1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

[Luận văn]nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố thú y đến bệnh viêm tử cung và giải pháp phòng, trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản

89 832 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố thú y đến bệnh viêm tử cung và giải pháp phòng, trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản
Tác giả Nguyễn Thị Bích Hồng
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Tiến Dũng
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Thú Y
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 3,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn, tiến sĩ, thạc sĩ, báo cáo, khóa luận, đề tài

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

-

NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ THÚ Y ĐẾN BỆNH VIÊM TỬ CUNG VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG, TRỊ BỆNH VIÊM

NỘI MẠC TỬ CUNG Ở LỢN NÁI NGOẠI SINH SẢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành : THÚ Y

Mã số : 60.62.50 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN TIẾN DŨNG

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều

đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Bích Hồng

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Tôi xin chân thành cám ơn Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, khoa Sau đại học, khoa Thú y đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa học PGS.TS Trần Tiến Dũng và các thầy trong bộ môn Ngoại - sản đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và xây dựng luận văn

Tôi xin chân thành cám ơn bộ môn vi trùng-Trung tâm Chẩn đoán thú y Trung ương, Công ty Cổ phần phát triển Công nghệ Nông thôn và tập thể cán bộ công nhân làm việc tại trại lợn Thế Thuyết và trại lợn Huy Hiền đã hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho chúng tôi thực hiện đề tài

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè, những người luôn tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văn này

Trang 4

2.1 GIỚI THIỆU MỘT SỐ GIỐNG LỢN NÁI NGOẠI ĐƯỢC NUÔI

TẠI VIỆT NAM: YORKSHIRE, LANDRACE, DUROC,

2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH SẢN CỦA LỢN NÁI 7 2.3 BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở LỢN NÁI 16 2.4 MỘT SỐ VI KHUẨN THƯỜNG GẶP Ở TỬ CUNG CỦA LỢN 24 2.5 NHỮNG HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ THUỐC KHÁNG SINH

TRONG PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH SINH SẢN 27 2.6 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH VIÊM TỬ CUNG LỢN TRÊN

3.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ NGUYÊN LIỆU NGHIÊN CỨU 36 3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

Trang 5

3.4 THỬ NGHIỆM PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG 42 3.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 43

4.1 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở LỢN

NÁI NGOẠI THEO CÁC YẾU TỐ THÚ Y TẠI TRẠI LỢN THẾ THUYẾT VÀ TRẠI LỢN HUY HIỀN 45 4.1.1 THỰC TRẠNG BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở LỢN NÁI NGOẠI

TẠI TRẠI LỢN THẾ THUYẾT VÀ TRẠI LỢN HUY HIỀN 45 4.1.2 KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ THÚ Y TRÊN ĐÀN LỢN NÁI

NGOẠI TẠI TRẠI LỢN THẾ THUYẾT VÀ TRẠI LỢN HUY HIỀN 46

4.2 XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN VÀ SỐ LƯỢNG CÁC LOẠI VI

KHUẨN TRONG DỊCH TIẾT TỬ CUNG LỢN NÁI NGOẠI TẠI TRẠI THẾ THUYẾT VÀ TRẠI HUY HIỀN 55 4.2.1 XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN CÁC LOẠI VI KHUẨN TRONG

DỊCH TIẾT TỬ CUNG LỢN NÁI NGOẠI TẠI TRẠI THẾ

4.2.2 XÁC ĐỊNH SỐ LƯỢNG CÁC LOẠI VI KHUẨN TRONG

DỊCH TIẾT TỬ CUNG LỢN NÁI NGOẠI TẠI TRẠI THẾ

4.3 XÁC ĐỊNH ĐỘ MẪN CẢM CỦA CÁC LOẠI VI KHUẨN PHÂN

LẬP ĐƯỢC TỪ DỊCH VIÊM TỬ CUNG CỦA LỢN NÁI VỚI

4.4 XÁC ĐỊNH ĐỘ MẪN CẢM CỦA TẬP ĐOÀN VI KHUẨN

PHÂN LẬP ĐƯỢC TỪ DỊCH VIÊM TỬ CUNG CỦA LỢN VỚI

Trang 6

4.5 THỬ NGHIỆM PHÒNG BỆNH VIÊM TỬ CUNG CHO LỢN NÁI

4.6 THỬ NGHIỆM ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM NỘI MẠC TỬ CUNG

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Dạng S Dạng Smouth

Dạng R Dạng Rough

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Chẩn đoán phân biệt các thể Viêm tử cung 213.1 Đánh giá đường kính vòng vô khuẩn theo tiêu chuẩn của Hội đồng Quốc gia Hoa Kỳ (1999) 414.1 Kết quả khảo sát thực trạng bệnh Viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại tại trại Thế Thuyết và trại Huy Hiền 454.2 Kết quả khảo sát một số yếu tố thú y trên đàn lợn nái ngoại tại 47trại Thế Thuyết và trại Huy Hiền 474.3 Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh Viêm tử cung ở lợn nái ngoại với điều kiện phối giống khác nhau 494.4 Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh Viêm tử cung ở lợn nái ngoại 51với điều kiện đẻ khác nhau 514.5 Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh Viêm tử cung ở lợn nái ngoại ở mức độ vệ sinh thú y khác nhau 53

4.6 Kết quả xác định thành phần các loại vi khuẩn trong dịch tiết tử

cung lợn nái ngoại sau khi đẻ và nái bị viêm tử cung 564.7 Sự biến động về số lượng các vi khuẩn phân lập được trong 1ml dịch viêm tử cung so với nái khoẻ mạnh sau đẻ 574.8 Kết quả xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm tử cung của lợn nái với một số thuốc kháng sinh 594.9 Kết quả xác định tính mẫn cảm của tập đoàn vi khuẩn có trong 62dịch viêm tử cung của lợn nái với một số thuốc kháng sinh 624.10 Kết quả thử nghiệm phòng bệnh Viêm tử cung cho lợn nái ngoại

Trang 9

4.11 Kết quả điều trị bệnh Viêm nội mạc tử cung và khả năng sinh sản của lợn nái sau khi khỏi bệnh 69

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Hình 2.1 Giống lợn Yorkshire 4

Hình 2.4 Giống lợn Hampshire 6Hình 2.5 Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái 12Hình 4.1 Can thiệp bằng tay khi lợn đẻ 52Hình 4.2 Lợn đẻ trên nền chuồng bẩn 52Hình 4.3 Lợn nái bị viêm tử cung trong điều kiện vệ sinh kém 54Biểu đồ 4.1 Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh Viêm tử cung ở lợn nái

ngoại theo các yếu tố thú y khác nhau 55

Trang 10

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống có từ lâu đời ở Việt Nam Đến

nay phong trào nuôi lợn thịt hướng nạc đã và đang phát triển mạnh mẽ theo

hình thức trang trại ở nhiều địa phương, đã đem lại nguồn thu đáng kể cho

người chăn nuôi và trở thành một ngành chăn nuôi chính chiếm tỷ trọng cao

trong cơ cấu chăn nuôi hiện nay Để cung cấp lợn giống cho nhu cầu chăn

nuôi của các trang trại và các nông hộ thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản

là việc làm cần thiết

Chúng ta đã chủ động nhập một số giống lợn cao sản từ nước ngoài để

đầu tư cho những cơ sở chăn nuôi tập trung của Nhà nước nhằm nuôi thích

nghi, chọn lọc để nhân giống, lai cải tạo giống phục vụ cho sản xuất, đó là các

giống lợn: Yorkshire, Landrace, Duroc, Hampshire Tuy nhiên các giống

lợn này chủ yếu được nhập từ Châu Âu nên khi về Việt Nam với điều kiện

thời tiết khác biệt chúng đòi hỏi một chế độ chăm sóc, quản lý rất cao so

với các giống lợn nội, đặc biệt là đàn lợn nái Do đó, mặc dù có nhiều ưu

điểm hơn so với các giống lợn nội, lợn nái ngoại chủ yếu vẫn được nuôi

trong các trang trại mà chưa được phổ biến, nhân rộng Mặt khác, trong

chăn nuôi lợn còn gặp rất nhiều khó khăn nhất là các bệnh sinh sản, trong đó

bệnh Viêm đường sinh dục chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50% (Trần Tiến Dũng,

2004)[6] Bệnh có ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản và sức khoẻ của lợn

nái Nó có thể làm lợn nái chậm động dục lại sau khi cai sữa, thậm chí mất

khả năng sinh sản ở những lần sau, do đó làm giảm số lượng lợn nái sinh sản

và số lượng lợn con sinh ra, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi

Trang 11

Những vấn đề nêu trên cho thấy để góp phần làm giảm thiệt hại do bệnh Viêm tử cung gây ra thì việc nghiên cứu tìm ra nguyên nhân và các giải pháp phòng trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản là việc làm cần

thiết, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của

một số yếu tố thú y đến bệnh Viêm tử cung và giải pháp phòng, trị bệnh Viêm nội mạc tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản”

Trang 12

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới thiệu một số giống lợn nái ngoại được nuôi tại Việt Nam: Yorkshire, Landrace, Duroc, Hampshire

Năm 1978, nước ta đã nhập giống lợn Yorkshire từ Cu Ba, dòng lợn này có chiều dài thân hơn hẳn vòng ngực Đàn lợn nhập từ Cu Ba ngoài tác dụng cải tiến đàn lợn nội còn góp phần làm tươi máu đàn lợn Yorkshire của Liên Xô nhập vào nước ta đã lâu mà không có điều kiện thay đổi đực giống

Đặc điểm ngoại hình

của giống lợn Yorkshire là

toàn thân màu trắng, lông dày,

mềm, thân hình dài, mặt hơi

gãy, tai đứng hơi nghiêng về

phía trước, lưng cong, phần

mông và phần đùi sau rộng,

Trang 13

bốn chân tương đối cao và

Khả năng sinh sản của lợn Yorkshire là mỗi năm cho 1,8-2,0 lứa/nái, số con sơ sinh trung bình/ lứa là 11 - 12 con, khối lượng sơ sinh trung bình là 1,3-1,4kg/con

Giống lợn Yorkshire có khả năng thích nghi cao trong những điều kiện khí hậu và nuôi dưỡng khác nhau, nái mắn đẻ, nuôi con khéo và có chất lượng thịt tốt Do đó Yorkshire đang được nuôi phổ biến ở nước ta và được dùng trong lai kinh tế với lợn nội để tạo con lai nuôi thịt đạt khối lượng giết thịt lớn, chọn lọc một số con nái lai F1 đạt các chỉ tiêu kinh tế cao để tiếp tục cho lai theo hướng nạc cao (Chu Thị Thơm và cộng sự, 2005)[27]

2.1.2 Giống lợn Landrace

Giống lợn Landrace có thành tích sản xuất như hiện nay là giống lợn Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch Đây là một phẩm giống đã được cải tiến từ hơn 40 năm nay theo hướng sớm thành thục, tăng trọng nhanh và tỷ lệ nạc cao Giống lợn Landrace được hình thành từ sự lai tạo giữa các giống lợn Youtland có nguồn gốc Đức và lợn Yorkshire có nguồn gốc Anh

Lợn Landrace được nhập vào Việt Nam năm 1970 từ Cu Ba Năm 1985-1986 nhập lợn Landrace từ Bỉ và Nhật Bản Trong điều kiện chăn

Trang 14

nuôi của ta nó có khả năng phát triển tốt

Đặc điểm ngoại hình

của lợn Landrace có màu

lông trắng tuyền, tai to dài

che phủ xuống mặt, mồm

hơi cong, thân dài, lưng

thẳng, sườn tròn, bụng gọn,

phần sau rất phát triển,

mông xuôi thể hiện rõ giống

nạc, bốn chân hơi cao

Hình 2.2 Giống lợn Landrace

Theo Chu Thị Thơm và cộng sự (2005)[27] lợn Landrace có khả năng sinh trưởng tốt, nuôi 6 - 7 tháng đạt 100kg, lợn 12 tháng tuổi đạt 145kg, lợn nái trưởng thành đạt 250 - 300kg Tỷ lệ nạc cao hơn những giống hiện có, đạt

từ 56-57% Chi phí 3,0 - 3,5kg thức ăn cho 1kg tăng trọng

Lợn nái đẻ 10-11 con/lứa, khối lượng sơ sinh trung bình 1,3-1,4 kg/con, mỗi năm cho 2 lứa/nái Lợn Landrace được dùng trong lai kinh tế theo hướng lai ngoại x ngoại, ngoại x nội để nâng cao khối lượng và tỷ lệ thịt nạc cho lợn nuôi thịt Trong thực tế sản xuất công thức lai ngoại nội 1/2 Landrace, 1/4 Đại Bạch, 1/4 Móng Cái cho con lai 6 tháng tuổi đạt 100kg với tỷ lệ nạc 18%

Theo tác giả Lê Hồng Mận (2007)[13] các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh sản của lợn nuôi ở nước ta đều thấp hơn giống gốc từ 10-15%

Trang 15

Thích ứng chịu đựng cao với

điều kiện khí hậu khắc nghiệt,

ít nhạy cảm với stress

lanh lợi, lông da đen, có

khoang trắng quanh vai và

phần trước thân Thân mình to

dài, tai nhỏ dựng đứng hướng

về hai bên, mặt thẳng và dài,

mông nở và xuôi, chân to khoẻ

và thấp (Chu Thị Thơm và

cộng sự, 2005)[27] Hình 2.4 Giống lợn Hampshire

Nuôi thịt 143 - 172 ngày đạt 100kg Thịt tốt, tỷ lệ nạc còn đáp ứng nhu cầu làm đồ hộp Chịu kham khổ, thích chăn thả

Trang 16

Theo Lê Hồng Mận (2007)[13] lợn Hampshire nuôi ở Việt Nam sinh sản không cao, bình quân 8 - 10 con/lứa, mắn đẻ Trong lai kinh tế lợn Hampshire chọn làm dòng bố chủ yếu ở các cơ sở giống để cung cấp con đực cho lai kinh tế nuôi thịt hướng nhiều nạc

2.2 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái

2.2.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn nái

Cơ quan sinh dục của lợn cái được chia thành: bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong

Bộ phận sinh dục bên ngoài là bộ phận sinh dục có thể nhìn thấy, sờ thấy và quan sát được Bao gồm: âm hộ, âm vật, tiền đình

Âm hộ (Vulva) hay còn gọi là âm môn, nằm dưới hậu môn và ngăn

cách với nó bởi vùng hồi âm Bên ngoài có 2 môi đính với nhau ở mép trên và mép dưới Trên hai môi của âm hộ có sắc tố đen và nhiều tuyến tiết: tuyến

mồ hôi, tuyến bã

Nối tiếp với âm hộ là âm vật (Clitoris) Âm vật có cấu tạo như dương

vật nhưng thu nhỏ lại và là tạng cương của đường sinh dục cái, được dính vào phần trên khớp bán động ngồi, bị bao xung quanh bởi cơ ngồi hổng

Âm vật được phủ bởi lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh cảm giác, lớp thể hổng và tổ chức liên kết bao bọc gọi là mạc âm vật

Giới hạn giữa âm hộ và âm đạo là tiền đình (Vestibulum vaginae sinus

progenitalis) Tiền đình bao gồm:

- Màng trinh là một nếp gấp gồm 2 lá, phía trước thông với âm hộ, phía sau thông với âm đạo Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do 2 lá niêm mạc gấp lại thành một nếp

Trang 17

- Lỗ niệu đạo ở sau và dưới màng trinh

- Hành tiền đình là 2 tạng cương ở 2 bên lỗ niệu đạo Cấu tạo giống thể hổng ở bao dương vật của con đực

Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật

Bộ phận sinh dục bên trong là những bộ phận chỉ quan sát hoặc sờ thấy được bằng các phương pháp gián tiếp Bao gồm: âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng và buồng trứng

Nối tiếp âm hộ là âm đạo (Vagina) Âm đạo là một ống tròn để chứa cơ

quan sinh dục đực khi giao phối, là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá

trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ tử cung Phía trước âm đạo là cổ

tử cung, phía sau là tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màng trinh

Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp:

Nối tiếp với âm đạo là tử cung (Uterus) Tử cung nằm trong xoang

chậu, phía trên là trực tràng, phía dưới là bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu, 2 sừng tử cung ở phần trước xoang chậu

Tử cung có cấu tạo rất phù hợp với chức năng phát triển và dinh dưỡng của bào thai Trứng được thụ tinh ở ống dẫn trứng rồi trở về tử cung làm tổ, ở đây hợp tử lấy chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ thông qua lớp niêm mạc tử cung

Trang 18

Niêm mạc tử cung và dịch tử cung giữ vai trò quan trọng trong quá trình vận chuyển tinh trùng và trứng, tham gia điều hòa chức năng thể vàng, đảm nhận

sự làm tổ, mang thai và đẻ

Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép gồm: một cổ tử cung, một thân và hai sừng tử cung

- Cổ tử cung là phần ngoài cùng của tử cung, nó luôn luôn đóng, chỉ

mở khi nào lợn cái hưng phấn cao độ, lúc sinh đẻ hay khi bị bệnh lý Cổ tử cung lợn dài 10 - 18cm, hình trụ, thông với âm đạo Niêm mạc cổ tử cung có những u thịt xen kẽ khép lại với nhau theo lối cài răng lược

- Thân tử cung của lợn dài 3 - 5cm nối giữa cổ tử cung với hai sừng tử cung

- Sừng tử cung dài 50 - 1000cm, hình ruột non và là nơi làm tổ của thai.Vách tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong: lớp tương mạc, lớp cơ trơn, lớp nội mạc

- Lớp tương mạc: là lớp màng sợi, dai, chắc phủ mặt ngoài tử cung và nối tiếp vào hệ thống các dây chằng

- Lớp cơ trơn: gồm cơ vòng rất dày ở trong, cơ dọc mỏng hơn ở ngoài Giữa 2 tầng cơ chứa tổ chức liên kết sợi đàn hồi và mạch quản, đặc biệt là nhiều tĩnh mạch lớn Ngoài ra, các bó sợi cơ trơn đan vào nhau theo mọi hướng làm thành mạng vừa dày vừa chắc Cơ trơn là lớp cơ dày và khoẻ nhất trong cơ thể Do vậy, nó có đặc tính co thắt (Đặng Đình Tín, 1986)[31]

Theo Trần Thị Dân (2004)[3] trương lực co càng cao khi có nhiều

Oestrogene trong máu và trương lực co giảm khi có nhiều Progesterone trong

máu Vai trò của cơ tử cung là góp phần cho sự di chuyển của tinh trùng và chất nhày trong tử cung, đồng thời đẩy thai ra ngoài khi sinh đẻ Khi mang

thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ

vậy phôi thai có thể bám chắc vào tử cung

- Lớp nội mạc tử cung: là lớp niêm mạc màu hồng được phủ bởi một

Trang 19

lớp tế bào biểu mô hình trụ, xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhày tử cung Nhiều tế bào biểu mô kéo dài thành lông rung, khi lông rung chuyển động thì gạt những chất nhày tiết ra về phía cổ tử cung Trên niêm mạc có các nếp gấp

Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển

đến ống dẫn trứng Dưới ảnh hưởng của Oestrogene, các tuyến tử cung phát

triển từ lớp màng nhày, xâm nhập vào lớp dưới màng nhày và cuộn lại Tuy nhiên, các tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của

Progesterone Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tuỳ theo giai đoạn của chu kỳ lên giống

Thông với sừng tử cung là ống dẫn trứng (Oviductus) hay còn gọi là vòi

Fallop Chức năng của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng đến nơi thụ tinh (1/3 phía trên ống dẫn trứng), tiết các chất để nuôi dưỡng tế bào trứng

và phôi trong vài ngày trước khi đi vào tử cung, duy trì sự sống và gia tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng Thời gian di chuyển của tế bào trứng trong ống dẫn trứng từ 3-10 ngày Trên đường di hành trong ống dẫn trứng, tế bào trứng

có thể đứng lại ở các đoạn khác nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng Cấu tạo của ống dẫn trứng gồm có phễu, phần rộng và phần eo Phễu

mở, có những sợi lông rung để tiếp nhận tế bào trứng và gia tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn Nối tiếp với phễu là phần rộng, phần rộng chiếm khoảng 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ Phần eo nối tiếp sừng tử cung, nó có thành dày hơn phần rộng và ít nếp gấp hơn Ở lợn, sự co thắt của nơi tiếp giáp eo - tử cung tạo thành cái cản đối với tinh trùng để không có quá nhiều tinh trùng đi đến phần rộng, nhờ đó tránh được hiện tượng nhiều tinh trùng xâm nhập vào noãn

Vách của ống dẫn trứng gồm ba lớp: lớp liên kết sợi ở ngoài, lớp cơ

Trang 20

trơn ở giữa, lớp niêm mạc với những tế bào thượng bì có lông thịt bên trong

Tế bào trứng rơi vào phễu của ống dẫn trứng được di chuyển gần về tử cung nhờ những nhu động của lớp cơ trơn và sự vận động nhịp nhàng của lông thịt trên tầng thượng bì

Sát với đầu trước của ống dẫn trứng là buồng trứng (Ovarium) Buồng

trứng của lợn gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng, nằm trong xoang chậu Hình dáng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng

Buồng trứng được bọc ngoài bởi một lớp màng liên kết sợi chắc Bên trong có hai phần: phần vỏ và phần tủy Ở trong cả hai phần đều phát triển

một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên một loại chất đệm (stoma ovarii) Ở phần

tủy thì mô xốp hơn vì giàu mạch máu và mạch bạch huyết Phần vỏ đặc biệt quan trọng đối với chức năng sinh dục Quá trình tế bào trứng chín xảy ra tại phần này (Phạm Thị Xuân Vân, 1982)[33]

Trên buồng trứng có từ 70.000 - 100.000 noãn bào ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng Khi noãn bào chín là quá trình sinh trưởng đã hoàn thành, noãn bào sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng, đến một giai đoạn nhất định sẽ vỡ ra, tế bào trứng theo dịch noãn bào đi vào loa kèn rồi đi vào ống dẫn trứng Nơi noãn bào vỡ sẽ hình thành thể vàng (Khuất Văn Dũng, 2005)[7]

Trang 21

1- Kết tràng xuống 2- Buồng trứng 3- Sừng tử cung 4- Dây chằng rộng 5- Bóng đái 5’- Niệu quản 6- Túi mù dưới niệu quản

7- Âm hộ;

8- Trực tràng 9- Cổ tử cung

Hỡnh 2.5 Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cỏi

2.2.2 Sinh lý quỏ trỡnh thụ tinh

Thụ tinh là một quỏ trỡnh sinh lý kết hợp giữa tế bào trứng và tinh trựng, kết quả tạo nờn một cơ thể mới mang đặc điểm di truyền của cả bố và

mẹ

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002)[5] thụ tinh trực tiếp là quỏ trỡnh giao phối giữa gia sỳc đực và gia sỳc cỏi, tinh dịch của con đực đi vào đường sinh dục con cỏi Thụ tinh nhõn tạo là trường hợp dựng tinh dịch của con đực đó pha loóng bơm vào đường sinh dục con cỏi để tinh trựng kết hợp với trứng tạo thành hợp tử

Khi gia sỳc cỏi động dục cao độ, được gặp gia sỳc đực thỡ quỏ trỡnh thụ tinh khụng đơn giản là sự kết hợp giữa tinh trựng và trứng mà là sự phối hợp, chọn lọc cỏc chất trong tế bào đú, xảy ra quỏ trỡnh đồng hoỏ và dị hoỏ, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau để kết quả tạo ra một hợp tử, khỏc cả hai tế bào trước

cả về số lượng và chất lượng Sự phối hợp này cú tớnh chất chọn lọc cao độ

Trang 22

theo loài và theo giống, mà vai trò cấu tạo và tính chất của các gen có ảnh hưởng quyết định trong việc cấu tạo và phát triển của thai, việc di truyền đặc tính của bố mẹ và giống loài đó Do đó, trong giao phối tự nhiên sẽ xảy ra những điều kiện bất lợi cho sự phát triển của thai hoặc gây ra những bệnh tật cho gia súc cái Giao phối tự nhiên có một ưu điểm là đúng được thời điểm động dục cao độ của con cái, quá trình thụ thai được đảm bảo chắc chắn

Ngoài phương pháp giao phối tự nhiên của loài gia súc, người ta còn áp dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo để giải quyết một số nhược điểm của gia súc trong khi giao phối tự nhiên

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002)[5] trong chăn nuôi, phương pháp thụ tinh nhân tạo đã cải tạo được giống gia súc, giảm số đầu giống vật nuôi, nâng cao hiệu suất sử dụng đực giống, có thể thương mại hoá tinh dịch, bảo tồn quỹ gen, phòng các bệnh truyền lây qua tiếp xúc Đây là biện pháp kỹ thuật hữu hiệu để thúc đẩy nghành chăn nuôi phát triển, nó có những lợi ích kinh tế kỹ thuật to lớn, tuy nhiên nó là con dao hai lưỡi nếu công tác thú y kém

2.2.3 Sinh lý quá trình mang thai

Mang thai là một hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể cái, nó được bắt đầu từ khi thụ tinh cho đến khi sinh đẻ xong

Sau khi thụ tinh, hợp tử làm tổ ở 2 sừng tử cung và phát triển thành thai Thời gian mang thai của lợn khoảng 110-118 ngày, trung bình là 114 ngày [5] Cùng với quá trình phát triển của bào thai, nhau thai, thể vàng, cơ quan sinh dục nói riêng và toàn bộ cơ thể mẹ nói chung xuất hiện nhiều biến đổi sinh lý khác nhau

Cùng với quá trình phát triển của bào thai, nhau thai, thể vàng, cơ quan sinh dục nói riêng và toàn bộ cơ thể mẹ nói chung xuất hiện nhiều biến đổi sinh lý khác nhau Những biến đổi đó là điều kiện cần thiết để bào thai được

Trang 23

hình thành phát triển trong tử cung và quá trình sinh đẻ được bình thường

Khi gia súc có thai, kích tố của thể vàng và nhau thai làm thay đổi cơ năng hoạt động của một số tuyến nội tiết khác Trong quá trình bào thai phát triển, nhất là giai đoạn sau, nếu khẩu phần ăn của mẹ không đảm bảo đầy đủ đạm, khoáng, nguyên tố vi lượng, vitamin thì không những bào thai phát triển không bình thường mà sức khoẻ con mẹ nói chung cũng giảm sút nhiều (Trần Tiến Dũng và cộng sự, 2002)[5]

Khi gia súc có thai, toàn bộ tử cung xuất hiện những thay đổi về cấu tạo, tính chất, vị trí, khối lượng, thể tích Dây chằng tử cung được dài ra nên đầu mút sừng tử cung và buồng trứng được đưa về phía trước và phía dưới

Hệ tuần hoàn ở cơ quan sinh dục được tăng cường, lượng máu đến cung cấp cho niêm mạc tử cung rất nhiều nên niêm mạc được phát triển và dày lên Các tuyến tử cung cũng được phát triển mạnh và tăng cường tiết niêm dịch Niêm mạc tử cung hình thành nhau mẹ Khối lượng tử cung khi có thai gấp 5 - 20 lần so với khi không có thai, kích thước và thể tích tăng gấp hàng trăm lần Mỗi một tế bào được phát triển dài thêm 7 - 11 lần và dày hơn 3 - 5 lần so với khi không có thai Ở lợn mức độ phát triển và tăng sinh của tử cung phụ thuộc vào số lượng của bào thai và thường là phát triển ở cả hai sừng (Trần Tiến Dũng và cộng sự 2002)[5]

Cổ tử cung có vai trò quan trọng trong bảo vệ bào thai phát triển bình thường Cổ tử cung được khép kín hoàn toàn, niêm mạc và các nếp nhăn phát triển dày lên Những tế bào thượng bì đơn tiết tăng cường tiết dịch đặc, có tác dụng đóng nút cổ tử cung Niêm dịch này lúc đầu có màu trắng trong, về sau chuyển thành màu vàng nâu, số lượng và độ dính cũng được tăng dần Nó có phản ứng toan yếu Ngoài ra, trong thời gian có thai, ống dẫn trứng hầu như không được phát triển to lên, nó có tính chất đặc biệt là thay đổi về mặt cấu tạo tổ chức học, các nếp nhăn niêm mạc được co nhỏ lại, niêm mạc xung huyết và lòng ống được mở rộng

Trang 24

2.2.4 Sinh lý quá trình đẻ

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002)[5] gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của hệ thống thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ

Quá trình sinh đẻ của gia súc cái do co bóp của tử cung, cơ thành bụng, sức rặn toàn thân đẩy thai, màng nhau thai cùng với nước thai ra ngoài Qúa trình sinh đẻ được chia ra 3 thời kỳ:

Thời kỳ mở cổ tử cung: thời kỳ này bắt đầu từ khi tử cung có cơn co bóp đầu tiên đến khi cổ tử cung mở ra hoàn toàn Ở lợn nái, thời kỳ mở cổ tử cung kéo dài từ 3-4 giờ, đối với lợn nái đẻ lứa đầu thì thời kỳ mở cổ tử cung ngắn hơn

Thời kỳ đẻ: bắt đầu từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn và kết thúc khi thai lọt ra ngoài Thời gian đẻ của lợn phụ thuộc vào khoảng cách các thai ra và số lượng thai trong tử cung gia súc mẹ

Thời kỳ sổ nhau: sau khi thai lọt ra khỏi đường sinh dục gia súc mẹ một thời gian, con mẹ trở nên yên tĩnh, nhưng tử cung vẫn co bóp và tiếp tục những cơn rặn, mỗi lần co bóp từ 1,5 - 2,0 phút, thời gian giữa 2 lần co bóp là 2 phút, nhưng cường độ yếu hơn Sau khi sổ thai khoảng 2 - 3 giờ tử cung co nhỏ lại, thành tử cung dày, trên bề mặt có nhiều nếp nhăn, bên trong tử cung có nhiều núm nhau Trong thời gian này tử cung tiếp tục co bóp và thu nhỏ lại dần về thể tích, nhưng màng niệu và màng nhung mao thì không co lại được nên tử cung đẩy ra ngoài Trong quá trình đẩy màng nhau thai ra, do đặc tính của tử cung co bóp từ mút sừng tử cung cho đến thân tử cung, nên màng nhau thai bong ra sẽ được lộn trái, phần ở mút sừng tử cung ra trước sau đó bong dần xuống sừng tử cung, thân tử cung và ra ngoài Sau khi thai ra hết toàn bộ khoảng 10-15 phút

Trang 25

nhau thai mới ra

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002)[5] sau khi đẻ một thời gian niêm mạc tử cung có hiện tượng tái sinh Trong quá trình tái sinh đó núm nhau

mẹ biến đổi và tróc ra Những mạch máu của núm nhau mẹ bị vỡ, cùng với bạch cầu và một lượng lớn nước của thai còn đọng lại trong tử cung Tất cả các thứ đó được tống ra ngoài và được gọi là sản dịch

Trong vòng vài ngày đầu sau khi đẻ, sản dịch chảy ra có màu hồng rồi chuyển sang vàng nhạt sau cùng là trong suốt, sản dịch hết sau khi đẻ 2-3 ngày Lúc đầu sản dịch chảy ra không có vi khuẩn, về sau sản dịch chảy ra có vi khuẩn xâm nhập nhưng cơ thể mẹ không có biến đổi, nhưng nếu sản dịch chảy

ra kéo dài thì tử cung sẽ bị bệnh

Sau khi đẻ thể tích tử cung nhỏ lại, thành tử cung dày lên, sự biến đổi này là do các sợi cơ co lại, các tổ chức liên kết biến đổi

Hai sừng tử cung buông thõng vào xoang bụng, độ cong của tử cung cũng không rõ như gia súc đẻ ít lần hoặc chưa đẻ lần nào Do đó những gia súc già yếu, đẻ nhiều lần thì tử cung co lại rất kém

2.3 Bệnh Viêm tử cung ở lợn nái (Metritis)

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002)[5] Viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sau khi đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung, gây rối loạn sinh sản và làm ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản của lợn nái

Theo Đào Trọng Đạt và cộng sự (2000)[8] bệnh Viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn

Trang 26

nái gây viêm

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh Viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung

- Do kế phát từ một số bệnh Truyền nhiễm như: Sẩy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, Lao

- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở ra, tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập vào gây viêm

Ngoài các nguyên nhân kể trên viêm tử cung còn có thể là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động dục (vì lúc đó cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung (Lê Văn Năm và cộng sự, 1997)[15]

Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một

cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối nhưng đã bị viêm tử cung

Theo Đặng Đình Tín (1985)[30] bệnh Viêm tử cung được chia làm 3

thể: Viêm nội mạc tử cung (Endometritis), Viêm cơ tử cung (Myometritis

puerperalis ), Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis puerperalis)

Theo Nguyễn Văn Thanh (1999)[20] viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của tử cung, đây là một trong các nguyên nhân làm giảm khả năng

Trang 27

sinh sản của gia súc cái, nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệ cao trong các thể bệnh của Viêm tử cung

Viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp, làm niêm mạc tử cung bị tổn thương,

tiếp đó các vi khuẩn: Streptococcus, Staphylococcus, E coli, Salmonella, C

pyogenes, Bruccella, roi trùng Trichomonas foetus xâm nhập và tác động lên lớp niêm mạc gây viêm (Settergreen I., 1986)[38-a]

Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000)[16] bệnh Viêm nội mạc tử cung có thể chia 2 loại:

- Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ (Endomestritis

puerperalis catarrhalis purulenta acuta): chỉ gây tổn thương ở niêm mạc

tử cung

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002)[5] lợn bị bệnh này thân nhiệt hơi cao, ăn kém Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ âm hộ chảy ra hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết Khi con vật nằm xuống, dịch viêm thải ra ngày càng nhiều hơn Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại thành từng đám vảy màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch rỉ viêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường

Kiểm tra qua trực tràng có thể phát hiện một hoặc cả hai sừng tử cung sưng to và không cân xứng nhau Thành tử cung dày và mềm hơn bình thường Khi kích thích nhẹ lên sừng tử cung thì mức độ phản ứng co nhỏ lại của chúng yếu ớt Trường hợp trong tử cung tích lại nhiều dịch viêm và mủ

Trang 28

thì có thể phát hiện được trạng thái chuyển động sóng

Nếu điều trị kịp thời và tích cực, sau hai tuần bệnh có thể khỏi hẳn

- Viêm nội mạc tử cung thể màng giả: tổ chức niêm mạc đã bị hoại tử, tổn thương lan sâu xuống dưới tầng cơ của tử cung và chuyển thành viêm hoại tử

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002)[5] ở thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vết thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử Lợn nái mắc bệnh này thường xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, ăn uống giảm, kế phát viêm vú, con vật đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn

dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch…

Theo Settergreen I (1986-b)[39] viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ

và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi do lớp cơ và lớp tương mạc của tử cung bị phân giải mà tử cung bị thủng hoặc tử cung bị hoại tử từng đám to

Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng, màu đỏ thẫm Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Con vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc

Trang 29

Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung mở, hỗn dịch càng chảy ra ngoài âm đạo nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng rõ hơn Khám qua trực tràng thì

tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to nhỏ không đều nhau, thành tử cung dày và cứng Khi kích thích lên tử cung, con vật rất mẫn cảm, đau nên càng rặn mạnh hơn, từ tử cung thải ra nhiều hỗn dịch bẩn

Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh

Theo Arthur G.H (1964)[34], Đặng Đình Tín (1985)[30] viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ viêm cơ tử cung Thể viêm này thường cấp tính cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng Lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển sang đỏ sẫm, sần sùi mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị hoại tử và bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết Nếu điều trị không kịp thời thì bệnh thường trở thành thể mãn tính, thành ngoài tử cung thường dính với các tổ chức xung quanh, vị trí các bộ phận của cơ quan sinh dục bị thay đổi, quá trình thụ tinh và sinh đẻ lần sau gặp nhiều khó khăn, có thể dẫn đến tình trạng vô sinh (Trần Tiến Dũng và cộng sự, 2002)[5]

Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh Viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kì tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể có màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mãn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung

Trang 30

Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm

hộ lợn nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra

Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt, vì vậy nếu có

mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì có thể bị nhầm lẫn.(Đặng Công Trung, 2007)[32]

Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái

để chẩn đoán cho chính xác

Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức

độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất

Để chẩn đoán, người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục

bộ cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân Có thể dựa vào các chỉ tiêu

ở bảng sau:

Bảng 2.1 Chẩn đoán phân biệt các thể Viêm tử cung

Trang 31

tử cung

Màu Trắng xám, trắng sữa Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt Dịch viêm

Phản xạ ăn Bỏ ăn một phần hoặc

hoàn toàn

Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu ở tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con

Theo các tác giả Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002)[5], Trần Thị Dân

(2004)[3] khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sẩy thai:

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt

của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám

chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết

nhiều Prostaglandin F 2α (PGF2α ), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể

vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong

máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa

Trang 32

dễ bị sẩy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung, bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu: Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung

để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng

Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt vi

khuẩn E coli, nội độc tố của vi khuẩn này làm ức chế sự phân tiết kích tố tạo sữa

Prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc

- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại: Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng

vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone

Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại và không thải trứng được

Ảnh hưởng rõ nhất trên lâm sàng mà người chăn nuôi và bác sỹ thú y nhận thấy ở lợn bị viêm tử cung lúc sinh đẻ là: chảy mủ ở âm hộ, sốt, bỏ ăn Mặt khác, các quá trình bệnh lý xảy ra lúc sinh đẻ ảnh hưởng rất lớn tới năng suất sinh sản của lợn nái sau này Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên

Trang 33

nhân dẫn đến hội chứng M.M.A, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng

Qua đó cho thấy, hậu quả của viêm tử cung là rất lớn, để giảm tỷ lệ mắc bệnh, người chăn nuôi phải có những hiểu biết nhất định về bệnh từ đó tìm ra biện pháp để phòng và điều trị hiệu quả

2.4 Một số vi khuẩn thường gặp ở tử cung của lợn

Bình thường cổ tử cung luôn đóng và ngăn chặn các quá trình nhiễm trùng từ bên ngoài vào cổ tử cung Khi gia súc đẻ hoặc bị viêm đường sinh dục thì cổ tử cung thường mở Như vậy, các vi khuẩn từ ngoài sẽ xâm nhập vào đường sinh dục

và trong tử cung lợn lúc đó thường có mặt của các loại vi khuẩn: Staphylococcus,

Streptococcus, E coli, Salmonella,

2.4.1 Staphylococcus

Là loại cầu khuẩn Gram(+), đường kính từ 0,7 -1,0µ, không sinh nha bào và thường không có vỏ, không có lông, không di động Trong bệnh phẩm, tụ cầu thường xếp thành từng đôi, chụm lại từng đám nhỏ hình chùm nho Môi trường lỏng các vi khuẩn đứng riêng lẻ thành từng đám nhỏ hoặc từng chuỗi ngắn (Nguyễn Như Thanh và cộng sự, 1997 )[19]

Staphylococcus là loại hiếu khí tuỳ tiện, nhiệt độ thích hợp 32-37oC, pH thích hợp từ 7,2 - 7,6

- Trong môi trường nước thịt: Sau khi nuôi cấy 5-6 giờ vi khuẩn đã làm đục môi trường, sau 24giờ môi trường đục rõ hơn, lắng cặn nhiều, không có màng

- Trong môi trường thạch thường: sau khi cấy 24 giờ, vi khuẩn hình thành

khuẩn lạc tương đối to dạng S (Smouth) mặt khuẩn lạc hơi ướt, bờ đều nhẵn, mặt

lồi đường kính từ 2 - 4 mm Tuỳ vào màu sắc khuẩn lạc mà người ta chia ra các loại sau:

Trang 34

+ Tụ cầu có khuẩn lạc màu vàng thẫm (Staphylococcus aureus) có khả

năng gây bệnh cho động vật Màu vàng thẫm là do sự biến màu của chất Caroten Màu vàng thẫm thấy rõ nhất trong môi trường có chứa tinh bột hoặc acid béo bay hơi (Nguyễn Như Thanh và cộng sự, 1997 )[19]

+ Tụ cầu trắng (Staphylococcus albus) và tụ cầu vàng chanh (Staphylococcus citreus) không có độc lực và không có khả năng gây bệnh

- Trong môi trường thạch máu: Staphyloccus aureus gây dung huyết

mạnh do có men Haemolysin, với vòng dung huyết kép gồm phần dung huyết hoàn toàn ở trong và vòng dung huyết một phần ở phía ngoài trên thạch máu

- Trong môi trường thạch Sapman: là môi trường dùng để phân lập, xác định độc lực của tụ cầu Nếu tụ cầu có khả năng lên men đường Mannit sinh

ra acid làm pH thay đổi (pH = 6,8) môi trường chuyển từ màu hồng sang mầu vàng Tụ cầu không gây bệnh, không lên men đường mannit, môi trường giữ nguyên màu hồng

- Trong môi trường Gelatin: vi khuẩn có men gelatilaza làm tan chảy

gelatin

Tụ cầu có sức đề kháng kém với nhiệt độ và hoá chất, ở 700C tụ cầu chết trong 1 giờ, ở 800C chết trong 10 phút, với 1000C chết trong vòng vài phút, acid phênic 3% - 5% diệt vi khuẩn trong 3 - 5 phút, Focmol 1% diệt vi khuẩn trong 1 giờ

2.4.2 Streptococcus

Streptococcus là những vi khuẩn hình cầu hoặc hình bầu dục, đường kính khoảng 1µ, đôi khi có vỏ bọc, bắt màu Gram (+), không di động

Vi khuẩn đứng thành chuỗi dài, chiều dài của mỗi chuỗi từ 2 - 12 đơn

vị hoặc hơn tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường (Nguyễn Như Thanh và cộng

sự, 1997 )[19]

Trang 35

Vi khuẩn thích hợp ở môi trường có nhiệt độ 370C và pH = 7,2 - 7,6, sống hiếu khí tuỳ tiện

- Trong môi trường nước thịt: vi khuẩn hình thành hạt hoặc sợi bông rồi lắng xuống đáy ống Sau 24 giờ nuôi cấy, môi trường trong, đáy ống có cặn

- Trong môi trường thạch thường: khuẩn lạc dạng S, tròn, lồi, bóng, hơi xám Khi làm tiêu bản liên cầu xếp thành chuỗi ngắn

- Trong môi trường thạch máu: khuẩn lạc có đường kính khoảng 1mm, gây dung huyết bởi các yếu tố:

+ Dung huyết dạng (α): độc lực không cao

+ Dung huyết dạng (β): độc lực cao

+ Dung huyết dạng (γ): không có khả năng gây bệnh

Vi khuẩn Streptococcus đề kháng thấp với nhiệt độ và hoá chất: ở 700C vi khuẩn bị diệt trong 30 - 40 phút, ở 1000C bị diệt trong 1 phút, các chất sát trùng cũng dễ tiêu diệt vi khuẩn

2.4.3 Salmonella

Vi khuẩn có kích thước 0,4 - 0,6 x 1 - 3µ không có nha bào và giáp mô,

bắt màu Gram (-) Đa số các loài Salmonella đều có khả năng di động mạnh

Khi nhuộm vi khuẩn bắt màu toàn thân hoặc hơi đậm ở hai đầu (Nguyễn Như Thanh và cộng sự, 1997 )[19]

Là vi khuẩn hiếu khí hay yếm khí tuỳ tiện, nhiệt độ thích hợp 370C, pH

- Trong môi trường Brilliant green agar: khuẩn lạc dạng S màu đỏ

Trang 36

Bị diệt ở 600C sau 1 giờ, ở 700C sau 20 phút, dung dịch NaOH 4%, HgCl2 1%, Formon 2% tiêu diệt sau 20 phút

2.4.4 Eschirichia coli (E coli)

E coli là trực khuẩn hình gậy kích thước 2 - 3 x 0,6µ Trong cơ thể có hình cầu trực khuẩn đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn Phần lớn các

E coli đều có lông, có khả năng di động, vi khuẩn E coli không sinh nha bào,

có thể có giáp mô, bắt màu Gram (-) (Nguyễn Như Thanh và cộng sự, 1997)[19]

E coli là trực khuẩn yếm khí hoặc hiếu khí tuỳ tiện, nhiệt độ thích hợp

- Trong môi trường Macconkey: khuẩn lạc dạng S màu đỏ

- Trong môi trường Brilliant green agar: khuẩn lạc dạng S có màu vàng chanh

Bị diệt ở 600C trong vòng 15 - 30 phút, HgCl2 1%, Formon 2%, acid Phenic diệt vi khuẩn sau 5 phút, ngoài môi trường các chủng độc có thể tồn tại tới

4 tháng

2.5 Những hiểu biết cơ bản về thuốc kháng sinh trong phòng và điều trị bệnh Sinh sản

Kháng sinh là thuật ngữ Việt Nam, danh pháp quốc tế là Antibiotic Năm

1942, Waksman, người tìm ra Streptomycine đã định nghĩa: “Một chất kháng sinh hay một hợp chất có tính kháng sinh là do các vi sinh vật sản xuất ra có khả năng

ức chế sự phát triển hoặc tiêu diệt vi khuẩn khác”

Trang 37

Năm 1957, Turpin Velu định nghĩa: “Hợp chất do một cơ thể sống tạo ra hoặc chất tổng hợp có hệ số hoá học trị liệu cao, có tác dụng điều trị đặc hiệu với liều rất thấp do ức chế một số quá trình sống của virus, vi sinh vật và ngay cả một

số tế bào của các cơ thể đa bào”

Ngày nay kháng sinh được định nghĩa rộng hơn: “Kháng sinh là chất do vi nấm hoặc do vi khuẩn tạo ra, hoặc bán tổng hợp, có khi là chất tổng hợp có tác dụng điều trị đặc hiệu với liều rất thấp do ức chế một số quá trình sống của vi sinh vật” (Lê Thị Ngọc Diệp, 1999)[4], (Hoàng Tích Huyền và cộng sự, 2001)[11]

Để giúp cho việc định hướng lựa chọn kháng sinh có hiệu quả trong điều trị, các nhà khoa học đã phân loại kháng sinh trên cơ sở: phân loại theo nguồn gốc, theo hoạt phổ kháng khuẩn, theo mức độ tác dụng, theo cấu trúc hoá học Trong đó cách phân loại theo cấu trúc hoá học được sử dụng rộng rãi nhất vì hoạt phổ, mức độ, cơ chế tác dụng và cấu trúc hoá học gắn bó chặt chẽ với nhau (Hoàng Tích Huyền, 1997)[10], (Lê Thị Ngọc Diệp, 1999)[4] Với

cơ sở này, kháng sinh được phân làm các nhóm sau:

- Nhóm β-lactamin: trong cấu trúc hoá học của nhóm này có một liên kết β-lactamin Liên kết này rất yếu, dễ bị đứt bởi men penicillinaza và từ đó hoạt tính

kháng sinh cũng giảm theo Cơ chế tác động của các kháng sinh thuộc nhóm này

là ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn Nhóm này được chia nhỏ thành 2 phân nhóm chính là: Penicilline và Cephalosporin (Hoàng Tích Huyền, 1997)[10], (Hoàng Thị Kim Huyền và cộng sự, 2001)[12]

- Nhóm Aminoglycozis (Aminozid): trong cấu trúc phân tử của kháng sinh thuộc nhóm này có đường đính theo nhóm amin Kích thước phân tử của

nhóm này khá lớn do đó khó hấp thu qua niêm mạc ruột vào máu Bởi vậy khi cho uống có tác dụng điều trị bệnh nhiễm trùng đường ruột rất tốt nhưng nhiễm trùng máu hoặc các bộ phận khác trong cơ thể thì phải tiêm Tác động

Trang 38

của các kháng sinh thuộc nhóm này là ức chế quá trình tổng hợp Protein của

vi sinh vật do chúng gắn chặt với tiểu phần 30s của Riboxom

- Nhóm Chloramphenicol: là loại kháng sinh có hoạt phổ rộng, tác động trên cả vi khuẩn Gram (-) và Gram (+), Ricketsia, Mycoplasma Cơ chế tác

dụng của kháng sinh thuộc nhóm này là ức chế quá trình tổng hợp Protein của

cơ thể thông qua việc gắn chặt với tiểu phần 50s của Riboxom ở tế bào vi

khuẩn Hiện nay các kháng sinh thuộc nhóm này đã bị hạn chế sử dụng, một số

bị cấm sử dụng do có khả năng gắn cả vào tiểu phần 70s của Riboxom ở trẻ sơ

sinh gây còi cọc chậm lớn, suy tuỷ không hồi phục ở gia súc non

- Nhóm Tetracycline: là những chất có cấu tạo 4 vòng benzen chỉ khác

nhau ở các gốc gắn vào vòng Cơ chế tác dụng của chúng là ức chế quá trình tổng hợp Protein của vi sinh vật thông qua việc gắn vào tiểu phần 30s của

Riboxom Thuốc có hoạt phổ kháng khuẩn rộng nhưng khá độc với gan, thận và thần kinh do có ái lực cao với các kim loại có hoá trị II, III gây còi cọc, chậm lớn ở gia súc non.(Lê Trần Tiến, 2006)[29]

- Nhóm polipeptide: trong phân tử của chúng có nhiều liên kết peptid Cơ chế

tác dụng của kháng sinh thuộc nhóm này là tác động lên màng tế bào vi khuẩn, làm thay đổi tính thấm của màng, từ đó phá huỷ chức năng hàng rào bảo vệ của màng tế bào vi khuẩn Hoạt phổ kháng khuẩn rộng, tuy nhiên khi sử dụng cần đề phòng độc với thận và suy hô hấp (Hoàng Tích Huyền và cộng sự, 2001)[11]

- Nhóm Macrolide: là những chất đại phân tử, trong cấu trúc có một vòng lacton lớn, được tổng hợp từ các chủng Streptomyces khác nhau Cơ chế

tác dụng của nhóm này tương tự như cơ chế tác dụng của kháng sinh thuộc

nhóm Chloramphenicol Nhóm này đối kháng với nhóm β – lactamin nhưng lại hiệp đồng với nhóm Tetracycine

- Nhóm Sulfamid: là những hợp chất tổng hợp có tính kháng khuẩn

Trang 39

cao, là dẫn xuất của Sulphonamide Cơ chế tác động của nhóm này là cạnh

tranh hoá học do cấu trúc hoá học và kích thước phân tử của chúng gần giống

với PABA, do đó cạnh tranh với PABA ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp acid

forlic (chất cần thiết cho quá trình phát triển của vi khuẩn) Nhóm này đối

kháng với Novocain, tham gia vào phản ứng Axetyl hoá khi cho uống cho nên

dễ gây sỏi thận

- Nhóm Quinolon: là những kháng sinh có hoạt phổ rất rộng, tác động trên tất cả các loại vi khuẩn, Ricketsia, Mycoplasma, ít bị kháng thuốc Cơ

chế tác động của nhóm này bao gồm:

+ Ức chế enzim DNA - gyase: Enzim DNA-gyase là enzim tham gia

vào quá trình tổng hợp nên các acit nhân DNA của vi khuẩn Do đó đích tác

dụng của thuốc là DNA-gyase Nhiễm sắc thể của vi khuẩn là hình vòng tròn

gồm 2 chuỗi DNA xoắn kép Tuỳ theo điều kiện phát triển của vi khuẩn mà

DNA có thể tồn tại ở hai dạng: dạng xoắn kép hoặc dạng thả lỏng

Trong quá trình sinh sản và phát triển của vi khuẩn có sự sao chép và nhân lên của nhiễm sắc thể kèm theo sự sao chép có sửa chữa của DNA được thực hiện

bởi các enzim toprosomerase (các enzim này làm nhiệm vụ cắt tạm thời các chuỗi

DNA rồi sau đó tự đóng lại) Tuỳ theo vị trí cắt của 1 hay 2 mảnh DNA mà người

ta chia các toprosomerase thành toprosomerase I và toprosomerase II Enzim DNA-gyrase là một toprosomerase II Cấu trúc của DNA - gyrase gồm Gyr - A và phần Gyr-B) Các phần đơn vị A làm nhiệm vụ cắt tạm thời các mảnh DNA trong

giai đoạn đầu và nối chúng lại ở giai đoạn cuối sau khi nhiễm sắc thể đã được nhân đôi Các phần đơn vị B làm nhiệm vụ tách riêng các mảnh và xoắn vòng lại

Gyrase là mục tiêu hấp dẫn của các quinolon hay nói chính xác hơn đích tác dụng của quinolon là gyrase Chúng gắn vào các phòng đơn vị A của các gyrase làm

cho các enzim không thực hiện được nhiệm vụ của mình Tức là hai mảnh DNA khi đã bị cắt ra thì không gắn lại được Do vậy mà DNA ở trong tế bào dưới dạng

Trang 40

những đoạn riêng lẻ Như vậy dưới tác dụng của thuốc sự sao chép và nhân lên của các DNA bị ức chế

+ Cơ chế tạo Chelat: trong công thức phân tử của thuốc có chứa β

-Cetomic nên các Quinolon có thể tạo Chelat với các cation hoá trị II (Mg ++

thuốc có Chelat tương ứng với phức hợp trung hoà (phức hợp 2/1, tức là 2

phân tử thuốc kết hợp với một phân tử kim loại hoá trị II) thì không có tác dụng diệt khuẩn (Huỳnh Thị Kim Thoa, 1996)[26]

Cũng như các sinh vật khác, vi khuẩn cũng có khả năng thích nghi với điều kiện sống Chính vì thế, việc sử dụng kháng sinh kéo dài và không đúng cách đã tạo cho vi khuẩn có khả năng kháng thuốc Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1974)[17] một cá thể hoặc một nòi vi khuẩn nhất định nào đó được gọi là đề kháng với thuốc nếu nó có thể sống và phát triển được trong một môi trường

có nồng độ kháng sinh cao hơn nồng độ ức chế sinh sản và phát triển của phần lớn những cá thể khác hoặc những nòi khác trong cùng một canh khuẩn

Theo Lê Thị Ngọc Diệp (1999)[4] để phát huy hết tác dụng của kháng sinh trong điều trị, hạn chế các tác hại của thuốc, ngăn cản hiện tượng kháng thuốc cần phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc sau:

- Chỉ sử dụng kháng sinh khi có kết luận chắc chắn là nhiễm khuẩn hoặc khi có kết quả làm kháng sinh đồ Đối với mầm bệnh đã biết thì nên dùng các kháng sinh có hiệu lực nhất, ít độc và có phổ tác dụng hợp lý

- Lựa chọn đúng thuốc, đúng bệnh, dùng liều cao ngay từ đầu, tránh

Ngày đăng: 20/11/2013, 17:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình (2005), Phòng trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
2. Lê Xuân Cương (1986), Năng suất sinh sản của lợn nái, NXB Khoa học Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản của lợn nái
Tác giả: Lê Xuân Cương
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1986
3. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con, NXB Nông nghiệp Thành phố HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Thành phố HCM
Năm: 2004
4. Lê Thị Ngọc Diệp (1999), ”Thuốc chống vi khuẩn – phân loại – cơ chế - tác dụng - sự kháng thuốc và ứng dụng trong chăn nuôi thú y”.Chuyên đề giảng dạy sau đại học, chuyên nghành thú y, Trường Đại học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề giảng dạy sau đại học, chuyên nghành thú y
Tác giả: Lê Thị Ngọc Diệp
Năm: 1999
5. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Giáo trình sinh sản gia súc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
6. Trần Tiến Dũng (2004), “ Kết quả ứng dụng Hormone sinh sản điều trị hiện tượng chậm động dục lại sau đẻ ở lợn nái”. Tạp chí KHKT Nông nghiệp, tập 2 số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả ứng dụng Hormone sinh sản điều trị hiện tượng chậm động dục lại sau đẻ ở lợn nái”. "Tạp chí KHKT Nông nghiệp
Tác giả: Trần Tiến Dũng
Năm: 2004
8. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (2000), Bệnh ở lợn nái và lợn con, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
11. Hoàng Tích Huyền, Đào Văn Phan, Nguyễn Trọng Thông (2001), Giáo trình dược lý học, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dược lý học
Tác giả: Hoàng Tích Huyền, Đào Văn Phan, Nguyễn Trọng Thông
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2001
12. Hoàng Thị Kim Huyền, Hoàng Thị Minh Châu (2001), Dược lâm sàng và điều trị, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược lâm sàng và điều trị
Tác giả: Hoàng Thị Kim Huyền, Hoàng Thị Minh Châu
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2001
13. Lê Hồng Mận (2007), Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2007
14. Hồ Văn Nam, Nguyễn Văn Thanh (1999), “Kết quả nghiên cứu sự thay đổi một số chỉ tiêu sinh lý lâm sàng của trâu mắc các thể Viêm tử cung”, Kết quả nghiên cứu KHKT Khoa CNTY 1996 – 1998, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu sự thay đổi một số chỉ tiêu sinh lý lâm sàng của trâu mắc các thể Viêm tử cung”, "Kết quả nghiên cứu KHKT Khoa CNTY 1996 – 1998
Tác giả: Hồ Văn Nam, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
15. Lê Văn Năm, Trần Văn Bình, Nguyễn Thị Hương (1997), Kinh nghiệm phòng và trị bệnh lợn cao sản, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phòng và trị bệnh lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm, Trần Văn Bình, Nguyễn Thị Hương
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
16. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000), Bệnh sinh sản gia súc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
17. Nguy ễn Vĩnh Phước (1974), Giáo trình vi sinh vật thú y, tập I, tập II, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình vi sinh vật thú y
Tác giả: Nguy ễn Vĩnh Phước
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 1974
18. Lê Văn Tạo, Khương Bích Thuỷ, Nguy ễn Thị Vui, Đào Thị Băng Tâm (1993), “Xác định yếu tố di truyền bằng Plasmid của vi khuẩn E. coli để chọn giống sản xuất vacxin phòng bệnh lợn con phân trắng”, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật thú y, 1990 – 1991, Viện thú y, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định yếu tố di truyền bằng Plasmid của vi khuẩn "E. coli" để chọn giống sản xuất vacxin phòng bệnh lợn con phân trắng”", Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật thú y, 1990 – 1991
Tác giả: Lê Văn Tạo, Khương Bích Thuỷ, Nguy ễn Thị Vui, Đào Thị Băng Tâm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1993
19. Nguy ễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương (1997), Vi sinh vật thú y, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật thú y
Tác giả: Nguy ễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
20. Nguy ễn Văn Thanh (1999), M ột số chỉ tiêu sinh sản và bệnh đường sinh dục cái thường gặp ở đàn trâu các tỉnh phía bắc Việt Nam, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh đường sinh dục cái thường gặp ở đàn trâu các tỉnh phía bắc Việt Nam
Tác giả: Nguy ễn Văn Thanh
Năm: 1999
21. Nguy ễn Văn Thanh (2003), "Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại ĐBSH và thử nghiệm điều trị", Tạp chí KHKT thú y, tâp 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại ĐBSH và thử nghiệm điều trị
Tác giả: Nguy ễn Văn Thanh
Năm: 2003
22. Bùi Thị Tho, Trần Công Hoà, Nguy ễn Khắc Tích (1995), “Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái giống Yorkshire, Landrace nuôi tai xí nghiệp giống vật nuôi Mỹ Văn - Tỉnh Hải Hưng” Kỷ yếu kết quả nghiên cứu khoa học Khoa CNTY 1991 - 1995. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái giống Yorkshire, Landrace nuôi tai xí nghiệp giống vật nuôi Mỹ Văn - Tỉnh Hải Hưng” "Kỷ yếu kết quả nghiên cứu khoa học Khoa CNTY 1991 - 1995
Tác giả: Bùi Thị Tho, Trần Công Hoà, Nguy ễn Khắc Tích
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
23. Bùi Thị Tho, Phạm Khắc Hiếu (1995), “Kiểm tra một số yếu tố ảnh hưởng tới tính mẫn cảm và kháng thuốc của E. coli phân lập từ bệnh lợn con phân trắng”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, Tập II số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra một số yếu tố ảnh hưởng tới tính mẫn cảm và kháng thuốc của "E. coli" phân lập từ bệnh lợn con phân trắng”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Bùi Thị Tho, Phạm Khắc Hiếu
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2. Giống lợn Landrace - [Luận văn]nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố thú y đến bệnh viêm tử cung và giải pháp phòng, trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản
Hình 2.2. Giống lợn Landrace (Trang 14)
Hình 2.3. Giống lợn Duroc - [Luận văn]nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố thú y đến bệnh viêm tử cung và giải pháp phòng, trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản
Hình 2.3. Giống lợn Duroc (Trang 15)
Hình 2.5. Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái - [Luận văn]nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố thú y đến bệnh viêm tử cung và giải pháp phòng, trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản
Hình 2.5. Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái (Trang 21)
Bảng 3.1. Bảng đánh giá đường kính vòng vô khuẩn theo tiêu chuẩn   của Hội đồng Quốc gia Hoa Kỳ (1999) - [Luận văn]nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố thú y đến bệnh viêm tử cung và giải pháp phòng, trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản
Bảng 3.1. Bảng đánh giá đường kính vòng vô khuẩn theo tiêu chuẩn của Hội đồng Quốc gia Hoa Kỳ (1999) (Trang 50)
Bảng 4.1. Kết quả khảo sát thực trạng bệnh Viêm tử cung ở đàn lợn nái  ngoại tại trại Thế Thuyết và trại Huy Hiền - [Luận văn]nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố thú y đến bệnh viêm tử cung và giải pháp phòng, trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản
Bảng 4.1. Kết quả khảo sát thực trạng bệnh Viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại tại trại Thế Thuyết và trại Huy Hiền (Trang 54)
Bảng 4.2. Kết quả khảo sát một số yếu tố thú y trên đàn lợn nái ngoại tại   trại Thế Thuyết và trại Huy Hiền - [Luận văn]nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố thú y đến bệnh viêm tử cung và giải pháp phòng, trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản
Bảng 4.2. Kết quả khảo sát một số yếu tố thú y trên đàn lợn nái ngoại tại trại Thế Thuyết và trại Huy Hiền (Trang 56)
Hỡnh 4.1. Can thiệp bằng tay khi lợn đẻ  H ình 4.2. Lợn đẻ trên nền chuồng bẩn - [Luận văn]nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố thú y đến bệnh viêm tử cung và giải pháp phòng, trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản
nh 4.1. Can thiệp bằng tay khi lợn đẻ H ình 4.2. Lợn đẻ trên nền chuồng bẩn (Trang 61)
Bảng 4.5. Kết quả theo dừi tỷ lệ mắc bệnh Viờm tử cung ở lợn nỏi ngoại   ở mức độ vệ sinh thú y khác nhau - [Luận văn]nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố thú y đến bệnh viêm tử cung và giải pháp phòng, trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản
Bảng 4.5. Kết quả theo dừi tỷ lệ mắc bệnh Viờm tử cung ở lợn nỏi ngoại ở mức độ vệ sinh thú y khác nhau (Trang 62)
Hình 4.3. Lợn nái bị viêm tử cung trong điều kiện vệ sinh kém - [Luận văn]nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố thú y đến bệnh viêm tử cung và giải pháp phòng, trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản
Hình 4.3. Lợn nái bị viêm tử cung trong điều kiện vệ sinh kém (Trang 63)
Bảng 4.6. Kết quả xác định thành phần các loại vi khuẩn trong dịch tiết  tử cung lợn nái ngoại sau khi đẻ và nái bị viêm tử cung - [Luận văn]nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố thú y đến bệnh viêm tử cung và giải pháp phòng, trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản
Bảng 4.6. Kết quả xác định thành phần các loại vi khuẩn trong dịch tiết tử cung lợn nái ngoại sau khi đẻ và nái bị viêm tử cung (Trang 65)
Bảng 4.7.  Sự biến động về số lượng các vi khuẩn phân lập được trong  1ml dịch viêm tử cung so với nái khoẻ mạnh sau đẻ - [Luận văn]nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố thú y đến bệnh viêm tử cung và giải pháp phòng, trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản
Bảng 4.7. Sự biến động về số lượng các vi khuẩn phân lập được trong 1ml dịch viêm tử cung so với nái khoẻ mạnh sau đẻ (Trang 66)
Bảng 4.8.  Kết quả xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập  được từ dịch viêm tử cung của lợn nái với một số thuốc kháng sinh - [Luận văn]nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố thú y đến bệnh viêm tử cung và giải pháp phòng, trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản
Bảng 4.8. Kết quả xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm tử cung của lợn nái với một số thuốc kháng sinh (Trang 68)
Bảng 4.9. Kết quả xác định tính mẫn cảm của tập đoàn vi khuẩn có trong   dịch viêm tử cung của lợn nái với một số thuốc kháng sinh - [Luận văn]nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố thú y đến bệnh viêm tử cung và giải pháp phòng, trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản
Bảng 4.9. Kết quả xác định tính mẫn cảm của tập đoàn vi khuẩn có trong dịch viêm tử cung của lợn nái với một số thuốc kháng sinh (Trang 71)
Bảng 4.11. Kết quả điều trị bệnh Viêm nội mạc tử cung và khả năng sinh sản của lợn nái sau khi khỏi bệnh - [Luận văn]nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố thú y đến bệnh viêm tử cung và giải pháp phòng, trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản
Bảng 4.11. Kết quả điều trị bệnh Viêm nội mạc tử cung và khả năng sinh sản của lợn nái sau khi khỏi bệnh (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w