1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện khoái châu tỉnh hưng yên

121 537 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Tác giả Nguyễn Văn Đạt
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Tiến Dũng
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 777,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn, tiến sĩ, thạc sĩ, báo cáo, khóa luận, đề tài

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo trường đạI học nông nghiệp Hà NộI

-

nguyễn VĂN ĐạT

Hiện trạng và giải pháp phát triển

hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một luận văn nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đ1 đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ1 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Văn Đạt

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình tôi đ1 nhận được sự giúp

đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo khoa Nông học, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Viện đào tạo Sau đại học, sự chỉ bảo tận tình của thầy cô giáo hướng dẫn tốt nghiệp, sự giúp đỡ của các bạn cùng trường, sự quan tâm và giúp đỡ của huyện uỷ, uỷ ban nhân dân huyện Khoái Châu

Tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo PGS.TS Phạm Tiến Dũng, người đ1 hướng dẫn và chỉ bảo ân cần cho tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô đang dạy và đ1 nghỉ hưu, đ1 tạo mọi điều kiện học tập, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực tập tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn Huyện uỷ, Uỷ ban và nhân dân huyện Khoái Châu - tỉnh Hưng Yên đ1 tạo điều kiện cho tôi trong thời gian thực tập tại huyện nhà

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và người thân, các bạn đồng nghiệp

đ1 trao đổi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp

Hà Nội, ngày 9 tháng 12 năm 2009 Tác giả

Nguyễn Văn Đạt

Trang 4

Môc lôc

2 C¬ së lý luËn vµ thùc tiÔn vÒ hÖ thèng trang tr¹i 3

2.2 T×nh h×nh ph¸t triÓn trang tr¹i ë mét sè n−íc trªn thÕ giíi vµ ViÖt

4.1 §Æc ®iÓm chung cña huyÖn Kho¸i Ch©u tØnh H−ng Yªn 44

4.2 T×nh h×nh ph¸t triÓn trang tr¹i cña huyÖn Kho¸i Ch©u 59

Trang 5

4.2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển trang trại tại huyện

4.2.2 Thực trạng cơ cấu loại hình trang trại của huyện Khoái Châu 604.2.3 Trình độ chuyên môn hoá sản xuất và cơ cấu đất đai của các trang

4.2.4 Tình hình sử dụng lao động của trang trại 64

4.3 Kết quả nghiên cứu trong phát triển kinh tế trang trại 674.3.1 Lựa chọn loại hình trang trại cho phù hợp với điều kiện kinh tế x1

4.3.2 Nghiên cứu giải pháp giảm chi phí sản xuất ở các trang trại 714.4 Đánh giá hiện trạng phát triển trang trại tại huyện Khoái Châu 804.4.1 Những kết quả đạt được trong phát triển kinh tế trang trại của

4.4.2 Những tồn tại trong quá trình phát triển trang trại 824.4.3 Đánh giá khả năng phát triển kinh tế trang trại của huyện 864.5 Phương hướng, mục tiêu và các giải pháp phát triển trang trại của

Trang 6

Danh mục các chữ viết tắt

BLĐTBXH

BTC BNN&PTNT

BQ CHH-HĐH

CP

ĐVT GTSX HQSDV HQSDVTC HQSDLĐGĐ

KTTT

NN PTNT SXKD TCTK TĐ

TT TTCN TTLT VAC UBND

Bộ Lao động thương binh x1 hội

Nông nghiệp Phát triển nông thôn Sản xuất kinh doanh Tổng cục thống kê Trình độ

Trang trại Tiểu thủ công nghiệp Thông tư liên tịch Vườn ao chuồng

Uỷ ban nhân dân

Trang 7

2.4: Bình quân diện tích đất của một số loại hình trang trại 32

2.6: Vốn và tổng thu sản xuất kinh doanh binh quân của trang trại 354.1 Một số chỉ tiêu khí t−ợng huyện Khoái Châu từ năm 1995 - 2008 454.2: Cơ cấu kinh tế của huyện Khoái Châu từ năm 2006 - 2008 494.3 Hiện trạng sử dụng đất năm 2008 của huyện Khoái Châu 554.4: Thành phần dinh d−ỡng đất của Khoái Châu và một số huyện lân cận 584.5 Cơ cấu loại hình trang trại huyện Khoái Châu 614.6 Quy mô diện tích đất đai của các trang trại năm 2008 63

4.9 Kết quả sản xuất kinh doanh của các trang trại 684.10: Cơ cấu chi phí sản xuất của các trang trang trại năm 2008 724.11 Hiệu quả sản xuất theo mức đầu t− trên 1 ha đất trang trại 734.12 Hiệu quả sản xuất theo mức đầu t− trên 1 ha đất ao 744.13 Hiệu quả sản xuất theo mức đầu t− trên 100 con lợn thịt nuôi ở

4.14 Quy mô diện tích của trang trại trồng cây lâu năm 754.15 Phân tích các yếu tố làm giảm chi phí khi mở rộng diện tích

Trang 8

4.16 Quan hÖ gi÷a diÖn tÝch trang tr¹i vµ chi phÝ s¶n xuÊt 764.17 Thµnh phÇn c©y l©u n¨m ë trang tr¹i tæng hîp 774.18 Thµnh phÇn c©y trång hµng n¨m vµ c©y ¨n qu¶ ng¾n ngµy trong

4.19 HiÖu qu¶ kinh tÕ cña c©y ¨n qu¶ trong TT trång c©y l©u n¨m 79

4 20 Nh÷ng khã kh¨n trong ph¸t triÓn c©y ¨n qu¶ ë TT trång c©y

4.23 Nh÷ng khã kh¨n v−íng m¾c cÇn th¸o gì cña c¸c trang tr¹i t¹i

4.24 Quy ho¹ch ph¸t triÓn ch¨n nu«i cña huyÖn Kho¸i Ch©u giai ®o¹n

4.25 Quy ho¹ch ph¸t triÓn c©y ¨n qu¶ cña huyÖn Kho¸i Ch©u giai ®o¹n

Trang 9

Danh mục đồ thị

4.1 Một số chỉ tiêu khí t−ợng huyện Khoái Châu từ năm 1995 - 2008 464.2 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Khoái Châu năm 2008 56

Trang 10

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Kinh tế trang trại đ1 có từ lâu và đ1 trải qua nhiều bước thăng trầm khác nhau Sau khi thực hiện chủ trương khoán đến hộ gia đình và sau Luật Đất đai (1993) quy định người lao động, hộ gia đình có các quyền trong sử dụng đất

đ1 làm xuất hiện và phát triển trở lại mô hình trang trại Từ đó, trang trại đ1 sớm phát huy những ưu thế của mình đó là kinh tế trang trại (KTTT) vừa có

điều kiện làm tăng năng suất lao động, tăng năng suất trên một đơn vị diện tích, vừa có khả năng khai thác hữu hiệu lợi thế của từng vùng l1nh thổ Nhờ vậy có thể sản xuất ra hàng loạt sản phẩm với chi phí thấp nhất Trên cơ sở đó thúc đẩy tăng trưởng cả thị trường đầu ra lẫn thị trường đầu vào trong sản xuất nông nghiệp (SXNN), giúp giải quyết tốt những mục tiêu, nhu cầu mới không ngừng nảy sinh, giúp cho cư dân nông thôn dần thoát khỏi “ngưỡng” kém phát triển, góp phần đưa nền kinh tế đất nước “cất cánh” sang giai đoạn mới một cách chắc chắn và bền vững Như vậy, tuy mới mẻ nhưng KTTT đ1 tự khẳng

định là hình thức kinh tế vô cùng quan trọng, có thể coi KTTT là bước đột phá cho sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong thời kỳ này

Khoái Châu là một huyện lớn nằm ở phía Bắc của tỉnh Hưng Yên, có tổng dân số đông là 195.309 nhân khẩu Năm 1999 huyện Khoái Châu được tái lập với

điều kiện tự nhiên thuận lợi và đất đai màu mỡ, cùng với sự phát triển của nền kinh

tế nông nghiệp - nông thôn các mô hình kinh tế trang trại được hình thành và phát triển có hiệu quả Đến nay, toàn huyện đ1 có 420 trang trại đạt tiêu chí cấp bộ và liên bộ Bên cạnh đó Khoái Châu còn có thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn, chợ

đầu mối thu mua nông sản phẩm của tỉnh Hưng Yên, đây là điều kiện và tiền đề cơ bản cho việc phát triển trang trại Tuy nhiên, những vấn đề đặt ra là tình hình phát triển kinh tế trang trại tại huyện Khoái Châu như thế nào ? Những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế trang trại ra sao? đó là những vấn đề cần các nhà khoa học nghiên cứu và có những giải pháp phù hợp nhằm đánh giá thực trạng, đưa ra giải

Trang 11

pháp khắc phục khó khăn để thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển

Do tác động nhiều mặt, cả chủ quan và khách quan làm ảnh hưởng đến số lượng, quy mô, kết quả sản xuất của các trang trại trên địa bàn huyện, trong đó

có nhiều tác động tích cực cần phát huy, nhưng cũng có không ít những tác động tiêu cực cần hạn chế, tháo gỡ trong thời gian tới để phát triển mạnh mẽ hơn nữa hình thức KTTT của huyện

Xuất phất từ thực tế trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Hiện trạng

và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên”

1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

- Nghiên cứu thực trạng phát triển trang trại của huyện, qua đó chỉ rõ những kết quả đạt được, những khó khăn, tồn tại và các giải pháp chủ yếu phát triển hệ thống trang trại của huyện Khoái Châu

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên và kinh tế x1 hội của huyện Khoái Châu đối với phát triển trang trại

- Đánh giá thực trạng phát triển trang trại và tìm ra những khó khăn chủ yếu trong phát triển trang trại trên địa bàn huyện Khoái Châu

- Đưa ra những định hướng và giải pháp chủ yếu để thúc đẩy phát triển trang trại tại huyện Khoái Châu

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm cơ sở khoa học cho việc phát triển hệ thống trang trại Đồng thời thông qua việc đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - x1 hội với sự phát triển hệ thống trang trại của huyện Khoái Châu làm cơ sở cho những định hướng cho các trang trại ở địa phương theo hướng phát triển nông nghiệp hàng hoá bền vững

Trang 12

Ngày nay, xu thế phát triển cuả kinh tế thị trường và tác động mạnh mẽ của quá trình đô thi hoá, của phát triển khoa học công nghệ, sự đan xen trong các hoạt động sản xuất kinh doanh trong các tầng lớp dân cư nên rất khó đưa

ra những tiêu chuẩn xác định giới hạn giữa nông thôn và thành thị

Quan niệm về hệ nông dân có nhiều ý nghĩa khác nhau Có ý kiến cho rằng hộ nông dân là những hộ chủ yếu là hoạt động nông nghiệp theo nghìa rông bao gồm cả hoạt động nghề rừng, nghề cá và các hoạt động phi nông nghiệp khác diễn ra ở nông thôn

Gần đây Elles (1988) cho rằng “Hộ nông dân là các hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất trang trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần tham gia trong thị trường hoạt động với một trình độ không cao”

a) Hộ nông dân có những đặc điểm sau

- Hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở vừa là đơn vị sản xuất vừa là đối tượng tiêu dùng nhưng đồng thời cũng là nơi phân phối của nông sản làm ra

- Quan hệ giũa sản xuất và tiêu dùng, biểu hiện trình độ phát triển của

hệ tự cung rự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hoá,trình độ này quyết định mối quan hệ giữa hộ nông dân với thi trường

Trang 13

- Các hộ nông dân ngoài hoạt động kinh doanh nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau nên khó giới hạn thế nào là hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp với các hộ nông dân có doanh nghiệp [ 41]

Bảng 2.1 Bảng so sánh giữa hộ nông dân và doanh nghiệp

Chỉ tiêu Hộ nông dân Doanh nghiệp nông nghiệp Mục tiêu Tự cung tự cấp, một phần

hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, họ tự chủ và chịu trách nhiệm về hoạt

động và phát triển của chính mình Kinh tế hộ nông dân tồn tại và phát triển

được là nhờ:

+ Hoạt động nông nghiệp của nông dân có khả năng thoả m1n nhu cầu của quá trình tái sản xuất giản đơn nhờ kiểm soát được tư liệu sản xuất nhất là ruộng đất

+ Nhờ những giá trị x1 hội của nông dân hướng mục tiêu sản xuất vào nhu cầu là sự phát triển của cộng đồng hơn là đạt lợi nhuận cao nhất

+ Nhờ sự chuyển giao ruộng đất từ thế hệ này sang thế hệ khác (kế thừa) chống lại sự tập trung ruộng đất vào tay một số người

Trang 14

+ Người nông dân thắng được áp lực của thị trường bằng cách tăng thời gian lao động sống, tăng khả năng huy động các nguồn lao động sẵn có vào hệ thống nông nghiệp của chính mình

+ Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ và theo nhu cầu của thi trường nên không thu hút vốn đầu tư vào một thời điêr để trở thành tư bản nông nghiệp

+ Huy động thặng dư trong nông nghiệp của nông dân là để thoả m1n lợi ích của toàn x1 hội thông qua thuế, địa tô, giá cả

+ Tiến bộ khoa học công nghệ, làm giảm lao động phổ thông trong nông nghiệp đ1 làm giảm giá thành và giá cả của các sản phẩm nông nghiệp Vì vậy nông dân chỉ còn có khả năng tái sản suất giản đơn nên ko có sự hỗ trợ của nhà nước, nên nhà nước muốn tái sản xuất mở rộng phát triển theo hướng nông nghiệp hàng hoá thị trường

Trong những năm 1960-1970 phong trào hợp tác x1 ở miền Bắc đ1 hình thành nên tầng lớp nông dân tập thể.Thời kỳ này, kinh tế hộ nông dân không

được coi trọng, thậm chí kỳ thị Trong nông nghiệp chỉ còn kinh tế hợp tác x1

là chính, kinh tế hộ nông dân không phát triển hoặc kém phát trển chỉ trong khuôn khổ kinh tế phụ gia đình Tuy nhiên, đối với nhiều hộ nông dân bằng nhiều cách khác nhau họ vẫn hướng đến sự phát triển

Đến năm 1988 khi nghị quyết 10 - BCT ra đời (5/4/1988), hộ nông dân

được thừa nhận là một đơn vị kinh tế tự chủ Từ đây kinh tế hộ nông dân không ngừng phát triển và tạo nên những thành tựu đặc biệt của nền nông nghiệp nước ta Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo hàng hoá đứng thứ 2 của thế giới

Trang 15

c) Một số kiểu hộ nông dân

Gần đây, một số nhà kinh tế học phương Tây nghiên cứu về hộ nông dân đ1 đưa ra những mô hình mới về kinh tế hộ dựa trên những phân tích toán học, x1 hội học, quy luật cung cầu trên thi trường nông nghiệp sản xuất hàng hoá để xác định mục tiêu và cơ cấu phát triển của họ Theo họ có thể phân

hộ nông dân làm những kiểu sau:

- Kiểu hộ nông dân đang hoạt động trong hệ thống nông nghiệp tự cung

tự cấp nhóm hộ này không có phản ứng với thị trường

- Kiểu hộ hoạt động trong hệ thống độc canh, có bán một phần lương thực thực phẩm để mua hàng tiêu dùng và một số ít vật tư nông nghiệp Kiểu

hộ này có phản ứng với thị trường, chủ yếu giá vật tư nhưng mức độ không gay gắt, không kéo dài

- Kiểu hộ hoạt động trong hệ thống nông nghiệp phát triển (thâm canh, chuyên canh ) Kiểu hộ này bán phần lớn sản phẩm ra thị trường, kiểu hộ này phản ứng với giá cả thị trường trên một số phương diện

- Kiểu hộ hoạt động trong hệ thống nông nghiệp hàng hoá, bán toàn bộ nông sản của mình ra thị trường với mục tiêu là lợi nhuận, như một xí nghiệp tư bản Mục tiêu của hộ quyết định việc lựa chọn sản phẩm kinh doanh, quyết định lựa chọn mức đầu tư Loại hộ này phản ứng gay gắt với giá cả của thị trường trên nhiều mặt như vật tư, nông sản, lao động, thuế Nhóm hộ này chấp nhận sự đổi mới thay thế hệ thống nông nghiệp cũ bằng những hệ thống mới có hiệu quả hơn

Như vậy hộ nông dân biến đổi từ tình trạng tự cung tự cấp, sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá ở các mức độ khác nhau Trong quá trình phát triển đó, hộ nông dân chấp nhận sự đổi mới từ hình thức độc canh, quảng canh, thâm canh, chuyển sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá trang trại

2.1.2 Khái niệm về trang trại

Với sự phát triển kinh tế x1 hội của đất nước, nông nghiệp, nông thôn

đang từng bước được đổi thay và phát triển Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần

Trang 16

thứ IX nêu rõ "Đẩy nhanh CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và

điều kiện sinh thái của từng vùng, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao

động, tạo việc làm thu hút nhiều lao động nông thôn"

Ngày nay kinh tế trang trại đ1 phát triển ở hầu hết các nước có sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp hàng hoá, việc hình thành phát triển kinh tế trang trại

là quá trình chuyển đổi từ kinh tế hộ nông dân chủ yếu mang tính sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá với quy mô từ nhỏ đến lớn

ở Việt Nam, có nhiều công trình đ1 nghiên cứu về trang trại và đưa các các quan điểm khác nhau:

Quan điểm 1: Theo Trần Đức, trang trại là lực lượng chủ lực của các tổ chức làm nông nghiệp ở nước tư bản cũng như các nước đang phát triển và cũng là tổ chức kinh doanh của nhiều nước trên thế giới ở thế kỷ 21 [16]

Quan điểm 2: Trang trại là tổ chức sản xuất cơ sở của nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá thời kỳ công nghiệp hoá, là loại hình tổ chức đa dạng và linh hoạt về tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, có vị trí trung tâm thu hút các hoạt động kinh tế của các tổ chức đầu tư [17]

Quan điểm 3: Trang trại là một loại hình sản xuất nông nghiệp hàng hoá của hộ gia đình được nhà nước giao đất, cho người chủ có năng lực chỉ

đạo, quản lý kinh doanh, biết huy động vốn, sử dụng lao động và lựa chọn công nghệ sản xuất thích hợp, tiến hành tổ chức sản xuất và dịch vụ sản phẩm theo yêu cầu thị trường nhằm thu lợi nhuận cao

Từ những quan điểm trên theo quan điểm của chúng tôi có thể khái quát hoá và đưa ra khái niệm về trang trại như sau:

Trang trại là cơ sở doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp của một hoặc một nhóm nhà kinh doanh

+ Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở là doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra những nông sản hàng hoá dựa trên cơ sở hệ thống nông

Trang 17

nghiệp hàng hoá, phân công lao động x1 hội được chủ trang trại đầu tư vốn khai thác tài nguyên, lao động một cách hợp lý để sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của thị trường, được nhà nước bảo hộ theo luật pháp hiện hành

+ Cũng có thể hiểu trang trại là sự sắp xếp độc nhất và ổn định một cách hợp lý của các việc kinh doanh nông nghiệp của hộ nông dân, quản lý theo các hoạt động đ1 được xác định tuỳ thuộc vào môi trường vật lý, sinh học

và kinh tế x1 hội, phù hợp với mục tiêu, sở thích và nguồn lợi của nông hộ Như vậy trang trại là một hệ thống cơ bản bao gồm nhiều hệ thống phụ nông nghiệp, chúng có tác động qua lại lẫn nhau và có ảnh hưởng đến hệ thống khác cũng như môi trường xung quanh

Vai trò của hệ thống trang trại:

- Trang trại là tế bào của nền sản xuất hàng hoá, là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống nông nghiệp, là hình thức doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra những nông sản phẩm hàng hoá cho x1 hội phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp, phù hợp với quy luật sinh học và các quy luật sản xuất hàng hoá như quy luật cung cầu, quy luật giá cả, quy luật thị trường, là đối tượng để

tỏ chức chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp đảm bảo thực hiện chiến lược phát triển nền nông nghiệp hàng hoá thích ứng với sự hoạt động của các quy luật kinh tế thị trường

- Nhờ hệ thống nông nghiệp trang trại mà chúng ta đ1 đánh thức nhiều vùng đất hoang hoá, đồi núi trọc, sử dụng một phần sức lao động dư thừa (như vùng nông dân không có đất canh tác, vốn, lao động thất nghiệp thời vụ ) để sản xất ra nông sản hàng hoá

- Trang trại là nơi chuyển giao kỹ thuật nhanh nhất, hiệu quả nhất cho nông hộ và gặp thuận lợi sẽ nhanh chóng phát triển thành vùng hàng hóa tập trung xung quanh cái nhân là trang trại Nếu được đặt đúng vị trí, đúng tầm,

có chính sách tốt thì các TT sẽ không chuyển thành doanh nghiệp mà sẽ phát

Trang 18

triển thành hợp tác x1, và chỉ đến lúc quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên gắn kết, phụ thuộc vào nhau thì hợp tác x1 đích thực mới phát triển [4]

- Hệ thống trang trại là hệ thống có đủ các điều kiện để thể nghiệm công nghệ kỹ thuật cao trong nông nghiệp Đa dạng hoá các sản phẩm nông nghiệp nhờ đa dạng sinh học trong hệ thống cây trồng Hệ thống nông nghiệp trang trại với quy mô sản xuất lớn, quy mô đầu tư, cho ra đời một khối lượng sản phẩm lớn có đủ sức cạnh tranh với thị trường, dần dần hình thành thị trường thương mại nông sản thúc đẩy sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn ở nước ta

- Hệ thống trang trại là một dải đất hoặc mặt nước bất kỳ tạo nên bởi một hoặc nhiều các khoảnh đất dùng đẻ trồng trọt và chăn nuôi dưới sự quản

lý của chủ lô đất hoặc người thuê đất [10]

Theo Harwood (1979) thì đó là sự sắp đặt ổn định và thống nhất các hoạt động sản xuất do nông hộ quản lý phù hợp với trình độ kỹ thuật, môI trường tự nhiên, sinh học và kinh tế x1 hội và phù hợp với mục tiêu, sỏ thích

và nguồn lực của nông hộ Các yếu tố này ảnh hưởng chung đến sản lượng và phương thức sản xuất Hệ thống trang trại là một bộ phận của hệ thống lớn hơn đó là hệ thống nông nghiệp và có thể chia thành các hệ thống thành phần,

đó là hệ thống trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản [10]

- Phát triển hệ thống nông nghiệp trang trại là bước đi tất yếu để hình thành nền nông nghiệp hàng hoá ở nước ta

2.1.3 Những đặc trưng chủ yếu của hệ thống nông nghiệp trang trại

- Trang trại bao gồm hộ nông dân và nông trại của họ được coi là đơn vị

ra các quyết định sản xuất và điều khiển cuối cùng của quá trình biếu đổi đầu vào thành đầu ra của sản xuất nông nghiệp trong trang trại

- Trang trại được coi là hệ thống mở, sự kết hợp và chuyển hoá năng lượng thông tin đầu vào thành đầu ra của hệ thống phụ thuộc rất nhiều vào

Trang 19

năng lực quản lý, môi trường hệ thống, cấu trúc hệ thống, điều hành và kiểm soát được khoa học công nghệ, kỹ thuật cũng như thị trường của người nông dân

- Hệ thống trang trại có nhiều loại hình có các kiểu hệ thống canh tác nông nghiệp khác nhau, nó phản ánh tính đa dạng đa mục đích của người chủ trang trại

- Hệ thống trang trại là hệ thống động, đầu ra của hệ thống biến đổi theo quy luật cung cầu của thị trường, tính năng động của nó được thay đổi theo thời gian qua các biến đổi của điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế và x1 hội nên hệ thống trang trại có thể được điều chỉnh và sửa đổi

- Hệ thống trang trại là hệ thống chuyên môn hoá, tập trung hoá cao, sản xuất nông sản hàng hoá theo nhu cầu của thị trường có lợi nhuận cao

- Trong quá trình phát triển hệ thống trang trại chúng ta thường thấy có

hệ thống trang trại tự cung tự cấp sau đó qua quá trình hoạt động ổn định TT bước sang hoạt động sản xuất hàng hóa:

* Trang trại tự cung tự cấp

- Sản phẩm của hệ thống mang tính tự cung tự cấp, một phần không

đáng kể sản phẩm trang trại tham gia vào thị trường nông sản

- Sử dụng các tài nguyên nông nghiệp như đất, nước, ánh sáng, nhiệt độ, sinh vật ở mức độ thấp, khai thác nhưng không bảo vệ tái tạo nguồn năng lượng mà thiên nhiên ban phát, làm cạn kiệt và suy thoái tài nguyên nhanh

- Hệ thống thông tin, khoa học công nghệ mới kém phát triển, vốn đầu tư thấp, sản phẩm không gắn với thị trường nên khó tiêu thụ

- Hệ thống cây trồng đơn giản, phân tán, đầu tư chủ yếu là lao động sống nên độ rủi ro cao

Trang 20

- Cơ sở hạ tầng, cơ sở chế biến trang trại kém phát triển, thu nhập người lao động thấp

* Trang trại sản xuất hàng hoá:

- Trình độ chuyên môn hoá cao, sản xuất hướng tới thị trường Do đó tỷ trọng hàng hoá sản phẩm cao (trên 70%), có sức cạnh tranh

- Sử dụng nhiều vốn, năng lượng vật tư, chất xám khoa học công nghệ, giảm sử dụng dạng lao động sống trên đơn vị diện tích canh tác Khai thác tài nguyên hợp lý, gắn sử dụng với tái tạo các nguồn năng lượng trong hệ thống,

đảm bảo cho hệ thống phát triển bền vững

- Mạng lưới thông tin, đặc biệt thông tin thị trường, dịch vụ phát triển hoạt động có hiệu quả

- Dịch vụ đầu vào, đầu ra ổn định, giá cả phù hợp sản phẩm đa dạng, sản lượng lớn, có điều kiện cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu

- Sản xuất có l1i, đời sống thu nhập của người lao động được cải thiện, trình độ chuyên môn được nâng cao, an ninh lương thực thực phẩm

được bảo đảm

2.1.4 Những điều kiện cơ bản để phát triển hệ thống trang trại nông nghiệp Theo Phạm Chí Thành (1993) [30] Trang trại trồng cây gì, nuôi con gì

là tùy thuộc vào các yếu tố bên ngoài như: Điều kiện tự nhiên (khí hậu, đất

đai); điều kiện kinh tế (cơ sở hạ tầng), thị trường và khả năng đầu tư; điều kiện x1 hội như chính sách của Nhà nước, phong tục tập quán và các yếu tố bên trong của trang trại như: Quỹ đất của nông hộ, lao động của nông hộ, vốn của nông hộ, kiến thức của nông hộ

Các yếu tố trên quyết định loại hình trang trại trồng cây gì, nuôi con gì, quy mô bao nhiêu và biện pháp kỹ thuật áp dụng, nó quyết định về lao động,

về vốn đầu tư, về thị trường

Trang 21

a Ruộng đất:

Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu là điều kiện cơ bản để thành lập

và phát triển trang trại Nếu không có ruộng đất thì không thể tiến hành sản xuất ra hàng hoá nông sản Nhưng để thành lập một trang trại theo đúng nghĩa của nó thì quy mô ruộng đất phải đạt đến một mức độ nhất định phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, yêu cầu kỹ thuật của từng loại hình trang trại mới

đảm bảo hoạt động kinh doanh có hiệu quả

Để trang trại phát triển ổn định, phù hợp với lượng hàng hoá mà thị trường đòi hỏi, nhà nước sớm ban hành các chính sách cho phép các chủ trang trại mua bán, sang nhượng, thuê, chuyển đổi mục đích sử dụng hay tích tụ ruộng đất để tăng quy mô trang trại

Giao quyền sử dụng đất lâu dài: Tuỳ theo loại hình trang trại có thể giao quyền sử dụng đất từ 20, 30, 50 năm hoặc trên 100 năm để chủ trang trại yên tâm đầu tư nâng cao chất lượng đất đảm bảo phát triển trang trại bền vững Cho phép hình thành thị trường giao dịch đất trang trại (như kiểu thị trường chứng khoán) để các chủ trang trại có điều kiện phát triển, làm lành mạnh hoá thị trường đất đai, ngăn cấm việc giao dịch ngầm bất động sản nấp dưới chiêu bài thành lập trang trại nông nghiệp

b Thị trường:

Thị trường là nơi trao đổi hàng hoá nông sản Khi mà tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất x1 hội đều được tiền tệ hoá Các yếu tố sản xuất như vốn, tài sản, sức lao động, chất xám của sản phẩm dịch vụ làm ra đều

có giá trị mà giá cả hình thành tác động bởi quy luật cung cầu trên thị trường

Vì thế, muốn ổn định thị trường tiêu thụ nông sản hàng hoá làm cho trang trại phát triển, người sản xuất phải đưa ra thị trường các loại sản phẩm mới và đưa ra đầu tiên (cầu nhiều mà cung còn khan hiếm bán được giá cao, thu nhiều lợi nhuận hơn)

Trang 22

Thị trường quyết định tốc độ phát triển lưu thông hàng hoá nông sản trang trại Trong nền nông nghiệp hàng hoá, thị trường không phải là yếu tố bất biến Tiếp cận được thị trường sớm, chúng ta sẽ có những điều chỉnh hợp

lý về giá cả, về số lượng sản phẩm phải sản xuất để đưa ra thị trường, hướng

đầu tư và thời điểm, địa điểm tiêu thụ các sản phẩm để có lợi nhuận cao nhất Người ta ví thị trường là trung tâm, cung cầu là động lực và cạnh tranh là sức sống của nền kinh tế nông nghiệp hàng hoá

Thị trường là yếu tố sống còn của nền nông nghiệp hàng hoá Khi đ1 có thị trường xuất khẩu ổn định, cần phải chú trọng phát triển thị trường trong nước Thị trường trong nước là nơi chia sẻ với trang trại khi gặp nhiều rủi ro Trường hợp cá Basa Việt Nam là minh chứng rõ ràng nhất Khi cá Basa nước

ta đang có thị trường tiêu thụ ổn định ở Mỹ và một số nước khác thì hầu như thịt cá Basa không hề có mặt ở thị trường nội địa Nhưng khi Mỹ áp dụng luật thương mại chống bán phá giá để bảo vệ hàng nội địa của họ, cá Basa Việt Nam mất thị trường, nhìn thấy nguy cơ bị phá sản, các chủ trang trại cá Basa mới bắt đầu nhờ các phương tiện thông tin đại chúng hướng dẫn cách ăn, cách

sử dụng cá Basa cho người tiêu dùng trong nước để cá Basa có cơ hội tiêu thụ

được trong nước

Muốn giữ được thị trường điều không thể thiếu là hàng hoá nông sản phải có thương hiệu Thương hiệu là sự công nhận chất lượng hàng hoá đẳng cấp quốc tế; thương hiệu hàng hoá là tấm hộ chiếu để chúng đi bất cứ nơi nào chúng muốn Nhờ có thương hiệu mà cà phê Trung Nguyên có mặt ở Tokyo, NewYork; bưởi Năm Roi sau khi có thương hiệu giá bán đ1 tăng từ 4.500

đồng/quả lên 15.000 đồng/quả - 30.000đồng/quả

Trang 23

- Vốn đầu tư vào kinh doanh phải có l1i

- Đầu tư vốn phải xuất phát từ yêu cầu của thị trường để lựa chọn và tập trung cao cho các ngành chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá có hiệu quả kinh

tế cao, chứ không phải dựa vào khả năng có thể sản xuất gì để đầu tư

- Các chủ trang trại phải thực sự có trọn quyền tự chủ về tài chính Để thực hiện được các quan điểm đó trong quản lý tài chính cần chú ý nghiên cứu

và liên hệ với thực tế của mình để có thể giải quyết tuyệt đối những câu hỏi

+ Hiệu quả đồng vốn của mỗi ngành sản xuất, dịch vụ ra sao

- Vốn hình thành trong các trang trại theo 2 nguồn:

+ Nguồn vốn tự có

+ Nguồn vốn đi vay

Hiện nay, các chủ trang trại đang khó khăn về vốn Để vượt qua họ phải bằng mọi cách tự tạo vốn, huy động vốn từ nhiều nguồn bằng hình thức khơi dậy nguồn vốn bên trong và thu hút được nhiều nguồn vốn bên ngoài để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh

Vốn trong kinh doanh được chia thành vốn cố định và vốn lưu thông

Để sử dụng vốn cố định có hiệu quả cần những biện pháp chủ yếu sau:

- Tập trung vốn cho ngành chuyên môn hóa sản xuất làm hàng hoá trong trang trại theo nhu cầu của thị trường

- Cần điều tra, quy hoạch, thiết kế, có luận chứng kinh tế kỹ thuật đối với các công trình xây dựng trong trang trại

Trang 24

- Khẩn trương thi công để sớm phát huy tác dụng vốn đầu tư cơ bản Sau khi xây xong phải thực hiện tốt chế độ sử dụng, bảo dưỡng

Vốn lưu động là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị tài sản lưu

động như: Hạt giống, con giống, phân bón, nguyên nhiên vật liệu vật rẻ tiền mau hỏng, sản phẩm chờ tiêu thụ Đặc điểm của nó là thường xuyên vận động, thay đổi hình thái biểu biện và trải qua 3 giai đoạn:

- Vốn trong quá trình dự trữ (như dự trữ vật tư cho sản xuất)

- Vốn trong quá trình lưu thông (sản phẩm được tiêu thụ)

Để sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần chú ý:

- Dự trữ vật tư hợp lý

- Thực hiện thâm canh khoa học, sử dụng các giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, thời gian sinh trưởng ngắn

- Lưu thông tiêu thụ sản phẩm nhanh

d Lựa chọn kỹ thuật và công nghệ để phát triển trang trại

- Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất của các trang trại phải ưu tiên lựa chọn kỹ thuật công nghệ cao theo hướng tiêu hao ít năng lượng đầu vào

Sử dụng công nghệ hiện đại nhưng phải kế thừa có lựa chọn các kỹ thuật truyền thống, tiết kiệm lao động sống sử dụng có hiệu quả nguồn lao động có chất xám cao

- Trong nền kinh tế hàng hoá, khi thành lập trang trại các chủ trang trại phải xem xét vị trí đất trang trại, từ nơi sản xuất ra sản phẩm đến thị trường,

đất trang trại có nằm trong hệ thống tưới tiêu chủ động không? Nguồn dinh dưỡng đất có phù hợp với cây trồng chính không? Độ dốc đất, không gian đất

có liền khoản hay rải rác phân tán những hiểu biết đó cho phép chủ trang trại tiến hành cải tạo, sử dụng, bồi dưỡng từng loại đất có hiệu quả phù hợp với yêu cầu của luật định

- Lựa chọn sử dụng quản lý tốt nguồn tài nguyên khí hậu trong phát triển trang trại

Trang 25

Điều mà ai cũng biết là năng suất cây trồng cao hay thấp trước hết phụ thuộc vào giống cây trồng, chế độ nước dinh dưỡng trong đất và khí hậu tốt hay xấu đối với mỗi loại cây trồng Đó là những yếu tố quan trọng nhất, có mối quan hệ nhân quả sâu sắc nhất, chặt chẽ nhất và nghiêm khắc nhất Chỉ có thiên nhiên mới là nguồn cung ứng dồi dào nhất, rẻ tiền nhất Nhưng thiên nhiên phân bố những yếu tố đó không đồng nhất theo l1nh thổ và diễn biến rất phức tạp Vì vậy muốn trang trại nông nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao nhất con người phải nghiên cứu nó một cách toàn diện, nhận thức nó một cách đúng đắn nhất

để tiến hành quy hoạch phân vùng trang trại theo đơn vị l1nh thổ

Những quy luật sinh vật cũng như các quy luật tự nhiên (khí hậu, thời tiết, thủy văn ) đều hoạt động một cách tự nhiên Con người không thể ngăn cản các quá trình đó và để tránh khỏi rủi ro chúng ta phải tổ chức sản xuất trang trại thích nghi với điều kiện tự nhiên

Song việc khai hoang lập trang trại ở nước ta ở những vùng đồi núi, đất dốc ở nước ta, do thiếu hiểu biết cần thiết đ1 chặt phá những khu rừng nguyên sinh, rừng tái sinh, đốn cả những đai rừng chắn gió mà chúng ta đ1 tạo dựng hàng trăm năm qua để chế ngự thiên tai bảo vệ mùa màng Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT hậu quả của quá trình đó hàng năm đ1 làm mất đi 100m3 đất, khoảng 200 tấn trong đó có 6 tấn mùn tương đương với 100 tấn phân chuồng

và 300 tấn đạm nguyên chất hoặc tương đướng với 1,5 tấn Sunfat đạm ở vùng

đồi núi nước ta Để phát triển trang trại theo hướng bền vững, mỗi địa phương, mỗi trang trại cần căn cứ vào kết quả phân vùng khí hậu nông nghiệp để xây dựng cho mình một lịch thời vụ thích hợp và một hệ thống cây trồng, vật nuôi

có lợi nhất, một chế độ luân canh, trồng xen, trồng gối, trồng lẫn hợp lý nhất Làm được như vậy chắc chắn sẽ tận dụng tốt những tiềm năng khí hậu để sản xuất quanh năm, đa dạng thời vụ, đa dạng nguồn gen giống cây trồng nâng cao hiệu quả sản xuất trang trại

Có thể căn cứ vào miền khí hậu để lựa chọn cơ cấu cây trồng trong các trang trại theo bảng sau:

Trang 28

e Kết cấu hạ tầng cơ sở:

Cơ sở hạ tầng là một yếu tố rất quan trọng, nếu hệ thống đường giao thông, thuỷ lợi mà tốt và thuận lợi làm động lực cho phát triển kinh tế trang trại, lưu thông hàng hoá tốt và ngược lại

f Lao động:

ở nước ta nguồn lao động rất dồi dào, các trang trại thường thuê lao

động tham gia vào sản xuất kinh doanh trang trại với giá (18 - 25.000

đ/người/ngày), tuy nhiên lao động trình độ kỹ thuật đang làm cho các trang trại không nhiều, hầu hết là lao động phổ thông Do vậy muốn phát triển kinh

tế trang trại cần đào tạo bồi dưỡng, tập huấn cho lao động của trang trại

Chính sách thuế: Đa số các trang trại hiện nay của chúng ta được hình thành từ đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá, đất phục hoá bước vào kinh doanh trang trại chưa dài, chưa ổn định Vì vậy nhà nước không nên đánh thuế thu nhập sản phẩm hàng hoá trang trại trong những năm đầu, đặc biệt đối với loại hình trang trại kinh doanh cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lâm nghiệp

có thời gian kiến thiết cơ bản dài

Cần có chính sách bảo hộ các sản phẩm nông nghiệp trang trại, nếu không trong trường hợp mất mùa liên tục do thiên tai, hay các sản phẩm bị các nước cạnh tranh về giá chúng ta không thể xuất khẩu được Trong trường hợp này nhà nước cần bảo hệ để duy trì sự phát triển trang trại Nhà nước có thể

Trang 29

cho vay vốn ngắn hạn không lấy l1i, hay vay vốn dài hạn l1i suất thấp hoặc không đánh thuế các vật tư nhập khẩu từ nước ngoài để phục vụ phát triển nông nghiệp Về lâu dài, chúng ta cũng phải có chính sách thương mại quốc gia để bảo hệ sản phẩm nông nghiệp trang trại tránh độc quyền thương mại không bình đẳng như hiện nay

2.1.5 Các tiêu chí nhận dạng trang trại

Dựa trên các đặc tính của kinh tế trang trại chúng ta xác định, nhận dạng trang trại về hai mặt, định tính và định lượng

+ Về định tính: đặc trưng cơ bản của trang trại là sản xuất sản phẩm hàng hoá, tiêu chí này có sự thống nhất ở tất cả các nước có kinh tế trang trại

+ Về định lượng: thông qua các chỉ số cụ thể nhằm định dạng và phân biệt đâu là trang trại và đâu không phải là trang trại từ đó phân loại quy mô giữa các trang trại

+ Trên thế giới: để nhận dạng thế nào là một trang trại, thế nào chưa phải là một trang trại, ở các nước phổ biến chỉ sử dụng tiêu chí định tính chung có đặc trưng là sản xuất sản phẩm hàng hoá, không phải sản xuất tự cấp

tự túc Chỉ có một số nước sử dụng tiêu chí định lượng để nhận dạng trang trại như Mỹ, Trung Quốc Chủ yếu là các tiêu chí diện tích đất, giá trị sản lượng hàng hoá, trong đó tiêu chí về diện tích của các loại trang trại ở mỗi nước khác nhau tuỳ thuộc vào quỹ đất nhiều hay ít ở Nhật Bản, Đài Loan phân loại trang trại có quy mô từ 0,3 ha - 10 ha trở lên [16]

+ ở Việt Nam: kinh tế trang trại được phát triển ở hầu hết các ngành sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp với quy mô và phương thức sản xuất đa dạng, phát triển Để thống nhất tiêu chí nhận biết trang trại, Bộ Nông nghiệp

và PTNT và Tổng cục Thống Kê đ1 ra thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN – TCTK ngày 23/6/2000 hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại [7] Tiếp đó là thông tư số 74/2003/TT – BNN ngày

Trang 30

04/07/2003, bổ xung mục III của thông tư liên tịch số 69 năm 2000/ TTLT – TCTK [8] Tiêu chí để xác định kinh tế trang trại như sau:

- Tiêu chí định lượng:

Đối với các tỉnh phía Bắc và duyên hải miền Trung: giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ phải đạt bình quân 40 triệu đồng/năm trở lên Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên: giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ phải đạt bình quân 50 triệu đồng/năm trở lên

- Về quy mô sản xuất:

Trang trại trồng cây hàng năm: đối với các tỉnh phía Bắc và duyên hải miền Trung ≥ 2 ha; các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên ≥ 3 ha, trang trại trồng cây lâu năm từ 3 ha trở lên Trang trại trồng hồ tiêu ≥ 0,5 ha; trang trại lâm nghiệp ≥

10 ha đối với tất cả các vùng trong cả nước

Trang trại chăn nuôi đại gia súc: chăn nuôi sinh sản, lấy sữa 10 con trở lên, chăn nuôi lấy thịt: lợn từ 100 con trở lên; lợn sinh sản có thường xuyên từ

đai, vốn (số đầu gia súc, gia cầm)

Tiêu chí xác định trang trại chỉ cần đạt một trong hai chỉ tiêu trên là vận dụng linh hoạt trong từng trường hợp cụ thể Trong trường hợp sản xuất đ1

định hình, đ1 có sản phẩm hàng hoá thì chỉ tiêu giá trị sản lượng hàng hoá

Trang 31

được đưa vào sử dụng để xác định, còn trong trường hợp cơ sở sản xuất đang trong thời kỳ xây dựng, kiến thiết cơ bản chưa có sản phẩm hàng hoá thì sử dụng chỉ tiêu quy mô sản xuất Đất đai, vốn (số đầu gia súc, gia cầm) Theo tôi, chỉ cần đưa ra chỉ tiêu giá trị sản lượng hàng hoá dịch vụ bình quân 1 năm hoặc quy mô sản xuất để xác định trang trại như sự điều chỉnh của Thông tư 74/2003/TT - BNN là đủ, bởi vì đó là các chỉ tiêu phản ánh yếu tố quan trọng nhất của sản xuất trang trại Cụ thể là: khi cơ sở sản xuất nông nghiệp đạt đến chỉ tiêu về sản lượng hàng hoá dịch vụ bình quân 1 năm hoặc chỉ tiêu về quy mô sản xuất (đất đai, số lượng gia súc, gia cầm) theo tiêu chí của trang trại nêu trên thì người chủ cơ sở sản xuất đó phải có vốn, trang thiết bị sản xuất, trình độ tổ chức quản lý, khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và tiếp cận thị trường hơn hẳn hộ nông dân sản xuất tự cấp, tự túc

Tuy nhiên, chỉ tiêu về giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân 1 năm hiện nay là 40 triệu đồng đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung, 50 triệu đồng đối với các tỉnh miền Nam và Tây Nguyên là hơi thấp,

đặc biệt là sau khi có phong trào “cánh đồng 50 triệu/ha” và “hộ có thu nhập

50 triệu đồng/năm” Vì nếu chỉ tiêu này sẽ dẫn đến sự mâu thuẫn với chỉ tiêu

về quy mô sản xuất và sẽ có sự nhầm lẫn giữa trang trại và nông hộ sản xuất giỏi Do vậy ở tỉnh Hưng Yên tiêu chí xác định là trang trại được áp dụng theo quyết định số 46/2005/QĐ-UB ngày 15/6/2005 của UBND tỉnh Hưng Yên và hướng dẫn số 51/CV-NN ngày 21/9/2005 của Sở NN&PTNT về việc ban hành quy định tạm thời về chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại Cụ thể như sau:

1 Đối với hộ chuyên sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là trang trại phải đạt đồng thời hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hoá và quy mô sản xuất gồm:

- Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm phải từ 100 triệu đồng trở lên

- Quy mô sản xuất:

Trang 32

+ Đối với trang trại trồng trọt: trồng cây hàng năm từ 0,7 ha trở lên; cây lâu năm từ 1 ha trở lên

+ Đối với trang trại chăn nuôi: chăn nuôi bò lấy sữa, thường xuyên có

10 con trở lên; chăn nuôi trâu bò lấy thịt, thường xuyên có 30 con trở lên; chăn nuôi lợn nái sinh sản, thường xuyên có 20 con trở lên; chăn nuôi lợn thịt, thường xuyên có 100 con trở lên (không kể lợn sữa); chăn nuôi khép kín, thường xuyên có 10 lợn nái, 50 lợn thịt; chăn nuôi gia cầm thịt thường xuyên

có 1500 con trở lên (không tính đầu con dưới 7 ngày tuổi)

+ Đối với trang trại thuỷ sản: diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản

có từ 1 ha trở lên; diện tích mặt nước chuyên giống có từ 0,5 ha trở lên [40] 2.2 Tình hình phát triển trang trại ở một số nước trên thế giới và Việt Nam 2.2.1 Tình hình phát triển trang trại ở một số nước trên thế giới

- ở Hà Lan các kết quả nghiên cứu cho thấy: 87% lượng sữa, 63% củ cải đường, 85% rau quả tiêu dùng là do các trang trại cung cấp, khoảng 90% tín dụng được nhà nước bảo l1nh ở ngân hàng

- ở Pháp năm 1940 đ1 có 2,3 triệu trang trại quy mô 13 ha/trang trại Năm 1990 Chính phủ Pháp cho phép các trang trại tăng quy mô đất lên 28 ha

Để trẻ hoá trang trại nhà nước giành một khoản tài chính cấp cho các chủ trang trại tuổi dưới 30 đi đào tạo về công nghệ và kỹ thuật mới, quản lý trang trại, thị trường và tiếp thị sản phẩm

- ở Mỹ quy mô trang trại từ 130 - 180ha, các trang trại ở Mỹ thường hợp tác, phân công nhau trong phát triển Nhà nước làm nhiệm vụ điều tiết sản xuất, hiện đại hoá cho trang trại, tạo ra hàng loạt các chính sách công bằng trong hoạt động kinh doanh, có chính sách bảo hộ, trợ giá cho các trang trại khi gặp rủi ro

- ở Nhật Bản năm 1945 đ1 có 5,7 triệu trang trại đến năm 1950 số trang trại tăng lên 6,17 triệu trang trại, diện tích bình quân một trang trại 1,5 ha Năm

Trang 33

1986, Chính phủ cho phép các chủ trang trại tích tụ ruộng đất để tăng quy mô trang trại lên 20-30ha Năm 1970, 1 ha trang trại chỉ sử dụng 1,75 lao động, đến năm 1980 - 1990 một ha trang trại chỉ sử dụng từ 1 đến 1,1 lao động Các trang trại ở Nhật cung cấp 81% nhu cầu thịt, 98% nhu cầu trứng, 89% nhu cầu sữa, 78% nhu cầu rau quả Vì vậy lao động trang trại đ1 giảm nhanh từ 17 triệu người năm 1950 xuống còn 4 triệu người năm 1995 ở Nhật Bản trong quá trình phát triển tỷ lệ các trang trại sản xuất thuần nông giảm dần chỉ còn 15% năm 1999 Các trang trại kinh doanh tổng hợp tăng lên 85% năm 1999

Theo tài liệu của chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan đến cuối những năm 90, ở Tây Ây hầu hết các trang trại đều là trang trại gia đình, ở nước Mỹ trang trại gia đình chiếm 87% tổng số trang trại, 65% đất đai và gần 70% giá trị nông sản của cả nước ở châu á đại bộ phận trang trại là trang trại gia đình và do các yếu tố của điều kiện tự nhiên, kinh tế - x1 hội có những đặc

điểm khác với những nước Âu - Mỹ về các yếu tố như mức bình quân đất đai trên đầu người được tính là thấp khoảng 15 ha trong khi đó ở châu Âu là 0,25

ha, bắc Mỹ là 0,68 ha, Indonesia 3,7 ha, Thái Lan 4,28 ha, quy mô trang trại của tây Âu là 25 - 30 ha và Mỹ là 180 ha [17]

Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, cơ giới hoá - hiện đại hoá các nước phát triển và đang phát triển quan tâm Các trang trại ở các nước công nghiệp phát triển, sức máy, cơ điện chiếm khoảng 80%, ở các nước đang phát triển chiếm khoảng 20%, các trang trại được ứng dụng ngày càng nhiều các tiến bộ khoa học kỹ thuật như sinh học, hoá học, tin học… vào sản xuất kinh doanh [17]

Trang trại đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế đảm bảo cung cấp một cách cơ bản về nhu cầu nông sản phẩm trong nước mà còn xuất khẩu với số lượng hàng hoá lớn

Đối với vốn sản xuất kinh doanh: các chủ trang trại đều mong muốn có

đủ vốn để sản xuất kinh doanh thì ngoài nguồn vốn tự có của chủ trang trại,

Trang 34

còn phải đi vay ngân hàng tín dụng, hoặc mua chịu vật tư Trên thực tế, vay vốn tín dụng của các trang trại ngày càng nhiều và có xu hướng tăng Ví dụ: ở những năm 1945 hình thức vay mượn thông qua hàng hoá chiếm 42%, đến năm 1990 tăng lên 70 - 80%

Đối với lao động: hầu hết các lao động được làm việc ở các trang trại trên thế giới chủ yếu là lao động gia đình, vì có điều kiện trang bị máy móc hiện đại,

số lượng lao động trong trang trại không nhiều, bình quân mỗi trang trại có 1 -

3 lao động chính, lao động làm thuê ở các trang trại trên thế giới chiếm khoảng

20 - 30% bao gồm cả lao động thường xuyên và lao động thời vụ

Đối với đất đai: phần lớn các trang trại sản xuất trên ruộng đất sở hữu của gia đình Nhưng cũng có những trang trại phải lĩnh canh một phần hoặc toàn bộ ruộng đất của nhà nước, tư nhân Tiêu biểu là ở Pháp vào những năm của thập kỷ 90, số trang trại có ruộng đất riêng là 70%, 30% trang trại phải lĩnh canh một phần và 18% phải lĩnh canh toàn bộ ở Nhật Bản trước năm

1945 số trang trại có ruộng đất riêng chiếm 35%, sau năm 1950 số trang trại

có ruộng đất riêng chiếm 62% [17]

2.2.2 Tình hình phát triển trang trại ở Việt Nam

Kể từ năm 1266 nhà Trần đ1 cho phép các vương hầu công chúa, phò m1, cung phi triệu tập dân nghèo khổ khai hoang miền ven biển, đắp đê ngăn mặn khai phá đất bồi lập điền trang

Năm 1481 nhà Hậu Lê sử dụng tư binh, tù nhân, lính tráng ở địa phương khai hoang lập được 43 điền trang Năm 1802 - 1855 nhà Nguyễn đ1 ban hành

25 sắc luật cho phép chiêu mộ dân phiêu tán khẩn hoang lập đồn điền trang trại phát canh thu tô

Năm 1890 cả nước có 108 đồn điền với tổng diện tích lên tới 10.898 ha, với quy mô 1ha/trang trại Năm 1912 tổng số đồn điền lên tới 2.355 đồn điền, với tổng quỹ đất 470.000ha, bình quân 200ha/đồn điền Cây trồng chủ yếu là

cà phê, cao su, hồ tiêu, bông, chè

Trang 35

Đến năm 1930 thực dân Pháp đ1 chiếm 1,2 triệu ha bằng 1/4 đất canh tác lúc bấy giờ lập ra 4.000 đồn điền - trang trại với quy mô bình quân khoảng 300ha/trang trại

Từ năm 1475 - 1986 những đồn điền trang trại cũ của tư bản được nhà nước chuyển thành các nông trường quốc doanh Ví dụ các nông trường cà phê ở Đac lac được hình thành từ các đồn điền sau đây:

- Nông trường Phước An, từ các đồn điền của Cada, Dương Văn Minh, Tám Mập, Lý Chính

- Nông trường 11/3 được hình thành từ các đồn điền Dinfan, Tư Và, Mewall

- Nông trường Đoàn Kết được hình thành từ các đồn điền của Rossi, Trần Thiện Tích

- Nông trường Thắng Lợi - từ đồn điền Hồ Trọng Yến, Trần Trọng Lưu, Fubert, Tú Hoa

- Nông trường Eapock - từ đồn điền Larace, Freda, Chu Hoà Lâm

- Nông trường Đức Lập - trước là đồn điền của Mai - Dân sau là của Trần Trọng Lưu

- Nông trường EaTung - từ đồn điền Tân Châu

- Nông trường EaTiêu - từ đồn điền Colonel, Rodon, Thái Quang Hiền, Trần Trọng Lưu

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT năm 2000 cả nước có khoảng 113.000 trang trại, diện tích bình quân mỗi trang trại là từ 3 - 5 ha Tổng số 113.000 trang trại có 62% chủ trang trại là nông dân thuần tuý, 38% còn lại thuộc các thành phần như công chức nhà nước, viên chức, lực lượng vũ trang, cán bộ về hưu

Trang 36

Vốn đầu tư mỗi trang trại khoảng 200 triệu đồng, trong đó 85% là vốn

tự có, 5% là vốn vay cộng đồng, 10% là vay qua ngân hàng và các dự án Kinh tế trang trại tạo việc làm cho hơn 300.000 lao động gia đình, 100.000 lao động thường xuyên và 30 triệu ngày công lao động thời vụ Tiền công lao động mỗi tháng ở miền Bắc 350.000 đồng/tháng, ở miền Nam 600.000 đồng/tháng

Hệ thống nông nghiệp trang trại đ1 khai phá 300.000 ha đất trống đồi núi trọc và đất hoang hoá, huy động hơn 20.000 tỷ đồng vốn đầu tư, tuy nhiên các trang trại ở các vùng khác nhau có sự đầu tư khác nhau, ví dụ:

- Đăklăck: 619 triệu đồng/trang trại

- Lâm Đồng: 553 triệu đồng/trang trại

- Bình Dương: 490 triệu đồng/trang trại

- Quảng Ninh: 113 triệu đồng/trang trại

- Yên Bái: 96 triệu đồng/trang trại

- Nghệ An: 88 triệu đồng/trang trại

Thậm chí tại thời điểm 4/1999 có trang trại đầu tư tới 1,107 - 1,702 tỷ

đồng loại hình này có 24 trang trại

Kinh tế trang trại ở nước ta trải qua một thời kỳ lịch sử lâu dài và phát triển theo quy luật khách quan của nền kinh tế hàng hoá, mô hình kinh tế trang trại mới được phát triển tốt ở những năm gần đây, ta có thể khái quát lại như sau:

Từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 19 trong thời kỳ phong kiến của dân tộc có nhiều triều đại phong kiến có những chính sách khai khẩn đất hoang bằng cách lập đồn điền hoặc danh điền thái ấp

Theo Đại việt sử ký toàn thư thì thời kỳ Lý - Trần đ1 có điền trang của các tầng lớp quý tộc Vào những năm 1166, triều đình đ1 ra lệnh cho các

Trang 37

vương hầu, công chúa, phò m1, cung tần chiêu tập những người có sản nghiệp khai khẩn ruộng hoang lập điền trang [5]

Thời Lê - Nguyễn thì các trại ấp của các công thần và các quan lại thời hậu Lê có các loại mô hình của trại ấp ban cấp về cơ bản thuộc sở hữu nhà nước và trại ấp khai hoang

Từ thế kỷ 19, thực dân Pháp xâm lược nước ta, chính sách bóc lột thuộc

địa của Pháp trong sản xuất nông nghiệp đồn điền gắn liền với sản xuất nông sản hàng hoá Các trang trại thời này chủ yếu là đồn điền của người Pháp Đến ngày 31/12/1943 theo số liệu thống kê của Pháp, người Pháp chiếm 1 triệu ha

đất trồng trên cả nước và tổ chức thành 3928 đồn điền, chủ yếu là đồn điền trồng trọt và đồn điền chăn nuôi Phát triển mạnh là đồn điền chuyên trồng cây công nghiệp như đồn điền cao su, cà phê, chè trên quy mô lớn được người Pháp kinh doanh tập trung theo kiểu đồn điền tư bản chủ nghĩa [5]

- Giai đoạn 1954 - 1987, giai đoạn này nhà nước đ1 tiến hành xây dựng các HTX, các nông, lâm trường quốc doanh, ruộng đất, các tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu tập thể Do xây dựng và thực hiện theo nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp nên kinh tế nước ta giai đoạn này phát triển rất trì trệ, thường xuyên phải nhập khẩu lương thực với số lượng lớn, riêng năm 1979 phải nhập khẩu 2,2 triệu tấn lương thực

- Giai đoạn từ năm 1988 đến nay, từ khi thực hiện nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khoá VI) về phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân, từ đó

đ1 đặt nền móng cho kinh tế trang trại phát triển Với những thành tựu của công cuộc đổi mới, sản xuất nông nghiệp đ1 có những bước phát triển vượt bậc, nhiều hộ nông dân bước đầu đ1 có tích luỹ, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển

Sau Nghị quyết TW5 (khoá VII), hội nghị nghiên cứu kinh tế trang trại (7/1998) của Ban kinh tế Trung ương và Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ về kinh tế trang trại, từ đó các tỉnh

Trang 38

thành phố đ1 tiến hành khảo sát, hội thảo để đánh giá tình hình phát triển kinh

tế trang trại và đề xuất các chính sách, giải pháp nhằm đưa kinh tế trang trại phát triển ngày càng hiệu quả theo định hướng CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn [5],[13]

Hình thức kinh tế trang trại đang tăng nhanh về số lượng với nhiều thành phần kinh tế tham gia Nhưng chủ yếu vẫn là TT hộ gia đình nông dân với một tỷ lệ đáng kể của gia đình cán bộ, công nhân viên chức, bộ đội, công

an đ1 nghỉ hưu Hầu hết các TT có quy mô đất đai dưới mức hạn điền , với nguồn gốc đa dạng, sử dụng lao động của gia đình là chủ yếu; một số có thuê lao động thời vụ và lao động thường xuyên, tiền công lao động được thỏa thuận giữa hai bên Hầu hết vốn đầu tư là vốn tự có và vốn vay của cộng dồng; vốn vay của tổ chức tín dụng chỉ chiếm tỷ trọng thấp Phần lớn TT phát huy

được lợi thế của từng vùng, kinh doanh tổng hợp, lấy ngắn nuôi dài [5]

Các TT đ1 khai thác tốt tiềm năng đất đai, lao động, tiền vốn Biến những vùng đất xưa nay có năng suất cây trồng thấp hoặc đất hoang hóa trở thành những vùng sản xuất hàng hóa có hiệu quả kinh tế cao, góp phần nâng cao độ đồng đều về thu nhập giữa các vùng nông thôn

Hoạt động sản xuất kinh doanh của các TT nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đ1 thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa, thúc đẩy phát triển ngành nghề, tạo thêm nhiều việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập và đời sống một bộ phận dân cư nông thôn.[27]

Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế trang trại và sự hưởng ứng rộng r1i của nhân dân nhiều vùng và nhiều thành phần khác làm kinh tế trang trại chứng tỏ sự phát triển này đáp ứng đòi hỏi khách quan của nông nghiệp nông thôn Đây là xu thế phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đưa sản xuất nông nghiệp lên sản xuất hàng hoá, đặc biệt quan tâm ở vùng trung du và miền núi, từ đó có bước đột phá mới Xây dựng nền

Trang 39

nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn[14]

Thực hiện thông tư liên tịch số 69/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 của Bộ Nông nghiệp và PTNT và Tổng cục Thống kê Theo kết quả tổng

điều tra nông thôn nông nghiệp và thủy sản năm 2006 cả nước có 113.699 trang trại, so với năm 2001 tăng 52 682 trang trại (+ 86,4%)[22]

Bảng 2.3 cho thấy, cả nước có 108.371 trang trại, chưa kể trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp là 5328 trang trại chiếm 4,69 % , trong đó trang trại nuôi trồng thuỷ sản chiếm tỷ lệ cao nhất 33.711 trang trại chiếm 29,65%, trồng cây hàng năm 32.575 trang trại bằng 28,65%, trồng cây công nghiệp lâu năm 18.121 bằng 15,94%, trồng cây ăn quả lâu năm 4.723 bằng 4,15%, chăn nuôi 16.594 chiếm 14,59%, trang trại lâm nghiệp 2.640 chiếm 2,32%

Ngày đăng: 20/11/2013, 17:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Ngành nghề sản xuất chính của trang trại Diễn giải - hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện khoái châu tỉnh hưng yên
Bảng 2.3. Ngành nghề sản xuất chính của trang trại Diễn giải (Trang 40)
Bảng 2.4. Bình quân diện tích đất của một số loại hình trang trại                                                                                                             §VT: ha - hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện khoái châu tỉnh hưng yên
Bảng 2.4. Bình quân diện tích đất của một số loại hình trang trại §VT: ha (Trang 41)
Bảng 2.5. Lao động của trang trại                                                  §VT: ng−êi - hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện khoái châu tỉnh hưng yên
Bảng 2.5. Lao động của trang trại §VT: ng−êi (Trang 42)
Bảng 4.1. Một số chỉ tiêu khí t−ợng huyện Khoái Châu từ năm 1995 - 2008 - hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện khoái châu tỉnh hưng yên
Bảng 4.1. Một số chỉ tiêu khí t−ợng huyện Khoái Châu từ năm 1995 - 2008 (Trang 54)
Hình 4.1. Một số chỉ tiêu khí t−ợng huyện Khoái Châu - hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện khoái châu tỉnh hưng yên
Hình 4.1. Một số chỉ tiêu khí t−ợng huyện Khoái Châu (Trang 55)
Bảng 4.3. Hiện trạng sử dụng đất năm 2008 của huyện Khoái Châu                                                                                                   (Đơn vị tính: ha) - hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện khoái châu tỉnh hưng yên
Bảng 4.3. Hiện trạng sử dụng đất năm 2008 của huyện Khoái Châu (Đơn vị tính: ha) (Trang 64)
Hình 4.2. Hiện trạng sử dụng đất của huyện Khoái Châu năm 2008 - hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện khoái châu tỉnh hưng yên
Hình 4.2. Hiện trạng sử dụng đất của huyện Khoái Châu năm 2008 (Trang 65)
Bảng 4.4: Thành phần dinh d−ỡng đất của Khoái Châu - hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện khoái châu tỉnh hưng yên
Bảng 4.4 Thành phần dinh d−ỡng đất của Khoái Châu (Trang 67)
Bảng 4.7. Lao động bình quân của các trang trại - hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện khoái châu tỉnh hưng yên
Bảng 4.7. Lao động bình quân của các trang trại (Trang 73)
Bảng 4.8. Quy mô vốn sản xuất của các trang trại - hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện khoái châu tỉnh hưng yên
Bảng 4.8. Quy mô vốn sản xuất của các trang trại (Trang 74)
Bảng 4.9. Kết quả sản xuất kinh doanh của các trang trại Chỉ tiêuĐVT - hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện khoái châu tỉnh hưng yên
Bảng 4.9. Kết quả sản xuất kinh doanh của các trang trại Chỉ tiêuĐVT (Trang 77)
Bảng 4.10: Cơ cấu chi phí sản xuất của các trang trang trại  năm 2008  ĐVT: % Chỉ tiêu - hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện khoái châu tỉnh hưng yên
Bảng 4.10 Cơ cấu chi phí sản xuất của các trang trang trại năm 2008 ĐVT: % Chỉ tiêu (Trang 81)
Bảng 4.18. Thành phần cây trồng hàng năm và cây ăn quả ngắn ngày - hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện khoái châu tỉnh hưng yên
Bảng 4.18. Thành phần cây trồng hàng năm và cây ăn quả ngắn ngày (Trang 87)
Bảng 4.19. Hiệu quả kinh tế của cây ăn quả trong TT trồng cây lâu năm. - hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện khoái châu tỉnh hưng yên
Bảng 4.19. Hiệu quả kinh tế của cây ăn quả trong TT trồng cây lâu năm (Trang 88)
Bảng 4.24. Quy hoạch phát triển chăn nuôi của   huyện Khoái Châu giai đoạn 2010 - 2020 - hiện trạng và giải pháp phát triển hệ thống trang trại trên địa bàn huyện khoái châu tỉnh hưng yên
Bảng 4.24. Quy hoạch phát triển chăn nuôi của huyện Khoái Châu giai đoạn 2010 - 2020 (Trang 107)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w