luận văn, tiến sĩ, thạc sĩ, báo cáo, khóa luận, đề tài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-* -NGUYỄN THỊ THUÝ HÀ
NGHIÊN CỨU ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA GÀ TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ CHĂN NUÔI GÀ GIỐNG QUỐC GIA ĐƯỢC SỬ DỤNG VACCINE PHÒNG CHỐNG CÚM GIA CẦM H5N1
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Thú y
Mã số :60.62.50 Người hướng dẫn khoa học:TS TÔ LONG THÀNH
HÀ NỘI – 2007
Trang 2LỜI CÁM ƠN
fl
Đầu tiên cho tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Đào tạo Sau đại học - Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam và các Thầy cô giáo đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập tại Viện
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng sâu sắc tới TS Tô Long Thành - Phó giám đốc Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương, người thầy đã giành thời gian quý báu tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cho tôi được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ths Tạ Hoàng Long - Giám đốc Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc Thú y Trung ương I và tập thể cán bộ nhân viên trong Trung tâm đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài tốt nghiệp Qua đây tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Ban lãnh đạo Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương, Ban lãnh đạo các cơ sở chăn nuôi gà giống quốc gia, các nhà khoa học trong ngành, các bạn bè đồng nghiệp người thân và gia đình đã tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới những tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả
Nguyễn Thị Thuý Hà
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
fl
Tôi xin cam đoan các kết quả nghiên cứu, số liệu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác cũng như chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học
Trang 4MỤC LỤC Trang
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
MỤC TIÊU VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu
Tình hình dịch cúm gia cầm trên Thế giới
Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam
Hình thái, cấu trúc của virus cúm gia cầm
Thành phần hoá học của virus cúm gia cầm
Biến đổi về tính kháng nguyên của virus cúm gia cầm
Độc lực của virus cúm gia cầm
10
14
14
16
Trang 51.3.5
1.3.6
Nuôi cấy và lưu giữ virus cúm gà
Sức đề kháng của virus cúm gia cầm
Sự cần thiết của tiêm vaccine phòng bệnh cúm gia cầm
Sơ lược các loại vaccine phòng bệnh cúm gia cầm
Tình hình sử dụng và sản xuất vaccine cúm gia cầm trên thế
Trang 62.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 39
2.1.1
2.1.2
2.1.3
Điều tra một số chỉ tiêu chăn nuôi và biểu hiện lâm sàng của
đàn gà sau khi tiêm vaccine cúm gia cầm H5N1 tại 4 cơ sở gà
giống quốc gia trong 2 năm 2006 - 2007
Đánh giá đáp ứng miễn dịch của đàn gà tại 4 cơ sở chăn nuôi
gà giống quốc gia ở các thời điểm khác nhau sau khi được
tiêm phòng đầy đủ các mũi vaccine cúm gia cầm H5N1 theo
quy định trong năm 2006 - 2007
Kiểm tra sự lưu hành của virus cúm gia cầm H5N1 trên đàn gà
được tiêm phòng vaccine trong năm 2006 - 2007
Đối tượng nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu
Vaccine
Các hoá chất dùng trong xét nghiệm
Các trang thiết bị và cơ sở vật chất
Giám sát lâm sàng - Điều tra một số chỉ tiêu liên quan đến
chăn nuôi và dịch cúm gia cầm của đàn gà ở 4 cơ sở sau khi
tiêm phòng vaccine
Giám sát huyết thanh - Đánh giá mức độ đáp ứng miễn dịch
của đàn gà tại 4 cơ sở chăn nuôi gà giống quốc gia ở các thời
điểm 1, 2, 3, 4 tháng sau khi tiêm phòng vaccine cúm gia cầm
H5N1
Giám sát virus - Kiểm tra sự lưu hành của virus cúm H5N1
trong đàn gà được tiêm phòng vaccine bằng phản ứng
Trang 7CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50
CHỐNG DỊCH CỦA CÁC CƠ SỞ CHĂN NUÔI GÀ GIỐNG
QUỐC GIA GIAI ĐOẠN NĂM 2006 - 2007
50
3.1.1
3.1.2
3.1.3
Đặc điểm, tình hình chăn nuôi của các cơ sở chăn nuôi gà
giống quốc gia
Kết quả thực hiện chương trình tiêm phòng vaccine cúm gia
cầm H5N1 cho đàn gà của 4 cơ sở chăn nuôi gà giống quốc gia
trong 2 năm 2006 - 2007
Công tác phòng chống dịch cúm gia cầm của 4 cơ sở chăn
nuôi gà giống quốc gia
KẾT QUẢ GIÁM SÁT LÂM SÀNG TRÊN ĐÀN GÀ SAU
KHI TIÊM VACCINE CÚM GIA CẦM H5N1 TẠI CÁC CƠ
SỞ CHĂN NUÔI GÀ GIỐNG QUỐC GIA
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA ĐÀN
GÀ GIỐNG Ở CÁC THỜI ĐIỂM KHÁC NHAU KHI ĐƯỢC
TIÊM PHÒNG ĐẦY ĐỦ 2 MŨI VACCINE CÚM GIA CẦM
Giám sát huyết thanh và virus cúm H5 của đàn gà trước khi
tiêm vaccine cúm gia cầm H5N1 tại 4 cơ sở chăn nuôi gà
giống quốc gia
Kết quả nghiên cứu đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch
của đàn gà khi được tiêm phòng đầy đủ 2 mũi vaccine cúm gia
cầm H5N1 năm 2006
Kết quả nghiên cứu đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch
của đàn gà khi được tiêm phòng đầy đủ 2 mũi vaccine cúm gia
cầm H5N1 năm 2007
59
60
68
Trang 83.3.4
3.3.5
So sánh hiệu giá kháng thể trung bình trong huyết thanh của
đàn gà tại 4 cơ sở giống quốc gia sau khi tiêm vaccine cúm gia
cầm H5N1 trong 2 năm 2006 - 2007
Tỷ lệ bảo hộ của đàn gà sau khi tiêm vaccine cúm gia cầm
H5N1 tại 4 cơ sở chăn nuôi gà giống quốc gia trong 2 năm
2006 - 2007
76
79
3.4 KIỂM TRA SỰ CÓ MẶT CỦA VIRUS CÚM GIA CẦM
H5N1 TRÊN ĐÀN GÀ ĐƯỢC TIÊM PHÒNG VACCINE
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AGP :Agar gel precipitation
AI :Avian Influenza
FAO :Food and Agriculture Organisation
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
BẢNG TÊN BẢNG Trang Bảng 3.1 Kết quả điều tra cơ cấu đàn gà giống tại 4 cơ sở chăn nuôi
gà giống quốc gia năm 2006 - 2007
51
Bảng 3.2 Kết quả theo dõi tiêm phòng vaccine cúm gia cầm H5N1
cho đàn gà tại 4 cơ sở chăn nuôi gà giống quốc gia trong 2
năm 2006 - 2007
55
Bảng 3.3 Kết quả theo dõi độ an toàn của đàn gà giống tại 4 cơ sở
chăn nuôi gà giống quốc gia sau khi tiêm vaccine cúm gia
cầm 1 tháng trong năm 2006
57
Bảng 3.4 Kết quả kiểm tra hiệu giá kháng thể và sự có mặt của
virus cúm H5 trong đàn gà giống trước khi tiêm vaccine
cúm gia cầm H5N1 tại 4 cơ sở chăn nuôi gà giống quốc
gia
60
Bảng 3.5 Kết quả kiểm tra hiệu giá kháng thể kháng virus cúm H5
trong huyết thanh gà ở các thời điểm sau khi tiêm vaccine
cúm gia cầm H5N1 tại Trại gà Liên Ninh năm 2006
61
Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra hiệu giá kháng thể kháng virus cúm H5
trong huyết thanh gà ở các thời điểm sau khi tiêm vaccine
cúm gia cầm H5N1 tại TTNCGC Thụy Phương năm 2006
63
Bảng 3.7 Kết quả kiểm tra hiệu giá kháng thể kháng virus cúm H5
trong huyết thanh gà ở các thời điểm sau khi tiêm vaccine
cúm gia cầm H5N1 tại CTCPGGC Ba Vì năm 2006
65
Bảng 3.8 Kết quả kiểm tra hiệu giá kháng thể kháng virus cúm H5
trong huyết thanh gà ở các thời điểm sau khi tiêm vaccine
cúm gia cầm H5N1 tại CTCPGGC Lương Mỹ năm 2006
66
Trang 11Bảng 3.9 Kết quả kiểm tra hiệu giá kháng thể kháng virus cúm H5
trong huyết thanh gà ở các thời điểm sau khi tiêm vaccine
cúm gia cầm H5N1 tại Trại gà Liên Ninh năm 2007
69
Bảng 3.10 Kết quả kiểm tra hiệu giá kháng thể kháng virus cúm H5
trong huyết thanh gà ở các thời điểm sau khi tiêm vaccine
cúm gia cầm H5N1 tại TTNCGC Thụy Phương năm 2007
71
Bảng 3.11 Kết quả kiểm tra hiệu giá kháng thể kháng virus cúm H5
trong huyết thanh gà ở các thời điểm sau khi tiêm vaccine
cúm gia cầm H5N1 tại CTCPGGC Ba Vì năm 2007
72
Bảng 3.12 Kết quả kiểm tra hiệu giá kháng thể kháng virus cúm H5
trong huyết thanh gà ở các thời điểm sau khi tiêm vaccine
cúm gia cầm H5N1 tại CTCPGGC Lương Mỹ năm 2007
74
Bảng 3.13 Tổng hợp kết quả kiểm tra hiệu giá kháng thể kháng virus
H5 trong huyết thanh gà sau khi tiêm vaccine cúm gia
cầm H5N1 trong 2 năm 2006 - 2007
77
Bảng 3.14 Tổng hợp tỷ lệ bảo hộ của đàn gà ở các thời điểm sau khi
tiêm vaccine tại 4 cở sở chăn nuôi gà giống quốc gia trong
2 năm 2006 - 2007
80
Bảng 3.15 Kết quả kiểm tra sự có mặt của virus cúm H5 trong dịch
ngoáy ổ nhớp của gà sau khi tiêm vaccine cúm gia cầm
H5N1 tại 4 cơ sở chăn nuôi gà giống quốc gia năm
2006 - 2007 bằng kỹ thuật RT - PCR
83
Trang 12Hình 3.1 Tổng số lượng gà của 4 cơ sở chăn nuôi gà giống quốc gia
trong 2 năm 2006 - 2007
53
Hình 3.2 Biến động HGKTTB và độ dài miễn dịch của đàn gà tại
các cơ sở giống quốc gia sau khi tiêm vaccine cúm gia
cầm H5N1 năm 2006
67
Hình 3.3 Biến động HGKTTB và độ dài miễn dịch của đàn gà tại
các cơ sở giống quốc gia sau khi tiêm vaccine cúm gia
cầm H5N1 năm 2007
75
Hình 3.4 So sánh HGKTTB trong huyết thanh của đàn gà ở các thời
điểm sau khi tiêm vaccine cúm gia cầm H5N1 tại 4 cơ sở
chăn nuôi gà giống quốc gia trong 2 năm 2006 - 2007
79
Hình 3.5 So tỷ lệ bảo hộ của đàn gà ở các thời điểm sau khi tiêm
vaccine cúm gia cầm H5N1 tại 4 cơ sở chăn nuôi gà giống
quốc gia trong 2 năm 2006 - 2007
82
Hình 3.6 Kết quả kiểm tra dịch ổ nhớp (swab) của đàn gà tại các cơ
sở chăn nuôi gà giống quốc gia bằng phản ứng
RT - PCR
84
Trang 13MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, ngành chăn nuôi gia cầm của Việt Nam, đặc biệt là chăn nuôi gà đang giữ một vị trí quan trọng, cung cấp một phần đáng kể thịt và trứng cho nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng của nhân dân Trong những năm gần đây, chúng ta thường xuyên nhập gia cầm giống, trứng gia cầm giống nhằm phát triển chăn nuôi trong nước Tuy nhiên, việc nhập gia cầm và các sản phẩm của gia cầm luôn là nguy cơ lây lan dịch bệnh từ nước ngoài vào nước ta
Một trong những bệnh gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi gia cầm hiện nay, đang được Việt Nam cũng như thế giới quan tâm đó là cúm gia cầm Bệnh Cúm gia cầm thể độc lực cao (HPAI - Highly Pathogenic Avian Influenza) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm có tốc độ lây lan nhanh, với tỷ lệ chết cao trong đàn gia cầm nhiễm bệnh Căn bệnh do virus
thuộc họ Orthromyxoviridae gây ra (Easterday, 1997) [33], là virus ARN
phân mảnh có khả năng đột biến mạnh Vì thế, bệnh cúm gia cầm đã được tổ chức Dịch tễ thế giới OIE (Office International des Epizooties ) xếp vào bảng
A - Bảng danh mục các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất của động vật Bệnh cúm gia cầm được phát hiện vào năm 1878 tại Italia, sau đó đã xảy ra ở khắp nơi trên thế giới Ở Việt Nam, bệnh cúm gia cầm xảy ra vào cuối năm 2003 đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng mạnh đến đời sống xã hội, làm thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi gia cầm Trước khi dịch cúm xảy ra tổng đàn gia cầm trong cả nước là 261 triệu con, trong đó
có 192 triệu gà và khoảng 68,8 triệu thuỷ cầm khác chủ yếu là vịt Cho đến nay, cúm gia cầm đã xảy ra với 5 đợt dịch lớn Ước tính thiệt hại do tiêu huỷ
số gia cầm và nghi bệnh năm 2004 là 60 triệu con gia cầm các loại (Cục Thú
y, 2005) [11]
Trang 14Sự nguy hại của bệnh cúm gia cầm không phải chỉ gây tỷ lệ chết cao ở gia cầm, mà đặc biệt virus cúm chủng H5N1 hiện nay có nguy cơ lây truyền bệnh cho gia súc, người và thậm chí có thể gây chết người Theo thống kê của
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trên thế giới đã có 328 người mắc bệnh cúm gia cầm và 200 người đã tử vong (trong đó Việt Nam có 47 trường hợp)
Nhằm phòng chống và khống chế tốt dịch cúm gia cầm, ngoài các biện pháp về an toàn sinh học trong chăn nuôi như kiểm tra chặt chẽ nguồn gốc gia cầm, vệ sinh, tiêu độc khử trùng trong chăn nuôi, kết hợp tiêu huỷ gia cầm nhiễm bệnh…Biện pháp đang thực hiện là sử dụng vaccine tiêm phòng để tạo đáp ứng miễn dịch chủ động chống lại bệnh cúm Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn đã phê duyệt “Dự án sử dụng vaccine nhằm khống chế và thanh toán bệnh cúm gia cầm” giai đoạn I (2005 - 2006), giai đoạn II (2007 - 2008) Để việc tiêm phòng có hiệu quả, nước ta đã tiến hành nhập vaccine cúm gia cầm từ Trung Quốc tiêm phòng cho đàn gia cầm Từ cuối năm 2005 đến nay, công tác tiêm phòng vaccine cúm gia cầm đã được triển khai ở hầu hết các địa phương và các cơ sở giống quốc gia trong phạm vi cả nước
Để có thể đưa ra những đánh giá sát thực về hiệu quả của việc tiêm phòng vaccine tại các cơ sở chăn nuôi gà giống quốc gia, nhất là khả năng đáp ứng miễn dịch của gà, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đáp ứng miễn dịch của gà tại một số cơ sở chăn nuôi gà giống quốc gia được sử dụng vaccine phòng chống cúm gia cầm H5N1”
Từ kết quả của những nghiên cứu này, chúng tôi hy vọng sẽ giúp các cơ
sở chăn nuôi gà giống quốc gia có thể chủ động xây dựng lịch dùng vaccine phòng bệnh cúm gia cầm hợp lý và khoa học cho đàn gà của mình, đồng thời cũng giúp cho công tác phòng và chống cúm gia cầm ở nước ta ngày một tốt hơn
Trang 152 MỤC TIÊU VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu đáp ứng miễn dịch của đàn gà được tiêm phòng vaccine cúm gia cầm H5N1 tại một số cơ sở chăn nuôi gà giống quốc gia
- Giám sát lâm sàng và kiểm tra sự lưu hành của virus cúm H5N1 trong đàn gà tại các cơ sở trên khi được tiêm vaccine phòng bệnh cúm gia cầm
- Đánh giá hiệu quả sử dụng vaccine H5N1 phòng bệnh cúm gia cầm
- Đánh giá tính khả thi của chương trình tiêm phòng vaccine cúm gia cầm cho đàn gà
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Các kết quả nghiên cứu về đáp ứng miễn dịch sau khi tiêm phòng vaccine cúm gia cầm H5N1 cho đàn gà tại một số cơ sở chăn nuôi gà giống quốc gia có thể được dùng làm tài liệu tham khảo, bổ sung thêm số liệu vào kết quả đánh giá hiệu quả của việc tiêm phòng trong công tác phòng chống dịch cúm gia cầm ở Việt Nam
- Các kết quả thu được sẽ là cơ sở để rút kinh nghiệm, định hướng và xây dựng kế hoạch cho chương trình tiêm phòng vaccine cúm gia cầm tại các
cơ sở chăn nuôi gà giống khác trong phạm vi cả nước
4 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Bao gồm các chủng loại gà giống ông bà, bố mẹ
hướng thịt và hướng trứng đã tiêm vaccine phòng bệnh cúm gia cầm H5N1
4.2 Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2006 đến năm 2007
4.3 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu tại 4 cơ sở sau:
+ Trại gà Liên Ninh, Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm (TTNCGC)Vạn
Phúc thuộc Viện Chăn nuôi quốc gia
+ Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương thuộc Viện Chăn nuôi
quốc gia
+ Công ty Cổ phần Giống Gia cầm (CTCPGGC) Ba vì, Hà Tây
+ Công ty Cổ phần Giống Gia cầm (CTCPGGC) Lương Mỹ, Hà Tây
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 LỊCH SỬ BỆNH CÚM GIA CẦM
Bệnh cúm gia cầm (Avian Influenza - AI) đã được phát hiện và nói tới
từ rất lâu trên thế giới Năm 1878, bệnh cúm gia cầm được Porroncito mô tả lần đầu tiên ở Italy với tên gọi là bệnh “Dịch tả gia cầm” (Fowl plague) Đây
là một bệnh rất nguy hiểm và gây tử vong rất cao ở đàn gia cầm Đến năm
1901, Centanni và Savunozzi đã xác định được yếu tố gây bệnh dịch tả gà là căn nguyên siêu nhỏ có khả năng qua lọc (filterable agent) (Stubbs, 1965) [43] Sau đó cho đến năm 1955, Schafer [41] cũng đã xác định được căn nguyên gây bệnh thuộc nhóm virus cúm type A thông qua kháng nguyên bề mặt H7N1 và H7N7 gây chết nhiều gà, gà tây và chim hoang ở Bắc Mỹ, Nam
Mỹ, Trung Cận Đông, Châu Phi
Năm 1963, virus cúm type A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do loài thuỷ cầm di trú lây nhiễm virus vào đàn gà
Cuối thập kỷ 60, thấy phân type H1N1 ở lợn và có liên quan đến những
ổ dịch ở gà tây với biểu hiện đặc trưng là những triệu chứng ở đường hô hấp
và giảm đẻ Mối liên hệ giữa lợn và gà tây là những dấu hiệu đầu tiên về virus cúm ở động vật có vú có thể lây nhiễm và gây bệnh cho gia cầm Những nghiên cứu đều cho rằng virus cúm type A phân type H1N1 có ở lợn và truyền cho gà tây Ngoài ra phân type H1N1 ở vịt còn truyền cho lợn (Trần Hữu Cổn, 2004) [9]
Năm 1971, Beard đã mô tả rất kỹ về virus gây bệnh và đặc điểm bệnh
lý lâm sàng của gà trong các ổ dịch cúm gà, gà tây khá lớn xảy ra ở Mỹ mà chủng gây bệnh là H7N1
Từ năm 1960 đến năm 1979 bệnh được phát hiện ở Canada, Mexico, Arghentina, Brazin, Nam Phi, Italia, Pháp, Hà Lan, Australia, Anh, Nhật Bản,
Trang 17Hồng Kông, các nước thuộc Liên hiệp Anh và Liên Xô, các nước vùng Trung
Cận Đông (Phạm Sỹ Lăng, 2004) [20] Đặc biệt ở Hồng Kông (1997) virus
không chỉ gây bệnh cho gia cầm mà còn lây nhiễm và gây tử vong cho người
(Tô Long Thành, 2005) [24]
Nhiều công trình nghiên cứu về bệnh cúm gia cầm lần lượt được công
bố ở Australia năm 1975, ở Anh năm 1979, ở Ai Len năm 1983 - 1984, ở Mỹ
năm 1983 - 1984 (Alexander và cộng sự, 1993) [29] Các nghiên cứu này đã
tập trung nghiên cứu về đặc điểm sinh học, bệnh học và dịch tễ học, các
phương pháp chẩn đoán miễn dịch và biện pháp phòng chống bệnh
Ngày nay, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở khắp nơi với mức độ ngày
càng nguy hiểm đối với các loài gia cầm và sức khoẻ của con người Xuất
phát từ lý do này đã thôi thúc Hiệp hội các nhà chăn nuôi gia cầm liên tục tổ
chức các hội thảo chuyên đề về bệnh cúm gà (Lê Văn Năm, 2004) [21] Hội
thảo chuyên đề về bệnh cúm gia cầm lần đầu tiên tổ chức tại Beltsville MD
vào năm 1981, lần thứ hai tổ chức tại Ailen vào năm 1987, lần thứ ba cũng tổ
chức tại Ailen năm 1992 Đến nay, bệnh cúm gia cầm vẫn luôn là một trong
những nội dung quan trọng trong các Hội nghị về dịch tễ trên Thế giới
1.2 TÌNH HÌNH DỊCH CÚM GIA CẦM TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG
NƯỚC
1.2.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên Thế giới
Dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở rất nhiều nơi trên thế giới Vụ dịch xảy
ra lần đầu tiên ở gia cầm được ghi nhận vào năm 1878 với tỷ lệ chết cao được
gọi là bệnh “ Dịch tả gia cầm”
Năm 1959 bệnh xảy ra trên đàn gà ở Scotland do virus cúm A H5 gây
ra (Cục Thú y, 2004) [10] Nhiều tác giả đã cho rằng bệnh dịch nghiêm trọng
nhất xảy ra đối với gia cầm là những chủng gây bệnh có độc lực cao thuộc
subtype H5 và H7, như ở Scotland năm 1959 là H5N1, ở Mỹ năm
1983 - 1984 là H5N2 (Swayne và cộng sự, 2003) [44]
Trang 18Năm 1963, virus cúm type A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do loài thuỷ cầm di trú lây truyền virus vào đàn gà
Từ cuối năm 2003, dịch cúm gia cầm đã xảy ra với quy mô lớn, diễn biến hết sức phức tạp và tốc độ bùng phát rất nhanh ở các nước Châu Á và đã lan sang các quốc gia khác
Cuối tháng 02/2004 đã có rất nhiều nước và vùng lãnh thổ công bố dịch cúm gia cầm do virus H5N1 gây ra trong đó có: Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Lào, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, Hồng Kông và Việt Nam (Tô Long Thành, 2004) [23]
Bên cạnh các ổ dịch do virus cúm H5N1 nêu trên, còn có một số nước
và vùng lãnh thổ cũng có các ổ dịch cúm gia cầm do các chủng virus khác gây
ra như Pakistan do chủng H7N3 và H9N2, Canada do chủng H7N3, Mỹ do chủng H7N2, Nam Phi do chủng H6 và H5N2, Triều Tiên do chủng H7, Ai Cập do chủng H10N7
Sau khi dịch cúm gia cầm bùng phát một số nước công bố khống chế được dịch, một số nước lại bị tái phát trở lại, đây là lần đầu tiên trong lịch sử dịch cúm gia cầm xảy ra nhanh trên diện rộng và diễn biến phức tạp ở các nước Châu Á
Đến giữa năm 2005, dịch cúm gia cầm do H5N1 bắt đầu xuất hiện tại Kazakhstan, Nga rồi nhanh chóng lan rộng sang các nước khác ở khu vực Châu Âu như Rumani, Hy Lạp , Thổ Nhĩ Kỳ, Azerbaijan, rồi tràn sang Châu Phi và các nước khác thuộc khu vực Châu Á như ở vùng Vịnh, Trung Quốc
và Iraq Theo Đỗ Ngọc Thuý (2007) [27], chính dòng virus mới Âu - Phi là thủ phạm đã gây ra các trường hợp tử vong cho người Ai Cập và Iraq vào năm 2006, đã xâm nhập ít nhất là ba lần vào chủng EMA và đã phân chia thành ba dòng khác nhau, tiến hoá độc lập
Theo thống kê của Tổ chức Dịch tễ Thế giới - OIE (2006) [39], tính đến ngày 02 tháng 08 năm 2006 chủng virus độc lực cao H5N1 đã có mặt tại 51
Trang 19quốc gia và vùng lãnh thổ trên hầu hết các Châu lục, tập trung chủ yếu ở Châu
Á và Châu Âu Theo báo Vietnam net ( http: //www.vietnamnet.vn ) ngày 28 tháng 11 năm 2006 trên thế giới dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 58 nước và vùng lãnh thổ Ngoài những thiệt hại về kinh tế, dịch cúm gia cầm xảy ra còn gây tử vong rất nhiều người do virus cúm A H5N1 ở các quốc gia và vùng lãnh thổ như Azerbaijan, Campuchia, Trung Quốc, Ai Cập, Indonesia, Iraq, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và trong đó có Việt Nam Số người chết do nhiễm cúm gia cầm ngày một tăng đã làm cho cộng đồng quốc tế lo ngại về nguy cơ xảy
ra đại dịch cúm ở người
1.2.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam
Ở nước ta, dịch cúm gia cầm được thông báo lần đầu tiên vào cuối tháng 12 năm 2003 và đến nay đã được ghi nhận xảy ra gồm 5 đợt dịch lớn
và các loại chim khác bị chết và bị tiêu hủy Theo thống kê của Cục Thú y
Trang 20năm 2004 [10], cho thấy đến cuối đợt dịch ở Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long là những khu vực có tỷ lệ số xã, phường có gia cầm bị mắc bệnh cao nhất Chỉ có 4 tỉnh là Tuyên Quang, Phú Yên, Khánh Hoà và Bình Thuận là không bị dịch
* Đợt dịch thứ hai: Từ tháng 4 đến tháng 11/2004 Các ổ dịch cúm gia
cầm thể độc lực cao đã tái xuất hiện vào tháng 4 năm 2004 ở một số tỉnh thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long Trong đợt dịch tái phát lại này, các ổ bệnh chủ yếu xuất hiện ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ và hầu như không có trại chăn nuôi theo quy mô lớn nào bị nhiễm bệnh Dịch bệnh có khuynh hướng xuất hiện ở những vùng có chăn nuôi nhiều thủy cầm Bệnh xuất hiện ở 46 xã, phường tại 32 quận, huyện, thị xã thuộc 17 tỉnh Thời gian cao điểm nhất của đợt dịch là tháng 7 sau đó giảm dần, đến tháng 11 cả nước chỉ có một điểm phát dịch Theo Bùi Quang Anh năm 2005 [2], cho thấy tổng số gia cầm bị tiêu hủy trong thời gian này là 84.078 con, trong đó có 59.999 gà, 8.132 vịt và 19.947 chim cút
* Đợt dịch thứ ba: Từ tháng 12/2004 đến tháng 06/2005 Trong đợt
dịch này bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao đã xuất hiện ở 670 xã, phường tại
182 huyện, thị trấn thuộc 36 tỉnh thành phố (trong đó 15 tỉnh phía Bắc và 21 tỉnh phía Nam) Thời điểm xuất hiện các ổ dịch nhiều nhất là vào tháng 1/2005 với 143 ổ dịch xảy ra trên 31 tỉnh thành Ở đợt dịch này có 470.495 con gà, 825.689 vịt, ngan và 551.029 chim cút đã chết hoặc bị tiêu hủy Bệnh xuất hiện ở hầu khắp các tỉnh, thành phố thuộc vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm, 2005) [3]
* Đợt dịch thứ tư: Từ tháng 10/2005 đến tháng 10/2006 Dịch tái phát
ở một số tỉnh thành trên cả nước Để ngăn ngừa đại dịch do virus cúm H5N1 gây ra, nhiều địa phương đã phải áp dụng các biện pháp quyết liệt như: Đề nghị phải tiêu diệt toàn bộ thủy cầm thả rông, đóng cửa rừng, đóng cửa các vườn chim, không nuôi gia cầm, chim cảnh trong nội thành Trong nỗ lực
Trang 21khống chế dịch cúm gia cầm Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn đã ban
hành lệnh cấm ấp mới thủy cầm đến hết tháng 2/2007
* Đợt dịch thứ năm: Từ ngày 06/12/2006 đến tháng 05/2007 Dịch tái
phát lại ở rất nhiều tỉnh thành trong cả nước, nhưng tập trung chủ yếu ở 8 tỉnh thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long Đặc điểm của đợt dịch này là bệnh phát mạnh trên vịt nhất là ở các đàn vịt 1 đến 2 tháng tuổi chưa được tiêm phòng vaccine Do ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long vẫn tồn tại tập quán chăn nuôi vịt thả rông trên các kênh rạch dẫn đến việc lây lan bệnh nhanh và mạnh, khó khống chế Trong đợt dịch này thiệt hại chủ yếu là ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ không áp dụng các biện pháp phòng dịch triệt để Từ lý do này Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành quy định tiêm phòng và giám sát sau tiêm phòng vaccine cúm gia cầm cho tất cả các đàn gà, vịt trong phạm vi cả nước, nhằm hạn chế dịch bệnh xảy ra (Cục thú y, 2007) [12]
Nhìn chung qua các đợt dịch, chúng ta thấy rằng thiệt hại do bệnh cúm gia cầm gây ra là rất lớn, đã gây ảnh hưởng đến nền kinh tế của đất nước Ngoài ra còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động của xã hội đặc biệt là sức khỏe cộng đồng
1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA VIRUS CÚM GIA CẦM
Virus cúm gia cầm thuộc họ Orthomyxoviridae (Easterday, 1997) [33]
là virus ARN phân mảnh có khả năng đột biến rất mạnh
Hiện nay họ Orthomyxoviridae gồm có một giống được tạo thành từ các
virus cúm type A, B, C Chỉ có virus cúm type A đã được phân lập từ gia cầm còn virus cúm type B, C gây cúm điển hình ở người và động vật
Cấu trúc sợi ARN chia làm 8 mảnh và nối với nhau nhờ các protein có
vỏ bọc Virus được bọc bên ngoài bằng các protein và có màng Lipit ở ngoài cùng Bề mặt ngoài phủ bằng 2 hệ thống protein có các phản ứng ngưng kết hồng cầu và phản ứng trung hòa được kết hợp với nhau một cách riêng biệt (Kawaoka, 1988) [37]
Trang 221.3.1 Hình thái, cấu trúc của virus cúm gia cầm
Qua kính hiển vi điện tử tương phản âm, các virus họ
Orthomyxoviridae có dạng gần như hình cầu hoặc các hạt mỏng, đường kính chung của hạt virus từ 80 - 100 nm (Easterday, 1997) [33]
Hình 1.1 Hình thái virus cúm gia cầm dưới kính hiển vi điện tử
Cấu trúc di truyền của virus thuộc loại ARN sợi âm ở dạng đơn bào gồm 8 loại khác nhau (PB2, PB1, PA, HA, NP, NA, NS, M) mã hóa cho 10 loại protein khác nhau: PB2, PB1, PA, HA, NP, NA, NS1, NS2, M1 và M2 (Easterday, 1997) [33] Đoạn ARN có trọng lượng nhỏ nhất mã hóa cho 2 loại protein không cấu trúc là NS1 và NS2, chúng dễ dàng tách được ở tế bào bị nhiễm Các đầu 5’ và 3’ của hệ gen chứa những chuỗi nucleotit bảo tồn về thành phần có chức năng là promotor khởi động sao chép của hệ gen virus Tất cả 8 đoạn của sợi ARN có thể tách và phân biệt dễ dàng qua phương pháp điện di
- Phân đoạn 1 - 3: Mã hóa cho protein PB1, PB2 và PA là các protein
có chức năng là enzim polymerase tổng hợp axit Ribonucleic nguyên liệu cho
hệ gen và các ARN thông tin tổng hợp protein của virus (Biswas và cộng sự, 1996) [30]
Trang 23Hình 1.2 Cấu trúc virus cúm H5N1
Nguồn : [www.biolog.p/ptasia-grypa-5.htm]
- Phân đoạn 4: Mã hóa cho protein Hemagglutilin (HA) là một protein
bề mặt cắm gốc vào bên trong, có chức năng bám dính vào thụ thể của tế bào,
có khả năng gây ngưng kết hồng cầu, có khả năng hợp nhất vỏ virus với màng
tế bào bị nhiễm và tham gia phản ứng trung hòa virus (Bosch và cộng sự, 1979) [31] HA là polypeptit gồm 2 chuỗi HA1 và HA2 nối với nhau bằng đoạn oligopeptit ngắn, thuộc loại hình mô type riêng đặc trưng cho các subtype H (H1 - H16) trong tái tổ hợp tạo nên biến chủng (Vey và cộng sự, 1992) [46] Mô type của chuỗi oligopeptit này chứa một số axit amin cơ bản làm khung, thay đổi đặc hiệu theo từng loại hình subtype H Sự thay đổi thành phần của chuỗi nối quyết định độc lực của virus thuộc biến chủng mới (Lê Thanh Hoà, 2004) [17]
- Phân đoạn 5: Mã hóa cho protein Nucleoprotein (NP) một loại protein được phosphoryl hóa, có biểu hiện tính kháng nguyên đặc hiệu nhóm
Trang 24(Group - Specific), tồn tại trong hạt virion trong dạng liên kết với mỗi phân đoạn ARN nên loại NP còn được gọi là Ribonucleo protein
- Phân đoạn 6: Mã hóa cho protein enzim Neuraminidase (NA), có chức năng làm một enzim phân cắt HA sau khi virus vào bên trong tế bào nhiễm
- Phân đoạn 7: Mã hóa cho 2 tiểu phần protein đệm (Matrix protein) M1
và M2 là protein màng không được glycosyl hóa, có vai trò làm đệm bao bọc lấy ARN hệ gen Theo nghiên cứu của Holsinger và cộng sự năm 1994 [34], cho thấy M2 là một tetramer có chức năng tạo khe H+ giúp cởi vỏ virus sau khi xâm nhập vào tế bào cảm nhiễm M1 có chức năng tham gia vào quá trình tổng hợp và nảy mầm của virus
- Phân đoạn 8: Có độ dài ổn định (890 nucleotit) mã hóa cho 2 tiểu phần protein không cấu trúc NS1 và NS2 có chức năng chuyển ARN từ nhân
ra kết hợp với M1, kích thích phiên mã, chống interfron
Hình 1.3 Cấu trúc phân đoạn sợi ADN của virus cúm H5N1
Trang 25Các phân đoạn này được nối với nhau nhờ nucleocapsit có cấu trúc đối xứng xoắn, tạo vòm ở giới hạn cuối của mỗi phân đoạn, và liên kết với nhau qua các cầu nối peptit Bề mặt ngoài màng phủ bằng 2 hệ thống protein (HA
và NA) có các phản ứng ngưng kết hồng cầu và phản ứng trung hòa được kết hợp với nhau một cách riêng biệt (Ngọc Lan, 2005) [19]
Dựa trên cơ sở xác định đặc tính glycoprotein bề mặt, yếu tố ngưng kết hồng cầu (Hemagglutinin - HA) và trung hòa (Neuraminidase - NA) là những kháng nguyên có vai trò quan trọng trong miễn dịch bảo hộ và có tính đa dạng cao mà virus cúm type A được định phân type (World Health Organization (1980) [47] Đến nay virus cúm type A chia thành 16 phân type trên cơ sở kháng nguyên liên kết HA (H1 - H16) và 9 kháng nguyên NA (N1 - N9) Trong mỗi phân type lại có nhiều chủng virus khác nhau trong đó các virus cúm lưu hành ở người đã được biết gồm 3 subtype HA (H1, H2 và H3) và 2 subtype NA (N1 và N2) Đối với gia cầm chỉ có phân type H5 và H7 của virus cúm là có độc lực cao mặc dù có rất nhiều chủng cũng thuộc 2 phân type này phân lập từ chim có độc lực thấp (Trần Thị Thu, 2006) [26] Các chủng virus gây bệnh trầm trọng trên gà được gọi là chủng gây bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao (HPAI) với tỷ lệ chết có thể lên tới 100%
Khi phân tích trình tự nucleotit 8 đoạn ARN của 9 chủng virus cúm H5N1 được phân lập từ người, chim cút, gà và vịt trong đợt dịch xảy ra cuối năm 2003 và đầu năm 2004 và lập cây phả hệ của chúng, tác giả Nguyễn Tiến Dũng cùng các cộng sự năm 2004 [13] đã kết luận rằng:
- Các chủng virus cúm H5N1 lưu hành ở Việt Nam đều giống nhau và
có cùng nguồn gốc
- Mặc dù chưa biết nguồn gốc của 2 đoạn M và NP, các đoạn gen của virus đều đã được phát hiện và công bố ở Trung Quốc trước khi xảy ra dịch cúm ở nước ta
Trang 26- Như vậy có thể kết luận rằng virus cúm H5N1 ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc và virus lưu hành ở nước ta chỉ có một loại xuất phát từ một ổ dịch ban đầu Việc virus này được đưa vào Việt Nam theo con đường nào chưa được xác định chính xác nhưng đã có giả thiết cho rằng việc nhập lậu gia cầm bị nhiễm từ nước ngoài vào nước ta là một trong các nguyên nhân gây ra dịch Ngoài ra, với đặc điểm khí hậu ấm áp và có nhiều sông ngòi, các loài chim và thủy cầm di cư thường xuyên ra vào Việt Nam nên chúng cũng
có thể là tác nhân gây bệnh cơ giới
1.3.2 Thành phần hóa học của virus cúm gia cầm
ARN của virus chiếm 0,8 - 1,1%; protein: 70 - 75%; Lipit: 20 - 24% và
5 - 8 % hidrocacbon Lipit tập trung ở màng virus và chủ yếu là Lipit có gốc phospho, số còn lại là Cholesterol, glucolipit và một ít hidrocacbon gồm các loại men galactose, manose, ribose, fruccose, glucosamin Thành phần chính Protein của virus chủ yếu là glycoprotein
1.3.3 Biến đổi về tính kháng nguyên của virus cúm gia cầm
Virus cúm có đặc tính đặc trưng khác hẳn so với các loại virus khác là chúng thường có sự biến đổi về tính kháng nguyên diễn ra liên tục Sự thay đổi tính kháng nguyên này, được thể hiện bằng sự thay đổi về các protein có khả năng kích thích sinh đáp ứng miễn dịch trên bề mặt virus cúm, thực chất
là hệ quả của quá trình biến đổi (hay còn gọi là đột biến) của bộ gen của virus
Sự biến đổi kháng nguyên cho phép virus có khả năng thích nghi cao để tồn tại, nhưng với con người đây là điều rất nguy hiểm, vì biến đổi kháng nguyên
sẽ tạo ra những biến thể virus mới nguy hiểm Điều mà cả loài người đang lo
sợ là một chủng virus mới có khả năng lây nhanh như virus cúm người và sức tấn công mãnh liệt như virus cúm gà, lúc đó sẽ xảy ra trận đại dịch gây chết rất nhiều người như vụ dịch năm 1918 ở Tây Ban Nha đã làm chết hơn 40 triệu người Người ta ghi nhận hai khả năng đột biến của virus cúm đó là: Đột biến điểm và đột biến do tái tổ hợp di truyền
Trang 27Hình 1.4 Các kiểu đột biến
Đột biến điểm (Drift): A/Wuhan/95 (H3N2) → A/Sydney/96 (H3N2)
Đột biến do tái tổ hơp di truyền (Shift): (H2N2) → A/Hongkong/68 (H3N2
* Đột biến điểm (còn gọi là đột biến ngẫu nhiên hoặc hiện tượng trôi
trượt hoặc lệch lạc về kháng nguyên - Antigenic drift): Đột biến điểm là kiểu
đột biến xảy ra thường xuyên, đặc biệt là đối với kháng nguyên H và kháng nguyên N Hàng năm, có thể phát hiện những sự thay đổi nhỏ về trình tự nucleotit của gen mã hoá cho kháng nguyên H và kháng nguyên N của một virus cúm Hiệu quả của biến dị điểm là ở chỗ nếu như quá trình dập dịch không triệt để, virus vẫn tồn tại trong đàn gia cầm và biến đổi Kết quả là virus ở giai đoạn đầu của ổ dịch sẽ khác với virus xuất hiện ở các giai đoạn sau Gia cầm (kể cả các động vật khác, trong đó có người) có thể mắc các virus biến dị này với hậu quả khó lường
* Đột biến do tái tổ hợp di truyền (còn gọi là đột biến thay đổi bản chất
kháng nguyên - Antigenic shift): Đột biến này là sự tái tổ hợp di truyền xảy ra
định kỳ trong đó có sự sắp xếp lại các nucleotit do sự trộn lẫn hai bộ gen của virus cúm khác nhau Điều đó đã tạo nên những sai khác cơ bản về bộ gen của virus đời con so với virus bố mẹ và và virus đời con, mặc dù vẫn là virus cúm, nhưng lại là một virus hoàn toàn khác lạ Vì vậy, do kiểu gen của virus type A gồm 8 đoạn nên về lý thuyết từ 2 virus bố mẹ có thể xuất hiện 256 kiểu kết hợp khác nhau của các virus thế hệ sau Trong thực tế, sự kết hợp này đã phân lập được từ gia cầm 117 trường hợp Từ kết quả trên cho thấy chúng ta cần giám sát các chủng virus cúm đang lưu hành một cách hệ thống và thường
Trang 28xuyên bởi những đột biến quan trọng có thể xảy ra đột ngột, bất kỳ thời điểm nào Việc lưu hành nhiều loại virus cùng lúc, sẽ tạo điều kiện cho sự trao đổi gen của các loại virus tạo ra virus mới
1.3.4 Độc lực của virus cúm gia cầm
Độc lực của virus cúm gia cầm có sự dao động lớn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố Để đánh giá độc lực của virus cúm, các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp gây bệnh cho gà 3 - 6 tuần tuổi bằng cách tiêm vào tĩnh mạch 0,2ml nước trứng đã được gây nhiễm virus với tỷ lệ pha loãng 1/10 Sau đó đánh giá mức độ nhiễm bệnh của gà để cho điểm (chỉ số IVPI) Điểm tối đa là
3 điểm và đó là virus có độc lực cao nhất Theo Quy định của Tổ chức Dịch tễ Thế giới (OIE) năm 1992 [38], bất cứ virus cúm nào có chỉ số IVPI > 1,2 trên
gà 6 tuần tuổi, hoặc bất kỳ virus cúm nào thuộc subtype H5 hoặc H7 có trình
tự axit amin trùng với trình tự axit amin của chủng độc lực cao là thuộc loại - HPAI (Highly Pathogenic Avian Influenza) Căn cứ vào độc lực, các nhà khoa học đã thống nhất chia độc lực của virus cúm ra làm 3 loại:
+ Virus có độc lực cao: Sau 10 ngày tiêm tĩnh mạch cho gà, virus phải
làm chết 75% - 100% số gà thực nghiệm Khi phân lập từ gà bệnh, virus phát triển tốt và gây bệnh tích tế bào trong môi trường nuôi cấy tế bào không có Tripsin Riêng đối với chủng virus H5 và H7 độc lực thấp, nếu mọc tốt trên môi trường tế bào không có Tripsin, trình tự axit amin trùng với trình tự axit amin của đoạn H chủng độc lực cao thì được xác định là chủng độc lực cao
+ Virus có độc lực trung bình: Là những chủng virus gây dịch cúm gà
với triệu chứng lâm sàng rõ rệt nhưng gây chết gà không quá 15% số gà bị nhiễm bệnh tự nhiên hoặc không gây quá 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm
+ Virus có độc lực thấp (nhược độc): Là những virus phát triển tốt
trong cơ thể gà, có thể gây ra dịch nhưng không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt, không tạo bệnh tích đại thể và không làm chết gà
Trang 29Trong thực tế người ta chia virus cúm gà ra làm 2 loại: Loại virus có
độc lực thấp - LPAI (Lowly Pathogenic Avian Influenza) và loại virus có
độc lực cao - HPAI (Highly Pathogenic Avian Influenza)
Cho đến nay người ta thừa nhận chỉ có 2 biến chủng virus có cấu trúc
kháng nguyên H5, H7 được coi là loại có độc lực cao gây bệnh ở gia cầm,
nhưng không phải tất cả các chủng mang gen H5, H7 đều gây bệnh Các vụ
dịch lớn xảy ra đều do virus HPAI gây ra thường là virus có kháng nguyên
H5, H7 và H9 Thực tế chứng minh rằng các chủng có độc lực thấp trong quá
trình lưu hành trong thiên nhiên và trong đàn thuỷ cầm có thể đột biến nội gen
hoặc đột biến tái tổ hợp để trở thành các chủng có độc lực cao - HPAI
(Collins, 2002) [32]
1.3.5 Nuôi cấy và lưu giữ virus cúm gà
Virus cúm gà phát triển tốt trên phôi gà 9 - 11 ngày tuổi Trong dịch
niệu của phôi gà tập trung khá nhiều virus và có thể lưu giữ được vài tuần ở
điều kiện 40C Khả năng tồn tại và gây bệnh của virus rất cao nếu ta bảo quản
dịch niệu đó ở - 700C hoặc cho đông khô
Virus cúm gà cũng phát triển tốt trong tế bào xơ phôi gà CEF - (Chicken Embryo Fibroblast) và tế bào dòng có nguồn gốc thận chó
MDCK - (Madin Darby Canine Kidney cell) với điều kiện môi trường nuôi
cấy tế bào không chứa Trypsin (Ninh Văn Hiểu, 2006) [16]
1.3.6 Sức đề kháng của virus cúm gia cầm
Virus cúm gia cầm tương đối nhạy cảm với các tác nhân vật lý hoá học
dễ dàng bị tiêu diệt ở nhiệt độ cao, (56oC trong 3 giờ, 60oC trong 30 phút và
70oC virus bị chết ngay)
Điểm đẳng điện của virus tương ứng với pH = 5,3; ở khu vực axit, độc
tính của virus giảm nhanh hơn khu vực kiềm
Ở nhiệt thấp, virus vẫn có thể tồn tại trong phân ít nhất là 3 tháng
Trong nước, virus có thể sống tới 4 ngày ở nhiệt độ 30oC và trên 30 ngày ở
Trang 30nhiệt độ 0 C, vô hạn định ở nơi nguyên liệu bị đông lạnh Trong phủ tạng gia cầm, virus tồn tại từ 24 - 39 ngày, ánh sáng chiếu trực tiếp virus sống được 40 giờ còn chiếu bình thường thì sống được 15 ngày
Do virus cúm gia cầm có vỏ bọc ngoài là Lipit nên chúng mẫn cảm với các chất dung môi và chất tẩy rửa như formaldehyde, β - propiolacton, ethyle, sau khi tẩy vỏ các hoá chất như phenolic, NH4, natrihypochlorit, axit loãng và hydroxylanine có thể phá huỷ virus cúm gia cầm Người ta thường dùng các chất này như là các chất sát trùng hữu hiệu để tổng tẩy uế chuồng trại, dụng
cụ và các thiết bị chăn nuôi khi cơ sở chăn nuôi có nguy cơ bị đe doạ bởi dịch cúm gia cầm
1.4 MIỄN DỊCH CHỐNG BỆNH CÚM GIA CẦM
Cũng như miễn dịch chống lại các bệnh khác, miễn dịch chống bệnh cúm gia cầm bao gồm: Miễn dịch tự nhiên (miễn dịch không đặc hiệu) và miễn dịch đặc hiệu
1.4.1 Miễn dịch tự nhiên
Gia cầm cũng như các vật chất sống khác đều có cơ chế phòng chống tự nhiên Những hàng rào vật lý như da hoặc hệ lông nhầy bình thường ngăn cản tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể Khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể, gia cầm bảo vệ trước hết bằng miễn dịch không đặc hiệu nhằm ngăn cản hoặc giảm số lượng và khả năng gây bệnh của chúng Miễn dịch tự nhiên không đặc hiệu có vai trò quan trọng khi miễn dịch đặc hiệu chưa phát huy tác dụng
Hệ thống miễn dịch tự nhiên không đặc hiệu của gia cầm rất phát triển bao gồm:
* Hàng rào vật lý
Hàng rào vật lý như da, niêm mạc và các dịch tiết có tác dụng bảo vệ cơ thể ngăn cản tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể Khi mầm bệnh xâm nhập qua hàng rào da và niêm mạc nó gặp phải hàng rào hoá học là kháng thể dịch thể tự nhiên không đặc hiệu
Trang 31- Bổ thể là phần quan trọng và nhạy cảm của hệ phòng thủ chống lại
mầm bệnh hiện diện trong huyết tương của gia cầm Bổ thể có tác dụng làm tan màng vi khuẩn, làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào, opsinin hoá
Bổ thể còn có vai trò nhất định trong cơ chế đáp ứng miễn dịch đặc hiệu (nhiều trường hợp sự tương tác giữa kháng nguyên và kháng thể cần sự có mặt của bổ thể) (Nguyễn Như Thanh, 1997) [22]
- Interferol (IFN) do nhiều loại tế bào tiết ra nhưng nhiều nhất là tế bào
diệt tự nhiên (NK) Khi interferol được sản sinh ra, nó gắn vào tế bào bên cạnh và cảm ứng tế bào đó sản sinh ra protein kháng virus (Antivirus protein - AVP), làm cho virus có xâm nhập vào trong tế bào nhưng cũng không nhân lên được
* Hàng rào tế bào
- Tiểu thực bào, quan trọng nhất là bạch cầu đa nhân trung tính chiếm
60% - 70% tổng số bạch cầu ở máu ngoại vi, nó thực bào những phân tử nhỏ
và vi khuẩn ngoài tế bào
- Đại thực bào là các tế bào lớn có khả năng thực bào, khi được hoạt
hoá nó sẽ nhận biết và loại bỏ các vật lạ Ngoài ra, nó còn giữ vai trò quan trọng trong sự trình diện kháng nguyên tới tế bào T và kích thích tế bào T sản sinh ra IL-1 Đại thực bào còn tiết ra interferol có hoạt tính kháng virus, lysozyme và các yếu tố khác có tác dụng kích thích phản ứng viêm
- Các tế bào diệt tự nhiên (NK) là một quần thể tế bào lympho có nhiều
hạt với kích thước lớn Các tế bào này có khả năng tiêu diệt các tế bào đã bị nhiễm virus và các tế bào đích đã biến đổi, nó còn tiết ra interferol làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào Những tế bào diệt tự nhiên của gia cầm là
tế bào lympho hạt lớn gây nên sự phá huỷ của tế bào đích gắn kháng thể Ở gia cầm tế bào diệt tự nhiên có thể tái tạo ở nhiều nơi như lách, máu và ruột…
là một phần của hệ thống bảo vệ
Trang 321.4.2 Miễn dịch đặc hiệu
Những mầm bệnh vượt qua hàng rào vật lý hoặc cơ chế phòng vệ miễn dịch tự nhiên sẽ kích thích một đáp ứng miễn dịch đặc hiệu Miễn dịch đặc hiệu có tính đặc hiệu cao đối với tác nhân kích thích đặc hiệu
Khi kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể, cơ thể sẽ sản sinh ra kháng thể đặc hiệu để loại trừ kháng nguyên đó Kháng thể đặc hiệu có thể là dịch thể hoặc có thể là tế bào, đó là các lympho T mẫn cảm Một số tế bào limpho sau khi nhận biết kháng nguyên sẽ thành thục thành tế bào limpho nhớ (Ian Tizard, 1982) [35] Những tế bào nhớ có đáp ứng đối với lần phơi nhiễm sau, đối với cùng mầm bệnh bằng cách kích thích một đáp ứng miễn dịch có tính đặc hiệu cao và rất nhanh chóng Tính hiệu quả chống bệnh của một vaccine phụ thuộc vào các phản ứng của hệ miễn dịch với vaccine
Tế bào T, các tế bào chính của hệ miễn dịch trung gian tế bào, nhận biết kháng nguyên lạ sau khi kháng nguyên đã được xử lý bởi các tế bào trình diện kháng nguyên Đáp ứng tế bào lympho T gây độc có thể làm giảm sự bài thải các virus cúm có độc lực thấp (LPAI) nhưng liệu chúng có khả năng bảo vệ chống lại các virus có độc lực cao (HPAI) Theo nghiên cứu của Seo và cộng
sự năm 2001 [42], cho thấy virus H9N2 có khả năng bảo hộ chéo chống lại virus H5N1 thông qua miễn dịch tế bào
Hầu hết các loại kháng nguyên kích thích miễn dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào, mặc dù kiểu miễn dịch tối ưu nhất cho phòng vệ
có thể khác nhau đối với từng loại (Seo và cộng sự, 2001) [42] Các chủng virus cúm có thể bị tác động trực tiếp của đáp ứng miễn dịch ở những gia cầm
bị nhiễm Miễn dịch chống lại NA đóng vai trò bảo vệ cơ thể chống lại sự xâm nhiễm của virus do kháng thể chống NA ngăn cản virus chui ra khỏi các
tế bào đã bị nhiễm Chính vì vậy người ta chia miễn dịch đặc hiệu ra thành 2 loại: Miễn dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào
Trang 33* Miễn dịch dịch thể
Miễn dịch dịch thể do các tế bào lympho B đảm nhiệm Các lympho bào bắt nguồn từ tế bào nguồn ở tuỷ xương đi tới túi Fabricius, ở đây chúng được biệt hoá để trở thành các lympho B, sau đó di tản đến các cơ quan lympho ngoại biên Các tế bào lympho B khu trú ở các tâm điểm mầm và vùng tuỷ của lách, hạch lâm ba Trong hạch lâm ba, các tế bào lympho B có thể gặp một kháng nguyên và nhận biết kháng nguyên đó bởi các kháng thể có trên bề mặt của chúng Tế bào B có thể nhận dạng kháng nguyên khi nó tương tác với globulin miễn dịch nhô ra trên bề mặt tế bào Sau khi nhận biết kháng nguyên và được kích thích bởi các cytokines do tế bào T tiết ra, các tế bào lympho B được biệt hoá thành tương bào (plasma) để sản sinh kháng thể (Ian Tizard, 1982) [35] Chúng tiết ra các loại glubulin miễn dịch (Ig) gồm có 3 lớp chính là IgA, IgG, IgM
Đáp ứng của kháng thể khi gặp kháng nguyên lần đầu tiên được gọi đáp ứng tiên phát (sơ cấp) Sau khi xuất hiện vài ngày, hàm lượng kháng thể trong máu mới tăng và các kháng thể đầu tiên chủ yếu là IgM Đáp ứng tiên phát cũng có thể có IgG nhưng với hàm lượng thấp Kháng thể dịch thể chỉ có tác dụng với virus khi nó còn ở ngoài tế bào, lớp IgM và IgG kết hợp với virus với sự tham ra của bổ thể làm tiêu diệt virus Hai lớp kháng thể này còn ngăn virus không cho kết hợp với thụ thể (Recepter) trên bề mặt tế bào vật chủ tương ứng, ngăn cản sự hoà màng giữa vỏ virus và màng tế bào
Kháng thể dịch thể có thể hiện diện trong các loại dịch trong cơ thể nhưng thường được xác định (định lượng) trong huyết thanh Ở gia cầm có 3 lớp chính là:
+ IgA là Ig quan trọng nhất trong miễn dịch thuộc màng nhầy và tập
trung nhiều nhất ở các bề mặt nhầy IgA bảo vệ màng nhầy chống lại các mầm bệnh đặc biệt là virus bằng cách trung hoà và ngăn cản sự liên kết của
Trang 34chúng với các điểm tiếp nhận trên bề mặt tế bào đích, không cho virus xâm nhập vào trong
+ IgG của gia cầm lớn hơn của động vật có vú, thường được gọi là IgY
IgY có thể là tiền chất tổ tiên của IgE và IgG của động vật có vú
+ IgM được tìm thấy trên bề mặt của hầu hết các tế bào B và là kháng
thể được sản xuất ra đầu tiên trong phản ứng miễn dịch sơ cấp Sau đó các tế bào chuyển sang sản xuất IgG hoặc IgA (sự chuyển lớp) Khả năng gắn kết kháng nguyên của kháng thể không thay đổi trong hoặc sau khi chuyển lớp Các cytokin IL-4, TGF-β và IFN-γ kích thích tế bào trải qua sự chuyển lớp Một đáp ứng miễn dịch điển hình của gia cầm bắt đầu bằng sự sản xuất
ra IgM Sau vài lần đáp ứng miễn dịch chuyển sang sản xuất IgY IgG là kháng thể chính sinh ra trong miễn dịch thứ phát và chiếm ưu thế trong máu gia cầm Kháng thể IgM có thể phát hiện ở gia cầm chỉ sau khi bị nhiễm 5 ngày trong khi kháng thể IgG chỉ được phát hiện ở 7 - 9 ngày sau khi bị nhiễm Kháng thể IgA dường như rất yếu Vịt thường có đáp ứng miễn dịch yếu và thiếu kháng thể kháng kháng nguyên HA cả trong trường hợp nhiễm tự nhiên và gây bệnh thực nghiệm Một số nghiên cứu so sánh tính đáp ứng ở các loài chim khác nhau sử dụng nhiều loại kháng nguyên khác nhau cho thấy rằng việc tạo kháng thể mạnh hơn thường theo thứ tự: gà > gà lôi > gà tây > cút > vịt Kết quả nghiên cứu của Tian và cộng sự năm 2005 [45] cho thấy vaccine cúm gia cầm H5N1 vô hoạt nhũ dầu có thể bảo hộ cho vịt chống lại virus
* Miễn dịch đặc hiệu qua trung gian tế bào
Quá trình đáp ứng miễn dịch đặc hiệu qua trung gian tế bào do tế bào lympho T đảm nhiệm Các lympho bào bắt nguồn từ tuỷ xương di chuyển đến tuyến ức, tại đó chúng được huấn luyện, biệt hoá thành tiền lympho T, rồi thành lympho T chưa chín, sau đó thành lympho T chín Từ tuyến ức chúng di
Trang 35tản đến các cơ quan lympho ngoại vi như các hạch lâm ba, các mảng Payers ở ruột hoặc tới lách
Khi đại thực bào đưa thông tin đến các lympho T, chúng tiếp nhận, biệt hoá trở thành nguyên bào lympho T rồi thành tế bào mẫn cảm với kháng nguyên có chức năng như một kháng thể đặc hiệu và gọi là kháng thể tế bào Các lympho T thực hiện 2 chức năng quan trọng như sau:
+ Giúp đỡ các tế bào lympho B phát triển thành tương bào để sản xuất
kháng thể
hoạt hoá và tiêu diệt tế bào đích
+ Thực hiện phản ứng quá mẫn muộn
+ Sản xuất ra các cytokines có tác dụng điều khiển sự phát triển của các
dòng tế bào bạch cầu và các tế bào mầm của hệ thống tạo máu
+ Sản xuất các cytokines có tác dụng hoạt hoá các tế bào đại thực bào + Thúc đẩy quá trình sản xuất các phân tử glycoprtein MHC trên các tế
bào trình diện kháng nguyên
Đa số các tế bào T hỗ trợ thể hiện dấu ấn CD4 nhận biết kháng nguyên được trình diện trên bề mặt của các tế bào trình diện kháng nguyên với các phân tử MHC lớp II Chức năng này do 2 tiểu quần thể TH đảm trách TH1
tham gia phản ứng quá mẫn muộn, sản xuất IL-2 và Interferol γ, TH2 hỗ trợ tế bào B và sản xuất chủ yếu IL - 4, IL - 5
- Chức năng thực hiện: Do các lympho T mang dấu ấn CD8 đảm
nhiệm có 2 loại:
+ Lympho T gây độc (TC): Chúng gây độc đối với tế bào bị nhiễm virus, tế bào ung thư và mảnh ghép dị loài Chúng có khả năng nhận biết các mảnh peptit của kháng nguyên của tế bào đích gắn với phân tử MHC lớp 1
Trang 36+ Lympho T ức chế (TS): Chúng triệt thoái quá trình sản xuất imunoglomunin của tế bào B và triệt thoái ức chế các phản ứng quá mẫn muộn và miễn dịch tế bào
Sự phân bố và lưu hành virus cúm gia cầm đã xảy ra trong phạm vi toàn cầu do sự di trú của các dã cầm, do đó rất khó dự đoán khi nào virus xuất hiện, gây thành dịch cho đàn gia cầm nuôi và việc ngăn chặn sự tiếp xúc giữa các loài dã cầm với loài gia cầm nuôi có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển chăn nuôi gia cầm (Nguyễn Trung Tiến, 2006) [28]
1.5.2 Động vật cảm nhiễm
Tất cả các loài chim thuần dưỡng (gia cầm), chim hoang dã (đặc biệt thuỷ cầm di trú) đều mẫn cảm với virus Bệnh thường phát hiện khi lây nhiễm cho gia cầm (gà, gà tây, chim cút)
Phần lớn các loài gia cầm non đều mẫn cảm với virus cúm type A Virus cúm type A còn gây bệnh cho nhiều loài động vật có vú từ loài sống trên cạn đến loài sống dưới nước như lợn, ngựa, chồn, cá voi, hải cẩu, thú hoang dã và cả con người
Lợn mắc bệnh cúm thường do phân type H1N1 và H3N2 với biểu hiện giãn phế quản, phế nang có dịch tiết và hạch khí quản, phổi bị sưng, tụ huyết Vịt nuôi cũng bị nhiễm virus cúm nhưng ít phát bệnh do vịt có sức đề kháng với virus bệnh, kể cả những chủng có độc lực cao gây bệnh nặng cho
Trang 37gà và gà tây Tuy nhiên, năm 1961 ở Nam Phi đã phân lập được virus cúm type A H5N1 gây bệnh cho cả gà và vịt
Loài chồn cảm nhiễm cao với virus cúm Trong một ổ dịch tại một trại nuôi chồn ở Thụy Điển đã phân lập được virus cúm type A H4N10, chồn mắc bệnh 100% nhưng chỉ chết 3% Phân type này đang lưu hành trong các loài gia cầm Hiện nay đã phân lập được virus cúm từ vịt bầu, ngỗng, gà Nhật, gà
Các kết quả điều tra về sự phân bố rộng của virus cúm type A ở chim hoang dã và đặc biệt là vịt trời đã cho thấy: Sự kết hợp các kháng nguyên bề mặt H và N của các subtype virus cúm type A diễn ra ở chim hoang dã Những virus này không gây độc đối với vật chủ, chúng được nhân lên ở đường ruột khiến cho các loài này mang virus và là nguồn reo rắc virus cho các loài khác, đặc biệt là gia cầm
Đã có nghiên cứu phát hiện nhiều virus cúm từ những loài vịt đi đầu trong mùa di trú, sau khi xuất hiện đã gây ra dịch ở gà tây Vịt từ khi bị nhiễm đến khi bắt đầu thải virus trong vòng 30 ngày Theo tác giả Bùi Quang Anh
và cộng sự năm 2004 [1] cho biết, virus được duy trì trong số đông vịt trời cho tới mùa sinh sản tiếp theo lại truyền cho các con non theo đường tiêu hoá
do virus bài thải theo phân, gây ô nhiễm ao, hồ
Nghiên cứu sự lưu hành của virus cúm gia cầm ở khu vực Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long tác giả Nguyễn Tiến Dũng và cộng
Trang 38sự năm 2005 [14], đã phát hiện thấy vịt nuôi là con vật mang trùng và gây bệnh trong khu vực Châu thổ Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long, chính đàn vịt thuần hoá là nơi lưu giữ virus cúm gia cầm và gây ra dịch
ở địa phương sau khi đợt dịch lần thứ nhất kết thúc
1.5.4 Sự truyền lây
Khi gia cầm nhiễm virus cúm, virus được nhân lên trong đường hô hấp
và đường tiêu hoá Sự truyền lây của bệnh được thực hiện theo 2 phương thức:
- Lây trực tiếp: Do con vật mẫn cảm tiếp xúc với con vật mắc bệnh
thông qua các hạt khí dung được bài tiết từ đường hô hấp hoặc qua phân, thức
ăn và nước uống bị nhiễm Theo các tổ chức WHO và FAO thì con người có nguy cơ lây nhiễm virus cúm gia cầm cao nhất là do tiếp xúc trực tiếp với gia cầm bị bệnh trong quá trình bắt và giết mổ
- Lây gián tiếp: Lây gián tiếp qua các hạt khí dung trong không khí với
khoảng cách gần hoặc những dụng cụ chứa virus do gia cầm mắc bệnh bài thải qua phân hoặc lây qua chim, thú, thức ăn, nước uống, lồng nhốt, quần áo, phương tiện vận chuyển … Đây chính là phương thức lây truyền chủ yếu Như vậy virus cúm dễ dàng lây truyền tới vùng khác do con người, dụng cụ, thức ăn chăn nuôi và các phương tiện vận chuyển Đối với các virus gây bệnh cúm truyền nhiễm cao ở gia cầm thì sự truyền lây chủ yếu qua phân
và đường miệng Bệnh chủ yếu truyền ngang (do tiếp xúc), chưa có bằng chứng cho thấy bệnh có thể truyền dọc (qua phôi thai) vì những phôi bị nhiễm virus thường chết mà không phát triển được
1.5.5 Cơ chế sinh bệnh
Virus xâm nhập qua đường hô hấp hay tiêu hóa và nhân lên trên tế bào niêm mạc, sau đó virus theo hệ thống mạch máu hay bạch huyết gây nhiễm trùng huyết và nhân lên ở các cơ quan nội tạng, não và da Sự tổn hại do virus cúm gây ra là kết quả của một trong 3 tiến trình:
- Việc nhân lên trực tiếp của virus trong tế bào, mô và cơ quan
Trang 39- Ảnh hưởng gián tiếp từ sự sản sinh các chất trung gian tế bào như cytokine
- Nghẽn mạch cục bộ do huyết khối
Đối với virus có độc lực thấp thì việc nhân lên thường giới hạn ở đường
hô hấp và tiêu hóa Gia cầm có biểu hiện bệnh và chết đa số thường do tổn hại
cơ quan hô hấp đặc biệt khi kèm theo nhiễm trùng thứ phát
1.6 TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH CÚM GIA CẦM
Các dấu hiệu lâm sàng của bệnh cúm gia cầm rất khác nhau và bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố như: Độc lực của virus, loài nhiễm bệnh, lứa tuổi, nhiễm vi khuẩn kế phát hoặc các yếu tố môi trường tác động Do đó bệnh lý gây ra ở mỗi ổ dịch cũng khác nhau
* Trường hợp nhiễm virus không độc lực: Gia cầm bệnh không có
những dấu hiệu lâm sàng nhưng có thể có sự biến đổi huyết thanh Tuy nhiên một số chủng không độc lực có khả năng trở thành độc lực thông qua sự biến đổi gen
* Trường hợp nhiễm virus độc lực thấp hoặc trung bình: Chim hoang
dã nhiễm virus cúm không có dấu hiệu lâm sàng Gia cầm nuôi có các bất thường trong cơ quan hô hấp, tiêu hóa, bài tiết, sinh dục Dấu hiệu phổ biến nhất là các triệu chứng hô hấp từ nhẹ tới nặng như ho, hắt hơi, tiết nhiều nước bọt Tỷ lệ chết từ 3% ở gà đẻ nuôi nhốt lồng, 15% ở gà thịt Trên gà đẻ và gà giống, gà mái ủ rủ, sản lượng trứng giảm 45% và trở lại bình thường sau 2 - 4 tuần
* Trường hợp nhiễm virus độc lực cao: Gia cầm chết nhanh đột ngột
mà không có triệu chứng trong vòng 24 - 48 giờ Tỷ lệ bệnh, chết có thể lên đến 100% Có thể phát hiện các dấu hiệu như: Giảm hoạt động, kém ăn, yếu gầy, giảm sản lượng trứng, sốt, ho, khó thở chảy nước mắt, đứng tụm lại một chỗ, lông xù Dấu hiệu đặc trưng là phù đầu, mặt, da tím tái, chân xuất huyết hoặc rối loạn thần kinh như run đầu, cổ, không đứng được, trẹo cổ
Trang 40cơ
Nếu bệnh diễn tiến chậm sẽ có bệnh tích xuất huyết điểm, các vết bầm
ở tất cả các cơ quan: thanh quản, khí quản, vành đai tim, bộ máy tiêu hóa (mề, tiền mề, ruột, hậu môn) Gia cầm bệnh có bệnh tích phù dưới da rất nặng, nhất
là ở đầu và khớp gối Buồng trứng đôi khi có xuất huyết nặng Thường có các
ổ hoại tử trên tụy, lách, tim, thỉnh thoảng trên gan và thận (Swayne, 2003) [44], (Lê Văn Năm, 2004) [21]
1.8 CHẨN ĐOÁN
1.8.1 Chẩn đoán lâm sàng
Chẩn đoán phân biệt lâm sàng dựa vào triệu chứng, bệnh tích và tính chất dịch tễ để xác định bệnh cúm gia cầm với các bệnh khác như Newcastle, viêm thanh khí quản truyền nhiễm, viêm phế quản truyền nhiễm, bạch lỵ… Phổ
biến là virus cúm thường ghép với Mycoplasma Trong trường hợp gia cầm bị
bệnh tụ huyết trùng và các bệnh nhiễm trùng huyết khác, có thể quan sát thấy hiện tượng phù ở mào và tích ở gia cầm bệnh
1.8.2 Chẩn đoán phòng thí nghiệm
v Chẩn đoán virus học
* Phân lập và định danh
Phương pháp thích hợp để phân lập virus là tiêm truyền qua phôi trứng
gà hoặc tế bào nuôi cấy Để giám định virus phân lập được, dùng phản ứng HI với kháng huyết thanh chuẩn của các type phụ