luận văn, tiến sĩ, thạc sĩ, báo cáo, khóa luận, đề tài
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp Hà Nội
- -Vũ Mạnh Bao
Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bón các chất dinh dưỡng
Ca, Mg, S, Si đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng sản phẩm của cây lúa trên đất bạc màu ở Vĩnh Phúc
luận văn thạc sĩ kỹ thuật
Chuyên ngành: Trồng trọt M số: 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Như Hà
Hà Nội - 2008
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Hâ nội, ngày tháng 9 năm 2008
Tác giả luận văn
Vũ Mạnh Bao
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này ngoài sự nỗ lực cố gẵng của bản thân, tôi nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ tận tình, quý báu của các thầy cô, bạn bè, người thân và các cơ quan, đơn vị
Như Hà đF tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ chỉnh sửa hoàn chỉnh nội dung bản luận văn;
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn: Các Thầy, Cô bộ môn Cây Lương thực, khoa Nông học đF có những ý kiến quý báu giúp tôi chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện luận văn; Các Thầy, Cô giáo bộ môn Nông hóa, khoa Tài nguyên
và Môi trường đF giúp đỡ tôi phân tích các chỉ tiêu nghiên cứu; Cán bộ và nhân dân hai xF Minh Quang (Tam Đảo) và Tân Phong (Bình Xuyên) và gia
đình đF giúp đỡ bố trí và thực hiện thành công thí nghiệm;
viên khoa Sau Đại học cùng LFnh đạo, đồng nghiệp nơi tôi công tác đF tạo
điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học và thực hiện thành công bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm./
Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2008
Tác giả luận văn
Vũ Mạnh Bao
Trang 4Mục lục
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình, đồ thị viii
Danh mục các ảnh ix
1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Vai trò của cây lúa trong sản xuất nông nghiệp và nền kinh tế
quốc dân 4
2.2 Đặc điểm chung về cây lúa 5
2.3 Vai trò của phân bón trong sản xuất nông nghiệp 8
2.4 Yêu cầu dinh dưỡng của cây lúa 10
2.5 Vấn đề bón phân cân đối cho lúa 25
3 NộI DUNG Và PHưƠNG PHáP NGHIÊN CƯú 31
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 31
3.2 Vật liệu nghiên cứu 31
3.3 Nội dung nghiên cứu 31
3.4 Phương pháp nghiên cứu 32
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 36
4.1 Kết quả điều tra thực địa 36
4.1.1 Kết quả phân tích đất 36
4.1.2 Kết quả điều tra hiện trạng sử dụng phân bón của các hộ nông dân
tại 2 địa điểm nghiên cứu 37
4.2 Kết quả thí nghiệm đồng ruộng tại Minh Quang - Tam Đảo 40
Trang 54.2.1 ảnh hưởng của việc phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K đến
sự phát triển chiều cao và số dảnh của cây lúa 40
4.2.2 ảnh hưởng của bón thêm các chất dinh dưỡng S, Ca, Mg, Si với
N, P, K cho lúa đến tình hình sâu bệnh hại lúa 44
4.2.3 ảnh hưởng của việc phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K đến việc
tích luỹ các chất dinh dưỡng chính vào cây lúa 45
4.2.4 ảnh hưởng của việc phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K đến các
yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa 48
4.2.5 ảnh hưởng của việc phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K đến câc
năng suất và hệ số kinh tế của cây lúa 51
4.2.6 ảnh hưởng của việc phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K đến
chất lượng lúa gạo 53
4.2.7 Hiệu quả của của việc phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K cho lúa
trên đất bạc màu .55
4.3 Kết quả thí nghiệm đồng ruộng tại x Tân Phong - Bình Xuyên - Nghiên cứu bón phối hợp đồng thời các chất S, Ca, Mg, Si cho lúa
trên đất bạc màu .58
4.3.1 ảnh hưởng của bón phối hợp đồng thời S, Ca, Mg, Si với N, P, K
đến sinh trưởng và phát triển của cây lúa 58
4.3.2 ảnh hưởng của bón phối hợp đồng thời S, Ca, Mg, Si với N, P, K
đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa 58
4.3.3 Hiệu quả của việc bón phối hợp đồng thời S, Ca, Mg, Si với N, P, K cho lúa trên đất bạc màu 61
4.4 Kết quả xây dựng mô hình phối hợp bón đồng thời S, Mg, Ca, Si
với N, P, K cho lúa trên đất bạc màu 62
5 Kết luận và đề nghị 68
5.1 Kết luận .68
5.2 Đề nghị 69
TàI LIệU THAM KHảO 70
PHụ LụC 1 75
PHụ LụC 2 76
Trang 6Danh môc c¸c tõ viÕt t¾t
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 2.1 Đóng góp của phân bón trong năng suất cây trồng 10
Bảng 2.2 Hiệu lực và nhu cầu kali của cây lúa trên đất phù sa sông Hồng 17
Bảng 2.3 Bón phân cân đối cho lúa đông xuân 26
Bảng 2.4 Kết quả tổng hợp về lượng N, P, K bón cho lúa trên đất bạc màu 29 Bảng 2.5 Kết quả tổng hợp về lượng Ca, Mg, S, Si bón cho lúa 30
Bảng 3.1 Công thức thí nghiệm tại x Minh Quang huyện Tam Đảo 32
Bảng 3.2 Công thức thí nghiệm tại x Tân Phong huyện Bình Xuyên 33
Bảng 4.1 Một số tính chất nông hoá đất tại các điểm nghiên cứu 36
Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng phân bón của các nông hộ tham gia mô hình tại Minh Quang - Tam đảo 37
Bảng 4.3 Hiện trạng sử dụng phân bón của các nông hộ tham gia mô hình
tại Tân Phong - Bình Xuyên 37
Bảng 4.4 Hiện trạng phương pháp bón phân của các hộ nông dân tham gia mô hình 39
Bảng 4.5 ảnh hưởng của việc phối hợp bón riêng và đồng thời S, Ca, Mg, Si
với N, P, K đến sự phát triển chiều cao và số dảnh của cây lúa 41
Bảng 4.6 ảnh hưởng của bón thêm các chất dinh dưỡng S, Ca, Mg, Si đến
tình hình sâu bệnh hại lúa ở các thời kỳ làm đòng, trỗ 44
Bảng 4.7 ảnh hưởng của việc phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K đến việc tích luỹ các chất dinh dưỡng chính vào cây lúa 46
Bảng 4.8 ảnh hưởng của việc phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K đến việc hút N, P, K vào cây lúa 47
Bảng 4.9 ảnh hưởng của việc phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa 49
Bảng 4.10 ảnh hưởng của việc phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K đến các năng suất và hệ số kinh tế của cây lúa 52
Trang 8Bảng 4.11 ảnh hưởng của việc phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K đến
chất lượng lúa gạo 53
Bảng 4.12 Hiệu quả của các công thức bón phân cho lúa trên đất bạc màu 55 Bảng 4.13 ảnh hưởng của phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K ủến
sinh trưởng và phát triển của cây lúa trên đất bạc màu 58
Bảng 4.14 ảnh hưởng của phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K tới đến
các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa 59
Bảng 4.15 Hiệu quả của việc phối hợp bón đồng thời S, Ca, Mg, Si với
N, P, K cho lúa trên đất bạc màu 61
Bảng 4.16 Kết quả của mô hình phối hợp bón đồng thời S, Ca, Mg, Si
với N, P, K cho lúa trên đất bạc màu 63
Trang 9Danh mục các hình, đồ thị
Hình 2.1 Sơ đồ sinh trưởng, phát triển của cây lúa 6
Đồ thị 4.1 ảnh hưởng của việc phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K
đến năng suất lúa 51
Đồ thị 4.2 ảnh hưởng của việc phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K
đến hiệu quả phân bón 56
Đồ thị 4.3 ảnh hưởng của việc phối hợp bón đến hiệu suất phân bón 57
Đồ thị 4.4 ảnh hưởng của việc phối hợp bón đồng thời S, Ca, Mg, Si
với N, P, K đến năng suất lúa 59
Đồ thị 4.5 ảnh hưởng của việc phối hợp bón đồng thời S, Ca, Mg, Si với
N, P, K đến hiệu quả phân bón tại Tân Phong – Bình Xuyên 62
Trang 10Danh mục các ảnh
ảnh 4.1 Thí nghiệm phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K tại x
Minh Quang – Tam Đảo – Vĩnh Phúc 54
ảnh 4.2 Thí nghiệm phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K tại x
Tân Phong – Bình Xuyên – Vĩnh Phúc 60
ảnh 4.3 Mô hình phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K tại x
Minh Quang – Tam Đảo – Vĩnh Phúc 64
ảnh 4.4 Hội nghị tổng kết mô hình phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với
N, P, K tại x Minh Quang – Tam Đảo – Vĩnh Phúc 64
ảnh 4.5 PGS TS Nguyễn Nh− Hà trong hội nghị tổng kết mô hình phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K tại x Minh Quang – Tam Đảo – Vĩnh Phúc 65
ảnh 4.6 Nông dân thăm quan đánh giá kết quả mô hình phối hợp bón
S, Ca, Mg, Si với N, P, K tại x Tân Phong – Bình Xuyên –
Vĩnh Phúc 65
ảnh 4.7 Đánh giá kết quả thí nghiệm phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với
N, P, K tại x Tân Phong – Bình Xuyên - Vĩnh Phúc 66
ảnh 4.8 Hội nghị tổng kết mô hình phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với
N, P, K tại x Tân Phong - Bình Xuyên - Vĩnh Phúc 66
ảnh 4.9 PGS TS Nguyễn Nh− Hà kiểm tra đánh giá kết quả mô hình
phối hợp bón S, Ca, Mg, Si với N, P, K tại x Tân Phong – Bình Xuyên – Vĩnh Phúc 67
Trang 111 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Đất là nguồn tài nguyên vô cùng quý báu, người ta ví: “tấc đất tấc vàng” Hiện nay, dân số ngày càng tăng cùng với việc phát triển công nghiệp
và đô thị đ làm cho diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp Những vùng
đất đai màu mỡ vốn chuyên dùng để canh tác nông nghiệp thì nay cũng đang
bị giảm dần, trong khi đó nhu cầu về lương thực ngày càng tăng Việc canh tác trên những vùng đất tốt đ không đủ lương thực cung cấp cho con người Vấn đề đặt ra là phải canh tác tốt hơn trên cả những vùng đất không màu mỡ,
đất xấu như đất bạc màu, để không chỉ khai thác hết tiềm năng của loại đất này mà còn có thể cải tạo, nâng cao độ phì nhiêu đất trong quá trình canh tác
Đất bạc màu phân bố rải rác trên khắp cả nước nhưng tập trung chủ yếu
ở những tỉnh trung du đồi núi Do đất có địa hình dốc, bậc thang cùng với điều kiện ngoại cảnh đ tạo thuận lợi cho quá trình xói mòn, rửa trôi mạnh làm thoái hoá và bạc màu đất Đất bạc màu có đặc điểm chính là hàm lượng các chất dinh dưỡng đều thấp (kể cả chất silic vốn có rất nhiều trong đất), thành phần cơ giới đất nhẹ, cùng với việc khai thác sử dụng đất lạc hậu làm cho đất ngày càng xấu hơn Tuy nhiên, đất bạc màu cũng có ưu thế là có thể trồng nhiều loại cây trồng khác nhau với hiệu quả sản xuất cao nếu biết áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý
Trên thế giới, lúa là một trong ba cây lương thực chính (lúa mì, lúa gạo
và ngô) Ngoài việc sử dụng chủ yếu làm lương thực, lúa gạo còn được dùng làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, xuất khẩu, chăn nuôi Hiện nay trên thế giới có khoảng 100 nước trồng lúa, ở nhiều nước sản lượng lúa có ý nghĩa rất lớn trong đời sống x hội, là nền tảng của nền kinh tế quốc dân
Đối với Việt Nam, lúa là cây lương thực quan trọng nhất và là cây trồng phổ biến trên đất bạc màu Những năm gần đây nhờ áp dụng những biện pháp
Trang 12kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp mà nước ta từ một nước thiếu ăn đ có gạo xuất khẩu đứng thứ 2 thế giới, đóng góp một phần đáng kể vào thu nhập quốc dân
Trong sản xuất lúa bón phân là biện pháp kỹ thuật quan trọng nhất làm tăng năng suất, phân bón là một khâu đầu tư chiếm tỷ lệ lớn trong chi phí sản xuất nên sử dụng phân bón đạt hiệu quả cao có vai trò rất quan trọng làm tăng hiệu quả kinh tế cho sản xuất lúa
Để sử dụng phân bón đạt hiệu quả cao, cần bón phân nhằm cung cấp
đầy đủ các chất dinh dưỡng theo đúng nhu cầu của cây ở từng thời kỳ sinh trưởng, phù hợp với từng loại đất trồng hay còn gọi là bón phân cân đối Vì để phát triển khoẻ mạnh, cho năng suất và phẩm chất cao, ở mỗi thời kỳ sinh trưởng, cây lúa cùng một lúc hút nhiều yếu tố dinh dưỡng từ các chất đa lượng (N, P, K) tới các chất trung lượng (Ca, Mg, S) và các chất dinh dưỡng khác theo một tỷ lệ cân đối và xác định Trên đất bạc màu muốn trồng lúa đạt năng suất và chất lượng cao, giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả kinh tế và lợi nhuận cho người sản xuất, đồng thời ổn định độ phì nhiêu của đất và phát triển sản xuất theo hướng bền vững, cần phải bón phân cân đối không chỉ nhiều về
số lượng các chất dinh dưỡng đa lượng (N, P, K) mà còn phải nhiều yếu tố dinh dưỡng cần thiết khác Nhưng trong thực tế sản xuất hiện nay, người trồng trọt thường chỉ quan tâm bón các yếu tố đa lượng (N, P, K) mà chưa thực sự quan tâm tới các yếu tố dinh dưỡng khác Vì vậy các yếu tố này ngày càng bị thiếu hụt đ và đang là yếu tố hạn chế năng suất và chất lượng sản phẩm của cây lúa Để làm sáng tỏ vấn đề này, tạo cơ sở khoa học cho việc bón phân cân
đối cho cây lúa trên đất bạc màu chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bón các chất dinh dưỡng Ca, Mg, S, Si đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng sản phẩm của cây lúa trên đất bạc màu ở Vĩnh Phúc ”
Trang 131.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích của đề tài
Xác định hiệu quả của việc bón riêng và phối hợp các chất dinh dưỡng
Ca, Mg, S, Si trên nền N, P, K cho lúa nhằm xác định công thức bón phân cân
đối đạt hiệu quả cao cho lúa trên đất bạc màu
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
Để nông dân thấy rõ hiệu quả của công thức bón phân cân đối cho cây lúa trên đất bạc màu, trong nghiên cứu bố trí so sánh (tương đối) công thức bón phân cân đối với công thức bón phân theo nông dân và công thức chỉ bón N, P,
K tại 2 điểm nghiên cứu và trong sản xuất đại trà
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành trên đất bạc màu tại 2 địa điểm khác nhau của tỉnh Vĩnh Phúc, trong vụ xuân năm 2007
- Trong nghiên cứu sử dụng giống lúa Khang dân 18, là giống lúa thuần có khả năng thâm canh, được trồng phổ biến trong sản xuất
Trang 142 Tổng quan tài liệu
2.1 Vai trò của cây lúa trong sản xuất nông nghiệp và nền kinh tế quốc dân
Lúa là một trong những cây ngũ cốc có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất Theo các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, ấn Độ, Việt Nam cây lúa đ có mặt
từ 2000 - 3000 năm trước công nguyên [14]
Lúa là cây lương thực quan trọng ở nhiều nước, lúa gạo có ảnh hưởng tới đời sống của ít nhất 65% số dân thế giới, vì có khoảng 40% dân số trên thế giới coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, 25% sử dụng lúa gạo trên 1/2 khẩu phần lương thực hàng ngày[14] Lúa gạo còn là nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất rượu bia, chế tạo sơn cao cấp, làm mỹ phẩm
Sản xuất lúa tập trung nhiều nhất ở châu á, với mức tiêu dùng hàng năm khoảng 180 - 200kg/người trong khi đó ở các nước châu Âu, Mỹ là khoảng 10kg/ người [4] Sản lượng của vùng Nam và Đông Nam á chiếm tỷ
lệ trên 71% tổng sản lượng các loại ngũ cốc, điều đó đ nói lên vị trí cực kỳ quan trọng của cây lúa trong nền nông nghiệp của vùng châu á nhiệt đới ẩm phía Nam và Đông Nam á
Việt Nam có điều kiện khí hậu nhiệt đới, rất thuận lợi cho việc trồng lúa Mặt khác, lúa còn là cây lương thực, cây trồng chủ yếu trong một nước có phần lớn dân số có nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp với bình quân diện tích đất nông nghiệp/người rất thấp Do vậy, vấn đề sản xuất lúa, an ninh lương thực và thu nhập của nông dân luôn rất được quan tâm Những năm gần đây do áp dụng các biện pháp khoa học tiên tiến vào trong sản xuất nông nghiệp, nước ta từ chỗ hàng năm phải nhập 0,8 triệu tấn lương thực đến chỗ tự túc được lương thực cho 85 triệu dân, và còn trở thành nước
Trang 15xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới Năng suất lúa bình quân là 6 - 8 tấn/ ha/năm, những nơi điển hình như Thái Bình cho năng suất 14 - 15 tấn/ ha/ năm [19]
Với những thành tựu mà nền nông nghiệp đ đạt được như trên càng chứng tỏ cây lúa đ khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong sản xuất nông nghiệp cũng như trong nền kinh tế quốc dân
2.2 Đặc điểm chung về cây lúa
Cây lúa có tên khoa học là Oryza sativa, có thể gieo trồng trong điều
kiện nhiệt đới và á nhiệt đới Cây lúa có thể sinh trưởng trong phạm vi nhiệt
độ từ 10 - 400C, nhiệt thích hợp nhất cho sinh trưởng: 22 - 300C Khi nhiệt độ thấp hơn 200C làm cho cây lúa chậm phát triển, thấp hơn 150C gây hại cho cây lúa, mức độ hại tùy thuộc vào giai đoạn sinh trưởng Cường độ ánh sáng thuận lợi cho hoạt động quang hợp của cây lúa là 250 - 400 calo/cm2/ngày Thời gian chiếu sáng ngắn 9 - 10 giờ/ngày có tác dụng rõ đối với việc xúc tiến quá trình làm đòng và trỗ bông
Tuy cũng giống nhiều cây trồng khác, lúa cần lượng mưa khoảng 900 - 1100mm cho một vụ lúa (nếu hoàn toàn phụ thuộc vào nước trời) và nhu cầu nước qua các thời kỳ sinh trưởng không giống nhau Nhưng lúa có yêu cầu đặc biệt về nước, trong đất ngập nước, cây lúa được cung cấp nước thuận lợi nhất
và cho năng suất cao, ổn định nhất. Vì vậy tuy cây lúa có thể trồng trên các loại đất khác nhau nhưng đất trồng lúa tốt cần có khả năng giữ nước tốt, có thành phần cơ giới (TPCG) thịt trung bình, hay nặng, có pH thích hợp nhất trong khoảng 5,5 - 6,0, giàu các chất dinh dưỡng
Thời vụ gieo cấy ở các vùng khác nhau tuỳ theo điều kiện thời tiết, khí hậu ở đồng bằng Bắc bộ có 2 vụ chính: vụ mùa và vụ xuân, mỗi vụ đều có thể chia ra các trà cấy sớm, chính vụ và muộn Vụ mùa có thời vụ cấy của 3 trà từ 25/6 - 25/8 Vụ xuân có thời vụ cấy của 3 trà cấy từ 15/1 - 5/3
Trang 16Thời gian sinh trưởng của cây lúa thay đổi từ 90 đến 180 ngày, tuỳ theo
giống và điều kiện ngoại cảnh ở miền Bắc, do thời tiết biến động trong năm,
nên thời gian sinh trưởng của cây lúa cũng thay đổi theo thời vụ cấy Trong điều
kiện bình thường, các giống có khả năng thâm canh tăng vụ cao thường có thời
gian sinh trưởng khoảng 100 - 120 ngày Đối với các giống lúa thường có thời
kỳ sinh trưởng sinh thực khoảng 60 ngày, trong đó có thời kỳ làm đòng khoảng
30 ngày và thời kỳ chín khoảng 30 ngày Sự khác nhau của các giống lúa về
thời gian sinh trưởng chủ yếu là ở thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng Lúa cấy
thường chín muộn hơn lúa gieo thẳng khoảng 7 - 10 ngày do phải mất thời gian
Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng Thời kỳ sinh trưởng sinh thực
Hình 2.1 Sơ đồ sinh trưởng, phát triển của cây lúa
(Thời gian sinh trưởng 120 ngày trong điều kiện nhiệt đới)
Trong toàn bộ đời sống của cây lúa có thể chia ra hai thời kỳ sinh
trưởng chủ yếu là sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực
Nhỏnh vụ hiệu
Số bụng
Trọng lượng hạt
Trang 17Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng được tính từ lúc gieo đến lúc làm đòng,
là thời kỳ cây lúa hình thành và phát triển lá, rễ, nhánh ở lúa cấy thời kỳ này
có thể chia ra các giai đoạn: mạ ở ruộng mạ và đẻ nhánh ở ruộng cấy Trong
đó giai đoạn mạ kéo dài khoảng 20 ngày từ khi gieo mạ đến khi cây có khoảng 4 - 5 lá; giai đoạn đẻ nhánh kéo dài khoảng 40 ngày từ khi cấy đến khi cây lúa bắt đầu có đòng; trong đó 10 - 13 ngày đầu là giai đoạn bén rễ hồi xanh, giai đoạn đẻ nhánh hữu hiệu chỉ khoảng 20 ngày tiếp theo Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành số bông, là yếu
tố cấu thành năng suất có ý nghĩa quyết định đối với cây lúa[19]
Thời kỳ sinh trưởng sinh thực, bắt đầu từ lúc làm đòng cho đến khi thu hoạch Bao gồm các quá trình làm đòng, trỗ bông và hình thành hạt Thời kỳ này quyết định các yếu tố cấu thành năng suất: số hạt trên bông, tỷ lệ hạt chắc
và trọng lượng 1000 hạt, là thời kỳ có ảnh hưởng trực tiếp nhất đến năng suất thu hoạch
Đặc điểm hệ rễ của cây lúa
Lúa là cây trồng có bộ rễ chùm với số lượng có thể đạt tới 500 - 800 cái, tổng chiều dài rễ ở thời kỳ trỗ bông có thể đạt đến 168 m Bộ rễ lúa tăng dần về số lượng và chiều dài qua các thời kỳ đẻ nhánh - làm đòng và thường
đạt tối đa vào thời kỳ trỗ bông sau đó lại giảm đi Thời kỳ đẻ nhánh - làm
đòng bộ rễ phát triển có hình bầu dục nằm ngang, còn thời kỳ trỗ bông bộ rễ lúa phát triển xuống sâu có hình quả trứng ngược
Bộ rễ lúa phân bố ở lớp đất 0 - 20 cm, trong đó phần lớn ở lớp đất mặt 0 -
10 cm Lúa là cây trồng có bộ rễ ăn nông và có thời gian từ cuối đẻ nhánh đến
đầu làm đòng rễ ăn nổi trên mặt đất Đối với lúa gieo thẳng, bộ rễ thường phát triển mạnh ở lớp đất mặt, phân nhánh nhiều Các biện pháp làm đất, bón phân, tưới nước, làm cỏ có ảnh hưởng đến sự phát triển của bộ rễ
Trang 18Lúa thấp cây, có khả năng thâm canh cao cần cấy dày để đạt được mật
độ tối thích Khi cấy dày, tổng số rễ lúa tăng nên mở rộng được diện tích hút chất dinh dưỡng của quần thể ruộng lúa nhưng diện tích dinh dưỡng của cá thể càng bị thu hẹp, trọng lượng trung bình của bộ rễ từng cây lúa giảm Muốn cho cá thể sinh trưởng và phát triển tốt cần tăng lượng phân bón tương ứng với mức độ cấy dày, như vậy mới có thể phát huy hơn nữa hiệu quả của việc cấy dày và làm tăng năng suất Mật độ cao, bón phân nhiều là hai biện pháp bổ sung cho nhau làm cho quần thể phát triển mạnh
2.3 Vai trò của phân bón trong sản xuất nông nghiệp
Trên thế giới và trong nước đ có nhiều nghiên cứu về phân bón đối với cây lúa Các kết quả thu được chứng minh rằng phân bón đóng vai trò rất quan trọng đối với năng suất cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng
Trong lịch sử phát triển nông nghiệp, phân bón luôn được coi là yếu tố quan trọng (sau nước) trong hệ thống canh tác để tăng năng suất cây trồng, theo Viện Khoa Học Nông Nghiệp Rumani, “không cách nào hiệu lực hơn để nâng cao năng suất bằng phân bón” [19]
Hiệp hội Phân bón Quốc tế (IFA) đ tiến hành nghiên cứu tại các nước phát triển trong những năm 1970 và chỉ rõ: Nếu không sử dụng phân bón thì sản lượng lương thực ở các nước này chắc chắn sẽ giảm từ 40 - 50% [3]
Đánh giá của FAO năm 1984 cho thấy 50% sản lượng nông nghiệp tăng
ở các nước đang phát triển trong thập kỷ 70 là do sử dụng phân bón [50]
Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI), Uỷ ban lúa gạo Quốc tế (IRC), Viện Nghiên cứu Nông hoá Mỹ đ khẳng định: Gần 50% năng suất là do tác dụng của phân bón còn hơn 50% kia là do các yếu tố khác như thuốc trừ sâu bệnh, bộ giống mới, thuỷ lợi (đầy đủ)… [19] Nhờ kỹ thuật canh tác cải tiến trong đó chủ yếu là nhờ tăng cường sử dụng phân bón mà trong 2 thập kỷ, tổng sản lượng lương thực của toàn thể châu Âu tăng gấp 3 lần [50]
Trang 19Theo Puri (1991) ở khu vực châu á Thái Bình Dương, từ năm 1979
-1989 sản lượng ngũ cốc tăng, trong đó 75% là do sử dụng phân bón [61] Theo
số liệu của Nga: Đất xấu, phân bón quyết định 60 - 70% năng suất; đất tốt từ
40 - 45%
Theo Schnutz & Hartman, 1994 tại Đức, nếu giảm một nửa lượng phân
đạm trong trồng trọt thì năng suất cây trồng sẽ giảm 22% trong giai đoạn ngắn hạn; 25 - 30% trong giai đoạn trung hạn, thu nhập trang trại giảm 12%, lợi nhuận của các trang trại giảm 40%, tổng sản lượng hoa màu giảm 10% [43]
Theo Vexkull và Mutext (1993), trước năm 1949 nông dân Trung Quốc chỉ bón phân hữu cơ, năng suất lúa chỉ đạt 2,2 tấn/ ha, năm 1990 trong tổng số dinh dưỡng bón cho lúa được cung cấp từ phân hữu cơ: Đạm chiếm 24%, lân chiếm 32%, kali chiếm 19% số dinh dưỡng thiếu hụt do phân hoá học cung cấp, năng suất đạt 5,8 tấn/ ha [48]
Tại ấn Độ, phân bón đ góp phần quan trọng trong việc tăng tổng sản lượng ngũ cốc của nước này từ 1% năm 1950 lên tới 58% năm 1995 Theo
đánh giá của M.Velayutham, mức đóng góp vào sản lượng lương thực gia tăng của phân bón là 60% [48]
Theo Banarte (1989), một đơn vị phân khoáng nguyên chất (N + P2O5 +
K2O) đ làm tăng 10 đơn vị hạt ngũ cốc ở châu á, 5 đơn vị ở châu Phi và châu
Mỹ Latinh [48]
Tại Nhật Bản (Asuzuki, 1997) qua thử nghiệm dài hạn, sau 50 năm bón
N, P, K các thửa ruộng được bón phân không bị giảm năng suất qua các năm
và có sản lượng gấp 2,5 lần sản lượng của ruộng không bón phân [48]
ở Việt Nam, theo Bùi Đình Dinh (1995), tổng lượng N, P, K được bón cho 1ha canh tác năm 1993 tăng gấp 3,5 lần so với năm 1981 là nhân tố quan trọng làm cho năng suất cây trồng tăng đáng kể so với chỉ bón đạm, lân: Năng
Trang 20suất lúa tăng được 49% trên đất dốc tụ, tăng 53% trên đất bạc màu, tăng 21% trên đất xám bạc màu [8]
Bảng 2.1 Đóng góp của phân bón trong năng suất cây trồng
(Trung bình 10 năm)
2.4 Yêu cầu dinh dưỡng của cây lúa
2.4.1 Yêu cầu dinh dưỡng đạm của cây lúa
2.4.1.1 Vai trò của dinh dưỡng đạm đối với cây lúa
Đạm là một yếu tố dinh dưỡng quan trọng, quyết định sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng Đạm là một trong những nguyên tố cơ bản của cây trồng, là thành phần cơ bản của axit amin, axit nucleotit và diệp lục Trong thành phần chất khô của cây có chứa từ 0,5 - 6% đạm tổng số Hàm lượng
đạm trong lá liên quan chặt chẽ với cường độ quang hợp và sản sinh lượng
Trang 21sinh khối Đối với cây lúa thì đạm lại càng quan trọng hơn, nó có tác dụng trong việc hình thành bộ rễ, đẻ nhánh, sự phát triển thân lá và năng suất lúa
Do đạm thúc đẩy cây sinh trưởng nhanh (chiều cao, số dảnh) và tăng kích thước lá, làm đòng, số hạt, tỷ lệ hạt chắc, hàm lượng protein trong hạt [19][14]
2.4.1.2 Đặc điểm dinh dưỡng đạm của cây lúa
Nhu cầu đạm của cây lúa đ được nhiều nhà khoa học trên thế giới đi sâu nghiên cứu và có nhận xét chung là: Nhu cầu đạm của cây lúa có tính chất liên tục từ đầu thời kỳ sinh trưởng cho đến lúc thu hoạch Trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa có hai thời kỳ mà nhu cầu dinh dưỡng đạm cao nhất đó là thời kỳ đẻ nhánh rộ và thời kỳ làm đòng ở thời kỳ đẻ nhánh rộ cây hút nhiều đạm nhất [19]
Theo các tác giả Đinh Văn Lữ (1978); Bùi Huy Đáp (1980); Đào Thế Tuấn (1980); và Nguyễn Hữu Tề (1997): Thông thường cây lúa hút 70% tổng lượng đạm là trong giai đoạn đẻ nhánh, đây là thời kỳ hút đạm có ảnh hưởng lớn đến năng suất; 10 - 15% là hút ở giai đoạn làm đòng, lượng còn lại là từ giai đoạn sau làm đòng đến chín [52]
Theo S.Yoshida, 1985, lượng đạm cây hút ở thời kỳ đẻ nhánh quyết
định tới 74% năng suất Bón nhiều đạm làm cây lúa đẻ nhánh khoẻ và tập trung, tăng số bông/m2; số hạt/ bông, nhưng trọng lượng nghìn hạt (P1000) ít thay đổi [56]
Qua nhiều năm nghiên cứu, Đào Thế Tuấn đ đi đến nhận xét: Cây lúa
được bón đạm thoả đáng vào thời kỳ đẻ nhánh rộ thúc đẩy cây lúa đẻ nhánh khoẻ và hạn chế số nhánh bị lụi đi ở thời kỳ đẻ nhánh của cây lúa, đạm có vai trò thúc đẩy tốc độ ra lá, tăng tỉ lệ đạm trong lá, tăng hàm lượng diệp lục, tích luỹ chất khô và cuối cùng là tăng số nhánh đẻ [38]
Trang 22Theo nhiều tác giả (Bùi Đình Dinh1970; Mitxui; Lương Đình Của 1980) cây lúa cũng cần nhiều đạm trong thời kỳ phân hoá đòng và phát triển
đòng thành bông, tạo ra các bộ phận sinh sản Thời kỳ này quyết định cơ cấu sản lượng: số hạt/bông, trọng lượng nghìn hạt (P1000) [8][58]
Takahasi (1987) cho biết giữa đẻ nhánh ở cây lúa và tỉ lệ đạm tích luỹ trong lá lúa có liên quan mật thiết với nhau [19]
Lúa là cây trồng rất mẫn cảm với việc bón đạm Nếu giai đoạn đẻ nhánh
mà thiếu đạm sẽ làm năng suất lúa giảm do đẻ nhánh ít dẫn đến số bông ít Nếu bón không đủ đạm sẽ làm thấp cây, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, lá có thể biến thành màu vàng, bông đòng nhỏ từ đó làm cho năng suất giảm Nhưng nếu bón thừa đạm lại làm cho cây lúa có lá to, dài, phiến lá mỏng, dễ bị sâu bệnh, dễ lốp đổ; ngoài ra chiều cao phát triển mạnh, nhánh vô hiệu nhiều, trỗ muộn, năng suất giảm Khi cây lúa được bón đủ đạm thì nhu cầu tất cả các chất dinh dưỡng khác như lân và kali đều tăng [42] Theo Bùi Huy Đáp, đạm
là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất lúa, cây có đủ đạm thì các yếu tố khác mới phát huy hết được tác dụng [12]
2.4.1.3 Nhu cầu bón phân đạm của cây lúa
S.Yoshida cho rằng: ở các nước nhiệt đới lượng các chất dinh dưỡng (N,
P, K) cần để tạo ra một tấn thóc trung bình là: 20,5 kg N; 5,1 kg P2O5 và 44 kg
K2O [56]
ở nước ta, Đào Thế Tuấn (1970) [38] và Nguyễn Vi (1980) [41] cho rằng hàm lượng đạm cần để tạo 1 tấn thóc là 17 - 25 kg N, trung bình cần 20,5 kg N Theo Đào Thế Tuấn (1970) [38]; Bùi Huy Đáp (1985) [12]; Vũ Hữu Yêm (1995) [43] để đạt năng suất 5 tấn/ha trên đất phù sa sông Hồng cần phải bón 90-120 kg N và để đạt năng suất 7 tấn/ha cần phải bón 180 - 200 kg N/ha Theo Võ Minh Kha trên đất phù sa sông Hồng mới được bồi với mức năng suất 5-6 tấn/ha cần bón 100kg N/ha trên nền (60 P2O5 + 30 K2O) [22]
Trang 23Kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Cự, tại x Gia Xuyên - Tứ Lộc - Hải Dương cho thấy: Lượng đạm cần bón để đạt 1 tấn thóc phải từ 26 - 28 kg N, cao hơn nhiều so với dự tính của Đào Thế Tuấn (1969)[38]
Kết quả nghiên cứu trên đất phù sa sông Hồng của một số tác giả cho thấy không nên bón quá 120 kgN/ha Trên nền 90 P2O5 - 60 K2O hiệu suất phân đạm và năng suất lúa tăng nhanh ở các mức bón từ 40 - 120 kgN/ha (Nguyễn Văn Bộ, Bùi Đình Dinh, Phạm Văn Ba, 1994) [51]
Kinh nghiệm sử dụng phân bón hoá học ở miền Bắc (qua tổng kết 12 năm) của Lê Văn Căn (1968) cho thấy: Bón lượng phân đạm thấp thu được hiệu suất 15 - 20 kg thóc/kgN, càng bón mức đạm cao thu được năng suất bội thu lớn nhưng hiệu suất của 1 kg đạm lại giảm xuống [3] Theo Trần Thúc Sơn, Phạm Tiến Hoàng, Phạm Quang Hà, khi bón 80 - 100kg N/ha trên đất phù sa sông Hồng thì hiệu suất 1kg đạm là 10 - 15kg thóc ở vụ xuân và 6 - 9
kg thóc ở vụ mùa, nếu bón 160 kg N thì hiệu suất của phân đạm giảm rõ rệt [51] ở thập kỷ 60, hiệu suất của phân đạm rất thấp, do ở thời kỳ này thường
sử dụng những giống lúa địa phương có tiềm năng năng suất thấp Hiện nay với những giống lúa mới thì hiệu suất của phân đạm là rất cao ở vụ xuân hiệu suất của phân đạm trên đất phù sa sông Hồng thường từ 5,0 - 16,5 kg thóc/1kgN; trên đất phèn là 3,6 - 6,5 kg thóc/1kgN và trên đất bạc màu là 3,9 - 9,5 kg thóc/1kgN[51]
2.4.2 Yêu cầu dinh dưỡng lân của cây lúa
2.4.2.1 Vai trò dinh dưỡng lân của cây lúa
Sau đạm thì lân là yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng đối với sinh trưởng
và phát triển của cây trồng Vì lân là thành phần chủ yếu của axit nucleic, là thành phần chủ yếu của nhân tế bào Tác dụng của lân được thể hiện trên một
số mặt sau: Xúc tiến sự phát triển của bộ rễ lúa, đặc biệt là rễ bên và lông hút Làm tăng số nhánh và tốc độ đẻ nhánh lúa, sớm đạt số nhánh cực đại tạo
Trang 24thuận lợi cho việc tăng số nhánh hữu hiệu dẫn đến làm tăng năng suất lúa Thúc đẩy việc ra hoa hình thành quả, tănh nhanh quá trình trỗ, chín của lúa và
ảnh hưởng tích cực đến chất lượng hạt Tăng khả năng chống chịu với các điều kiện bất thuận và sâu bệnh hại Thúc đẩy phân chia tế bào, tạo thành các hợp chất béo và protein Ngoài ra lân còn có mối quan hệ chặt chẽ với sự hình thành diệp lục, protit và sự vận chuyển tinh bột
Khi thiếu lân làm cho lá lúa có màu xanh đậm, bản lá nhỏ hẹp và mềm yếu, mép lá có màu vàng tía, đẻ nhánh kém, kéo dài thời kỳ trỗ chín Nếu thiếu lân ở thời kỳ làm đòng sẽ làm giảm năng suất lúa
Theo Hog (1985), khi cây lúa được cung cấp lân thoả đáng sẽ tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển tốt, tăng khả năng chống hạn, tạo thuận lợi cho sinh trưởng, phát triển, thúc đẩy sự chín của hạt và cuối cùng làm tăng năng suất lúa [49]
Đào Thế Tuấn (1969) cho biết: Bón phân có ảnh hưởng đến phẩm chất hạt giống rõ rệt, làm tăng trọng lượng nghìn hạt, tăng tỉ lệ lân trong hạt, tăng
số hạt trên bông và cuối cùng là cho năng suất lúa cao hơn [38]
Bùi Huy Đáp cho rằng lân có vai trò quan trọng đối với quá trình tổng hợp đường, tinh bột trong cây lúa và có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất [14] Theo Vũ Hữu Yêm (1995) cây non rất mẫn cảm với việc thiếu lân, thiếu lân trong thời kỳ cây non cho hiệu quả rất xấu, sau này dù có bón nhiều lân thì cây cũng trỗ không đều hoặc không thoát Do vậy cần bón đủ lân ngay từ giai
đoạn đầu và bón lót phân lân là rất có hiệu quả [43]
Dinh dưỡng lân có liên quan mật thiết với dinh dưỡng đạm Nếu bón đủ lân sẽ làm tăng khả năng hút đạm và các chất dinh dưỡng khác Cây được bón cân đối N, P sẽ xanh tốt, phát triển mạnh, chín sớm, cho năng suất cao và phẩm chất tốt Muốn cho cây lúa sinh trưởng phát triển và cho năng suất cao thì không những cần cung cấp đầy đủ đạm mà cả lân cho cây lúa
Trang 252.4.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng lân của cây lúa
ở mỗi thời kỳ lúa hút lân với lượng khác nhau, trong đó có hai thời kỳ hút mạnh nhất là thời kỳ đẻ nhánh và thời kỳ làm đòng Tuy nhiên, xét về mức
độ thì lúa hút lân mạnh nhất vào thời kỳ đẻ nhánh
Theo Nagai (1959) lân được hút trong 42 ngày đầu tiên sau cấy thì chuyển lên bông, có tác dụng rõ rệt đến năng suất lúa, còn lân đựơc hút sau đó phần lớn được ở rễ và trong rơm rạ [47] Kết quả nghiên cứu hiệu suất từng phần của lân đối với việc tạo thành hạt thóc của Kamurava và Ishizaka (1996), cho thấy: Thời kỳ lân cho hiệu suất cao nhất là thời kỳ đầu sau cấy 10 - 20 ngày [47]
Tanaka có nhận xét: Hiệu quả của bón phân lân cho lúa thấp hơn so với cây trồng cạn Tuy nhiên, bón lân xúc tiến quá trình sinh trưởng của cây trong thời kỳ đầu, có thể rút ngắn thời gian sinh trưởng đặc biệt là những vùng lạnh thì hiệu quả đó càng rõ Buba (1960) cho biết lúa nước là loại cây trồng cần ít lân do đó khả năng hút lân từ đất mạnh hơn cây trồng cạn Nghiên cứu của Brady; Nylec (1985) cho thấy hầu hết các loại cây trồng hút không quá 10 - 13% lượng lân bón vào đất trong năm, đặc biệt là cây lúa chỉ cần giữ cho lân
có trong đất khoảng 0,2 ppm hoặc thấp hơn một chút là có thể cho năng suất tối đa [48] Tuy vậy cần bón lân kết hợp với các loại phân khác như đạm, kali mới nâng cao được hiệu quả của nó
2.4.2.3 Nhu cầu bón phân lân của cây lúa
Trung bình để tạo ra một tấn thóc, lúa hút khoảng 7,1kg P2O5 Tuy nhiên lân có trong đất rất ít, hệ số sử dụng lân của lúa lại thấp do đó phải bón lân với liều lượng tương đối khá
ở ấn Độ, bón phân lân với mức 60kg P2O5/ha có thể tăng năng suất lúa lên trung bình 0,5 - 0,75 tấn thóc/ha ở Đài Loan, theo Lian (1989) với mức khoảng 50 - 60kg P2O5/ha cho năng suất bội thu cao nhất [50]
Trang 26Theo Hà Công Vượng (1992) để nâng cao hiệu quả của việc bón lân cho cây lúa ngắn ngày, trong điều kiện thâm canh trung bình (10 tấn phân chuồng, 90 - 120N, 60 K2O/ha) nên bón lân với lượng 80 - 90 P2O5/ha và tập trung bón lót [47]
Theo nhiều tác giả cho biết lượng phân bón cho lúa cần thay đổi theo thời tiết, mùa vụ và từng loại đất Trên đa số các loại đất chân lúa cao sản thường bón lượng lân 60kg P2O5/ha, riêng đối với đất xám bạc màu có thể bón
80 - 90kg P2O5/ha
Theo Nguyễn Văn Bộ, Bùi Đình Dinh và cộng sự, nhu cầu về lân của lúa lai không có gì khác biệt so với các giống lúa thường có cùng thời gian sinh trưởng Lúa lai với năng suất 7 tấn/ha, cây lúa hút 60 - 70kg P2O5/ha [2]
ở thập kỷ 60, hiệu suất của phân lân rất thấp, do ở thời kỳ này thường sử dụng những giống lúa địa phương có tiềm năng năng suất thấp Hiện nay với những giống lúa mới thì hiệu suất của phân lân cao hơn nhiều, có thể đạt từ 20-45 kg thóc/1kg P2O5
Như vậy, quan điểm về liều lượng phân lân bón cho lúa là khá đồng nhất tuy vẫn còn ý kiến khác
2.4.3 Yêu cầu dinh dưỡng kali của cây lúa
2.4.3.1 Vai trò của kali đối với cây lúa
Kali có vai trò không kém phần quan trọng đối với sự sinh trưởng của lúa vì kali có tác dụng xúc tiến sự di chuyển của các chất đồng hoá trong cây
Ngoài ra kali còn làm cho sự di chuyển của sắt trong cây được tốt do đó
ảnh hưởng gián tiếp đến quá trình hô hấp Kali cũng rất cần cho sự tổng hợp protit, quan hệ mật thiết với sự phân chia tế bào [43]
Nói chung khi thiếu kali thì dẫn đến sự quang hợp của cây bị giảm sút
rõ rệt, kéo theo cường độ hô hấp tăng lên làm cho sản phẩm của quá trình quang hợp trong cây bị giảm, trường hợp này được thể hiện rất rõ trong điều
Trang 27kiện thiếu ánh sáng Vai trò của kali đối với lúa được thể hiện rõ nhất trong thời kỳ đầu làm đòng, nếu thiếu kali trong thời kỳ này sẽ làm cho gié bông thoái hoá nhiều, số bông ít, trọng lượng nghìn hạt giảm, hạt xanh, lép lửng và bạc bụng nhiều, phẩm chất gạo bị giảm sút Kết quả nghiên cứu 3 năm (1994 - 1996) của Nguyễn Như Hà cho thấy không bón phân kali ảnh hưởng xấu đến các yếu tố cấu thành năng suất lúa (số bông được tạo thành giảm 6,5 - 10%, số hạt tạo thành thấp hơn, đồng thời làm tăng tỷ lệ hạt lép lửng), năng suất lúa giảm rõ rệt so với bón đủ kali [19]
Kết quả ở bảng 2.2 cho thấy khi bón phân kali cân đối với đạm và lân cho lúa
đ làm tăng năng suất lúa rõ rệt và tăng hàm lượng dinh dưỡng K cây lúa lên rất nhiều
Bảng 2.2 Hiệu lực và nhu cầu kali của cây lúa trên đất phù sa sông Hồng
(kg/ha)
Lượng K cây hút (kg/ha)
Năng suất (kg/ha)
Lượng K cây hút (kg/ha)
Trang 282.4.3.2 Đặc điểm dinh dưỡng kali của cây lúa
Đặc điểm dinh dưỡng kali của cây lúa đ được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu
Theo Đào Thế Tuấn (1970) lượng kali cây lúa hút và năng suất lúa có mối quan hệ thuận [38] Theo Đinh Dĩnh, Đào Thế Tuấn (1970) thì lúa hút kali tới tận cuối thời kỳ sinh trưởng Nhu cầu kali rõ nét nhất ở hai thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng Thiếu kali vào thời kỳ đẻ nhánh ảnh hưởng mạnh đến năng suất, lúa hút kali mạnh nhất vào thời kỳ làm đòng [19]
Bùi Đình Dinh (1970) cho biết: Tỷ lệ kali cây lúa hút trong các thời kỳ sinh trưởng tuỳ thuộc vào giống lúa, giai đoạn từ cấy đến đẻ nhánh là 20,0 - 21,9%; từ phân hoá đòng đến trỗ là 51,8 - 61,9%; từ vào chắc đến chín là 16,9 - 27,7% [12]
Shuichi Yoshida (1985) cho biết chỉ khoảng 20% tổng lượng kali cây hút là được vận chuyển vào hạt, lượng còn lại được tích luỹ trong các bộ phận khác của cây (trong rơm rạ) [56]
Matsuto (1966) thấy giữa việc hút đạm và kali có một mối tương quan thuận, tỷ lệ K/N thường là 1,26 Theo nhiều tác giả khác cho biết tỷ lệ N/K rất quan trọng, nếu cây lúa hút nhiều đạm thì dễ thiếu kali do đó thường phải bón nhiều kali ở những ruộng lúa bón nhiều đạm [58] Vì vậy, trên đất nghèo kali bón cân đối đạm - kali có ý nghĩa rất quan trọng Theo Bùi Huy Hiền thì hiệu lực của phân đạm có thể tăng gấp 2 khi bón đủ kali [51]
Trên đất bạc màu trữ lượng kali trong đất ít do vậy cần phải cung cấp phân kali từ phân bón thì lúa mới có đủ dinh dưỡng kali, đồng thời cây lúa cũng hút đạm được dễ dàng hơn Hiện nay hiệu lực của phân kali bón cao hơn trước, với lúa trên đất bạc màu hiệu quả cao nhất 8,1 - 21,0kg thóc/1kg kali [19] Theo Vũ Hữu Yêm và Nguyễn Như Hà thì hiệu suất phân kali cao nhất
suất kali vẫn còn cho 4 - 6 kg thóc/1kg K2O [18]
Trang 292.4.3.3 Nhu cầu bón phân kali của cây lúa
ở Đức người ta tính lượng kali bón cho cây theo năng suất và lượng kali
có trong đất Theo U.C.Koporgov (1975) để đạt năng suất 3 - 10 tấn/ha thì lượng kali được khuyến cáo là từ 85 - 310 kg K2O/ha [29] Kết quả nghiên cứu của trại thí nghiện Cuban (Liên Xô cũ) cho biết để thu được 4 tấn thóc/ha cần bón 35 - 50 kg K2O, trung bình là 44 kg K2O/ha [4] Các nhà khoa học Trung Quốc cho rằng: Các giống lúa lai có nhu cầu cao về kali thậm chí còn cao hơn
đạm, các giống lúa lai có khả năng hấp thu kali nhiều hơn giống lúa thường Cùng năng suất là 7,5 tấn/ha nhưng lúa lai hút 218 kg K2O/ha còn lúa thường hút 156 - 187 kg K2O/ha [16] ở trung Quốc để đạt năng suất 15 tấn thóc/ha/năm thì tổng lượng kali cây lúa hút là từ 405 - 521 kg K2O/ha
ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu kali bước đầu cho thấy có nhiều ý kiến khác nhau: Nghiên cứu của Võ Minh Kha (1996) cho thấy lượng kali cây hút (kg K2O) để tạo 1 tấn thóc cần ít nhất 12,6kg Để thu được 6 tấn thóc/ha ngoài lượng đạm thì cần phải bón ít nhất là 75,6kg K2O/ha [22] Cũng theo tác giả này với 2 vụ lúa năng suất 9 - 10 tấn/ha lượng kali cây hút trung bình 200
- 250 kg K2O/ha[22] Theo Trần Thúc Sơn (1995) thì lượng kali lúa ngắn ngày hút để tạo 1 tấn thóc trên đất phù sa sông Hồng là 14,2 -21,8 kg K2O/ha, còn
cứu của Nguyễn Như Hà (1999) cho thấy: Trong điều kiện thâm canh cao, lúa ngắn ngày lượng kali cây hút đạt tới 28-31 kg K2O/tấn thóc [19]
Hiệu quả của phân kali phụ thuộc vào khả năng cung cấp kali của đất,
sự hút kali của các giống và mức năng suất Theo Võ Minh Kha, khi năng suất dưới 2,5 tấn thì hiệu lực của kali thể hiện không rõ, khi năng suất đạt 2,5 - 4,5 tấn/ha bón 20 - 30 kg K2O/ha có hiệu quả rõ rệt còn năng suất lớn hơn 4,5 tấn/ha/vụ thì nhất thiết phải bón kali[22] Do nhu cầu kali của giống lúa lai cao hơn nên hiệu lực kali cũng cao ngay trên đất phù sa sông Hồng bón kali
Trang 30cho lúa tạp giao 5 làm tăng năng suất lúa từ 5,7 - 7,1kg/ha so với đối chứng Trên đất bạc màu thì hiệu lực của kali còn cao hơn đạm Bón kali làm tăng năng suất từ 6,5 - 11,1tạ/ha, hiệu suất đạt từ 8 - 21kg thóc/1 kg K2O [19] Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Như Hà và Vũ Hữu Yêm trên đất phù sa sông Hồng cho thấy hiệu suất kali đạt trung bình là 2,6 - 6,8 kg thóc/1kg K2O ở vụ xuân và 2,7 - 8,8 kg thóc/1kg K2O ở vụ mùa (với mức bón 30 - 120kg K2O/ha cho lúa) [18]
2.4.4 Nhu cầu các chất dinh dưỡng khác của cây lúa
Ngoài N, P, K là nguồn dinh dưỡng khoáng chủ yếu, cây lúa còn hút các chất khoáng khác như: S, Ca, Mg, Fe, Mn, Cu, Zn, Si, B, Cl, Mo…[19]
2.4.4.1 Nhu cầu lưu huỳnh của cây lúa
Lưu huỳnh được cây hút ở dạng anion SO 4 2- khi vào cây, rồi bị khử thành sunhydrin để tạo thành cystein và từ đó tạo thành các aminoaxit và protein có chứa lưu huỳnh Lưu huỳnh còn là thành phần của metionin, một axit amin quan trọng không thay thế, cần cho đời sống động vật Nó là thành phần của các vitamin (biotin, thiamin, vitamin B, glutathion và coenzim A) Lưu huỳnh còn có trong một số glucozit có trong hành tỏi, hạt cải, ớt làm gia
vị Nó có mặt trong các protein có chứa sắt, trong ferodoxin, các chất này ảnh hưởng tới quá trình quang hợp và sự cố định đạm của vi sinh vật cố định đạm
tự do và cộng sinh Gốc - SH ở trong cấu trúc tế bào chất làm cho keo nguyên sinh chậm đông kết khi nhiệt độ xuống thấp và mất nước làm tăng khả năng chống lạnh và chống hạn cho cây
Hàm lượng lưu huỳnh trong cây khá cao, trong bông lúa 0,09% Lục lạp cây xanh có chứa lưu huỳnh vì vậy khi thiếu lưu huỳnh cây bị vàng do mất diệp lục và hình thành sắc tố antoxian mà hình dạng bề ngoài khá giống hiện tượng thiếu đạm Các lá trên vàng dần dần lan xuống các lá dưới, hiện tượng vàng lá có thể xuất hiện toàn cây Đốt cây ngắn lại, thân nhỏ, hệ rễ phát triển
Trang 31kém (thường có rễ dài), chiều dài ống rạ bị ngắn lại thành mỏng, đẻ nhánh ít, trỗ muộn, tỷ lệ hạt lép cao Khi thiếu không nghiêm trọng hiện tượng vàng lá chỉ biểu hiện từng chỏm, rõ ràng nhất là thời kỳ đầu: Từ khi bắt đầu đẻ nhánh
đến đẻ nhánh rộ Sau một thời gian hiện tượng này biến mất nhưng cây không thể đẻ nhánh tiếp tục nữa
Khi cây lúa hút nhiều đạm cũng đòi hỏi nhiều lưu huỳnh Người ta thấy
tỷ lệ N/S trong cây ít thay đổi, sử dụng phân vi lượng B bón cho cây lúa có tác dụng làm tăng hàm lượng lưu huỳnh ở trong cây Để đạt năng suất 6,3 tấn/ha cây lúa hút 11,3 kg S/ha [43]
Nguồn phân bón lưu huỳnh được sử dụng phổ biến nhất là supe lân và sunfat amon [43] Thực tế sản xuất ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới phân urê ngày càng được sử dụng nhiều hơn so với sunfat amon Một số nhà nông hoá đ cảnh báo về nguy cơ đất thiếu lưu huỳnh có thể xảy ra sau nhiều năm không sử dụng phân bón có chứa lưu huỳnh [43]
2.4.4.2 Nhu cầu magiê của cây lúa
Magiê có vai trò vừa là chất cấu tạo (cấu tạo nên sắc tố) vừa là yếu tố gây tác động đến các quá trình chuyển hoá Các tác dụng chính của magiê đến
đời sống cây trồng như sau: Thành phần cấu tạo của clorofin, xantofin và caroten, ảnh hưởng đến hoạt động quang hợp, tính chống chịu và chất lượng sản phẩm ảnh hưởng đến sự tạo thành gluxit, các chất béo, protit do tác động
đến quá trình vận chuyển lân trong cây ảnh hưởng đến quá trình hút, vận chuyển và tạo thành các hợp chất lân dự trữ như: este photphoric, phytin Làm tăng tính trương nước của tế bào do đó tăng tính giữ nước của tế bào giúp cho cây chống hạn Đối kháng với các cation khác (Ca2+, NH4+, K+…) do đó giữ
pH thích hợp trong cây giúp cây chịu chua Một tác dụng đáng chú ý của magiê là tạo được sự cân bằng đối với canxi, làm cho chất lượng của sản phẩm
Trang 32chăn nuôi tốt hơn.Vì vậy magiê là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, tính chống chịu và phẩm chất nông sản
Trong các loại phân bón được sử dụng như phân lân nung chảy, phân lân thiên nhiên, vôi, tro thảo mộc đều có chứa lượng magiê cao Trong phân lân nung chảy Văn Điển và Ninh Bình có chứa 15% kg MgO Như vậy bón
này đủ để đảm bảo cân bằng magiê [43]
Trong tro chứa hàm lượng magiê khá, tuy nhiên cây trồng ở vùng thiếu
Mg, tro chứa hàm lượng magiê thấp Do đó không có hy vọng dùng tro để sửa chữa sự thiếu hụt về magiê Gần đây nhu cầu bón magiê được chú ý nhiều hơn ngoài lý do số lượng lấy đi trong sản phẩm thu hoạch tăng lên, nguyên nhân
được chú ý nhiều hơn đó là ở vùng nhiệt đới mưa nhiều các cation kiềm như
Ca2+, Mg2+ bị rửa trôi ra khỏi đất, con số bị rửa trôi này tăng lên khi dùng nhiều các loại phân đạm amon và phân kali Các ion amon và kali đẩy ion magiê ra khỏi phức hệ hấp thu làm cho nó dễ dàng bị rửa trôi Ion Ca2+ cũng
có thể thay thế magiê trong hệ hấp thu Khi bón vôi, bón kali thường dẫn đến
sự thay đổi cân bằng Ca2+, Mg2+, Na+ trong đất làm cho sự cung cấp magiê trong cây kém đi Nhu cầu bón magiê ngày càng được biểu hiện rõ do nhiều lý
do tương tự như lưu huỳnh, so điều kiện nhiệt đới mưa nhiều, các cation như
Ca2+, Mg2+, Na+ bị rửa trôi mnh liệt làm cho sự thiếu hụt càng trầm trọng hơn
2.4.4.3 Nhu cầu canxi của cây lúa
Chúng ta thường ít nói đến dinh dưỡng canxi của cây, do đất thường chua đi trong quá trình trồng trọt, phải bón vôi để khử chua nên đồng thời cũng cung cấp canxi cho cây Tuy nhiên, canxi là yếu tố dinh dưỡng rất cần cho cây, dù không phải là yếu tố cấu tạo, nhưng là thành phần của một số men hoặc kích thích hoạt động của các men (Lipaza, esteraza, colinesteraza, arginaza, de hydrogenaza) có quan hệ đến các quá trình trao đổi chất trong
Trang 33cây Tác dụng của canxi là điều chỉnh độ pH của dịch bào; đối kháng với các yếu tố khoáng khác như K, Na, Mg tạo lập sự cân đối giữa các yếu tố Canxi
ảnh hưởng đến sự hình thành rễ và mầm non, ảnh hưởng đến sự hút chất dinh dưỡng, hút nước và tạo sinh khối mới
Các loại cây có yêu cầu pH rất khác nhau, chia thành 3 nhóm: Nhóm cây chịu chua và ưa chua, thích hợp ở pH < 5; nhóm cây ưa trung tính; nhóm cây ưa kiềm Đối với cây ưa trung tính và ưa kiềm, cải tạo độ chua thích hợp cho cây cũng là cung cấp canxi cho cây Vấn đề bón canxi như là phân bón
được đặt ra đối với các cây ưa chua và chịu chua; các cây ưa kiềm trồng trên
đất kiềm do natri Đối với cây chịu chua và ưa chua, cần giữ độ chua thích hợp trong trường hợp đó, cung cấp canxi với lượng ít rất cần thiết để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng của cây, đặc biệt quan trọng khi cây còn non, nếu thiếu canxi vào thời kỳ này búp cây không phát triển (hiện tượng búp mù) Trong trường
trước lúc gieo hạt
Có thể cung cấp Ca cho cây từ các nguyên liệu: Đá vôi, vôi nung, dolomit, thạch cao và một số nguồn phân hoá học có khả năng cung cấp canxi: Phân lân nung chảy, phân supe lân, xỉ lò và một số loại phân có thạch cao, canxi xianamit Nông dân các vùng trồng lúa nước ta thường có tập quán bón cho lúa 270 - 540kg/ha vôi bột vào lúc cày vỡ, nhất là trong vụ mùa khi không cắt rạ mà cày úp làm phân Số lượng vôi này không đủ nhiều để xem như bón vôi cải tạo đất mà chỉ có tác dụng làm cho rạ nhanh mục, đất mau ngấu và cung cấp Ca, bón vôi với lượng thấp cho các cây chịu chua khác như sắn, khoai lang, chè, cà phê cũng có tác dụng như vậy[43]
2.4.4.4 Nhu cầu silic của cây lúa
Tất cả các loại cây trồng đều hút silic, đặc biệt là cây hoà thảo Lượng silic cây lúa hút ở năng suất 8,6 tấn/ha là 890 kg SiO2/ha, riêng trong vỏ trấu,
số lượng silic là 235kg SiO2/ha cao nhất trong các yếu tố, gần gấp 3 lần kali
Trang 34Vai trò sinh lý của silic chưa được nghiên cứu nhiều, có ý kiến cho rằng silic không có vai trò gì đặc biệt ngoài tác dụng làm cứng mô chống đỡ [42] Viện lúa Quốc tế (IRRI) cho biết silic có các tác dụng sau đây đối với lúa: Giúp cây chống sự xâm nhập của vi khuẩn, nấm và sâu hại Làm cho cây cứng, lá đứng, quang hợp và chống được đổ tốt Làm giảm sự mất nước giúp cho cây chống hạn và chống nóng Làm tăng khả năng oxi hoá của rễ lúa, giảm tác hại do hút quá nhiều Fe và Mn
Như vậy, silic có tác dụng chủ yếu đến tính chống chịu: Thiếu ánh sáng, thiếu nước, nhiệt độ cao và sâu bệnh hại [43] Silic ngày càng được chú
ý khi sản xuất, càng đi vào hướng thâm canh, sử dụng các giống mới Giống cho năng suất và chất lượng sản phẩm cao thường có tính chống chịu yếu [19] Cây trồng kể cả cây non lấy được silic trong đất khi có nhu cầu thấp thì số
nhu cầu cao không khỏi có hiện tượng thiếu silic [19]
Lúa trồng trên đất bạc màu thoái hoá và lúa đồi cần chú ý bón silic Trên đất đồi, silic dễ tiêu ít hơn đất lúa nước, lúa thường hay bị bệnh đạo ôn hơn lúa nước Bón silic có thể làm giảm bệnh vì số lượng silic trong đất cao cho nên định lượng silic trong đất không ích lợi gì cho việc xác định nhu cầu cần bón [19]
Theo Shouichi Yoshida (1985) khi lượng silic trong cây lúa <5% thì cây lúa thiếu nghiêm trọng và nếu lượng SiO2 < 11% bón silic có hiệu quả Các nhà sản xuất lúa Nhật Bản dùng xỉ silic để làm phân silic lượng bón khoảng 1,5-2 tấn/ha/vụ trong xỉ silicat, ngoài silic ra còn có chứa canxi, 20% MgO và 10% Mn Tác dụng tăng năng suất còn có thể là do tác dụng của Mg và Mn góp phần Người Triều Tiên dùng canxi meta silicat (Wallastonite) để bón cho lúa trồng trên đất đ thoái hoá [37] Để bổ sung silic cho ruộng lúa, giải pháp
có hiệu quả nhất và dễ thực hiện nhất là sử dụng phân lân nung chảy Văn Điển
và Ninh Bình Hàm lượng SiO2 trong phân lân nung chảy Văn Điển từ 24 -
Trang 3532% Bón 60kg P2O5 bằng phân lân nung chảy Văn Điển có cung cấp 115kg SiO2 cho cây lúa, thoả mn nhu cầu về silic Sự trộn thêm Secpentin vào phân lân supe cũng cung cấp thêm một số lượng silic những số lượng ít và dạng khó tiêu hơn [19]
86-2.5 Vấn đề bón phân cân đối cho lúa
2.5.1 Cơ sở lý luận của việc bón phân cân đối cho lúa
Bón phân cân đối cho cây trồng là cung cấp cho cây trồng đúng các chất dinh dưỡng cần thiết, đủ về liều lượng, với tỷ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý cho từng đối tượng, đất và mùa vụ cụ thể để đảm bảo năng suất, phẩm chất cây trồng cao, hiệu quả phân bón cao đồng thời không gây hại với môi trường Trong thực tiễn sản xuất, bón phân cân đối là bón cân đối giữa phân hữu cơ và phân vô cơ, cân đối giữa các yếu tố dinh dưỡng khoáng để vừa đảm bảo cung cấp dinh dưỡng cho cây đạt năng suất cao phẩm chất tốt với hiệu quả phân bón cao vừa
ổn định và làm tăng hàm lượng dinh dưỡng và mùn trong đất
Bón phân cân đối phải tuân thủ các định luật, các yếu tố chi phối đến việc bón phân cân đối
- Định luật trả lại: Phải trả lại tất cả các yếu tốt dinh dưỡng mà cây
trồng lấy đi, cũng như các yếu tố bị mất trong quá trình bay hơi, rửa trôi
- Định luật tối thiểu: Bón phân theo yếu tố có hàm lượng dễ tiêu ít nhất
trong đất so với yêu cầu của cây
- Định luật bón phân cân đối: Bằng phân bón con người phải trả lại tất
cả mọi sự mất cân bằng các nguyên tố khoáng có trong đất để tạo cho cây
Muốn xây dựng được một chế độ bón phân cân đối phải dựa trên cơ sở hiểu biết sinh lý cây trồng, kết hợp phân tích đất, phân tích cây cũng như năng suất, dinh dưỡng lấy đi theo sản phẩm thu hoạch, khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng từ đất và lượng phân bón vào Cùng với sự tăng năng suất
Trang 36thì lượng hút tất cả các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cũng gia tăng theo, do
đó đòi hỏi phải bón phân lân cân đối theo mức năng suất của cây Tác hại của việc bón phân không cân đối cho lúa là làm giảm năng suất lúa và chất lượng gạo, đồng thời còn làm nguy hại tới môi trường
Bón phân cân đối sẽ làm tăng hiệu lực của các loại phân bón và làm tăng năng suất lúa Theo Lê Văn Căn (1968) trên đất phù sa phải bón phân kali đi đôi với lượng phân đạm hoá học thì mới tăng cường được hiệu lực của phân kali Nếu tỷ lệ bón N/K mất cân đối dẫn đến việc năng suất thấp, còn khi bón đầy đủ K sẽ làm tỷ lệ N:P:K cân đối hơn do vậy năng suất tăng lên [6]
Bảng 2.3 Bón phân cân đối cho lúa đông xuân
Loại phân bón Loại đất trồng
Trang 37Để định lượng được phân bón cân đối, ngoài những căn cứ nêu trên còn cần phải quan tâm điều chỉnh tuỳ thuộc điều kiện cụ thể Như trong mùa mưa (vụ mùa, hè thu) thì lượng phân đạm bón ít hơn trong vụ đông xuân, bón thúc sớm hơn Trong điều kiện hàm lượng kali trong nước tưới cao thì có thể giảm lượng phân kali bón Nếu là những loại đất nhẹ (như đất cát, xám, bạc màu…) cần tăng lượng kali bón Trên đất phèn (chua mặn) thì cần phải bón nhiều lân hơn do đất này nghèo lân, có sự cố định sắt, nhôm di động Về kỹ thuật bón, với phân hữu cơ thì nên bón lót và bón 1 lần còn phân vô cơ thì cần chia nhỏ làm nhiều lần bón
Như vậy việc bón phân cân đối có vai trò vô cùng quan trọng, nó không những làm tăng năng suất, chất lượng của cây trồng mà còn làm tăng thu nhập trong sản xuất nông nghiệp, duy trì hoặc cải tạo độ phì đất lâu bền, tránh phương hại đến môi trường sinh thái Sử dụng phân bón cân đối hợp lý sẽ đảm bảo cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu, xúc tiến tác động tương hỗ
và loại trừ các tác động đối kháng ra khỏi hệ thống trồng trọt Bón phân cân
đối cũng là sự cần thiết để giữ vững năng suất và lợi nhuận tối ưu đồng thời tiết kiệm phân bón và bảo vệ môi trường
2.5.2 Đặc điểm đất xám bạc màu
Đất xám bạc màu (X) Haplic Acrisols (Ach) chủ yếu phát triển trên phù
sa cổ, đá macma axit và đá cát, phân bố tập trung ở đông Nam Bộ, Tây Nguyên, trung du Bắc Bộ
Đất có thành phần cơ giới nhẹ; dung trọng 1,30 - 1,50g/cm3; tỷ trọng 2,65 - 2,70 g/cm3; độ xốp 43 - 45%; sức chứa ẩm đồng ruộng 27,0 - 31,0%; độ
ẩm cây héo 5 - 7%; nước hữu hiệu 22 - 24%; độ thấm lớp nước mặt 68 mm/giờ; lớp đất sâu 25 mm/giờ
Phản ứng của đất chua vừa đến rất chua (pHKCL phổ biến từ 3,0 - 4,5); nghèo cation kiềm trao đổi (Ca2+ + Mg2+ < 2 me/100 gam đất); độ no bazơ và dung tích hấp thụ thấp; hàm lượng mùn tầng đất mặt từ nghèo đến rất nghèo
Trang 38(0,50 - 1,50%); mức phân giải chất hữu cơ mạnh (C/N < 10); các chất dinh dưỡng tổng số và dễ tiêu đều nghèo
Đất xám bạc màu có nhược điểm là chua, nghèo dinh dưỡng, thường bị khô hạn và xói mòn mạnh Tuy nhiên, do ở địa hình bằng, thoải, thoáng khí, thoát nước, đất nhẹ, dễ canh tác nên loại đất này thích hợp với nhu cầu sinh trưởng, phát triển của nhiều loại cây trồng như khoai lang, sắn, đậu đỗ, rau quả, lúa, cây ăn quả
2.5.3 Những kết quả nghiên cứu về bón phân cân đối cho lúa
Theo kết quả nghiên cứu của De Datta (1985) thì bón 174 kg đạm làm tăng năng suất lúa 2,9 lần song cũng làm tăng lượng hút của lân, kali và lưu huỳnh tương ứng là 2,6; 3,7 và 4,6 lần Nguyễn Vi, Trần Khải (1978) cho biết trên đất bạc màu bón 150 kgN/ha vẫn còn tăng năng suất tuy vậy bón ở mức
120 kg N/ha là có hiệu quả cao nhất [42] Theo Nguyễn Văn Bộ; E Mutert; Nguyễn Trọng Thi [1]: Trên nền phèn nếu không bón lân cây chỉ hút được 40
- 50 kg N/ha, song bón lân đ làm cây hút được 120 - 130 kg N/ha Điều đó cho thấy cây trồng cần cả 3 yếu tố đạm, lân, kali và nếu chúng ta sử dụng
đúng tỷ lệ thích hợp sẽ cho năng suất cao Theo Hoàng Thị Minh (1996), sự cân đối giữa các chất dinh dưỡng là rất quan trọng vì sự mất cân đối giữa các yếu tố sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng [51] Vì vậy tìm ra tỷ lệ bón phân cân đối các loại phân cho lúa là yếu tố quan trọng nhằm tăng năng suất cây trồng và đạt được hiệu quả sử dụng phân bón cao
Có nhiều ý kiến khác nhau về tỷ lệ N: K, theo các tác giả nước ngoài thì tỷ
lệ này là 1:1 hay 2:2,5 tuỳ theo từng loại đất [53] Như vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ N: P: K bón cho lúa là khác nhau trên các loại đất khác nhau
Vì vậy, hiệu suất của phân bón cũng phụ thuộc vào giống lúa, các giống lúa cổ truyền có nhu cầu N, P, K rất thấp do đó mà hiệu lực của phân cũng rất thấp Nhưng ngày nay trồng những giống lúa mới, những giống ngắn ngày cho năng suất cao, nên có nhu cầu N, P, K cao, do đó mà hiệu lực phân bón cũng
Trang 39rất cao Khi cấy mà bón với lượng phân càng lớn thì càng cho năng suất cao vì
đất xám bạc màu nói chung có hiệu quả sử dụng phân bón là cao
Kết quả nghiên cứu bón các loại phân N, P, K cho lúa trên đất đất bạc màu ở ĐBSH rất đa dạng và phong phú cả về số lượng, thời gian và mùa vụ Các kết quả này đ được tập hợp trong nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt
là các công trình tổng kết các kết quả nghiên cứu của trường Đại học Nông nghiệp I (2000) Nguyễn Xuân Trường (2000), Nguyễn Văn Bộ (2003), Viện Thổ nhưỡng - Nông hoá (2005), Nguyễn Như Hà (2006)
Bảng 2.4 Kết quả tổng hợp về lượng N, P, K bón cho lúa
Từ các kết quả tổng hợp bảng 2.4 cho thấy, với các giống lúa và trình
độ thâm canh hiện tại trên đất bạc màu, lượng N, P, K thích hợp bón cho lúa ở
vụ xuân dao động từ 80 - 120 kg N/ha, 60 - 90 kg P2O5/ha, 60 - 100 kg
K2O/ha; ở vụ mùa dao động từ 60 - 100 kg N/ha, 40 - 75 kg P2O5/ha, 30 - 70
kg N/ha; 75 kg P2O5/ha; 75 kg Đây là lượng phân N, P, K bón thích hợp nhất cho lúa trên đất bạc màu ở vụ xuân và mùa
Trang 40Nghiên cứu về bón các loại phân Ca, Mg, S, Si cho lúa tuy chưa nhiều, nhưng cũng đ có những kết quả chỉ ra lượng cần bón các chất trên trong trồng lúa Bên cạnh những khuyến cáo của Mineev, T.Dierolf về bón S, Mg cho lúa nói chung, nghiên cứu của Bùi Thế Vĩnh (1996), Nguyễn Xuân Trường (2002), Viện TN-NH (2005) và Nguyễn Trường Sơn (2005) cho thấy: Trên đất bạc màu, muốn trồng lúa đạt năng suất cao cần bón phân cân đối theo yêu cầu của cây không chỉ các chất N, P, K mà cả các chất S, Ca, Mg, Si
Bảng 2.5 Kết quả tổng hợp về lượng Ca, Mg, S, Si bón cho lúa
Lượng phân bón (kg/ha) Tác giả
đồng ruộng để áp dụng phù hợp cho mỗi địa phương