luận văn, tiến sĩ, thạc sĩ, báo cáo, khóa luận, đề tài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ
PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ MINH HẰNG
THÀNH PHẦN BỌ TRĨ HẠI HOA, ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI,
SINH HỌC CỦA MỘT SỐ LOÀI BỌ TRĨ CHỦ YẾU TẠI HÀ
Trang 2
Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của cơ quan, các thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến:
- Lãnh đạo Cục Bảo Vệ Thực Vật, Chi cục kiểm dịch thực vật vùng V
- Phòng đào tạo sau đại học Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam, Bộ môn Côn trùng trường Đại học nông nghiệp I Hà Nội
Tôi xin đặc biệt cảm ơn GSTS Hà Quang Hùng người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tôi về tri thức khoa học trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Hà Thanh Hương và GS.TS Laurence A.Muond (CSJRO-EntOmlogy-Australia) đã giúp tôi giám định thành phần loài bọ trĩ trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn sự động viên, khích lệ, giúp đỡ của các thầy
cô, bạn bè đồng nghiệp
Tôi cũng xin được cảm ơn những người thân trong gia đình, đã giành nhiều tình cảm và điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2007
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Hằng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 4Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.1 Khái quát lịch sử xuất hiện của hoa cúc và hoa hồng trên thế
giới
4
Trang 51.1.5.3 Đặc điểm hình thái của bọ trĩ trưởng thành 14
1.2 Một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về bọ trĩ 18
1.2.1.3 Những nghiên cứu về đặc tính sinh vật học, sinh thái của bọ trĩ
22
1.2.2.2 Những nghiên cứu về đặc tính sinh vật học, sinh thái của bọ trĩ
27
Chương 2 - ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, VẬT LIỆU,
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp điều tra xác định thành phần sâu hại hoa cúc
và hoa hồng
32
2.3.3 Nghiên cứu đặc điểm hình thái của một số loài bọ trĩ hại hoa cúc và hoa hồng chủ yếu
34
Trang 62.3.4.3 Phương pháp điều tra diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây trồng tại địa điểm nghiên cứu
Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần sâu hại hoa cúc và hoa hồng xuất nhập khẩu tại
Hà Nội (năm 2007)
40
3.2 Thành phần bọ trĩ trên hoa cúc và hoa hồng xuất nhập khẩu
tại Hà Nội (năm 2007)
48
3.2.1 Thành phần loài bọ trĩ trên các giống hoa cúc xuất nhập khẩu
tại Hà Nội (năm 2007)
48
3.2.2 Thành phần loài bọ trĩ trên các giống hoa hồng xuất nhập
khẩu tại Hà Nội (năm 2007)
50
3.3 Đặc điểm hình thái của một số loài bọ trĩ chủ yếu hại hoa cúc
và hoa hồng xuất nhập khẩu ở Hà Nội
52
3.3.1 Loài Thrips palmi Karny, họ Thripidae, bộ Thysanoptera 52
3.3.2 Loài Thrips hawaiiensis (Morgan), họ Thripidae, bộ
Thysanoptera
54
Trang 73.3.3 Loài Frankliniella intonsa (Trybom), họ Thripidae, bộ
Thysanoptera
56
3.3.4 Loài Scirtothrips dorsalis Hood, họ Thripidae, bộ Thysanoptera 58
3.4 Đặc điểm sinh học của loài bọ trĩ hại chính trên hoa cúc và hoa hồng xuất nhập khẩu ở Hà Nội
60
3.4.1 Biến động thành phần loài bọ trĩ trên hoa cúc Đài Loan ở Hà Nội
60
3.4.2 Đặc điểm sinh học của loài bọ trĩ Frankliniella intonsa (Trybom)
hại chính ở Từ Liêm, Hà Nội
61
3.4.2.1 Tập tính của bọ trĩ Frankliniella intonsa (Trybom) 61
3.4.2.2 Thời gian phát dục của loài bọ trĩ Frankliniella intonsa
(Trybom) trong phòng thí nghiệm
62
3.4.2.3 Diễn biến số lượng bọ trĩ Frankliniella intonsa (Trybom) trên
các giống hoa cúc theo giai đoạn sinh trưởng tại Từ Liêm, Hà Nội
67
3.4.2.4 Diễn biến mật độ bọ trĩ Frankliniella intonsa (trybom) trên
các giống hoa hồng tại Từ Liêm, Hà Nội (năm 2007)
Trang 83.3 Thành phần bọ trĩ và mức độ hại của chúng trên 3 giống hoa
cúc tại Hà Nội (năm 2007)
49
3.4 Thành phần bọ trĩ và mức độ hại của chúng trên 5 giống hoa
hồng tại Hà Nội năm (2007)
50
3.5 Biến động thành phần loài bọ trĩ trên hoa cúc vàng Đài Loan ở
Từ Liêm, Hà Nội (năm 2007)
60
3.6 Thời gian phát dục của bọ trĩ F.intonsa (Trybom) nuôi trên
cánh hoa cúc vàng Đài Loan trong phòng thí nghiệm
64
3.7 Thời gian phát dục của bọ trĩ F intosa (Trybom) nuôi trên
cánh hoa hồng nhung Pháp trong phòng thí nghiệm
66
3.8 Diễn biến số lượng bọ trĩ F intonsa (Trybom) trên các giống
hoa cúc theo giai đoạn sinh trưởng tại Từ Liêm, Hà Nội (năm
2007)
67
3.9 Diễn biến mật độ bọ trĩ Frankliniella (Trybom) trên các giống
hoa hồng tại Từ Liêm, Hà Nội (năm 2007)
69
3.10 Hiệu lực (%) của thuốc bảo vệ thực vật đối với bọ trĩ non và
trưởng thành bọ trĩ F intonsa trên hoa cúc trong phòng thí
71
Trang 9nghiệm
3.11 Hiệu lực (%) của thuốc bảo vệ thực vật đối với bọ trĩ non và
trưởng thành bọ trĩ F intonsa trên hoa hồng trong phòng thí
nghiệm
73
Trang 113.14 Triệu chứng gõy hại của bọ trĩ trờn hoa hồng phấn 51 3.15 Đặc điểm hỡnh thỏi của Thrips palmi Karny 53 3.16 Đặc điểm hỡnh thỏi của Thrips hawaiiensis (Morgan) 55 3.17 Đặc điểm hỡnh thỏi của Frankliniella intonsa (Trybom) 57 3.18 Đặc điểm hỡnh thỏi của Scirtothrips dorsalis Hood 59 3.19 Biến động thành phần loài bọ trĩ trên hoa cúc vàng Đài
Loan ở Từ Liêm, Hà Nội (năm 2007)
3.22 Biến động mật độ F intonsa (Trybom) trên các giống hoa
hồng tại Từ Liêm, Hà Nội (năm 2007)
70 3.23 Hiệu lực của 4 loại thuốc đối với F intonsa trờn hoa cỳc 72 3.24 Hiệu lực của 4 loại thuốc đối với F intonsa trên hoa hồng 73
Trang 12MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Hoa là món ăn tinh thần, là nguồn cảm xúc không thể thiếu đối với đời sống con người Ở mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới hoa còn mang bản sắc riêng
Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội, nhu cầu về hoa của thế giới nói chung, của nước ta nói riêng đang tăng nhanh một cách rõ rệt Hoa trở thành sản phẩm có giá trị kinh tế cao, đạt giá trị sản lượng hoa lên tới hàng chục tỷ đô la Chẳng hạn ở các nước Hà Lan, Israel, Mỹ, Pháp, Đức và một số nước châu Á khác, đặc biệt Trung Quốc xuất khẩu hoa
đã mang lại nguồn lợi to lớn cho nền kinh tế Ngành công nghiệp hoa đang là một trong những ưu tiên hàng đầu của Trung Quốc, với mục tiêu tăng kim ngạch xuất khẩu của ngành này gấp bốn lần lên 200 triệu USD (tương đương hơn một tỷ bông) mỗi năm, trong thời gian từ nay đến 2010 [2]
Tại Việt Nam bên cạnh những vùng trồng hoa đã có từ lâu đời như: Ngọc Hà, Quảng Bá, Đà Lạt, Tây Tựu… Những năm gần đây, nghề trồng hoa phát triển khá mạnh ở nhiều địa phương, chủng loại hoa cũng ngày càng phong phú, theo số liệu điều tra của Viện Di Truyền Nông Nghiệp, tại một số địa phương, hoa là cây trồng cho thu nhập khá cao Ở Thái Bình có doanh nghiệp trồng hoa thu lãi 160 triệu đồng/ha/năm, còn ở Lâm Đồng cho mức lãi 250-300 triệu đồng/ha/năm…Hiện nay, cả nước có trên 5.700 ha hoa, tập trung ở Hà Nội, Lâm Đồng, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc…[13]
Hoa của Việt Nam cũng đã được xuất ngoại, riêng lượng hoa xuất khẩu của một công ty ở Đà Lạt đã đem lại doanh thu trên 4 triệu đô la Mỹ/năm Vùng trồng hoa Mê Linh (Vĩnh Phúc) xuất khẩu hoa sang Trung Quốc…[13]
Trang 13Tuy nhiên, cho tới nay vấn đề quan tâm đối với ngành sản xuất hoa, đặc biệt hoa xuất khẩu không chỉ cần đảm bảo mục tiêu về diện tích trồng hoa, mà còn phải nâng cao chất lượng và hiệu quả bền vững Việt Nam là nước nhiệt đới có điều kiện tự nhiên thuận lợi, song cũng phù hợp cho sự phát triển sâu hại trên cây trồng nông nghiệp nói chung, cây hoa nói riêng Những năm gần đây, bọ trĩ đã trở thành loài sâu hại nguy hiểm trên nhiều loại cây trồng, đặc biệt các loại hoa, bởi lẽ tuy cơ thể nhỏ bé nhưng bọ trĩ có khả năng phát tán, dũa, hút dịch của lá, hoa, nụ và quả non gây thành những vụ dịch hại làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, phẩm chất cây trồng, gián tiếp là véc tơ truyền bệnh virus, vi khuẩn cho cây Để phòng chống chúng, người nông dân mới chỉ sử dụng biện pháp hoá học một cách liên tục, thiếu hiểu biết, điều đó dẫn tới hiện tượng bọ trĩ quen và kháng thuốc hoá học, đồng thời thuốc tiêu diệt các loài thiên địch của bọ trĩ, càng tạo điều kiện cho sự bùng phát số lượng của một số loài bọ trĩ chủ yếu Từ trước tới nay ở nước ta chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính cơ bản, hệ thống bọ trĩ hại hoa Để góp phần hạn chế tác hại của bọ trĩ đối với cây hoa, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài
“Thành phần bọ trĩ hại hoa, đặc điểm hình thái, sinh học của một số loài
bọ trĩ chủ yếu tại Hà Nội năm 2007”
2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở điều tra, xác định thành phần bọ trĩ hại hoa và nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của một số loài bọ trĩ chủ yếu, bước đầu đề xuất biện pháp phòng trừ góp phần quản lý kiểm dịch thực vật một cách hợp lý
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra thành phần côn trùng và nhện hại trên hoa xuất nhập khẩu ở
Hà Nội
- Điều tra thành phần bọ trĩ trên hoa xuất nhập khẩu ở Hà Nội
Trang 14- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của một số loài bọ trĩ chủ yếu hại hoa xuất nhập khẩu
- Tìm hiểu hiệu lực của một số loại thuốc không ảnh hưởng đến môi trường
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả điều tra nghiên cứu góp phần bổ sung thành phần sâu hại và bọ trĩ hại hoa xuất nhập khẩu (hoa cúc và hoa hồng)
Đồng thời bổ sung những dẫn liệu về đặc điểm hình thái, sinh học của một số loài bọ trĩ chính hại hoa xuất nhập khẩu (hoa cúc và hoa hồng) Đây là những dẫn liệu khoa học giúp người sản xuất nhận biết bọ trĩ hại hoa trên đồng ruộng và sau thu hoạch
Trên cơ sở kết quả điều tra nghiên cứu, bước đầu đề xuất biện pháp phòng trừ bọ trĩ một cách hợp lý, góp phần quản lý kiểm dịch thực vật sản phẩm hoa trong xuất nhập khẩu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu: một số loài bọ trĩ hại hoa chủ yếu
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu về bọ trĩ hại trên hoa cúc và hoa hồng xuất nhập khẩu tại Từ Liêm và Đông Anh, Hà Nội
Trang 15
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu
1.1.1 Khái quát lịch sử xuất hiện của hoa cúc và hoa hồng trên thế giới
Hoa là món ăn tinh thần của nhiều người dân trên thế giới, hoa đem lại hương vị tinh khiết của thiên nhiên đến cho con người, hoa mang hương sắc
và làm đẹp cho trái đất, hoa trao đổi tình cảm, đặc biệt là hoa hồng, hoa cúc, đồng thời chúng là những loài hoa có tiềm năng xuất khẩu cao đối với những nước trồng loại hoa này trên thế giới
Hoa cúc thuộc họ Asteraceae, được trồng tại Trung Quốc vào thế kỷ thứ
15 trước công nguyên (B.C.) Sau đó hoa cúc đã được trồng ở Nhật Bảo vào thế kỷ thứ 8 sau công nguyên (A.D.) Cho đến thế kỷ thứ 17, hoa cúc được mang đến trồng ở châu Âu
Hình 1.1 Hoa cúc
(Người chụp: Nguyễn Thị Minh Hằng 2007)
Những hoá thạch đầu tiên về hoa hồng (họ Rosaceae) được phát hiện vào khoảng 35 triệu năm trước đây Vào 3000 năm trước công nguyên (B.C.), hoa hồng xuất hiện lần đầu tiên tại Iraq Cho đến thế kỷ thứ 16, hoa hồng mới được đưa từ châu Âu sang trồng ở Bắc Mỹ (R Ambrose and R Ekstrom,2004)
Trang 16Hình 1.2 Hoa hồng
(Người chụp: Nguyễn Thị Minh Hằng 2007)
1.1.2 Khái quát tình hình trồng hoa cúc và hoa hồng ở Việt Nam
nguồn gốc từ trung quốc và các nước Châu Âu
Hoa cúc được trồng làm cảnh tại Đà Lạt từ lâu nhưng thực sự trở thành sản phẩm kinh tế từ năm 1995 Cho đến nay có khoảng trên 70 giống hoa cúc được trồng với mục đích cắt cành tại Đà Lạt Giống hoa cúc hiện nay chủ yếu xuất phát từ Hà Lan và du nhập vào Đà lạt với nhiều hình thức khác nhau Hiện nay không thể xác định tên thương phẩm của từng chủng loại cúc được trồng tại Đà lạt Các giống cúc trồng tại Đà Lạt có thể chia theo các nhóm sau:
§ Nhóm đại đoá:
• Hoa đơn: Màu vàng, trắng, đỏ, tím đỏ Hoa lớn 6-7cm, cánh kép
• Hoa chùm: Màu cam, vàng nghệ, vàng chanh, trắng Hoa 4-5
Trang 17• Cúc Cánh mai: Màu tím, hồng, đỏ, vàng nhạt, vàng đậm, vàng cháy, trắng, cam, cam đậm, nâu nhạt Hoa 1-2 lớp cánh Nhụy dạng hoa marguerite Hoa 2,5-3cm
• Cúc Cánh qùy: Màu tím, vàng Hoa 1 lớp cánh mỏng Hoa 4-5cm
• Cúc Tiger: Màu vàng-đỏ, Tím-trắng Hoa 1lớp cánh, dạng muỗng Hoa 2-2,5 cm
Hoa hồng có nguồn gốc từ Trung quốc, được trồng ở Đà lạt từ khá lâu, năm 1958 đã nhập các giống trồng trọt mới và phổ biến rộng rãi với mục đích khai thác hoa cắt cành Những vùng trồng nhiều hoa hồng tại Đà Lạt là Nguyên Tử Lực-phường 8, Thánh Mẫu-phường 7, Thái Phiên-phường 12, Vạn Thành-phường 5, Chi Lăng-phường 9…và rải rác ở nhiều khu vực khác Giống hoa hồng được trồng trong những năm 1960:
§ Màu đỏ: Nume’ro-un, Schweitzer, Rouge Meillend, Michele-Meillend, Hélène Valabrugne, Charlers Mallerin Brigiite Bardot, Brunner
§ Màu hồng: Caroline testout, Betty Uprichard
§ Màu vàng: Quebec, Mme A.Meilland, Hawaii, Diamont
Trang 18§ Màu trắng: Reine Des Neiges, Sterling Silver
§ Hai màu: J.B Meilland, Mme Dieytoné, Président Herbert Hoover
§ Giống làm rào trang trí: Premevère, Gloire de Dijon, Climbing, Caroline Testont, Etoile de Hollande…
Giống hoa hồng được nhập nội trong những năm 1990:
§ Màu đỏ: Grand Galla, Amadeus, Red Velvet
§ Màu vàng: Pailine, Alsmeer Gold
§ Màu trắng: Supreme de Meillend, Vivinne
§ Các màu khác : Sheer Bilss, Jacaranda, Troika…
Hiện nay kỹ thuật canh tác hoa hồng được nâng lên khá cao, hoa hồng
đã được tổ chức canh tác trong nhà có mái che nên chất lượng hoa rất tốt và đáp ứng được yêu cầu của thị trường tiêu dùng Hàng năm Đà lạt cung cấp cho thị trường tiêu dùng khoảng 2 triệu cành hoa hồng [23]
1.1.3 Khái quát tình hình xuất nhập khẩu hoa tại Hà Nội
Trồng hoa, cây cảnh vốn đã có từ lâu đời, trở thành một nghề truyền thống ở Hà Nội, với những làng hoa nổi tiếng như: Nghi Tàm, Quảng Bá, Ngọc Hà, Nhật Tân…Diện tích trồng hoa ở những làng hoa nổi tiếng đã bị thu hẹp lại khá nhiều do làn sóng đô thị hoá
Thành phố Hà Nội đã có chủ trương phát triển trồng hoa, cây cảnh theo hướng hình thành một số vùng sản xuất tập trung, sản xuất hàng với qui mô lớn, chất lượng cao Diện tích trồng hoa của Hà Nội hiện nay là hơn 1.200 ha, tăng 2,5 lần so với năm 1997 với những làng hoa mới như: thôn Phú Thượng, Tây Tựu thuộc huyện Từ Liêm, Huyện Đông Anh… Riêng ở huyện Từ Liêm
có trên 500 ha chiếm 45% tổng diện tích trồng hoa của Hà Nội, quận Tây Hồ
có gần 400 ha, huyện Thanh Trì có gần 100 ha… [3] Ngoài các loại hoa truyền thống người Hà Nội đã đưa vào trồng nhiều những giống hoa mới cúc
Trang 19Nhật, cúc vàng Đài Loan, hoa hồng nhung Pháp, hoa phong lan, hoa cẩm chướng Pháp, hoa cẩm chướng Hà Lan, …
Hiện nay nhu cầu về hoa tươi của Hà Nội là khá lớn ước khoảng 1 triệu cành mỗi ngày, ngoài ra cũng cần phát triển thị trường xuất khẩu Năm 2003 giá trị xuất khẩu toàn cầu là 11,3 tỉ USD Việt Nam mới chỉ xuất khẩu được 5,2 triệu USD trong năm 2003 (số liệu của ITC/WTO) [11] Xuất khẩu hoa đang tăng mạnh với tốc độ 38% trong một năm kể từ 1993 Một xu hướng nữa
là những năm gần đây, hoa nhập khẩu từ các nước: Hà Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc… ngày càng chiếm ưu thế trên thị trường Vì vậy vấn đề cần quan tâm
là chất lượng và hiệu quả bền vững của nghề trồng hoa
1.1.4 Thành phần loài côn trùng hại trên hoa xuất nhập khẩu
1.1.4.1 Thành phần loài côn trùng chính hại hoa trên thế giới
Trên hoa cúc, các loài côn trùng gây hại chủ yếu cũng là rệp muội, sâu đục thân, giòi đục lá, bọ xít, Các loài côn trùng và nhện hại chủ yếu trên hoa
hồng là: rệp muội Macrosiphum rosae (Bộ Hemiptera: họ Aphididae); nhện
đỏ Tetranychus urtica (Bộ Acari: Họ Tetranychidae); bọ trĩ (Bộ Thysanoptera); các loài ngài (Bộ Lepidoptera) như Euproctis chrysorrhoea,
Phalera bucephala, Hemithea aestivaria, Chloroclysta truncata, Amphipyra
Coccoidea); ong cắt lá Megachile spp (Bộ Hymenoptera : Họ
Megachilidae)[34]
- Côn trùng hại chính trên hoa cúc là [34]:
Bộ Lepidoptera: Autographa gamma, Spodoptera littoralis (họ Noctuidae), Homona magnanima (họ Tortricidae), Omiodes indicata (họ
Crambidae)
Bộ Thysanoptera: Frankliniella intonsa, Thrips nigropilosus (họ
Thripidae)
Trang 20- Côn trùng hại chính trên hoa hồng là:
Bộ Coleoptera: Adoretus sinicus, Adoretus versutus, Popillia japonica (họ Scarabaeidae), Pantomorus cervinus (họ Curculionidae)
Bộ Hemiptera: Aleurocanthus spiniferus (họ Aleyrodidae), Aonidiella
Margarodidae), Macrosiphum euphorbiae (họ Aphididae),
Pseudococcidae)
Bộ Lepidoptera: Adoxophyes orana, Cacoecimorpha pronubana,
Bộ Thysanoptera: Frankliniella occidentalis, Hercinothrips femoralis
(họ Thripidae),
Tuy nhiên bộ cánh tơ (Thysanoptera), đặc biệt là bọ trĩ hại trên hoa vẫn
là vấn đề cần nghiên cứu
1.1.4.2 Tình hình côn trùng chính hại hoa ở Hà Nội
Những nghiên cứu về thành phần loài côn trùng gây hại chính trên hoa vùng Hà Nội và phụ cận phải kể đến Chi cục Bảo vệ thực vật Hà Nội (2005) [5], kết quả thu được 16 loài côn trùng và nhện hại trên 4 giống hoa nhập nội gieo trồng theo thời vụ ở ngoài đồng ruộng tại Hà Nội, trong đó có 14 loài côn trùng và nhện hại trên hoa hồng Hà Lan và hoa cúc Đài Loan nhập nội cả
vụ xuân hè và vụ thu đông Cụ thể là:
- Côn trùng hại hoa cúc Đà Lạt gồm 10 loài (sâu xanh Helicoverpa
Trang 21ypsilon Rott., sâu đo xanh Plusia sp., bọ xít xanh Nezara viridula L., rệp đen Macrosiphoniella sanborni Gillette, rệp muội Aphis craccivora Koch, rệp xanh Coloradoa rufomaculata Wilson, bọ trĩ Thrips tabaci Lindermar, bọ trĩ Frankliniella sp.)
- Côn trùng và nhện hại hoa hồng Hà Lan 6 loài (nhện đỏ Tetranychus
khoang Spodoptera litura F., rệp vẩy Aulacaspis sp., rệp sáp
Theo Nguyễn Đồng Tuấn (2007) [21] có 19 loài sâu hại thu thập trên một số cây hoa cắt vùng Hà Nội và phụ cận (năm 2006-2007) Trong đó, tác giả đã thu thập được 11 loài côn trùng hại thuộc 5 bộ trên cây hoa cúc; 12 loài côn trùng (thuộc 5 bộ) và nhện nhỏ hại trên cây hoa hồng Đặc biệt Nguyễn
Đồng Tuấn mới chỉ phát hiện được 1 loài bọ trĩ trên cây hoa cúc (Thrips
Ngoài ra, theo Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (2003) [8] ghi nhận riêng vùng Hà Nội và các tỉnh lân cận đã có 9 loài sâu phát sinh gây hại đối
với cây hoa cúc, một số loài điển hình như rệp muội (Macrosiphonilla
(Frankliniella sp.), bọ hung ăn lá (Pratactia sp.), bọ cánh cam (Anomala
(Nezara torquata F.) Cũng theo hai tác giả này, sâu gây hại chủ yếu trên cây
hoa hồng là rệp (gồm rệp bông, rệp nhảy và rệp ống dài), bọ hung và một số loài nhện (nhện hai chấm, nhện quả táo, nhện Sơn tra, nhện lá Chu sa, nhện
đỏ, nhện trắng)
Trang 221.1.5 Vị trí phân loại của bọ trĩ và cấu tạo chung của chúng
1.1.5.1 Vị trí phân loại của bọ trĩ
Có hơn 6.000 loài bọ trĩ đã được biết trên thế giới [10] Nhiều khía cạnh
về phân loại hệ thống của bộ cánh tơ Thysanoptera vẫn còn tranh luận giữa các nhà côn trùng
Bọ trĩ thuộc bộ Thysanoptera, lớp côn trùng (insecta), ngành chân khớp (Arthropoda) (CABI, 2006) [34]
Theo Hà Quang Hùng và cộng sự (2005) [10], những năm trước đây vị trí phân loại của bọ trĩ dựa vào hệ thống của Priesner (1968) được trình bày ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Phân loại bộ cánh tơ Thysanoptera dựa theo hệ thống của
Priesner
Erotidothripinae Melanthripinae Mymarothripinae Aeolothripidae
Aeolothripinae
Râu đầu có 9 đốt, cánh rộng có khá nhiều vân ngang, con đực không có vùng tuyến ở cuối bụng
vân ngang Heterothripidae
Con đực thường có vùng tuyến ở dưới bụng
Trang 23Cho đến nay, vị trí phân loại của bộ cánh tơ trên thế giới đều dựa theo tài liệu của Mould R.A (2007) [56] Ông cho rằng Bộ cánh tơ (Thysanoptera)
có 2 bộ phụ là Tubulifera và Terebrantia Số lượng loài và giống bọ trĩ trên thế giới được thể hiện ở bảng 1.2
Bảng 1.2 Vị trí phân loại của bộ cánh tơ (Thysanoptera) trên thế giới
giống
Số lượng loài
(Nguồn tài liệu: Mould R, 2004 [56])
Các loài bọ trĩ gây hại cho cây trồng nói chung, đặc biệt là hoa xuất nhập khẩu chủ yếu là họ Thripidae
1.1.5.2 Cấu tạo chung của bọ trĩ
- Cấu tạo chung của trứng, bọ trĩ non các tuổi, tiền nhộng và nhộng giả của bọ trĩ (hình 1.1)
- Trứng thường cắm một phần vào biểu mô tế bào
Trang 24- Bọ trĩ non tuổi 1 và 2 trông giống bọ trĩ ttrưởng thành nhưng chưa có cánh và bộ phận sinh dục
- Tiền nhộng có mầm cánh kéo dài đến đốt bụng thứ 3
- Nhộng giả có mầm cánh kéo dài đến đốt bụng thứ 8, râu đầu quặp ra phía sau theo chiều dọc cơ thể
Hình 1.1 Cấu tạo chung từ trứng đến nhộng giả của bọ trĩ
(Nguồn tài liệu: Mould R, 2004 [56])
Trang 25- Cấu tạo chung của bọ trĩ trưởng thành (hình 1.2)
Hình 1.2 Cấu tạo chung của bọ trĩ trưởng thành họ Thripidae
(Nguồn tài liệu: Mould R, 2004 [56])
1.1.5.3 Đặc điểm hình thái của bọ trĩ trưởng thành [10]
Bọ trĩ là côn trùng có cánh với kích thước cơ thể nhỏ nhất, dao động từ 0,5-14 mm Phần lớn loài bọ trĩ có kích thước cơ thể lớn sống ở vùng nhiệt đới, những loài bọ trĩ phổ biến ở vùng ôn đới thường không dài quá 1-2 mm
Bọ trĩ có dạng thon, có sắc tố rõ và bóng, phần lưng bụng thay đổi từ trắng đến nâu, nâu đậm hoặc đen
Mẫu bọ trĩ trên tiêu bản lam có các đốt ngực và bụng rõ ràng, bụng hơi thẳng và phình to thấy rõ các đốt và các phần gian đốt nối các đốt với nhau, cánh và chân mở rộng, thường có các gai nhỏ, lông nhỏ, lỗ cảm giác phức tạp
và các vết nhăn cutin nổi lên
Trang 26Râu đầu có 4-9 đốt nhưng thường từ 7-8 đốt Đôi mắt kép nằm ở bên trên hoặc bên dưới của đỉnh đầu và má Ở những loài có cánh, 3 mắt đơn nằm
ở trên trán giữa mắt kép tạo thành hình tam giác
Kiểu miệng chuyên hoá lồi ra phía dưới đầu và nằm ở gần gốc hoặc giữa gốc chân trước Phần phụ miệng của bọ trĩ là kiểu dũa hút không đối xứng cho nên bọ trĩ gây hại để lại triệu chứng cho cây trồng Phần miệng ở dưới có một hàm trên bên trái phát triển đầy đủ và gần như thẳng còn hàm trên bên phải thoái hoá hoàn toàn, hai hàm dưới rất phát triển, có môi trên và môi dưới
Ở loài Frankliniella bispinosa hàm trên rất phát triển trừ ống dẫn dây
thần kinh nhỏ, nhưng ở loài Frankliniella occidentalis, Limothrips cerealium,
Cả hai gai hàm trên có bờ và đường rãnh lắp vào nhau để tạo thành dạng ống hút có lỗ mở ở phần cuối Khác với hàm trên, hàm dưới dạng môi có thể
di chuyển được một cách tự do Mảnh sau cằm và trước cằm của môi dưới nối với nhau ở giữa Đỉnh của miệng được che phủ bởi mảnh bên lưỡi Mỗi mảnh bên của lưỡi có 3 dạng hình tạo bởi 9-10 tế bào cảm giác (hai loại có dạng hình nón và một loại có dạng lông tơ) giúp bọ trĩ ngửi hoặc nếm được thức
ăn Hàm trên bên trái khoẻ được sử dụng để tạo thành lỗ chích ban đầu trong
mô cây nhờ cử động lên xuống của đầu Sau đó các gai hàm chia đôi đẩy mạnh vào trong cơ chất, các đường rãnh ở trong của cả hai bên tạo thành các rãnh nhỏ dẫn thức ăn
Ngực trước: do đầu và ngực trước thường có cùng một chức năng cho nên có một khớp đặc biệt nối giữa các đốt ngực với ngực trước Chân trước nối với đốt ngực trước tạo điều kiện cho sự di động lên xưống của một vùng liên hợp đốt ngực trước và đầu khi ăn
Đốt ngực giữa và sau: ở loài có cánh đốt ngực giữa và sau rộng mang đôi cánh Nhờ đặc điểm này, đốt ngực giữa và sau có gai xương và màng ở
Trang 27trên có thể di động được, nhưng các tấm nối ở phần dưới và bên cứng Gốc của cánh có thể di động Trái ngược lại, các tấm bụng mở rộng Nhờ đó mà bộ xương ngoài của lưng ngực giữa và sau thích nghi rất tốt với khả năng bay Mảnh gốc của đốt ngực giữa và sau tạo thành tấm cứng nối với các cơ
để bay Vị trí đốt háng ở ngực giữa và sau, đôi khi cuốn vào giữa cơ thể, điều này làm cho chân sau có thể đẩy về phía trước, làm cho nhiều loài bọ trĩ có thể nhảy rất tốt
Cả 4 cánh thường dài và thon có lông tơ ở mép cánh Một số loài cánh
có vân, một số loài lại không có vân, một số loài cánh có sắc tố sáng và một
số loài thì có màu không rõ ràng Chiều dài của cánh tỷ lệ với cơ thể thường thay đổi giữa các loài và giới tính Cả hai giới tính có thể có dạng cánh dài hoặc ngắn Ở một số loài trưởng thành đực và trưởng thành cái có chiều dài cánh khác nhau và thậm chí có nhiều dạng cánh trong cùng giới tính của một quần thể Đôi khi một hoặc cả hai giới tính hoàn toàn không cánh (thường bắt gặp ở trưởng thành đực)
Chân của bọ trĩ trưởng thành gồm có đốt háng, đốt chuyển, đốt đùi, đốt ống, một hoặc hai đốt bàn chân Khi bò chỉ bàn chân tiếp xúc với nền nhờ đó
mà bọ trĩ có thể bám chặt trên bề mặt mịn và tránh tuột ra khỏi lá cây khi gió thổi Ở một số loài, trưởng thành đực có đốt đùi chân trước phình to hoặc chân có mấu, cựa hoặc vuốt
Bụng có 11 đốt Đốt bụng thứ hai đến đốt thứ tám đều có lỗ thở Phần bên của mặt lưng đốt bụng mang cấu trúc đặc biệt, lông xếp thành mảnh lược (Ctenidia) Mép sau của mặt lưng đốt bụng thứ tám thường có lông tơ xếp dạng lược Trong họ Aeolothripidae, mặt lưng đốt bụng thứ 8 của trưởng thành đực có một đôi mấu bám và ở một số giống thì các đốt sinh dục cũng có lông giống như gai
Trang 28Ở trưởng thành cái các đốt bụng từ 9 đến 10 của mặt bụng mở rộng tạo thành máng đẻ trứng Máng đẻ trứng rộng và rất phát triển, để bọ trĩ đẻ trứng trong mô cây
Các đốt sinh dục của trưởng thành đực gồm có: gai giao cấu, bộ phận sinh dục giữa và thuỳ nằm ở bên Gai giao cấu kéo dài về phía sau tạo thành một dạng màng Túi ngoài, che phủ bộ phận sinh dục đực và khi gai giao cấu không hoạt động thì túi ngoài vẫn ở trong ống
1.1.5.4 Vòng đời của bọ trĩ [10]
Các giai đoạn phát triển của bọ trĩ (hình 1.3):
- Trứng (2-4 ngày)
- Bọ trĩ non tuổi 1 (1-2 ngày)
- Bọ trĩ non tuổi 2 (2-3 ngày)
Trang 291.2 Một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về bọ trĩ
1.2.1 Những nghiên cứu ngoài nước
1.2.1.1 Những nghiên cứu về thành phần bọ trĩ
Mound (1997) [55], hầu hết các loài bọ trĩ gây hại trong bộ cánh tơ tập trung trong họ Thripidae với khoảng 1.700 loài, phân bố khắp thế giới Các
loài bọ trĩ là dịch hại trên cây trồng thuộc 2 giống Thrips và Liothrips là
những giống lớn nhất trong bộ cánh tơ Trong đó số loài của mỗi giống là:
loài và Franklinella khoảng 175 loài
Theo Chen (1987) [36][37], đã tìm thấy 156 loài bọ trĩ ở Đài Loan trong
đó có 70 loài gây hại trên cây trồng, riêng trên cây rau có 27 loài bọ trĩ Các
loài có ý nghĩa quan trọng là Thrips palmi, Franklinella intonsa, Thrips
nhưng xuất hiện thường xuyên trên đồng ruộng là Thrips Hawaiiensis,
Sự xuất hiện, mức độ gây hại và khoá phân loại của 9 loài này đã được xác định Theo Bryan (1975) [33], có khoảng 600 loài bọ trĩ đã được tìm thấy ở Bắc Mỹ, Ở Rumani có khoảng 203 loài, ở Mongolia có 84 loài, tại Úc đã phát hiện được 422 thuộc bộ cánh tơ
Tại Ấn Độ [10], nhiều công trình nghiên cứu chỉ rõ có tới 82 loài bọ trĩ chủ yếu gây hại trên 76 loại cây trồng khác nhau Veer (1985) đã phát hiện bọ
trĩ Thrips flavus có mặt và gây hại trên 70 loại cây trồng thuộc 26 họ thực vật
khác nhau Ananthakrishan (1969, 1984) nêu rõ bọ trĩ Scitothrips dorsalis gây hại nghiem trọng trên lạc làm thất thu năng suất trung bình 29,3%, gián tiếp
bọ trĩ còn trở thành vectơ truyền bệnh vius cho lạc và một số cây trồng khác Kandas Vami (1986) cho biết có 6 loài bọ trĩ thường xuất hiện gây hại chè ở
Ấn Độ, trong đó loài Scirtothrips bispinosus Bagnall phân bố rộng, mật độ
Trang 30cao thường gây thành dịch ở các vùng trồng chè Nam Ấn Độ, loài Heliothrips
đặc biệt chè và cà phê
Theo Hua và cộng sự (1997) [46], khi nghiên cứu về các loài bọ trĩ chủ yếu hại cây hoa ở phía nam Đài Loan, các tác giả đã xác định trên hoa hồng
có 7 loài bọ trĩ đó là: Haplothrips chinensis Priesner, Rhipiphorothrips
Morgan và Thrips tabaci Linderman Trên hoa cúc có 5 loài bọ trĩ, bao gồm:
1.2.1.2 Tình hình gây hại của bọ trĩ [10]
1952 Thrips palmi phân bố khắp vùng Châu Á - Thái Bình Dương Những
cây trồng thường bị chúng gây hại nghiêm trọng là: cà tím, hạt tiêu, khoai tây, thuốc lá, dưa chuột, dưa hấu, bí ngô, đậu trắng, đậu răng ngựa, đậu đũa, đậu xanh, đậu tuơng, hoa cúc, bông, hoa anh thảo, thược dược, bầu hoa lan, vừng,
khoai lang… Bên cạnh đó, Thrips palmi còn tấn công nhiều loài cỏ dại (Martin và Mau, 1992) [52] Bọ trĩ Thrips palmi có mặt trên hơn 50 loài cây
thuộc hơn 50 họ thực vật (Wang và Chu, 1986) [61]
Tại Ấn Độ, Ananthakrishnan, (1984) [27] còn chỉ rõ Scirtothrips
29,3%, ngoài ra còn gây hại trên bông, cà phê, chè
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, qua điều tra sơ bộ thiệt hại do Franklniella intonsa
gây ra trên cây bông ở bang Cukurova, Atakan và cộng sự (2001) [30] đã đưa
ra nhận xét: số lượng lớn bọ trĩ ở trên hoa (350 con/hoa) cũng không ảnh hưởng tới sự thụ phấn của hoa Tuy nhiên bọ trĩ trưởng thành tấn công vào
Trang 31hoa có thể gây rụng quả non, rõ nhất là sau 10 ngày, tỷ lện rụng quả non khoảng 70% với mật độ con/ hoa và lên tới 80-90% với 101-150 con/ hoa Tình hình gây hại của bọ trĩ ở Philippines [31]: Nhiều nghiên cứu cho
rằng những loài bọ trĩ phổ biến nhất trên rau là Thrips palmi Karny Thrips
cà chua, cà và khoai tây Người ta còn phát hiện bọ trĩ hại đáng kể trên tỏi nhưng chưa xác định được tên loài Ở một số vùng trồng rau mật độ quần thể
bọ trĩ Megalurothrips usitaus Bagnall lên khá cao và gây hại trên cà chua,
khoai tây
Tình hình gây hại của bọ trĩ ở Indonesia [10]: Loài hại chính trên rau ở
Indonesia là Thrips tabaci Lindeman, Thrips palmi Karny và Thrips
được coi là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sản xuất rau ở Indonesia Theo
thống kê ở miền đồng bằng của miền trung Java, bọ trĩ (Thrips tabaci
Lindeman) đã gây hại đáng kể trên cây hành non đặc biệt là vào mùa khô Theo Kranz và cộng tác viên (1978), chỉ rõ bọ trĩ hại trên bắp cải và khoai tây làm cho lá bị chuyển dần thầnh màu đồng và chết hàng loạt Người ta còn
phát hiện bọ trĩ Thrips parvispinus Karny là sâu hại nguy hiểm trên ớt Thrips
làm giảm năng suất tới 20%
Tình hình gây hại của bọ trĩ ở Malaysia: Những nghiên cứu ở Malaysia chỉ rõ, bọ trĩ là một trong những loài gây hại nguy hiểm trên rau, các cây
trồng khác Những loài bọ trĩ phổ biến phôn bố rộng bao gồm Thrips palmi Karny hại trên dưa chuột, ớt, cà chua Loài Megalurothrips usitatus Bagnall hại trên đậu rau, Thrips parvispinus là loại sâu hại mới phát hiện trên đu đủ
(Vijaiasegaran, 1986) Bọ trĩ châm hút dịch của lá non khi bị hại nặng cây sẽ
bị lùn và không cho quả, hầu hết các giống đu đủ đều mẫn cảm với bọ trĩ
Trang 32Loài Anaphothrips corbetti hại trên hoa phong lan, cả trưởng thành và sâu
non bọ trĩ đều châm hút hoa phong lan Theo Ali và cộng tác viên (1990), xác
định bọ trĩ Stenchaetothrips biformis thường tấn công gây hại lúa ở giai đoạn
mạ, đặc biệt ở những ruộng gieo thẳng Loài bọ trĩ Frankliniella occidentalis hại trên hoa hồng, hoa cẩm chướng, hoa cúc Người ta còn phát hiện thấy bọ trĩ là vec tơ quan trọng truyền bệnh virus (TSWV) trên cây ớt ở Malaysia [10]
Tình hình gây hại của bọ trĩ ở Thái Lan: ở Thái Lan những loại rau thuộc họ hoa thập tự thường ít bị bọ trĩ gây hại hơn những loại rau lấy quả như cà chua, mướp, cà tím, ớt Những loại bọ trĩ chính hại rau ở Thái Lan
gồm, Scirtotprips dorsalis, Thrips parvispinus, Thrips tabaci, Haplothrips
Bọ trĩ Thrips palmi Karny ở Đông Nam Á: Bọ trĩ Thrips palmi phát hiện
như một loài mới bởi Karny vào 1925 sau khi ông thu mẫu loài bọ trĩ này gây hại trên cây thuốc ở Sumatra-Indonesia, sau đó Dammerman 1929 cũng đã chỉ
ra rằng Thrips palmi là loài bọ trĩ phổ biến nhất trên đảo Java và Sumatra ở
Indonesia Tỷ lệ nhiễm hại trên các cây trồng khác và vụ dịch của loài bọ trĩ này chưa được thông báo ở các nước Đông Nam châu Á, cho đến tận khi công
bố về vụ dịch của Thrips palmi trên dưa hấu xuất hiện ở Philippines vào năm
1977, vài năm sau đó Nidena (1980) đã thông báo vụ dịch của loài bọ trĩ
Philippines Sichmutterer 1978 đã thông báo vụ dịch của bọ trĩ Thrips palmi
xuất hiện trên cây bông ở một số vùng trồng bông của Philippines vào năm
1978 Tới năm 1983 Thrips palmi vẫn là sâu hại nguy hiểm trên bông ở nước
này Theo Wanjboonkong năm 1981 nêu rõ Thrips palmi đã trở thành sâu hại
trên cây bông và gây thành dịch trên một số diện tích trồng bông ở Thái Lan vào năm 1978 và 1979 [10]
Trang 33Bên cạnh sự gây hại trực tiếp trên cây trồng, bọ trĩ còn tạo ra các vết thương làm tăng khả năng nhiễm bệnh của cây, đặc biệt chúng là môi giới truyền bệnh virut từ cây này sang cây khác Theo Inoue và cộng sự (2001)
[47], virut TSWV được truyền bởi 6 loài bọ trĩ: F occidentalis, F intonsa, T
protein N của TSWV trong cơ thể Trong đó, hiệu quả lây nhiễm của giống
bệnh gây hại nghiêm trọng cho khoảng 20 cây trồng trên thế giới: thuốc lá, cà chua, rau diếp, lạc, đậu tương, …
1.2.1.3 Những nghiên cứu về đặc tính sinh vật học, sinh thái học của bọ trĩ
Nghiên cứu về Thrips palmi của Wang và cộng sự (1989) [60], một con
cái trung bình đẻ 79 quả trứng/ngày và trong suốt một đời nó có thể đẻ từ
3-114 quả khi không có giao phối và đẻ từ 3-204 quả khi có giao phối
Theo Bournier (1987) [32], bọ trĩ đẻ trứng từng quả một dưới lớp biểu bì cây hoặc dưới bề mặt cây và được trộng với chất dịch nhầy bao phủ thành lớp màng đệm bảo vệ
Vòng đời của bọ trĩ Thrips palmi là 11 ngày ở nhiệt độ 300C và 26 ngày
ở nhiệt độ 170C Sự hóa nhộng xảy ra trong đất hoặc trong tàn dư thực vật Trứng có màu trắng vàng và nở sau 3 ngày Sâu non tuổi 1 đẫy sức khoảng 3 ngày sau khi trứng nở, chui xuống đất và nằm yên ở đó 1 - 2 ngày trước khi hóa
nhộng Giai đoạn nhộng kéo dài khoảng 3 ngày Thrips palmi là loài lưỡng
tính, cá thể cái có thể sinh sản có hoặc không giao phối, (Martin và Mau,
1992) [52] Theo Lipa (1999) [51], vòng đời của Thrips palmi kéo dài 17 - 27
ngày ở nhiệt độ 19 - 220C Theo Wang và ctv (1989) [60] cho biết một số chỉ
tiêu sinh học của loài Thrips palmi như sau: thời gian trước đẻ trứng là 1 - 3
ngày Bọ trĩ có xu hướng đẻ nhiều trong thời gian 9 - 16 giờ trong ngày
Trang 34Kết quả nuôi sinh học Thrips tabaci trên cây hành của Rueda và Shelton (1995) [58] cho biết, vòng đời của Thrips tabaci có thể hoàn thành
trong vòng từ 14 - 30 ngày, khi nhiệt độ ở hơn 30 0C vòng đời có thể ngắn lại còn 10 hoặc 11 ngày Bọ trĩ trưởng thành có thể sống tới 20 ngày Mỗi con cái
có thể đẻ tới 80 trứng
Nghiên cứu về ảnh hưởng của điều kiện khí hậu, thời tiết tới sự phát
sinh và phát triển của bọ trĩ, Mound (1997) [55] cho biết, loài Thrips tabaci
thường ít thấy trong điều kiện nhiệt đới ẩm, nhưng khá phổ biến trong những vùng khô ấm, ngược lại Thrips palmi rất phổ biến ở những vùng ấm, ẩm Theo Mau và Matin (1993) [53], và Chang (1987) [37], quần thể bọ trĩ đạt cao nhất trong các tháng mùa xuân và mùa hè, giảm vào mùa mưa và mùa đông Biến động số lượng của chúng chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, khí hậu đặc biệt là nhiệt độ và lượng mưa, điều kiện ẩm ướt kéo dài không thuận lợi cho sự phát triển của chúng
Chiu (1987) [39], các loài bọ trĩ rất mẫn cảm với sự thay đổi của môi trường và chỉ có thể phát sinh, phát triển dưới những điều kiện khí hậu đặc thù Sự phổ biến của chúng có liên quan đến hình dạng cây, đặc biệt là những loài bọ trĩ gây hại trên hoa, các yếu tố như ẩm độ, nhiệt độ, tốc độ gió, thổ nhưỡng cũng có liên quan đến mức độ phổ biến của từng loài bọ trĩ
Mật độ bọ trĩ trên các cây trồng hàng năm phụ thuộc vào nguồn bọ trĩ trên các cây ký chủ phụ Việc vệ sinh đồng ruộng và phòng trừ cỏ xung quanh ruộng cây trồng không được chú ý thường dẫn tới những thiệt hại nghiêm trọng Trái lại, mật độ bọ trĩ trên các cây trồng ngắn ngày phụ thuộc nhiều vào
số lượng con cái trưởng thành qua đông trong từng vụ (Gilbert, 1990) [43]
1.2.1.4 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bọ trĩ
Kawai, Kitamura (1999) [48], đã nghiên cứu ảnh hưởng của quần thể bọ trĩ và thiệt hại do chúng gây ra, đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng trừ
Trang 35đã có kết luận rằng phương pháp được dùng trong phòng trừ bọ trĩ có hiệu quả là: thuốc trừ sâu, phương pháp vật lý ngăn cản sự lây lan, dùng số lượng bẫy dính để thu hút
Biện pháp phòng trừ bọ trĩ bằng thuốc trừ sâu thường tỏ ra khó khăn vì chúng có cơ thể nhỏ và ẩn náu ở những nơi kín đáo Theo Cermell và cộng sự (1993) [38], trên cây đậu côve 11 loại thuốc đã được kiểm tra, kết quả cho thấy Flufiloxuron 11, Imidaclopid 11, Chlofluazuron và oxamy là những loại thuốc có triển vọng, đúng yêu cầu và hiệu quả nhất Nhưng khi quan sát thì không có loại thuốc nào có hiệu quả trên 81.5% Bọ trĩ ăn trên bề mặt mô lá,
vì thế các thuốc tiếp xúc, vị độc tỏ ra có hiệu quả hơn các loại thuốc nội hấp (Kuepper, 2001) [49] Theo tác giả Bounier và cộng sự (1987) [32], thành
phần chất hoạt động hiệu quả nhất trong phòng chống Thrips palmi là
Profenofos, Avermectin, Abamectin và Carbofuran Theo Hazara và ctv, (1999) [44] nước nghiền lá thuốc lá và thuốc có hoạt chất Methamidophose
đều có hiệu lực cao với bọ trĩ Thrips tabaci trên cây hành ở Dhalar
Fournier và cộng sự (1995) [41], việc bố trí thời vụ hợp lý giúp ngăn cản
sự di chuyển của bọ trĩ từ cây ký chủ phụ sang cây trồng chính và có thể tránh được thời điểm phát triển mạnh của bọ trĩ, mật độ bọ trĩ thường cao nhất vào mùa khô Cây thiếu nước thường bị bọ trĩ nặng hơn, do đó tưới nước hợp lý cũng là một biện pháp phòng trừ bọ trĩ Việc tiêu huỷ cỏ dại ở trên đồng ruộng và xung quanh bờ có thể làm giảm mật độ bọ trĩ vì đây là những chỗ qua đông và tái xâm nhiễm của bọ trĩ (Kuepper, 2001) [49]
Việc sử dụng phân bón cũng ảnh hưởng tới sự xâm nhiễm và gây hại của bọ trĩ (Kuepper, 2001) [49] Bón phân hợp lý làm tăng khả năng chống chịu của cây (Rueda và Shellton, 1995) [58] Cây trồng bón thừa đạm dễ bị bọ trĩ gây hại Do vậy, sự cân bằng dinh dưỡng là một trong những yếu tố giúp hạn chế sự tấn công của bọ trĩ (Cantisango và Amigo, 1999) [35]
Trang 36Theo Weber và CTV (1998) [63], xen canh có tác dụng làm giảm tác hại của bệnh và các côn trùng gây hại trên nhiều loại rau Việc trồng xen với cây ngũ cốc (không phải là ký chủ của bọ trĩ) có thể giảm sự gây hại của bọ trĩ trên cây trồng chính
Mặc dù có nhiều yếu tố vật lý ảnh hưởng tới tập tính của côn trùng, nhưng ánh sáng và màu sắc thường được sử dụng trong phòng trừ bọ trĩ Các loại màng plastic có khả năng hấp thụ tia cực tím được sử dụng để làm các
đường bờ ruộng có khả năng bảo vệ cây trồng chống lại bọ trĩ Frankiniella
khả năng hấp thu bước sóng ánh sáng < 400nm làm vật liệu che phủ nhà kính,
đã làm giảm 30% mật độ Thrips palmi so với nhà được che bằng tấm nhựa
thường và giảm 20% tỷ lệ ớt ngọt bị hại so với thông thường Các loại bẫy dính màu trắng, bẫy chậu nước màu trắng, các băng dính màu xanh dương cũng được sử dụng để thu bắt bọ trĩ (Chu, 1987) [40]
Một số chất trong cây làm tăng khả năng chống chịu của cây với sâu bệnh Ananthakrishman (1984) [27], hoạt động của các amino axit và các hợp chất khác cảu đường saccaro là nguyên nhân gây kích thích tính ăn của bọ trĩ Dastur (1959), cho rằng các giống cây có lông trên lá đã tạo ra những chố ẩn nấp cho bọ trĩ tránh khỏi sự tấn công của các loài ký sinh và ăn thịt hoặc tạo
ra những điều kiện (nhiệt độ, độ ẩm) tốt cho sự phát triển của bọ trĩ
Trong những năm gần đây, biện pháp sinh học trong phòng trừ bọ trĩ đang được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước Các loài bọ xít ăn thịt thuộc
giống Orius và chuồn chuồn cỏ Chrysoperla spp đã được nhân nuôi và đưa ra
sản xuất (Hoddle, 2000) [45]
Yano (1998) [64], ở Nhật Bản Orius sauteri được chứng minh có hiệu
quả như một tác nhân sinh học trong phòng trừ bọ trĩ đã được đăng ký sử
dụng như một loại thuốc trừ sâu sinh học Nấm Beauveria bassiana được coi
Trang 37như là một tác nhân hạn chế số lượng thrips palmi Quan sát khi phun
xuống 50%
Các loài ong kí sinh được biết đến nhiều nhất thuộc các họ: 2 họ ong kí
sinh là Eulophidae và Trichogrammatidae đã được nhân nuôi và đưa ra sản
xuất như những sản phẩm thương mại đặc dụng trong phòng trừ bọ trĩ trong
nhà kính (Hoodle, 2000) [45] Ong kí sinh Ceranisus menes (Hymenoptera:
Eulophidae), được Murai và Loomans, (2001), [57] đánh giá là tác nhân sinh
học mang lại hiệu quả phòng trừ cao với các loài bọ trĩ: F intonsa, F
1.2.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam
1.2.2.1 Những nghiên cứu về thành phần bọ trĩ
Theo Phạm Thị Vượng (1998) [24] có 4 loài bọ trĩ phá hoại trên cây lạc,
đó là Scirtothrips dorsalis, Frankliniella schultzei, T palmi và
Trần Văn Lợi (2001) [14] tại vùng Hà Nội, bọ trĩ gây hại trên lạc quanh năm,
có ba đỉnh cao mật độ trên cây lạc trong vụ xuân vào tháng 2, 4, 5 trong đó mật độ đạt cao nhất vào tháng 9, 10 khi nhiệt độ ôn hoà trên dưới 250C, còn
trên khoai tây tại Bắc Ninh, có hai loài bọ trĩ gây hại, trong đó T palmi là loài
gây hại quan trọng nhất
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thiên An (1999) [1], cho thấy tại
Cà Mau, trên dưa hấu loài sâu hại chính là T palmi
Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Lợi (2001) [14], cho biết: tại vùng
Bắc Ninh có 12 loài cây là ký chủ của T palmi, trong đó có đậu cô ve, đậu
trạch, dưa chuột, cà tím, khoai tây
Nghiên cứu về thành phần bọ trĩ hại bông của Hoàng Anh Tuấn (2002)
[20], cho thấy ở Việt Nam tại vùng Ninh Thuận có 3 loài bọ trĩ (Scirtothrips
Trang 38dorsalis Hood, T palmi Karny, Ayyarria chaetophora Karny) gây hại trên cây bông Trong đó T palmi là đối tượng gây hại quan trọng nhất khi cây bông ở
giai đoạn cây con và về sau mật độ của chúng giảm dần
Theo Lê Thị Xuân Thu, (2004), [19], trên cây chè tại Phổ Yên, Thái Nguyên có 2 loại bọ trĩ gây hại, ảnh hưởng mạnh nhất tới năng suất búp chè là
Còn trên đậu rau tại vùng Gia Lâm Hà Nội, Yorn Try (2003), [25] đã
xác định được 4 loài bọ trĩ gây hại: Frankliniella sp., Caliothrips sp.,
gây hại chủ yếu trên lá, ngọn cây còn Frankliniella sp bắt đầu có mặt khi cây
bước vào giai đoạn ra hoa
Trên cây hoa, mới chỉ có một số ít tác giả nghiên cứu về bọ trĩ
Theo Hà Quang Hùng, 2005, [10], có 5 loài bọ trĩ thường gây hại trên
hoa cúc: Thrips tabaci Linderman, Thrips flavus Schrark, Frankliniella
3 loài thường xuyên xuất hiện và gây hại chủ yếu là Thrips tabaci, Thrips
Lê Thị Lý (2003) [16], có 4 loài bọ trĩ gây hại chính trên hoa cúc ở vùng
Hà Nội và phụ cận là Thrips tabaci Linderman, Thrips flauvus Schrark,
loài phổ biến và quan trọng nhất Bọ trĩ gây hại chủ yếu trên hoa xuất hiện rất sớm từ khi cây bắt đầu có hoa và biến động số lượng rất lớn phụ thuộc chủ yếu vào việc phun thuốc hoá học phòng trừ chúng Tuy nhiên nhiệt độ thấp không phù hợp cho sự phát triển của bọ trĩ
1.2.2.2 Những nghiên cứu về đặc tính sinh vật học, sinh thái học của bọ trĩ
Theo kết quả nghiên cứu bọ trĩ T palmi hại khoai tây của Hà Quang Hùng (2002) [10], cho thấy khi nuôi bọ trĩ T palmi ở các nhiệt độ là 15,36;
Trang 3922,72 và 28,600C vòng đời của T palmi tương ứng là 22,99; 19,74 và 15,46
ngày
Kết quả nuôi sinh học loài Scirtothrips dorsalis ở các nhiệt độ 18,5; 26,4
và 30,5 0C cho thời gian phát dục tương ứng là: Trứng 10,96; 6,28 và 4,48 ngày; sâu non tuổi 3,49; 1,89 và 1,63 ngày; sâu non tuổi 2: 5,84; 2,25 và 2,43 ngày; nhộng: 6,81; 5,39 và 5,90 ngày; thời gian phát dục của trưởng thành là 20,8; 7.03 và 6,28 ngày Tại Hà Nội, bọ trĩ xuất hiện trên lạc quanh năm Bọ trĩ có 3 cao điểm trong vụ lạc xuân, đỉnh cao nhất vào tháng 4, 5 và 2 cao điểm trong vụ lạc thu, đỉnh cao nhất vào tháng 9,10 khi nhiệt độ ôn hòa trên dưới 250C (Phạm Thị Vượng (1998) [24])
Ở điều kiện nuôi trong phòng nhiệt độ từ 16,1 - 26,500C thời gian phát
dục trung bình các pha của Thrips palmi như sau: trứng: 3,79 ngày; sâu non
tuổi 1: 3,33 ngày; sâu non tuổi 2: 4,18 ngày; nhộng: 4,44 ngày; trưởng thành: 10,7 ngày (Hoàng Anh Tuấn, 2002 [20])
Theo Doãn Huy Chiến và cộng sự (2006) [7], mật độ sâu bệnh thường
có xu hướng tăng cao, gây hại nặng trong vụ xuân hè khi nhiệt độ, độ ẩm không khí thích hợp Trên hoa hồng có sâu bệnh gây hại chính là nhện đỏ và bệnh phấn trắng Hoa cúc có sâu bệnh hại chính là bọ trĩ và bệnh đốm đen
Trong đó, bọ trĩ Thrips tabaci xuất hiện ở tất cả các tháng trong năm nhưng
phát sinh và gây hại nặng từ tháng 4 đến tháng 9 Tỷ lệ hại đạt cao điểm trong năm 2005 là 36-40%, năm 2006 là 34-42% Các tháng 1, 2, 3 và tháng 10, 11,
12 bọ trĩ gây hại nhẹ, tỷ lệ hại từ 2-6% Như vậy, bọ trĩ là sâu hại quan trọng trên hoa Tuy nhiên ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào có hệ thống và đầy
đủ về bọ trĩ hại hoa mà chỉ có một số nghiên cứu về bọ trĩ trên cây trồng khác
1.2.2.3 Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bọ trĩ
Trong thực tế, sử dụng thuốc hóa học vẫn là biện pháp chủ yếu được nghiên cứu và sử dụng trong phòng trừ bọ trĩ trên nhiều loại cây trồng Theo
Trang 40Trần Văn Lợi (2001) [14], thử nghiệm một số loại thuốc: Tập kỳ 1,8 EC,
Arrivo 10 EC và Vibsa 50ND với bọ trĩ Thrips palmi trên lá khoai tây đều cho
kết quả tốt trong đó Tập kỳ có hiệu lực cao nhất, đạt 87,18 % sau 24h phun Theo Trần Thị Tuyết (2005) [18], khi thử nghiệm một số thuốc: Tập kỳ 1,8
EC, Arrivo 10 EC, Actara 25WG và Spinosad với Thrips palmi trên lá bí
xanh, đã cho rằng Actara có hiệu lực phòng trừ nổi trội so với các loại thuốc kia Thuốc Spinosad cũng có hiệu lực phòng trừ bọ trĩ tương đương Actara (99%) mặc dù thuốc không có tác dụng nhanh nhưng hiệu lực kéo dài
Một số tác giả cũng đưa ra các đề xuất để phòng từ bọ trĩ trên hoa Theo Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã (2004) [17], có thể phòng chống
bọ trĩ hại hoa cúc bằng Rogor 0,3%, Malathion 0,2% và nước chiết lá thầu
dầu pha loãng 5 lần; phòng chống bọ trĩ ngực vàng trên hoa hồng Thrips
DDVP 0,1%, Sumithion 0,5% Theo Nguyễn Xuân Linh (1999) [9] có thể diệt bọ trĩ trên hoa hồng, cúc, lay ơn và phong lan bằng Politrin 440EC, Wofatox 400EC, Supracide 40ND Theo Hà Quang Hùng (2005) [8], các thuốc Tập Kỳ 1,8EC, Sumicidin 20 EC, Decis, Diazinon, Nicotin đều có thể phòng trừ bọ trĩ đạt kết quả tốt
Theo Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (2003) [8], cho rằng thuốc có hiệu lực cao để diệt trừ bọ trĩ trên cây hoa cúc là Carbamec, Promecarb hoặc Cabosulfan 0,05-0,1%