), đặc biệt hoạt động tín dụng bán lẻ còn nhiều hạn chế

Tháng 12/2014 Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sa Pa được thành lập trên cơ sở sáp nhập, nhận bàn giao từ Chi nhánh BIDV Bắc Hà sang Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sa

Trang 12

Pa có trụ sở nằm ở trung tâm huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai với 01 phòng giao dịch trực thuộc trên địa bàn huyện Sa Pa và 04 phòng giao dịch trực thuộc nằm trên địa bàn Thành Phố Lào Cai với đội ngũ 98 cán bộ nhân viên trong toàn chi nhánh Đây là cơ hội để khai thác phát triển thị trường bán lẻ, trong đó tín dụng bán lẻ là một trong những mục tiêu trọng tâm Ban Lãnh đạo chi nhánh xác định thị trường bán lẻ là mục tiêu chiến lược cần hướng đến nhằm xây dựng và mở rộng nền tảng khách hàng, mở rộng thị trường và nâng cao thị phần Trong đó hoạt động tín dụng bán lẻ là một trong các mục tiêu trọng tâm Tuy nhiên, sau khi bàn giao và thành lập Chi nhánh mới, thực trạng hoạt động tín dụng bán lẻ của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sa Pa còn rất nhiều tồn tại: số lượng khách hàng nghèo nàn, chưa khai thác việc bán chéo sản phẩm đối với khách hàng, nhiều khách hàng chỉ đơn thuần sử dụng một dịch vụ tiền vay; sản phẩm tín dụng bán lẻ chưa đa dạng, lãi suất áp dụng chưa linh hoạt và đặc biệt chưa xây dựng chính sách khách hàng và cơ chế động lực trong việc phát triển khách hàng và thị trường bán lẻ

Xuất phát từ thực tế đó tác giả lựa chọn đề tài: “Giải pháp phát triển

hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Sa Pa” cho luận văn thạc sĩ

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 13

- Phân tích thực trạng và tìm được nguyên nhân ảnh hưởng chưa tốt đến phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sa Pa

- Đề xuất giải pháp nhằm Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sa Pa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động phát triển tín dụng bán lẻ tại Ngân TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sa Pa

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu một số nội dung chủ yếu sau:

+ Thực trạng hoạt động phát triển tín dụng bán lẻ tại Ngân TMCP Đầu

tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Sa Pa

+ Những vấn đề đặt ra trong việc phát triển tín dụng bán lẻ của Chi nhánh với các sản phẩm chủ yếu: Cho vay cá nhân, hộ gia đình sản xuất kinh doanh, cho vay hỗ trợ nhu cầu nhà ở, cho vay tiêu dùng tín chấp, cho vay mua ô tô,

- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Nghiên cứu về phát triển tín dụng bán lẻ của Ngân TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Sa Pa trên địa bàn tỉnh Lào Cai

- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Các số liệu thứ cấp được thu thập, xử

lý, phân tích và sử dụng từ năm 2015 đến năm 2017 Các số liệu sơ cấp là các kết quả điều tra khảo sát được tiến hành thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 07 đến tháng 10 năm 2018

4 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 4 chương, cụ thể:

Trang 14

Chương1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển hoạt động tín dụng bán

lẻ của ngân hàng thương mại

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng

TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sa Pa

Chương 4: Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng

TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sa Pa

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG

TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ của Ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng bán lẻ

1.1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại

Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại (NHTM) thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các loại hình Ngân hàng

Ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ,

vì vậy là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ ổn định kinh tế

Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế Nhưng cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch vụ mà

chúng cung cấp: “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” (Luật Các tổ chức tín dụng,2010)

Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi: “Hoạt động của ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán” (Luật Các tổ chức tín dụng, 2010)

Trang 16

NHTM là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh

tế Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế -

xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng Vốn vay từ ngân hàng mang lại nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình Đây là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình Đối với các doanh nghiệp, NHTM thường là tổ chức cung cấp tín dụng để phục vụ cho việc mua hàng hóa dự trữ hoặc xây dựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị kỹ thuật Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thanh toán cho các khoản mua hàng hóa và dịch vụ, họ thường sử dụng séc, ủy nhiệm chi, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử…Khi họ cần thông tin tài chính hay lập kế hoạch tài chính, họ thường đến ngân hàng để nhận lời tư vấn Các khoản tín dụng của ngân hàng cho Chính phủ là nguồn tài chính quan trọng để đầu tư phát triển

NHTM là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng

đó là huy động vốn và cho vay vốn NHTM là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm tiền vào nơi khan thiếu Hoạt động của NHTM nhằm mục đích kinh doanh một hàng hoá đặc biệt đó là "vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh lệch lãi suất

đó chính là lợi nhuận của NHTM Hoạt động của NHTM phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội Khác hẳn với NHTM, Ngân hàng Nhà nước – NHNN (Ngân hàng Trung ương) không hoạt động vì mục đích lợi nhuận và cũng không kinh doanh tiền tệ Mỗi một quốc gia chỉ có một NHNN duy nhất, có thể gọi là ngân hàng mẹ có chức năng phát hành tiền, quản lý, thực thi và giám sát các chính sách tiền tệ; và có rất nhiều NHTM, có thể coi là các ngân hàng con có chức năng thực hiện lưu chuyển tiền trong nền kinh tế Trong trường hợp NHTM đứng trên bờ vực phá sản, NHNN sẽ là nguồn cấp vốn cuối cùng mà NHTM tìm đến

Trang 17

1.1.1.2 Các hoạt động của ngân hàng thương mại

a Huy động vốn

Huy động vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thường bao gồm: vốn tự có (vốn góp), thặng dư vốn và lợi nhuận tích lũy Để bắt đầu hoạt động ngân hàng (được pháp luật cho phép), chủ ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định Tùy theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn hình thành vốn ban đầu khác nhau: NHNN

do ngân sách nhà nước cấp; Ngân hàng cổ phần do cổ đông đóng góp; Ngân hàng liên doanh do các bên liên doanh đóng góp; Ngân hàng tư nhân là vốn thuộc sở hữu của tư nhân Trong quá trình hoạt động, ngân hàng phải không ngừng gia tăng vốn chủ sở hữu của mình bằng: nguồn tích lũy từ lợi nhuận (chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn đầu tư); nguồn thặng dư vốn cổ phần, nguồn bổ sung từ góp thêm, cấp thêm hoặc từ các quỹ và nguồn vay nợ

có thể chuyển đổi thành cổ phần (các khoản cho vay trung và dài hạn)

Nhận tiền gửi

Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất và chiếm

tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn tiền của NHTM Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau như:

+ Tiền gửi thanh toán: là tiền gửi của cá nhân hoặc doanh nghiệp gửi và

nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ trong phạm vi số dư cho phép với lãi suất rất thấp hoặc có thể bằng không;

+ Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội: là khoản

tiền của doanh nghiệp hoặc các tổ chức xã hội gửi vào ngân hàng với kì hạn nhất định (có thể là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm ) với lãi suất kì hạn tương ứng Kì hạn càng cao thì lãi suất tiền gửi càng lớn Người gửi có thể

Trang 18

đến ngân hàng rút tiền nếu có cần một khoản tiền chi tiêu, tuy nhiên chỉ được hưởng lãi suất thấp hơn do không rút đúng hạn

+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: là khoản tiền tiết kiệm của dân cư gửi

vào ngân hàng với kì hạn nhất định Ngân hàng đưa ra nhiều hình thức huy động và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn (ví dụ như tiền gửi với các kì hạn khác nhau, tiết kiệm bằng ngoại tệ hoặc bằng vàng )

+ Tiền gửi của các ngân hàng khác: nhằm mục đích thanh toán hộ và

một số mục đích khác NHTM này có thể gửi tiền tại ngân hàng khác Tuy nhiên, nguồn này thường không lớn

Đi vay từ các tổ chức khác

Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM Tuy nhiên, khi cần, ngân hàng thường vay mượn thêm với các phương thức đi vay đa dạng:

+ Vay NHNN: đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong

chi trả của NHTM Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (thiếu dự trữ bắt buộc hoặc dự trữ thanh toán), NHTM thường vay NHNN Hình thức cho vay chủ yếu là tái chiết khấu hoặc tái cấp vốn

+ Vay các tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn vay mượn lẫn nhau giữa

các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng Nguồn này dùng để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách và trong nhiều trường hợp nó bổ sung và thay thế cho nguồn vay mượn từ NHNN

+ Vay trên thị trường vốn: đây là nguồn vay nợ nhằm bù đắp thiếu hụt

tiền cho vay trung và dài hạn Các ngân hàng vay bằng cách phát hành các giấy

nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu)

Huy động bằng các nguồn khác

Các nguồn vốn khác mà NHTM có thể huy động như nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán và nguồn khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả,

Trang 19

b Sử dụng vốn

Hoạt động chính của NHTM là tìm kiếm các khoản vốn (huy động vốn)

để sử dụng nhằm thu lợi nhuận

- Hoạt động ngân quỹ: Ngân hàng phải để một lượng tiền mặt trong

két nhất định nhằm để chỉ trả nhanh chóng khi có với các nhu cầu của khách hàng Tiền mặt không phát sinh, do vậy, để vừa đáp ứng thực hiện mục tiêu thanh khoản vừa tạo ra một khoản thu nhập cho ngân hàng, ngân hàng thường

có một khoản tiền gửi tại NHNN, tại các ngân hàng và các tổ chức tín dụng

khác

- Hoạt động đầu tư chứng khoán: NHTM nắm giữ chứng khoán vì mục

tiêu thanh khoản và đa dạng hóa tài sản Các chứng khoán ngân hàng nắm giữ thường là: chứng khoán chính phủ; chứng khoán của các ngân hàng khác, các công ty tài chính và chứng khoán của các công ty khác Ngân hàng nắm giữ chứng khoán vì chúng mang lại thu nhập cho ngân hàng (lớn hơn so với tiền gửi tại NHNN và các tổ chức tín dụng) và có thể bán đi để gia tăng ngân quỹ khi cần thiết Nhưng phải hiểu rằng đầu tư chứng khoán ở đây là đầu tư vào trái phiếu, tín phiếu chứ không phải là đầu tư vào cổ phiếu Đầu tư vào cổ phiếu thuộc hoạt động hùn vốn của ngân hàng

- Hoạt động tín dụng: là hoạt động đặc trưng của NHTM, chiếm tỷ

trọng lớn nhất và mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng Có nhiều cách phân loại hình thức tín dụng: theo thời gian (tín dụng ngắn, trung và dài hạn), theo hình thức tài trợ (gồm cho vay, bảo lãnh, cho thuê, chiết khấu ), theo tài sản đảm bảo, theo rủi ro (gồm các khoản có độ an toàn cao, khá, trung bình

và thấp), hay theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp ), hay theo đối tượng tài

trợ (hàng hóa, hoặc bất động sản ) hoặc theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng )

- Các hoạt động sử dụng vốn khác: Các hoạt động khác là các hoạt

động như hoạt động thanh toán, hoạt động ủy thác, hoạt động hùn vốn (ngân hàng tham gia góp vốn với các tổ chức khác dưới hình thức nắm giữ cổ phiếu,

Trang 20

góp vốn liên doanh, liên kết ), các hoạt động sử dụng vốn khác như mua sắm, nhà cửa trang thiết bị phục vụ cho quá trình kinh doanh của khác hàng và cho thuê

Hiện nay, có nhiều cách tiếp cận về khái niệm tín dụng ngân hàng

- Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 16/06/2010: Cấp tín dụng

là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác

- Với cách tiếp cận đơn giản: Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định

- Với cách tiếp cận phức tạp: Tín dụng tên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng, là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán

Qua các cách tiếp cận trên, có thể đưa ra kết luận như sau:

Trang 21

Tín dụng ngân hàng là quan hệ giữa các NHTM, các tổ chức tín dụng với các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế mà NHTM đóng vai trò trung gian NHTM huy động vốn bằng tiền của các tổ chức, cá nhân và cho vay đối với các

tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế NHTM vừa là người đi vay vừa là người cho vay Với tư cách đi vay hay còn gọi là huy động vốn, NHTM nhận tiền gửi bằng cách phát hành thẻ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi Từ nguồn vốn huy động được, ngân hàng thương mại cho vay (cấp tín dụng) các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế

Hoạt động tín dụng có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế vì nó chính

là nguồn hỗ trợ cho yêu cầu phát triển, đáp ứng vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt kịp thời, khắc phục nhược điểm của các hình thức tín dụng khác trong lịch sử

Tín dụng là hoạt động đem lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng Lãi suất thu được từ tín dụng sẽ dùng để bù đắp chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh, chi phí quản lý, chi phí thuế và các khoản chi phí khác Với vai trò quan trọng như vậy, NHTM đã có nhiều hình thức tín dụng khác nhau để đáp ứng nhu cầu của các tổ chức kinh tế và các cá nhân nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất

Tín dụng bán lẻ

Theo Luật Các tổ chức tín dụng, các loại hình cấp tín dụng được quy định chung, chưa có định nghĩa và giải thích rõ ràng về tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ Tại khoản 2 Điều 50 Luật Các tổ chức tín dụng có ghi “Tổ chức tín dụng cho các tổ chức cá nhân vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống” được bao hàm cả hai hoạt động là tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ

Trong thương mại hàng hóa, hiểu một cách đơn giản, bán buôn là hình thức mua bán hàng hóa thông qua các trung gian, đại lý để bán với khối lượng lớn, giá bán thấp Ngược lại, bán lẻ là hình thức bán hàng mà người bán trực

Trang 22

tiếp bán cho người là người sử dụng, tiêu dùng với khối lượng bán nhỏ, lẻ, giá bán cao

Trong hoạt động tín dụng, hiện nay có hai cách hiểu khác nhau về tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ

Thứ nhất, tín dụng bán buôn được hiểu là các khoản cho vay thông qua thị trường tài chính (thị trường tiền tệ liên ngân hàng) hoặc cho vay đối với các trung gian tài chính khác (các ngân hàng thương mại, quỹ, các tổ chức làm đại

lý ủy thác), mà không căn cứ vào quy mô giá trị khoản vay Còn tín dụng bán

lẻ bao gồm những khoản cho vay trực tiếp đến người vay cuối cùng với các khoản cho vay có quy mô giá trị khác nhau Người vay cuối cùng ở đây được xác định là người trực tiếp sử dụng vốn vay đưa vào đầu tư mà không thực hiện việc cho vay tiếp tới các đối tượng khác

Thứ hai, tín dụng bán buôn bao gồm các khoản cho vay thông qua thị trường tài chính hoặc cho vay đối với các trung gian tài chính, cộng thêm những khoản cho vay đối với công ty và doanh nghiệp lớn với quy mô giá trị khoản vay đạt ở mức quy định cụ thể nào đó tùy theo từng nước và từng thời kỳ Tín dụng bán lẻ bao gồm tất cả các khoản cho vay trực tiếp đến người vay cuối cùng là các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp siêu nhỏ, cộng thêm các khoản cho vay đối với doanh nghiệp lớn nhưng quy mô giá trị khoản vay nhỏ hơn một mức giá trị cụ thể nào đó

Trong thực tế, những tiêu chí để phân biệt hoạt động tín dụng bán buôn với hoạt động tín dụng bán lẻ mang tính chất tương đối và không phổ biến đối với mọi quốc gia và các ngân hàng Tiêu chí của mối loại hình thay đổi theo thời gian và tùy thuộc vào điều kiện thực tiễn cũng như mục đích quản lý của từng nước, thậm chí từng ngân hàng Một số NHTM không có khái niệm tín dụng bán buôn, tín dụng bán lẻ mà phân biệt bằng khái niệm tín dụng doanh nghiệp và tín dụng cá nhân, hộ gia đình

Trang 23

Có ý kiến cho rằng tín dụng bán lẻ là những hình thức cho vay trực tiếp đến người sử dụng vốn vay cuối cùng, bao gồm các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo các chuyên gia của học viện công nghệ Châu Á – AIT, ngân hàng bán lẻ là cung ứng sản phẩm dịch vụ tới từng khách hàng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh Khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin Như vậy có thể hiểu tín dụng bán lẻ là những hình thức cho vay, những khoản vay trực tiếp từng khách hàng

cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua mạng lưới chi nhánh, được công nghệ thông tin hỗ trợ triển khai các sản phẩm, giao dịch trực tuyến, lưu giữ và xử lý cơ sở dữ liệu tập trung

Tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), tín dụng bán lẻ là việc cấp tín dụng (cho vay, chiết khấu, bảo lãnh ) đối với các cá nhân,

hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả đưa ra khái niệm về tín dụng bán

lẻ như sau: Tín dụng bán lẻ là việc cấp tín dụng (cho vay, chiết khấu, bảo lãnh ) trực tiếp cho các khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa

Đặc điểm của tín dụng bán lẻ

Đối tượng khách hàng đa dạng, phức tạp

Đối tượng khách hàng của tín dụng bán lẻ chủ yếu là các hộ gia đình,

cá nhân, doanh nghiệp nhỏ Đây là các thành phần kinh tế năng động, nhạy bén, nhưng kém ổn định và thiếu bền vững trong kinh doanh Những người

có thu nhập cao thường có xu hướng vay nhiều hơn Với họ, việc vay mượn chỉ là công cụ để đạt được mức sống như mong muốn Và việc trả nợ cho ngân hàng cũng dựa trên ý thức trách nhiệm hoàn trả đầy đủ và đúng hạn của khách hàng

Trang 24

Nguồn trả nợ khó chứng minh, khả năng tài chính không ổn định, thiếu minh bạch

Khi nhận được một đơn xin vay của cá nhân, hộ gia đình Đầu tiên một cán bộ tín dụng cần làm là phải đánh giá khả năng trả nợ của đơn xin vay đó Mức thu nhập và sự ổn định trong thu nhập, hay phương án kinh doanh phục

vụ cho đời sống gia đình có hiệu quả không là những thông tin rất quan trọng Nhiều khách hàng có nhu cầu vay vốn lại có thu nhập thấp dưới mức trung bình, việc làm và chỗ ở của họ ít ổn định, nếu cho đối tượng khách hàng này vay, ngân hàng sẽ có những khoản vay nhỏ, rủi ro hơn Như vậy, việc đánh giá khả năng tài chính của một khách hàng là rất khó khăn, chất lượng thông tin tài chính thường không cao Bởi lẽ, một cá nhân, một hộ gia đình có thể dễ dàng hơn trong việc giữ kín thông tin của mình so với các doanh nghiệp

Quy mô khoản vay nhỏ lẻ, số lượng món vay lớn, rủi ro cao nhưng phân tán được rủi ro

Tín dụng bán lẻ chủ yếu cung cấp cho các cá nhân và hộ gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh nhỏ, đời sống Do vậy, các khoản vay này cần tiến hành các thủ tục vay qua nhiều khâu, việc quản lý khoản vay thường chắp vá và thời gian quản lý có thể kéo dài trong nhiều năm

Nhu cầu được cấp tín dụng bán lẻ của khách hàng chịu tác động mạnh và phụ thuộc lớn vào chu kỳ kinh tế; tăng mạnh trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng tốt, thu nhập cao, chỉ tiêu tăng, đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ sinh lời cao và ngược lại Cho vay tín dụng bán lẻ được đánh giá là tài sản rủi

ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng Tuy nhiên, mỗi giao dịch tín dụng bán lẻ thường có giá trị nhỏ, nên mứ ảnh hưởng của các khoản vay này cũng không lớn đối với hoạt động tổng thể của ngân hàng Số lượng khách hàng lớn, nên rủi ro được phân tán cho nhiều người

Tài sản đảm bảo phong phú, phức tạp về tính chất pháp lý

Do nhu cầu về đời sống, về sản xuất, kinh doanh của các cá nhân và hộ gia đình rất phong phú và đa dạng, nên tài sản đảm bảo trong tín dụng bán lẻ

Trang 25

cũng rất phong phú, đa dạng và phức tạp Ngân hàng có thể cho vay không có tài sản đảm bảo Trong trường hợp này, sự đảm bảo cho khoản vay là sự tin tưởng vào chính ý thức trả nợ của người đi vay Ngân hàng có thể cho vay có tài sản đảm bảo là tài sản hình thành từ vốn vay (như vay mua ô tô, vay mua nhà) Trong trường hợp này, ngân hàng cần tiến hành các thủ tục vay và các thủ tục về tài sản đảm bảo phức tạp hơn Ngoài hình thức đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay, ngân hàng cũng nhận tài sản của chính người đi vay hoặc của bên thứ ba Dù ở trường hợp nào, thì tài sản đảm bảo trong tín dụng bán lẻ cũng liên quan đến các cá nhân với nhiều mối quan hệ sở hữu phức tạp

Do vậy, ngân hàng khi nhận tài sản đảm bảo đó cần làm rõ các mối quan hệ liên quan để tránh xảy ra tranh chấp

Các khoản tín dụng bán lẻ thường có chi phí vốn lớn, lãi suất cho vay cao

Tín dụng bán lẻ thường là một trong các khoản mục tài sản mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng Tuy nhiên, tín dụng bán lẻ lại có chi phí lớn hơn chi phí cho tín dụng bán buôn, với nhiều rủi ro Do tín dụng bán lẻ có nguồn cho vay cũng từ chính nguồn huy động vốn từ dân cư do vậy lãi suất cho vay trong tín dụng bán lẻ cũng cần phải cao tương ứng để đủ bù đắp chi phí huy động vốn

Nội dung tín dụng bán lẻ

Các sản phẩm tín dụng bán lẻ thường rất đa dạng và thiết kế tương tự sản phẩm tín dụng truyền thống với tên gọi khác nhau, nhưng nhìn chung đều thể hiện những nét đặc thù riêng của mỗi NHTM Các sản phẩm này hầu hết áp dụng cho mọi đối tượng là khách hàng cá nhân và hộ gia đình Các sản phẩm được thiết kế trên cơ sở nghiên cứu kỹ nhu cầu của khách hàng, hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng được chia làm 2 nhóm chủ yếu là nhóm cho vay có tài sản đảm bảo và nhóm cho vay không có tài sản đảm bảo

Nhóm cho vay có tài sản đảm bảo

- Cho vay tiêu dùng: Các khoản cho vay cá nhân này thường phục vụ cho

nhu cầu mua nhà, mua ô tô, mua sắm các đồ dùng gia đình đắt tiền hoặc bù đắp

Trang 26

thiếu hụt trong chi tiêu hàng ngày như chi sinh hoạt gia đình, chi cho y tế, giáo

dục, du lịch

- Cho vay sản xuất kinh doanh: Là hoạt động ngân hàng cấp tín dụng

đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ sản xuất, các cá nhân có nhu cầu kinh doanh khi họ thiếu vốn lưu động hoặc có một phương án kinh doanh khả thi nhưng thiếu vốn Cho vay sản xuất kinh doanh thường là sản phẩm tín dụng ngắn hạn đáp ứng vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh như chi phí mua nguyên nhiên vật liệu, hàng hóa, chi phí nhân công, nộp thuế, nhập khẩu nguyên vật liệu hàng hóa Thông thường loại hình vay này ngân hàng thường cho áp dụng phương thức cho vay hạn mức tín dụng hoặc cho vay theo món

- Cho vay du học: Đây là hình thức cho vay để đáp ứng nhu cầu đi du

học của học sinh, sinh viên Ngân hàng sẽ cho khách hàng vay để trả chi phí du học như tiền học phí, sinh hoạt phí Cho vay du học có thể thực hiện công tác bán chéo sản phẩm dịch vụ như chuyển tiền quốc tế, phát hành thẻ ghi nợ quốc

tế, thẻ tín dụng quốc tế và các dịch vụ khác

Nhóm cho vay không cần tài sản đảm bảo

Ngân hàng thực hiện cho vay mà không cần có tài sản đảm bảo Ngân hàng muốn cho vay thì phải dựa trên uy tín của người vay, bao gồm:

- Cho vay xây dựng, sửa chữa nhà: Áp dụng với đối tượng khách hàng

có nguồn thu nhập ổn định, chắc chắn, có mối quan hệ tốt với ngân hàng Tích lũy của khách hàng chưa đủ để thực hiện xây dựng, sửa chữa nhà ở Thường những khoản cho vay này không lớn, thời hạn cho vay ngắn Đối tượng khách hàng của sản phẩm này là các nhân, hộ gia đình, hoặc là nhân viên của ngân hàng

- Cho vay đối với sinh viên: Những sinh viên có năng lực học tốt được

nhà trường xác nhận có thể được ngân hàng cho vay với chính sách ưu đãi về lãi suất và thời gian trả nợ để phục vụ việc học như đóng tiền học phí

Trang 27

- Cho vay ứng trước lương: Một số khách hàng để đáp ứng nhu cầu tạm

thời của mình với số tiền không lớn, và có uy tín đối với doanh nghiệp cũng như ngân hàng thì họ sẽ dùng uy tín của mình để được ứng trước lương Các ngân hàng muốn cho vay thì phải thẩm định tốt năng lực cũng như uy tín của khách hàng thông qua mối quan hệ của khách hàng với ngân hàng cũng như các hợp đồng lao động, quyết định bổ nhiệm, đề bạt, tăng lương, kinh nghiệm công tác, trình độ học vấn của khách hàng

- Cho vay cá nhân: Hình thức cho vay này giúp khách hàng thỏa mãn các

nhu cầu cá nhân của mình như: mua sắm, đi du lịch, cưới xin, chữa bệnh… Ngân hàng thường cung cấp các dịch vụ này cho khách hàng có mối quan hệ lâu năm với ngân hàng, có uy tín cao, đạo đức tốt

- Cho vay thấu chi: Cho vay thấu chi là nghiệp vụ cho phép cá nhân rút

tiền từ tài khoản vãng lai vượt quá số dư có tới một hạn mức đã được thỏa thuận Để được hưởng dịch vụ cho vay thấu chi tài khoản, chủ tài khoản phải

ký hợp đồng cung ứng dịch vụ với ngân hàng Hạn mức thấu chi được xác định trên cơ sở dòng tiền, uy tín và khả năng chi trả của khách hàng Khách hàng được sử dụng tiền vay của ngân hàng không phải thế chấp hay ký quỹ, cũng không phải ra ngân hàng làm các thủ tục trả nợ gốc hay lãi mà ngân hàng sẽ chủ động thực hiện thu nợ từ các khoản thu trên tài khoản khách hàng

Các dịch vụ được bán chéo trong hoạt động tín dụng bán lẻ

Công tác bán chéo sản phẩm trên nền khách hàng hiện có là một trong những mục tiêu quan trọng trong nhiệm vụ kinh doanh của các ngân hàng thương mại Ngày càng có nhiều sản phẩm dịch vụ tiện ích mới được các ngân hàng thương mại đưa ra “thâm canh” ngay trên nền khách hàng hiện hữu Khách hàng vay vốn không chỉ sử dụng một sản phẩm tiền vay mà có thể sử dụng các sản phẩm dịch vụ khác như:

Dịch vụ thanh toán

Dịch vụ thanh toán có 2 hình thức cơ bản là thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế

Trang 28

- Thanh toán trong nước: Dịch vụ thanh toán có thể nói là dịch vụ đặc

thù của các ngân hàng thương mại, đây là dịch vụ truyền thống nhưng các NHTM không ngừng hiện đại hóa công nghệ để cung cấp dịch vụ này một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn và chi phí thấp Các ngân hàng cung cấp dịch

vụ này nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán chuyển tiền của khách hàng trong nước Hiện nay, có rất nhiều kênh chuyển tiền trong nước như kênh thanh toán

bù trừ, thanh toán từng lần qua ngân hàng nhà nước (NHNN), thanh toán song phương và thanh toán điện tử liên ngân hàng Hầu hết các NHTM hiện nay đã phát triển hệ thống nối mạng nội bộ kết nối trực tuyến tất cả các điểm giao dịch trong toàn hệ thống Do vậy giao dịch chuyển tiền trong cùng một hệ thống ngân hàng chỉ mất vài phút là khách hàng có thể nhận được tiền ngay lập tức Ngoài ra để phục vụ khách hàng tốt hơn, các ngân hàng còn tiến hành ký kết các thỏa thuận thanh toán song phương để có thể chuyển tiền cho khách hàng nhanh nhất với mức phí hấp dẫn Không chỉ ký kết hợp đồng chuyển tiền với các ngân hàng, một số ngân hàng có bắt tay với các Tập đoàn hoặc các công ty khác để mở rộng kênh thanh toán trong nước như VnPost, Banknet, Vietpay, Oncepay, Citad,… để thực hiện các giao dịch thanh toán song phương đến tận các huyện, xã hoặc thực hiện thanh toán các dịch vụ như hóa đơn, tiền vé máy bay…

Với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin và internet, bên cạnh ngành viễn thông, truyền thông thì Ngân hàng là một trong những ngành

có ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin một cách mạnh mẽ và hiệu quả

- Thanh toán quốc tế: Hiện nay dịch vụ thanh toán quốc tế được các ngân

hàng thực hiện thông qua kênh SWIFT, kiều hối, chuyển tiền Westion union (WU), thanh toán séc và Bankdraft, trong đó kênh SWIFT là hình thức chuyển tiền quốc tế phổ biến hiện nay của hầu hết các ngân hàng Chuyển tiền WU là một hình thức chuyển tiền và nhận tiền rất nhanh chóng thông qua chương trình được nối mạng toàn cầu Một số ngân hàng hiện nay đã tận dụng mạng lưới của

Trang 29

mình để phát triển đại lý phụ cho ngân hàng thực hiện dịch vụ WU và hưởng phí hoa hồng

Dịch vụ thanh toán là một trong các dịch vụ truyền thống, cốt lõi của NHTM Thu nhập từ dịch vụ thanh toán, chuyển tiền thường chiếm từ 30-50% tổng thu dịch vụ của ngân hàng Tuy nhiên, mức độ rủi ro trong dịch vụ thanh toán cũng tương đối lớn vì có một số kênh chuyển tiền khi đã thực hiện không thể hủy lệnh giao dịch hoặc rủi ro trong quá trình tác nghiệp có thể gây thiệt hại cho ngân hàng đặc biệt là các giao dịch chuyển tiền quốc tế

Dịch vụ thẻ

Việc ứng dụng công nghệ đã tạo đà cho ngành ngân hàng ngày càng có nhiều sản phẩm dịch vụ tiện ích Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt là một trong những sản phẩm dịch vụ có ứng dụng công nghệ nhiều nhất Ngày nay các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng trở nên thông dụng và phổ biến Trong đó, thẻ thanh toán là một trong những phương tiện được biết đến nhiều nhất và ngày càng được nhiều người quan tâm sử dụng

- Thẻ ATM: Đây là hình thức phát triển đầu tiên, cho phép khách hàng

sử dụng tiền trong tài khoản của mình từ máy rút tiền tự động vào bất kể thời gian nào trong ngày mà không nhất thiết phải đến trụ sở ngân ngân hàng Chủ thẻ có thể thực hiện nhiều giao dịch khác nhau tại máy rút tiền như: Vấn tin tài khoản, in sao kê, chuyển khoản, gửi tiết kiệm,… Hệ thống ATM hiện đại còn cho phép khách hàng gửi tiền vào tài khoản của mình ngay tại các máy này

- Thẻ tín dụng: Thẻ tín dụng là một loại thẻ do ngân hàng phát hành hay

còn gọi là “thẻ ghi có” Khách hàng được ngân hàng phát hành cho thẻ này có nghĩa là khách hàng được ngân hàng cấp một hạn mức tín dụng theo tài khoản thẻ tín dụng của khách hàng Khách hàng có thể sử dụng thẻ để thanh toán hàng hoá và các dịch vụ trả tiền sau kể cả khi tài khoản của khách hàng không

Trang 30

có số dư có Khách hàng sử dụng thẻ để thanh toán hàng hoá dịch vụ tại những nơi có máy đọc thẻ và tại các điểm bán lẻ có hình thức thanh toán qua thẻ

Dịch vụ thẻ là một trong những dịch vụ khẳng định sự tiên tiến về công nghệ của một ngân hàng Phát triển dịch vụ thẻ là một lợi thế cạnh tranh trong cuộc đua mở rộng nền khách hàng cá nhân

Các dịch vụ khác

- Mobile Banking: Ngân hàng thực hiện liên kết với nhà mạng viễn thông

để cung cấp đến khách hàng dịch vụ Mobile Banking.Khách hàng có thể thực

hiện giao dịch thanh toán và vấn tin trên thiết bị điện thoại di động cua mình

Sử dụng dịch vụ này khách hàng vừa tiết kiệm thời gian vừa tiết kiệm chi phí giao dịch

- Internet Banking: Dịch vụ Internet Banking giúp khách hàng chuyển

tiền trên mạng thông qua các tài khoản cũng như kiểm soát hoạt động của các tài khoản này Để tham gia, khách hàng truy cập vào Website của ngân hàng và thực hiện giao dịch tài chính, truy vấn thông tin cần thiết Ngoài ra khách hàng cũng có thể truy cập vào các Website khác để mua hàng và thực hiện thanh toán với ngân hàng.Với các thiết bị như máy tính, Ipad, smart-phone có kết nối mạng internet là khách hàng có thế thực hiện được giao dịch thanh toán mà không cần đến ngân hàng

- Dịch vụ BSMS: Dịch vụ này cung cấp cho khách hàng thông tin về các

giao dịch phát sinh trên tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền vay, thẻ tín dụng của mình Ngoài ra, khách hàng có thể nhận được các thông tin về lãi suất tiền gửi, tiền vay, tỷ giá, giá chứng khoán, địa điểm đặt máy ATM và các chương trình khuyến mại của ngân hàng nơi mở tài khoản và đăng ký dịch vụ BSMS…

- Dịch vụ VNTopup: Là dịch vụ cho phép chủ thẻ ATM trích tiền từ tài

khoản của mình để nạp tiền vào tài khoản điện thoại di động trả trước thông qua hệ thống tin nhắn SMS

Trang 31

- Dịch vụ BankPlus: Là dịch vụ được liên kết với Tập đoàn Viễn thông

Quân đội, cho phép khách hàng thực hiện thanh toán chuyển tiền và thanh toán cước thoại thông qua hệ thống tin nhắn SMS

- Dịch vụ Smartbanking: Khách hàng thực hiện tải ứng dụng

Smartbanking về thiết bị của mình như máy tính, Ipad, smartphone Khách hàng

có thể thực hiện nhiều giao dịch trên ứng dụng này khi thiết bị có kết nối mạng internet như chuyển tiền, thanh toán hóa đơn điện nước, học phí, viễn thông, truyền hình, nạp game, đặt vé máy bay, nạp tiền điện thoại, đăng ký sản phẩm dịch vụ ngân hàng, tìm kiếm thông tin về ngân hàng như tỷ giá, lãi suất, vị trí ATM và nhiều thông tin giải trí khác

- Bảo hiểm: Các ngân hàng cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các khách

hàng của họ thông qua công ty con, hoặc thông qua các nhà môi giới bảo hiểm của mình Có rất nhiều các loại hình bảo hiểm như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tiền vay, bảo hiểm tài sản…dành cho khách hàng cá nhân, bảo hiểm tài sản dành cho doanh nghiệp

- Tư vấn và cung cấp thông tin:Với kho dữ liệu thường xuyên được cập

nhật thông tin về tình hình kinh tế, tài chính; với đội ngũ chuyên viên am hiểu sâu sắc nghiệp vụ ngân hàng, tài chính, tiền tệ, các thông số kinh tế vì vậy ngân hàng có thể tư vấn và cung cấp thông tin cho khách hàng Không chỉ tư vấn tài chính và cung cấp thông tin cho khách hàng doanh nghiệp mà ngân hàng còn tư vấn tài chính cho cả khách hàng cá nhân Ngoài tư vấn về tài chính, các ngân hàng còn tư vấn cho khách hàng về chứng khoán, dịch vụ của ngân hàng… Hoạt động này giúp khách hàng gần gũi, tin tưởng hơn vào ngân hàng và mang lại nguồn thu nhập an toàn cho ngân hàng

- Quản lý đầu tư cho khách hàng: Dịch vụ này đặc biệt cho những khách

hàng tư nhân đã có đầu tư vào thị trường chứng khoán Ngân hàng chỉ chấp nhận quản lý đầu tư từ một mức tối thiểu nào đó Khi nhận ủy thác đầu tư tài sản của khách hàng như quản lý trái phiếu, cổ phiếu, tiền gửi của khách hàng

Trang 32

tại ngân hàng… ngân hàng có thể thực hiện quản lý theo yêu cầu của khách hàng hoặc thay mặt khách hàng đưa ra các quyết định cụ thể

- Dịch vụ thanh toán hoá đơn: Cuộc sống phát triển làm con người luôn

luôn bận rộn, hoặc do thường xuyên đi công tác xa nhà và họ cũng không có thời gian để đến từng công ty cung cấp dịch vụ như điện, nước, điện thoại, truyền hình cáp, internet … để trả tiền mỗi tháng hay đợi ở nhà để thanh toán các hóa đơn đó được Chính vì vậy, ngân hàng đã cung cấp dịch vụ thanh toán

hộ hóa đơn để giúp khách hàng của mình không còn lo lắng sẽ bị cắt điện, nước, điện thoại, internet … nếu chưa thanh toán Hàng tháng, ngân hàng sẽ trích tiền

từ tài khoản của khách hàng mở tại ngân hàng và trả tiền cho đơn vị cung cấp dịch vụ theo số tiền của các đơn vị cung cấp dịch vụ thông báo

- Dịch vụ cho thuê két sắt: Dịch vụ bảo quản, ký gửi và cho thuê két sắt

là một dịch vụ ngày càng trở nên phổ biến, nhất là ở các nước phát triển Ngân hàng bảo quản các đồ quý giá, các giấy tờ có giá như cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, các hợp đồng bảo hiểm, các chứng thư tài sản, di chúc… Những thứ này có thể được bảo quản theo phương thức “mở” trong đó biên lai sẽ ghi chi tiết những gì được lưu giữ hoặc theo phương thức “kín” được lưu giữ trong những chiếc hộp khóa Ngày nay, các ngân hàng thường cho khách hàng thuê két sắt theo phương pháp “kín” và không cần biết bên trong két khách hàng gửi vật gì

Bán chéo sản phẩm dịch vụ có thể hiểu là khách hàng sử dụng đồng thời nhiều sản phẩm dịch vụ của ngân hàng Ngoài các sản phẩm dịch vụ nêu trên

mà ngân hàng có thể bán chéo đối với khách hàng vay vốn, thì sản phẩm dịch

vụ nhận tiền gửi đôi khi cũng được bán chéo đối với khách hàng vay vốn, ví dụ như số dư của khách hàng trong tài khoản tiền gửi thanh toán; Hoặc khách hàng vay vốn có thể gửi tiền ngân hàng sau khi kết thúc hợp đồng tín dụng với ngân hàng

Trang 33

1.1.2 Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Khái niệm về phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại

Tín dụng bán lẻ là một cách nhìn mới về thị trường tài chính, qua đó, phần đông những người lao động nhỏ sẽ được tiếp cận với các sản phẩm dịch

vụ ngân hàng, tạo ra một thị trường tiềm năng và đa dạng

Phát triển tín dụng bán lẻ là quá trình ngân hàng tăng trưởng quy mô tín dụng bán lẻ, đa dạng hóa cơ cấu tín dụng bán lẻ phù hợp với nhu cầu thị trường, gia tăng mức sinh lời và nâng cao năng lực cạnh tranh đồng thời nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ tín dụng bán lẻ nhằm thỏa mãn nhu cầu và đáp ứng sự hài lòng của khách hàng ngày càng tốt hơn

Mục tiêu, định hướng và giải pháp phát triển tín dụng bán lẻ được triển khai trên cơ sở đổi mới trên tất cả các mặt từ quy mô, cơ cấu dư nợ đến chất lượng tín dụng bán lẻ; từ cơ chế quản lý điều hành đến công nghệ; từ cơ sở vật chất đến con người Trong đó, sự mở rộng quy mô tín dụng bán lẻ, thể hiện ở dư

nợ tín dụng, tăng trưởng dư nợ, doanh số cho vay, doanh số thu nợ, thu lãi; cơ cấu tín dụng thể hiện ở nhiều gói sản phẩm cho nhiều khách hàng cụ thể Sự biến đổi về chất lượng tín dụng, thể hiện ở tỷ lệ nợ các nhóm và nợ xấu

Mục tiêu, định hướng, giải pháp phát triển tín dụng bán lẻ phải gắn liền với chiến lược phát triển tổng thể của ngân hàng Như vậy, phát triển tín dụng bán lẻ là sự kết hợp hài hòa các biện pháp và nhiệm vụ của khách hàng nhằm đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của khách hàng

1.1.2.2 Vai trò phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại

Đối với nền kinh tế

Phát triển tín dụng bán lẻ có vai trò quan trọng trong quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế, điển hình là những vai trò đặc thù như sau:

- Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ là góp phần đẩy mạnh quá trình luân chuyển tiền tệ, sử dụng hiệu quả nguồn vốn, để các doanh nghiệp nhỏ và

Trang 34

vừa, hộ gia đình mở rộng sản xuất hàng hóa, dịch vụ, giải quyết khối lượng lớn công ăn việc làm, nâng cao vai trò của các thành phần kinh tế này trong nền kinh tế, đóng góp ngày càng tăng trong GDP

Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ sẽ góp phần kích cầu tiêu dùng với các sản phẩm cho vay mua nhà ở, ôtô, trang thiết bị phục vụ sinh hoạt gia đình

… phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng, các sản phẩm tín dụng tiêu dùng thông qua các loại thẻ nội địa và quốc tế, kích thích người dân tăng cường chi tiêu, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư gia tăng năng lực sản xuất, tăng trưởng kinh tế

Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ góp phần đẩy lùi tệ nạn tín dụng đen, cho vay nặng lãi ở nhiều nơi: kênh tín dụng bán lẻ được khai thông, giúp các khách hàng cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ, … dễ dàng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng với lãi suất hợp lý, hạn chế được nạn cho vay nặng lãi ở nhiều nơi

Đối với Ngân hàng

Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ là xu thế tất yếu, phù hợp với xu hướng chung của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới, đảm bảo cho các ngân hàng đa dạng hóa kinh doanh, mở rộng các phân khúc khách hàng tiềm năng, mở rộng thị trường, phân tán rủi ro, cung ứng dịch vụ chất lượng cao cho khách hàng

Trên giác độ tài chính, phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ là những đóng góp quan trọng vào việc tăng trưởng tín dụng và đem lại hiệu quả kinh doanh cao cho các ngân hàng Bởi tín dụng bán lẻ là một trong hai bộ phận trong nghiệp

vụ cho vay của NHTM bên cạnh cho vay bán buôn, tốc độ cho vay bán lẻ tăng nhanh sẽ góp phần đẩy nhanh dư nợ, đồng thời cho vay bán lẻ thường có lãi suất cao hơn, đồng nghĩa với tăng nguồn thu nhập cho ngân hàng

Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ thông qua việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ yêu cầu các ngân hàng đầu tư mạnh vào hạ tầng

Trang 35

công nghệ thông tin, cải tiến chất lượng sản phẩm, xây dựng mạng lưới kênh phân phối đa dạng, rộng khắp làm nền tảng để phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ, phục vụ một lượng khách hàng bán lẻ đông đảo

Đối với Khách hàng

Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ sẽ góp phần đáp ứng kịp thời hơn nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống của đối tượng khách hàng bán lẻ Kênh tín dụng bán lẻ được khai thông và mở rộng, giúp các khách hàng cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng với lãi suất hợp lý, hạn chế được nạn cho vay nặng lãi ở nhiều nơi

Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ giúp phát huy tối đa nội lực khách hàng cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa, khai thác hết tiềm năng

về lao động, đất đai, hàng hóa, máy móc, nhà xưởng … một cách hợp lý và có hiệu quả nhất

Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ góp phần nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần của người dân, tạo điều kiện nâng cao dân trí, hình thành những thói quen sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.1.2.3 Nội dung phản ánh phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại

Hiện nay, các NHTM chú trọng phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ cả

về chiều rộng và cả về chiều sâu, tức là phát triển về quy mô song song với việc phát triển về chất lượng hoạt động tín dụng bán lẻ

Phát triển quy mô hoạt động tín dụng bán lẻ

*Tăng trưởng dư nợ

Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nguồn thu nhập trong hiện tại

và tương lai của ngân hàng, là chỉ tiêu quan trọng và thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản

Trang 36

Dư nợ tín dụng phản ánh số tiền mà khách hàng còn đang nợ ngân hàng tại một thời điểm nhất định Do vậy, dư nợ tín dụng là một con số mang tính thời điểm còn doanh số cho vay là số liệu mang tính thời kỳ Tốc độ tăng trưởng

dư nợ phản ánh quy mô hoạt động cho vay của ngân hàng được mở rộng hay thu hẹp

Tăng trưởng dư nợ tín dụng bán lẻ là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh

sự mở rộng tín dụng bán lẻ Để có được sự tăng trưởng này bền vững thì tốc độ tăng trưởng dư nợ phải được duy trì ổn định qua các năm Đồng thời cần tăng mức đầu tư phù hợp kết hợp với mở rộng thêm số lượng khách hàng

*Tăng trưởng doanh số cho vay

Doanh số cho vay là tổng số tiền mà ngân hàng đã cho vay trong kỳ, không kể món vay đó đã thu hồi về hay chưa Chỉ tiêu này phản ánh khái quát nhất về hoạt động tín dụng của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định thường

là tháng, quý hay năm Ngoài ra nó cũng phản ánh lượng vốn mà ngân hàng

đã giải ngân Chỉ tiêu này tăng hay giảm cho thấy xu hướng mở rộng hay thu hẹp hoạt động tín dụng của ngân hàng

*Tăng trưởng về số lượng khách hàng

Chỉ tiêu này phản ánh số lượng và sự tăng trưởng của khách hàng tại ngân hàng qua các thời kỳ, cho thấy khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng trong thời gian qua Số lượng khách hàng của một ngân hàng ngày càng gia tăng thể hiện các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng đang đáp ứng rất tốt nhu cầu của khách hàng và khiến khách hàng hài lòng Điều này cũng cho thấy ngân hàng này đang hoạt động kinh doanh rất tốt và đang từng bước mở rộng thị phần tín dụng bán lẻ của mình

Phát triển chất lượng hoạt động tín dụng bán lẻ

*Tăng hệ số thu nợ bán lẻ

Hệ số thu nợ bán lẻ đánh giá hiệu quả phát triển hoạt động tín dụng bán

lẻ trong việc thu nợ của ngân hàng Nó phản ánh trong một thời kỳ nào đó, với

Trang 37

doanh số cho vay nhất định thì ngân hàng sẽ thu về được bao nhiêu đồng vốn

Hệ số thu nợ bán lẻ phản ánh số tiền mà ngân hàng cho vay đã thu lại được Như chúng ta đã đề cập, lợi nhuận do hoạt động tín dụng trong đó chủ yếu là cho vay Vì vậy lợi nhuận tăng hàng năm, điều đó chứng tỏ chất lượng cho vay

đã được nâng lên hoặc NHTM đã mở rộng cho vay, do đó tỷ lệ này càng cao càng tốt

*Giảm tỷ lệ dư nợ tín dụng bán lẻ quá hạn

Tỷ lệ dư nợ tín dụng bán lẻ quá hạn cho thấy tình hình nợ tín dụng bán

lẻ quá hạn tại ngân hàng, đồng thời phản ánh khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng trong khâu cho vay, đôn đốc thu hồi nợ của ngân hàng đối với các khoản vay

Tỷ lệ này được dùng để đánh giá chất lượng tín dụng cũng như rủi ro tín dụng tại ngân hàng Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càng kém và ngược lại Chính vì vậy, giảm tỷ lệ dư nợ tín dụng bán

lẻ là một trong những nội dung của hoạt động phát triển tín dụng bán lẻ của các NHTM

*Giảm tỷ lệ nợ xấu tín dụng bán lẻ

Bên cạnh tỷ lệ nợ quá hạn thì tỷ lệ nợ xấu cũng là một nội dung quan trọng để phân tích thực chất tình hình chất lượng tín dụng bán lẻ tại ngân hàng, Tổng nợ xấu của ngân hàng bao gồm nợ quá hạn, nợ khoanh, nợ quá hạn chuyển

về nợ trong hạn, chính vì vậy chỉ tiêu này cho thấy thực chất tình hình chất lượng tín dụng tại ngân hàng, đồng thời phản ánh khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng trong khâu cho vay, đôn đốc thu hồi nợ của ngân hàng đối với các khoản vay Phát triển tín dụng bán lẻ phải đảm bảo đi đôi với tăng chất lượng tín dụng bán lẻ Chất lượng tín dụng một phần được thể hiện ở mức độ

an toàn vốn tín dụng thông qua chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu - đánh giá khả năng thu hồi

nợ Tỷ lệ nợ xấu tín dụng bán lẻ càng cao thể hiện chất lượng tín dụng bán lẻ của ngân hàng càng kém và ngược lại

Trang 38

Khi phát triển quy mô của tín dụng bán lẻ thì phải tính đến chất lượng và hiệu quả tín dụng bán lẻ Nếu nợ quá hạn hoặc nợ xấu tăng thì sự phát triển đó

đã không đạt được kết quả như mong muốn, dẫn đến làm thiệt hại quy mô vốn chủ sở hữu, giảm uy tín của ngân hàng Do vậy, các ngân hàng luôn phải xác định giới hạn phát triển quy mô tín dụng bán lẻ của riêng mình Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ phải gắn liền với hiệu quả tín dụng

*Tăng tỷ trọng thu nhập từ tín dụng bán lẻ

Đây là một trong những nội dung quan trọng để đánh giá hiệu quả tín dụng bán lẻ Tỷ trọng càng cao thì thu nhập từ tín dụng bán lẻ đóng góp vào thu nhập của ngân hàng càng lớn và thể hiện vai trò của tín dụng bán lẻ đối với ngân hàng Điều đó cũng cho thấy rằng, ngay cả khi thu nhập từ tín dụng

*Tăng mức độ hài lòng của khách hàng

Khách hàng hài lòng, thỏa mãn với các sản phẩm tín dụng bán lẻ cho thấy chất lượng các sản phẩm, dịch vụ và tiện ích của ngân hàng ngày cao Tiếng lành đồn xa, điều đó còn làm gia tăng số lượng khách hàng đến với ngân hàng Đáp ứng đúng nhu cầu khách hàng chính là yếu tố quyết định cho sự ra đời hay kết thúc của một sản phẩm tín dụng Việc đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng sẽ giúp ngân hàng hiểu rõ hơn về thói quen, hành vi và cảm nhận của khách hàng, từ đó ngày càng hoàn thiện hơn các sản phẩm tín dụng của ngân hàng

1.1.2.4 Các hoạt động phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại

Đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ

Để cung cấp nhiều nhất những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, đáp ứng tốt nhất nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, và để phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ, các NHTM cần chủ động đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ Với mỗi đối tượng khách hàng khác nhau, họ có những nhu cầu khác nhau về dịch vụ ngân hàng, về dịch vụ tín dụng, ngân hàng cần thiết kế những

Trang 39

sản phẩm, dịch vụ phù hợp với đặc điểm về nghề nghiệp, thu nhập và đặc thù riêng của từng đối tượng Việc đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ cũng nhằm làm gia tăng lượng khách hàng đến giao dịch với ngân hàng Sản phẩm, dịch

vụ tín dụng bán lẻ càng đa dạng, nhu cầu của khách hàng được đáp ứng càng nhiều, thì khách hàng sử dụng dịch vụ ngày càng tăng Muốn đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, ngân hàng cần tổ chức những đợt khảo sát nhu cầu, điều tra và nghiên cứu thị trường thật cẩn thận và kỹ lưỡng, kết quả khảo sát và nghiên cứu thị trường là cơ sở khách quan nhất, giúp ngân hàng xác định được xu hướng

và nhu cầu của khách hàng đối với các sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ, từ đó

đề ra những chính sách sản phẩm, dịch vụ phù hợp

Mở rộng kênh phân phối

Các đại lý, phòng giao dịch và chi nhánh của ngân hàng là những kênh phân phối sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ chủ yếu của các NHTM hiện nay Khi có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ, người dân tìm đến những địa điểm này để cập nhật thông tin và đăng kí sử dụng dịch vụ Ngoài

ra, phía ngân hàng cũng chủ động tiếp cận với những khách hàng tiềm năng để giới thiệu về sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ mà ngân hàng đang cung cấp

Để tăng tính chủ động của ngân hàng, việc mở rộng kênh phân phối sẽ phải được các ngân hàng quan tâm, chú trọng rất nhiều Cụ thể, ngân hàng gửi thông tin về sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ đến với khách hàng thông qua những kênh như các phương tiện thông tin đại chúng và các đơn vị mà ngân hàng liên kết kinh doanh Đây là những kênh phân phối hiệu quả, nhằm đưa thông tin đến với càng nhiều khách hàng càng tốt Đây là những cây cầu nối ngân hàng và khách hàng, giúp làm khăng khít thêm quan hệ giữa hai bên và là kênh truyền tải thông tin rất tốt

Công tác quảng bá, tiếp thị sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ

Nhiều NHTM hiện nay đã chú trọng hơn đến công tác quảng bá, tiếp thị sản phẩm, dịch vụ, trong đó có sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ Hoạt động

Trang 40

này có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, thông qua việc trang trí trụ

sở làm việc, thiết kế đồng phục nhân viên, thiết kế nhận diện thương hiệu nhằm quảng bá về hình ảnh của ngân hàng; thông qua việc tài trợ cho các cá nhân, các tổ chức, các chương trình từ thiện, văn hóa, thể thao góp phần gia tăng tầm ảnh hưởng của ngân hàng; thông qua việc phát tờ rơi, treo băng rôn, tổ chức chương trình khuyến mại, tri ân nhằm đưa thông tin về sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ đến với khách hàng một cách nhanh nhất Việc quảng bá, tiếp thị sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ là hoạt động giúp ngân hàng cung cấp thông tin tốt nhất, thu hút được nhiều khách hàng và góp phần đẩy mạnh, cũng như phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ của NHTM

Thiết kế chính sách lãi suất phù hợp

Đối với các hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động tín dụng bán lẻ nói riêng, chính sách lãi suất là điểm thu hút sự quan tâm của khách hàng khi đến giao dịch tại ngân hàng Mặc dù người dân có nhu cầu khá cao về các sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ, tuy nhiên nếu chính sách lãi suất không phù hợp, không ưu đãi thì người dân sẽ giảm nhu cầu và dẫn đến có thể không sử dụng sản phẩm, dịch vụ đó nữa Mặt khác, nếu chính sách lãi suất của một ngân hàng trở nên quá khắt khe đối với khách hàng để nhằm thu lợi nhiều hơn cho ngân hàng thì khách hàng cũng dần dần ít sử dụng và có thể ngưng sử dụng sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ của ngân hàng đó Chính vì vậy, để tạo được sức hút đối với các khách hàng cho sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ, các NHTM cần dày công nghiên cứu về chính sách lãi suất để tạo ra cho sản phẩm, dịch vụ bán

lẻ những ưu thế vượt trội, thu hút khách hàng sử dụng và góp phần gia tăng lợi nhuận trong mảng tín dụng bán lẻ

Tăng cường phòng ngừa rủi ro cho hoạt động tín dụng bán lẻ

Hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại khá nhiều rủi ro cho ngân hàng Tuy là hoạt động đem lại nguồn lợi nhuận lớn cho các NHTM nhưng hoạt động tín dụng hàm chứa hàng loạt những rủi ro tiềm ẩn có thể gây tổn thất cho ngân

Ngày đăng: 30/03/2021, 13:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w