luận văn, tiến sĩ, thạc sĩ, báo cáo, khóa luận, đề tài
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp hà nội
Trang 2Lời cam đoan Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc chỉ rõ
nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Liên
Trang 3
Lời cảm ơn ! Lời cảm ơn !
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của
bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ từ rất nhiều đơn vị và cá nhân Tôi
xin ghi nhận và bày tỏ lòng biết ơn tới những tập thể, cá nhân đã dành cho
tôi sự giúp đỡ quý báu đó
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng sự giúp đỡ nhiệt tình
của thầy giáo PGS.TS Trần Văn Chính, người đã trực tiếp hướng dẫn đề tài
này
Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các
thầy, cô trong Khoa Đất và Môi trường, các thầy cô trong Khoa Sau đại học
Tôi xin chân thành cảm ơn sở TNMT tỉnh Bắc Ninh, các đồng chí lãnh đạo
UBND huyện Tiên Du, các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên Phòng NN – PTNT,
Phòng địa chính, Phòng Thống kê và UBND các xã đã tạo điều kiện về thời
gian và cung cấp số liệu giúp tôi thực hiện đề tài này
Cám ơn sự cổ vũ, động viên và giúp đỡ của gia đình, các anh, chị đồng
nghiệp, bạn bè trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Hà nội, ngày tháng năm 2009 Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Liên
Trang 4Mục lục
2.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về sử dụng đất và hiệu quả sử dụng
2.2 Cơ sở thực tiễn về sử dụng đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xJ hội tác động đến sử
4.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
Trang 54.2.1 Tình hình sử dụng đất 50
4.4.1 Quan điểm phát triển nông nghiệp huyện Tiên Du đến năm 2010 84
Trang 6Danh mục các chữ viết tắt và ký hiệu
Cnh – hđh : công nghiệp hoá - hiện đại hoá
FAO : Tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới
Trang 7Danh mục bảng
2.1 Biến động diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất trồng cây
4.2 Tình hình dân số huyện Tiên Du giai đoạn 2005 - 2008 45
4.6 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và hệ thống cây trồng
4.10 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất huyện Tiên Du 694.11 Mức đầu t− lao động và thu nhập/ngày công lao động(1000đ) 724.12 Mức đầu t− lao động và thu nhập/ngày công lao động (1000đ) 734.13 Mức đầu t− lao động và thu nhập/ngày công lao động (1000đ) 744.14 So sánh mức đầu t− phân bón với tiêu chuẩn bón phân cân đối
Trang 8Danh mục hình
4.10 Một số chỉ tiêu kinh tế của các loại hình sử dụng đất 71
Trang 9
1 mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên Quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, địa bàn xây dựng
và phát triển dân sinh, kinh tế xJ hội, quốc phòng và an ninh Đất đai có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người và các sinh vật trên trái đất, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xJ hội, an ninh
và quốc phòng
Nền sản xuất nông nghiệp nước ta với những đặc trưng như: sản xuất còn manh mún, công nghệ lạc hậu, năng suất chất lượng còn chưa cao, khả năng liên kết cạnh tranh trên thị trường và sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp còn yếu Diện tích đất nông nghiệp đang ngày bị thu hẹp do sức
ép của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất theo hướng sản xuất hàng hóa là hướng đi hết sức cần thiết
Các Mác đJ nhấn mạnh “ Đất là mẹ, lao động là cha, sản sinh ra mọi của cải vật chất” [3] Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xJ hội Trước đây khi trình độ sản xuất chưa phát triển thì sản xuất nông nghiệp với những phương thức sản xuất lạc hậu chưa đáp ứng đủ nhu cầu cho nhân dân Đến nay, Việt Nam đang đẩy mạnh sự nghiệp CNH - HĐH đất nước Quá trình đô thị hóa và sự gia tăng dân số đJ gây áp lực mạnh
mẽ đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp một cách đúng
đắn và có hiệu quả là yêu cầu có tính cấp thiết hiện nay
Tiên Du là huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm tỉnh 5km về phía Nam, cách thủ đô Hà Nội 25 km về phía Bắc Tọa độ địa lý của
Trang 10huyện nằm trong khoảng từ 200 05’ 30” đến 210 11’ 00” độ vĩ Bắc và từ 1050 58’
15” đến 1060 06’ 30” độ kinh Đông Nông nghiệp của huyện vẫn mang nặng tính truyền thống, các loại nông sản mới, có tính hàng hoá mới chỉ mang tính
tự phát, chưa có quy hoạch và phương án giải quyết đầu ra nên không phát huy hết các tiềm năng sẵn có Vì vậy, việc nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp, đưa ra những loại hình sử dụng đất, kiểu sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao, có tính hàng hoá và bền vững trên địa bàn huyện là vấn đề rất cần thiết Để góp phần giải quyết vấn đề này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá nhằm góp phần giúp người nông dân lựa chọn phương thức sử dụng đất phù hợp trong điều kiện cụ thể trên địa bàn huyện
- Đề xuất các giải pháp hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững theo hướng sản xuất hàng hoá
Trang 112 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về sử dụng đất và hiệu quả sử dụng
Lịch sử của thế giới đJ chứng minh bất kỳ nước nào, dù là nước phát triển hay đang phát triển thì sản xuất nông nghiệp đều có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tạo ra sự ổn định xJ hội và mức an toàn lương thực quốc gia Đối với các nước đang phát triển, sản phẩm nông nghiệp còn là nguồn tạo ra thu nhập ngoại tệ
Theo Trần An Phong (1996) [21] thì hàng năm gần 12 triệu ha rừng nhiệt đới bị tàn phá ở châu Mỹ la tinh và Châu á Cân bằng sinh thái bị phá vỡ, hàng triệu ha đất đai bị hoang mạc hoá Kết quả điều tra của UNDP và trung tâm thông tin nghiên cứu đất quốc tế (ISRIC) cho thấy cả thế giới có khoảng 13,4 tỷ ha đất thì đJ có 2 tỷ ha bị thoái hoá ở các mức độ khác nhau, trong đó Châu á và Châu Phi là 1,2 tỷ ha chiếm 62% tổng diện tích đất bị thoái hoá [13] Số liệu trên cho ta thấy đất đai bị thoái hoá tập trung ở các nước đang phát triển
Theo điều 13 Luật đất đai Việt Nam năm 2003 thì tổng diện tích đất tự nhiên được chia thành 3 nhóm lớn là: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất chưa sử dụng [20]
Nhóm đất nông nghiệp bao gồm: Đất sản xuất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm), đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản,
Trang 12đất làm muối, đất nông nghiệp khác
Như vậy, đất đai là yếu tố hết sức quan trọng và tích cực của quá trình sản xuất nông lâm nghiệp Thực tế cho thấy thông qua quá trình phát triển của
xJ hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất - văn minh tinh thần, các thành tựu vật chất, văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản đó là đất và sử dụng đất, đặc biệt là đất nông lâm nghiệp Vì vậy, sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả là một trong những điều kiện quan trọng nhất cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững
b) Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là hết sức cần thiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại vùng đất để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các nhân tố ảnh hưởng có thể chia thành 3 nhóm:
* Yếu tố tự nhiên
Theo Vũ Ngọc Hùng (2007) thì yếu tố tự nhiên bao gồm điều kiện khí hậu, đất trồng, cây trồng, thời tiết, vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng, môi trường sinh thái, nguồn nước Chúng có ảnh hưởng một cách rõ nét, thậm chí quyết định đến kết quả và hiệu quả sử dụng đất [17]
- Yếu tố khí hậu
Hoàng Văn Thông (2002), Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa Tuy nhiên, vì sự khác biệt về vĩ độ địa lý và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau theo từng vùng Miền bắc có nhiệt độ trung bình 22,2 - 23,50C, lượng mưa trung bình từ 1.500 - 2.400 mm, tổng số giờ nắng từ 1.650 - 1.750 giờ/năm Trong khi đó, ở miền nam, khí hậu mang tính chất xích đạo, nhiệt độ trung bình 22,6 - 27,50C, lượng mưa trung bình 1.400 - 2.400 mm, nắng trên 2.000 giờ/năm [38]
Theo Nguyễn Văn Nam (2005), khí hậu là yếu tố quan trọng, ảnh
Trang 13hưởng rất lớn đến việc phân bố các loại cây trồng, cũng như thời vụ cây trồng trong sản xuất nông nghiệp Nếu như ở trung du và miền núi phía Bắc có thể trồng mận, hồng, đào, chuối, đậu côve, súp lơ xanh ở đồng bằng sông Hồng
có thể trồng các loại rau vụ đông có nguồn gốc ôn đới thì ở đồng bằng sông Cửu Long có thể trồng sầu riêng, măng cụt hay miền Đông Nam bộ và Tây Nguyên có thể trồng chôm chôm, trái bơ, thanh long là những cây nhiệt đới
- Yếu tố đất trồng
Yếu tố đất trồng cùng với khí hậu, đất tạo nên môi trường sống của cây trồng Đất trồng với các đặc tính như loại đất, thành phần cơ giới, chế độ nước, độ phì có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Khi sản xuất nông nghiệp phải quan tâm đến việc sử dụng đất bền vững đảm bảo một nền nông nghiệp bền vững
Trong Bài giảng hệ thống canh tác nhiệt đới của Hà Thị Thanh Bình (2000) thì nông nghiệp bền vững được phát triển vào những năm 70 của thế
kỷ này nhằm khắc phục nạn ô nhiễm đất, nước không khí bởi hệ thống nông nghiệp và công nghiệp cùng với sự mất mát của các loài động thực vật, suy giảm các tài nguyên thiên nhiên không tái sinh Vấn đề nông nghiệp bền vững là vấn đề thời sự được nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm
Trang 14[1] Đi cùng với vấn đề phát triển nông nghiệp là sử dụng đất bền vững Thuật ngữ sử dụng đất bền vững được dựa trên quan điểm sau: (i) duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất; (ii) giảm thiểu mức rủi ro trong sản xuất; (iii) bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn sự thoái hoá đất và nước; (iv) có hiệu quả lâu bền; (v) được xJ hội chấp nhận của Thái Phiên và cộng sự (1998) [24]
Một trong những yếu tố quan trọng nhất của đất là độ phì của đất Vị trí từng mảnh đất có ảnh hưởng đến quá trình hình thành độ phì của đất Độ phì nhiêu của đất liên quan trực tiếp đến năng suất cây trồng Do vậy, tuỳ theo vị trí địa hình, chất đất mà lựa chọn, bố trí cây trồng thích hợp trên từng loại đất mới cho năng suất, hiệu quả sử dụng đất cao
- Yếu tố cây trồng
Trong sử dụng đất nông nghiệp, cây trồng là yếu tố trung tâm Con người hưởng lợi trực tiếp từ những sản phẩm của cây trồng Những sản phẩm này cung cấp lương thực, thực phẩm cho các nhu cầu thiết yếu cho con người
và cho xuất khẩu
Báo cáo của Viện tài nguyên thế giới cho thấy gần 20% diện tích đất
đai Châu á bị suy thoái do những hoạt động của con người Hoạt động sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất thông qua quá trình thâm canh tăng vụ đJ phá huỷ cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dưỡng dịch từ USAP/FAO/UNIDO (1993) [46]
Như vậy việc bố trí cây trồng và kiểu sử dụng đất hợp lý đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất và có tác dụng bảo vệ môi trường Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học, kỹ thuật, các giống cây trồng mới với chất lượng và năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn xuất hiện ngày càng nhiều Sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển gắn với việc tăng hệ số sử dụng đất Vì vậy, những tiến bộ trong công tác giống cây trồng đJ tạo cơ hội cho việc phát triển nông nghiệp hàng hoá
Trang 15* Yếu tố kinh tế, x hội
- Yếu tố con người
Con người là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến đất, là một nhân tố tác động trực tiếp tới đất và hưởng lợi từ đất
Định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trên trang web của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn viết rõ khi dân số còn thấp, trình độ và nhu cầu thấp, việc khai thác quỹ đất nông nghiệp còn ở mức hạn chế, hiệu quả không cao nhưng sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp được đảm bảo Ngược lại, ngày nay, khi dân số tăng nhanh kéo theo sự gia tăng các nhu cầu thì tài nguyên đất nông nghiệp bị khai thác nhiều, triệt để hơn nhằm đạt năng suất và hiệu quả cao hơn Vì vậy, quy luật sinh thái và tự nhiên bị xâm phạm, tính bền vững tài nguyên đất kém hơn [9]
Việc đảm bảo cân bằng giữa sử dụng và bảo vệ đất trở thành vấn đề cấp thiết Yếu tố con người cũng là một trong những yếu tố rất quan trọng Con người vừa là cung về nguồn lao động cho sản xuất và cũng là nơi tiêu thụ sản phẩm Đối với sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa thì yếu tố con người
Trang 16Mức độ phát triển của nền kinh tế quốc dân có ảnh hưởng lớn đến các hoạt
động sản xuất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng và ngược lại
- Cơ chế chính sách
Trong hơn mười năm qua, Việt Nam đJ thực hiện chính sách đổi mới trong nông nghiệp, tập trung vào trọng tâm: làm rõ và giao cho nông dân nhiều quyền đối với ruộng đất; tự do hóa thương mại trong nước và xuất nhập khẩu; giao quyền quyết định sản xuất cho nông dân; đổi mới các hợp tác xJ, doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích kinh tế tư nhân Đồng thời nhà nước tăng đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp tín dụng, chuyển giao khoa học công nghệ Những chính sách mới đJ khuyến khích mạnh mẽ nhân dân đầu tư vào phát triển sản xuất Nông nghiệp Việt Nam đJ phát triển nhanh, liên tục trong thời kỳ thực hiện chính sách đổi mới Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực triền miên trong vài thập kỷ, nay đJ xuất khẩu được trên 4 triệu tấn gạo hàng hoá đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo Nền nông nghiệp từng bước chuyển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng, hướng ra xuất khẩu trong cuốn Nông nghiệp nông thôn chuyển mình trước vận hội mới, Lê Văn Minh (2005) [19]
Theo Đặng Kiên Sơn và các cộng sự (2002), trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp hàng hoá, người nông dân thường chịu thiệt thòi do hạn chế về kiến thức thị trường, thông tin thị trường, sức mua Hơn nữa, các hiệu ứng tràn ra ngoài trong sản xuất nông nghiệp cũng làm cho sản xuất không hiệu quả: việc sử dụng bừa bJi phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ có tác động tiêu cực đến môi trường, nguồn nước, không khí và đất Do vậy, việc Nhà nước can thiệp bằng các chính sách và pháp luật thích hợp đJ tạo điều kiện, khuyến khích, hướng dẫn sản xuất nông nghiệp và
đảm bảo tính bền vững của các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp [27]
Chính sách đất đai của nước ta đJ được thể hiện trong Hiến pháp, Luật
Trang 17Đất đai năm 1993, 1998 sửa đổi, 2003 và hệ thống các văn bản dưới luật có liên quan đến khai thác và sử dụng đất đai được quy định một cách thích hợp cho những đối tượng, những vùng khác nhau; các Nghị định 80/CP, 87/CP của Chính phủ về phương pháp tính thuế sử dụng đất nông nghiệp và khung giá của các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao
đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi Thuế sử dụng đất nông nghiệp là một bộ phận của chính sách đất đai đJ thúc
đẩy việc sử dụng một cách hợp lý hơn
Cũng bằng các chính sách thích hợp, sử dụng đất nông nghiệp được đảm bảo ổn định và lâu dài Trong những năm qua, Chính phủ đJ không ngừng ban hành sửa đổi và bổ sung những chủ trương, chính sách về đất đai nhằm mục
đích thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn Luật đất đai sửa
đổi (chính thức có hiệu lực vào ngày 1/7/2003) đJ thể chế hoá và nới rộng quyền của người sử dụng đất Đây là một chính sách khuyến khích người nông dân đầu tư vào sản xuất dài hạn, thay đổi cơ cấu cây trồng nhằm phát triển sản xuất hàng hoá một cách có hiệu quả, Nguyễn Văn Nam (2005) [18]
- Khoa học kỹ thuật
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp Cần ứng dụng đồng bộ các yếu tố khoa học công nghệ vào sản xuất nông sản hàng hoá, nâng cao trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến, lưu thông tiếp thị nông sản hàng hoá
Theo báo cáo của Vũ Thị Thanh Tâm (2007) viết sản xuất hàng hoá của
hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất Vì sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm [30]
Trong cuốn Phân tích thống kê nông nghiệp của Phạm Thị Mỹ Dung thì khoa học kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá,
Trang 18hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Cải tiến kỹ thuật trước hết làm tăng cung về hàng hoá nông sản, cũng tức là làm phát triển kinh tế [7]
Đường Hồng Dật và cộng sự (1994) viết nhóm các biện pháp kỹ thuật
đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Cho đến giữa thế kỷ 20, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế [6] Lựa chọn các tác động khoa học kỹ thuật, lựa chọn chủng loại
và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật sẽ
đạt được mục tiêu đề ra
Thông qua việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp như giống cây trồng vật nuôi mới, các quy trình kỹ thuật trong canh tác, trong chế biến bảo quản làm tăng năng suất, chất lượng cây trồng vật nuôi, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực như đất đai, lao động, vốn của Đào Thế Tuấn (2007)[42]
c) Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
Theo Smyth và Dumanski [47] sử dụng đất bền vững được xác định theo 5 nguyên tắc:
- Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất ( năng suất)
- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất (an toàn)
- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá chất lượng đất và nước (bảo vệ)
- Khả thi về mặt kinh tế ( tính khả thi)
- Được xJ hội chấp nhận (sự chấp nhận)
Năm nguyên tắc nêu trên được coi là những trụ cột của sử dụng đất đai bền vững và là những mục tiêu cần phải đạt được Nếu thực tế diễn ra đồng bộ
so với các mục tiêu trên thì khả năng bền vững sẽ đạt được Nếu chỉ một hay
Trang 19một vài mục tiêu mà không phải là tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính
bộ phận
Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện đa dạng hoá hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phù hợp và gắn liền với
định hướng phát triển kinh tế - xJ hội của cả nước
d) Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
Nhiều nước trên thế giới có nền kinh tế phát triển, tỉ trọng của sản xuất công nghiệp và dịch vụ trong thu nhập quốc dân chiếm phần lớn nhưng những khó khăn, trở ngại trong nông nghiệp đJ gây ra không ít xáo động trong đời sống xJ hội và ảnh hưởng sâu sắc đến tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nói chung
- Đối với hộ nông dân, những sản phẩm được đưa bán ra ngoài thì gọi là sản phẩm hàng hoá của Vũ Ngọc Trấn (1996) [41]
- Hàng hoá là sản phẩm của lao động dùng để trao đổi [44] Sản xuất hàng hoá là sản xuất ra sản phẩm đem bán để thu về giá trị của nó trong đó có phần giá trị thặng dư để tái sản xuất và mở rộng quy mô [41]
Hàng hoá là sản phẩm do lao động tạo ra, dùng để trao đổi, sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển dựa trên cơ sở phát triển các phương thức sản xuất và sự phân công lao động xJ hội Sự phân công ấy ngày càng cao, càng sâu sắc, trình độ chuyên môn hoá cao thì sản xuất hàng hoá càng phát triển,
đời sống người dân ngày một tăng lên Điều đó lại làm cho quá trình trao đổi diễn ra mạnh hơn, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển đa dạng hơn
Trang 20Nền kinh tế thị trường ra đời làm nảy sinh mối quan hệ cung cầu trên thị trường Đối với sản xuất nông nghiệp thì khả năng “cung” cho thị trường là các loại nông sản phẩm còn “cầu” cho nông nghiệp là các yếu tố đầu vào như phân bón, thuốc trừ sâu Hiện nay, nếu chủ hộ không chuyên môn hoá cao trong việc sản xuất kinh doanh, không thay đổi cơ cấu giống và thâm canh tăng vụ thì kết quả sản xuất cũng chỉ để thoả mJn nhu cầu của mình mà không
có sản phẩm đem ra bán ở thị trường, hoặc sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu của thị trường và sẽ không có tích luỹ để đề phòng rủi ro Trong sản xuất hàng hoá rủi ro về thị trường luôn là mối lo ngại nhất của người sản xuất
Theo Nguyễn Duy Bột (2001), thị trường và hoạt động tiêu thụ nông sản phẩm ở nước ta nổi lên một số vấn đề sau:
- Hầu hết các sản phẩm nông nghiệp thường bị tồn đọng, nhất là vào thời vụ thu hoạch
- Trong tất cả các kênh phân phối liên quan đến sản xuất nông nghiệp
đều có sự tham gia rất phổ biến của tư thương Phân phối qua nhiều khâu trung gian đJ làm chậm quá trình lưu thông sản phẩm, thậm chí gây ách tắc dẫn đến tồn đọng giả tạo
- Hệ thống kinh doanh thương mại Nhà nước đang lâm vào thế lúng túng Thị trường đầu ra không ổn định gây khó khăn thường xuyên cho nông nghiệp trong việc bao tiêu sản phẩm và bao cung vật tư sản xuất
- Đối với nông dân, trong sản xuất nông nghiệp vẫn phổ biến là “bán cái mình có chứ không phải bán cái thị trường cần”, hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu sử dụng cái sẵn có chứ chưa chủ động khai thác các yếu tố của nền kinh tế thị trường
Từ những vấn đề trên cho thấy: xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá là hướng đi đúng, là sự vận động phát triển phù hợp quy luật Vì vậy, tìm kiếm thị trường và những giải pháp sản xuất và đầu tư hợp lý để sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá có hiệu quả cao, ổn định là rất cần thiết
Trang 21Đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển hơn thì nông nghiệp lại càng đóng vai trò thiết yếu Để nông nghiệp có thể thực hiện được vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế quốc dân đòi hỏi sản xuất nông nghiệp phải phát triển toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc Con đường tất yếu để phát triển nông nghiệp nước ta là phải chuyển từ sản xuất nhỏ, tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa
Theo Nguyễn Đình Hợi (1993) thì nông nghiệp là một hoạt động mang tính cơ bản của mỗi quốc gia[15] Nhiều nước trên thế giới có nền kinh tế phát triển, tỷ trọng sản xuất công nghiệp và dịch vụ trong thu nhập quốc dân chiếm phần lớn còn nông nghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ Tuy nhiên những khó khăn trong nông nghiệp đJ gây ra không ít những xáo động và ảnh hưởng sâu sắc đến tốc độ tăng trưởng nền kinh tế Để ngành nông nghiệp có thể thực hiện được vai trò của mình đối với nền kinh tế quốc dân đòi hỏi nông nghiệp phải được phát triển toàn diện, mạnh mẽ, vững chắc để đảm bảo an ninh lương thực và tăng kim ngạch xuất khẩu nông sản
Nền sản xuất hàng hoá có đặc trưng là cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ văn hoá của người lao động cao Đó là nền nông nghiệp có cơ cấu hợp lý, được hình thành trên cơ sở khai thác tối đa lợi thế, thế mạnh sản xuất nông nghiệp của từng vùng Đây là nền nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao, khối lượng hàng hoá nhiều với chủng loại phong phú, đa dạng [15]
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đJ chỉ rõ: “Định hướng phát triển ngành kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp và kinh tế nông thôn là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo hướng đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu của thị trường và điều kiện sinh thái trên từng vùng” Định hướng phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng là: “ Phát triển nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng, cùng với lương thực đưa vụ đông
Trang 22thành một thế mạnh, hình thành các vùng chuyên canh rau, cây ăn quả, chăn nuôi lấy thịt” Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X cũng nêu rõ: “
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao”
2.1.2 Một số vấn đề lý luận về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Trong thực tế, các thuật ngữ “sản xuất có hiệu quả”, “sản xuất không
có hiệu quả” hay là “sản xuất kém hiệu quả” thường được sử dụng phổ biến trong sản xuất Vậy hiệu quả là gì? Đến nay, các nhà nghiên cứu xuất phát
từ nhiều góc độ khác nhau, đJ đưa ra nhiều quan điểm về hiệu quả, có thể khái quát như sau:
- Hiệu quả theo quan điểm của C.Mác đó là việc “Tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý”, các nhà khoa học Xô Viết cho rằng đó là sự tăng trưởng kinh
tế thông qua tăng tổng sản phẩm xJ hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao nhằm đáp ứng được yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xJ hội
và được viết trong cuốn Nông nghiệp nông thôn Việt Nam hai mươi năm đổi mới quá khứ và hiện tại của Nguyễn Văn Bích (2007) [2];
- Có quan điểm cho rằng: “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xJ hội không thể tăng một loại hàng hoá mà không cắt giảm một loại hàng hoá khác Một nền kinh tế có hiệu quả, một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các điểm lựa chọn đều nằm trên một đường giới hạn khả năng sản xuất của nó”, hoặc
“Khi sản xuất có hiệu quả, chúng ta nói rằng nền kinh tế đang sản xuất trên giới hạn khả năng sản xuất” [2]
- Quan điểm của Trần Thị Minh Châu (2000) khẳng định “Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối quan hệ tương quan so sánh giữa kết quả sản xuất đạt
được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó” [4] Kết quả sản xuất ở đây được hiểu là giá trị sản xuất đầu ra, còn lượng chi phí bỏ ra là giá trị của các nguồn lực đầu vào
Trang 23Ta có thể thấy bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất
và phát triển kinh tế xJ hội là đáp ứng ngày càng cao về nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xJ hội Cho nên mỗi cá nhân và tổ chức đều phải có bổn phận nâng cao hiệu quả hoạt động của mình
Hiện nay, khi nói đến hiệu quả sử dụng đất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng, chúng ta thường đề cập đến 3 khía cạnh là kinh tế, xJ hội và môi trường Sử dụng đất có hiệu quả là đảm bảo được cả 3 yếu tố đó
a) Phân loại hiệu quả
- Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế là hiệu quả do tổ chức và bố trí sản xuất hợp lý để đạt được lợi nhuận cao với chi phí thấp hơn, là tiêu chí được quan tâm hàng đầu, khâu trung tâm để đạt các loại hiệu quả khác Có khả năng lượng hoá bằng các chỉ tiêu kinh tế, tài chính được viết trong cuốn Nguyên lý kinh tế nông nghiệp (1999)[8]
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt được một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu qủa phân bổ mới có điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho đạt hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật
và hiệu quả phân bổ thì khi đó mới đạt hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả xJ hội: Hiệu quả xJ hội trong sử dụng đất hiện nay là phải thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy
xJ hội phát triển, nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy; đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về ăn, mặc, và nhu cầu sống khác Sử dụng đất phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đó bền vững hơn, ngược lại sẽ không được người dân ủng hộ
Hội khoa học đất, Đất Việt nam (2000) khảng định hiệu quả xJ hội là hiệu quả phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa con người với con người, có tác
Trang 24động tới mục tiêu kinh tế Hiệu quả xJ hội khó lượng hoá khi phản ánh, được thể hiện bằng các chỉ tiêu định tính hoặc định lượng như: tạo thêm việc làm, xoá đói, giảm nghèo, bảo đảm an ninh lương thực, tăng thu nhập bình quân
đầu người [16]
Còn Nguyễn Ngọc Sẫm (2002) thì hiệu quả về mặt xJ hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp [26]
- Hiệu quả môi trường: Hiệu quả môi trường là loại hiệu quả được các nhà môi trường rất quan tâm trong điều kiện hiện nay Một hoạt động sản xuất
được coi là có hiệu quả thì hoạt động đó không có những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đất, nước, không khí và đa dạng sinh học Hiệu quả đảm bảo tính bền vững cho môi trường trong sản xuất và xJ hội Hiệu quả môi trường là vấn
đề đang được nhân loại quan tâm, được phản ánh bằng các chỉ tiêu kinh tế và
kỹ thuật
Hiệu quả môi trường được sản sinh do tác động của hoá học, sinh học, vật lý ,chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường
Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân gây nên bao gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái do sự phát triển biến hoá của các loại yếu tố môi trường dẫn đến Hiệu quả hoá học môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng hoá học giữa các vật chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến Hiệu quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác động vật lý dẫn đến
b) Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá là mức đạt được các mục tiêu kinh tế, xJ hội, môi trường do xJ hội đặt ra Cụ thể như tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thỏa mJn tốt nhu
Trang 25cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững
- Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất ngành nông nghiệp, đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp, đến những người sống bằng nông nghiệp Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải tuân theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung như sau: bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt xJ hội, bền vững về mặt môi trường
c) Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Theo quan điểm của Hội đồng nghiên cứu sản xuất của Liên Xô (SOPS) thì chỉ nên có một chỉ tiêu duy nhất, xuất phát từ lý luận giá trị lao động của Các Mác và Ăng Ghen là tăng năng suất lao động hay tiết kiệm chi phí lao
động xJ hội, có nghĩa là tiết kiệm tài nguyên lao động, chi phí sản xuất
Trong sử dụng đất, tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả
là mức độ đáp ứng nhu cầu xJ hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả, Vũ Phương Thụy (2001) [39]
Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả sử dụng đất là mức đạt được các mục tiêu kinh tế, xJ hội và môi trường
* Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế bao gồm: giá trị sản xuất, chi phí trung gian, thu nhập hỗn hợp, lJi
+ Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất, dịch vụ
được tạo ra trong một thời kì nhất định
+ Chi phí trung gian (CPTG): là toàn bộ chi phí vật chất được sử dụng trong quá trình sản xuất bao gồm các khoản chi phí nguyên vật liệu, giống, phân bón
+ Thu nhập hỗn hợp (TNHH): là phần thu nhập thuần tuý của người sản
Trang 26xuất gồm cả công lao động của một gia đình và lợi nhuận có thể nhận được trong năm
* Hiệu quả xJ hội
+ Kết quả của quá trình sử dụng đất phải đưa lại những lợi ích như nâng cao trình độ dân trí và những hiểu biết xJ hội Kiến thức, kinh nghiệm của người nông dân có thể được trau dồi thông qua các hoạt động như đưa các tiến
bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất hay sự nhạy bén đối với thị trường khi sản xuất hàng hoá phát triển
+ Sử dụng đất đạt hiệu quả trước hết phải đảm bảo được những nhu cầu
về lương thực, thực phẩm cho người dân Đối với sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển, đảm bảo lương thực được đặt lên hàng đầu
+ Mỗi vùng có những điều kiện tự nhiên, xJ hội khác nhau, có vai trò khác nhau trong sự nghiệp phát triển chung Nền kinh tế muốn phát triển thì các ngành, các vùng cần có những bước đi đúng đắn và phù hợp Sử dụng đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng nên tuân thủ theo những định hướng mang tính chiến lược
+ Hệ thống nông nghiệp thu hút nhiều lao động, mang lại lợi ích cho người lao động sẽ giải quyết được vấn đề việc làm, giảm nạn thất nghiệp, giảm các tiêu cực trong xJ hội góp phần ổn định và phát triển đất nước
+ Thực tế cho thấy, hình thức du canh, du cư không những làm cho cuộc sống thiếu ổn định mà còn gây nên tình trạng suy thoái môi trường đất, nước Vì vậy cần sản xuất nông nghiệp một cách bền vững
* Hiệu quả môi trường
Việc người dân khai thác từ đất nhiều hơn, cung cấp cho đất lượng phân hữu cơ ít và tăng các dạng phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật đều là những nguyên nhân làm tổn hại môi trường Sử dụng đất thực sự đạt hiệu quả khi nó không có mâu thuẫn trên Vì vậy, một số tiêu chí được đưa ra khi đánh giá đến
Trang 27hiệu quả môi trường trong sử dụng đất là:Tăng độ che phủ rừng, giảm thiểu thiên tai, tăng độ phì nhiêu của đất, cải tạo, bảo tồn thiên nhiên, sự thích hợp với môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
e) ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng đất nông nghiệp
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất tạo điều kiện sử dụng đất đai ngày càng tốt hơn, lâu dài hơn, phục vụ cho các mục tiêu phát triển nền kinh tế - xJ hội
- Tạo ra thu nhập, tạo ra nhiều lợi ích cho người sử dụng đất
- Bảo đảm nguồn lực và động lực cho đầu tư bảo vệ, bồi dưỡng và cải tạo đất
- Thực hiện phân bổ sử dụng đất hợp lý cho các mục tiêu phát triển kinh
tế - xJ hội của đất nước
2.2 Cơ sở thực tiễn về sử dụng đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
2.2.1 Trên thế giới
a) Vấn đề sử dụng đất
Trên thế giới, mặc dù sự phát triển của sản xuất nông nghiệp của các nước không giống nhau nhưng tầm quan trọng của nó đối với xJ hội thì quốc gia nào cũng thừa nhận Hầu hết các nước đều coi nông nghiệp là cơ sở nền tảng của sự phát triển Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn Trong khi đó đất đai lại có hạn,
đặc biệt quỹ đất nông nghiệp lại có xu hướng giảm do chuyển sang các mục
đích phi nông nghiệp Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai thác, khai hoang đất đai phục vụ cho mục đích nông nghiệp, RoSemary (1994) [25]
Chính vì thế, mâu thuẫn giữa các lợi ích về kinh tế, xJ hội, môi trường cũng nảy sinh và sử dụng đất trở thành vấn đề nan giải đối với hầu hết các
Trang 28nước trên thế giới
Trong cuốn Luận văn thạc sỹ nông nghiệp của Hoàng Văn Thông (2002) viết hiện nay, trên thế giới, tổng diện tích đất tự nhiên là 148 triệu km2 Những loại đất tốt thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6% Những loại đất quá xấu chiếm tới 40,5% Diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm khoảng 10% tổng diện tích tự nhiên Đất đai thế giới phân bố không đều giữa các châu lục và các nước (châu Mỹ chiếm 35%, châu á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, Châu Đại Dương chiếm 6%) [37]
Đối với hầu hết các cư dân ở các vùng đất khô cằn, cuộc sống của họ rất khó khăn và tương lai thường bất ổn, với mức sống cùng cực về các mặt kinh tế - xJ hội và sinh thái Trên toàn thế giới, đói nghèo, quản lý đất đai không bền vững và biến đổi khí hậu đang biến các vùng đất khô cằn thành sa mạc và ngược lại, hoang mạc hoá đang làm trầm trọng thêm và dẫn đến đói nghèo Theo ước tính, có khoảng 10 - 20% diện tích đất khô cằn đJ bị thoái hoá, trang wed của Cục bảo vệ môi trường – Bộ tài nguyên và Môi trường [33] Điều này đJ gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp trên đất Chương trình môi trường Liên hợp quốc ước tính, hàng năm có thêm khoảng
20 triệu ha đất nông nghiệp bị suy thoái quá mức không sản xuất được hoặc bị lấy để mở mang đô thị gây tổn thất cho sản xuất nông nghiệp ước tính tới 42
tỷ USD [34]
Vào những năm 60 của thế kỷ 20, ở các nước phát triển ở châu á, Mỹ la tinh đJ được thực hiện cuộc : “cách mạng xanh’’ Thực chất cuộc cách mạng này dựa chủ yếu vào việc áp dụng các giống cây lương thực có năng suất cao (lúa nước, lúa mì, ngô ) xây dựng hệ thống thuỷ lợi, sử dụng nhiều loại phân hoá học “Cách mạng trắng’’ được thực hiện dựa vào việc tạo ra các giống gia súc có tiềm năng cho sữa cao, vào những tiến bộ khoa học đạt được trong việc tăng năng suất và chất lượng các loại gia súc, trong các phương thức chăn nuôi
Trang 29mang ít nhiều tổ chức công nghiệp
- “Cách mạng nâu’’ diễn ra trên cơ sở giải quyết mối quan hệ của nông dân với ruộng đất Trên cơ sở khơi dậy lòng yêu quý của nông dân đối với đất
đai, khuyến khích tính cần cù của họ để tăng năng suất và sản lượng trong nông nghiệp
Cả ba cuộc cách mạng này mới chỉ dừng lại ở việc, tháo gỡ những khó khăn trước mắt, chứ chưa thể là cơ sở cho một chiến lược phát triển nông nghiệp lâu dài và bền vững
b) Các nghiên cứu liên quan đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất theo hướng sản xuất hàng hoá
Các viện nghiên cứu nông nghiệp (2006), ở các nước trên thế giới hàng năm cũng đưa ra nhiều giống cây trồng mới, những công thức luân canh mới, các kỹ thuật canh tác mới Đặc biệt, viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI cũng đJ
đóng góp nhiều thành tựu về giống lúa và hệ thống canh tác trên đất trồng lúa
Xu hướng chung trên thế giới là tập trung mọi nỗ lực nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng trên những vùng đất bằng cách đưa thêm một số loại cây trồng vào hệ thống canh tác nhằm tăng sản lượng lương thực, thực phẩm trên một đơn vị diện tích trong một năm [45]
Theo báo cáo của Tổ chức FAO, nhờ các phương pháp tạo giống hiện đại như đột biến thực nghiệm, công nghệ sinh học bao gồm nuôi cấy bao phấn cứu phôi, dung hợp tế bào trần, kỹ thuật gen… các nước trồng lúa trên thế giới đJ tạo ra nhiều giống đột biến, trong đó có các nước như Trung Quốc, Nhật, ấn
Độ, Mỹ là những quốc gia đi đầu Sử dụng kỹ thuật nuôi cấy bao phấn Trung Quốc đJ tạo ra nhiều giống lúa thuần khác nhau, bằng kỹ thuật gen cũng đJ chuyển được một số gen kháng bệnh virus, kháng đạo ôn bạc lá, sâu đục thân
Gần đây, vấn đề khai thác đất gò đồi đJ đạt được những thành tựu đáng
kể ở một số nước trên thế giới Hướng khai thác chủ yếu trên đất gò đồi là đa
Trang 30dạng hóa cây trồng, kết hợp trồng cây hàng năm với cây lâu năm, trồng rừng với cây nông nghiệp trên cùng một vạt đất dốc, Nguyễn Duy Tính (1995) [32]
Trong cuốn Hệ thống canh tác của Đai học Cần thơ viết về việc sử dụng
đất đai, các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: đối các vùng nhiệt đới có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn, mang kết quả và hiệu quả cao hơn Tạp chí “Farming Japan” của Nhật Bản ra hàng tháng đJ giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng
đất đai cho người dân, nhất là ở nông thôn [14]
Nhiều chương trình và dự án khai thác sử dụng đất đJ được triển khai thực hiện ở nhiều nước trên thế giới như: chương trình khai thác và sử dụng
đất, chương trình giải quyết sức kéo nông nghiệp và thức ăn gia súc, chương trình phát triển thuỷ lợi, sản xuất hàng hóa đặc sản xuất khẩu, chương trình bảo vệ đất ở những nơi có hệ sinh thái bị phá vỡ và chương trình việc làm, sử dụng lao động nông thôn, Vũ Ngọc Hùng (2002) [17]
Như vậy vấn đề về sản xuất nông nghiệp hàng hoá luôn được các quốc gia có nền nông nghiệp mạnh đầu tư phát triển Vì thế đJ thu hút được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu Các nhà khoa học các nước đJ rất chú trọng đến việc nghiên cứu các cây con giống mới, nghiên cứu những công nghệ sản xuất và chế biến, nghiên cứu về chính sách, định hướng nhằm phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao và bền vững 2.2.2 ở Việt Nam
a) Vấn đề sử dụng đất
ở vùng đồng bằng (như đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long), cơ cấu diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao Nhưng ngược lại, ở vùng đồi núi (như trung du miền núi phía Bắc hay duyên hải miền Trung) thì
đất nông nghiệp thường chiếm tỷ lệ thấp Hiện nay, nhìn chung, việc sử dụng
Trang 31đất nông nghiệp của cả nước đang phát triển mạnh Nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao được đưa vào sản xuất mang lại lợi ích kinh tế cho người nông dân
Bảng 2.1 Biến động diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất trồng cây
hàng năm của cả nước giai đoạn 1995-2005 Năm
TDT đất nông
nghiệp (1000ha)
TDT đất trồng cây hàng năm (1000ha)
Dân số (1.000 người)
đô, vùng có điều kiện tưới tiêu chủ động, nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao đJ được bố trí trong phương thức luân canh như hoa cây cảnh, cây ăn quả, cây thực phẩm cao cấp
Trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình sử dụng
đất hợp lý hoặc công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hoá
Trang 32đất như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có hàm lượng dinh dưỡng thấp lại không luân canh với cây họ đậu Nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp và quá trình đô thị hoá gây sức
ép rất ép rất lớn lên đất, chúng ta cần phải tránh để mất đất nông nghiệp Tuy nhiên sự mất đất đang diễn ra rất mạnh, những cánh đồng mầu mỡ đang bị mất dần
Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong giai đoạn từ năm 2000 - 2004 đJ có một lượng lớn diện tích đất nông nghiệp được chuyển mục đích sử dụng, trong đó xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất gần
22 nghìn ha, xây dựng cụm công nghiệp gần 35 nghìn ha, xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị gần 100 nghìn ha Các khu vực kinh tế trọng điểm là nơi có diện tích chuyển đổi lớn nhất Điều đáng lưu ý là hầu hết diện tích đất bị chuyển
đổi đều thuộc các vị trí thuận tiện canh tác, thu hoạch, vận chuyển, chế biến
và tiêu thụ [28]
Bên cạnh đó những vùng ven đô, một số người nông dân đJ chuyển ra
đi làm thuê làm mướn nên nhiều diện tích đất đJ bị bỏ hoang, gây lJng phí không khai thác hết tiểm năng đất đai
Đất đai vùng ven sông lớn, ven biển, tại nhiều nơi ở miền núi có những trường hợp đJ không kịp thời có chính sách giải quyết sớm, gây nên tình trạng
“vô chủ” và “lắm chủ” hoặc tranh chấp có hại cho sản xuất, ảnh hưởng đến
đoàn kết nông thôn Việc sử dụng quỹ đất công ở nhiều nơi chưa có sự quản lý tốt, vừa tạm bợ, vừa máy móc, kết quả sinh lợi kém, không thống nhất quy mô
đất cũng đang gây ra nhiều tiêu cực trong quản lý và sử dụng
b) Các nghiên cứu liên quan đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở Việt Nam
Nhiều công trình nghiên cứu được hội đồng khoa học đánh giá cao,
được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận là những tiến bộ
Trang 33khoa học kỹ thuật và đJ đưa vào áp dụng trong sản xuất, đưa năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp không ngừng tăng trong những năm qua, đem lại hiệu quả kinh tế cao, được người sản xuất đánh giá cao
Các nhà khoa học cũng tiến hành nghiên cứu nhiều công trình khoa học như: Vũ Thị Ngọc Trân (1997) [40] - phát triển nông hộ sản xuất hàng hoá ở vùng đồng bằng sông Hồng; Đỗ Kim Chung (1999) - Công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn ở các vùng kinh tế lJnh thổ Việt Nam [5]; Tô Đức Hạnh, Phạm Văn Linh (2000) - Phát triển kinh tế hàng hoá trong nông thôn các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam, thực trạng và giải pháp [10] Nguyễn ích Tân (2000) - Nghiên cứu tiềm năng đất đai, nguồn nước và xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác có hiệu quả kinh tế cao một số vùng úng trũng đồng bằng sông Hồng [29] Lương Xuân Quỳ (1996) - Những biện pháp tổ chức và quản lý để phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hoá
và đổi mới kinh tế nông nghiệp nông thôn Bắc Bộ [23]
Các nghiên cứu cho thấy phát triển nông nghiệp hàng hoá là hướng đi
đúng đắn, phù hợp với yêu cầu trong phát triển nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua và trong thời gian tới
Theo Nguyễn Duy Tính (1995), ở vùng đồng bằng Bắc Bộ đJ xuất hiện nhiều mô hình luân canh cây trồng 3 - 4 vụ một năm đạt hiệu quả kinh tế cao,
đặc biệt ở các vùng sinh thái ven đô, tưới tiêu chủ động đJ có những điển hình
về chuyển đổi hệ thống cây trồng trong việc bố trí lại và đưa vào những cây trồng có giá trị kinh tế cao như: hoa, cây ăn quả, cây thực phẩm cao cấp [35]
c) Định hướng phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp đến năm
2010
Bộ NN-PTNT đJ định hướng chiến lược phát triển các ngành hàng chính đến năm 2010 như sau:
Về sản xuất lương thực: lúa gạo là ngành sản xuất có thế mạnh Giữ ổn
Trang 34định khoảng 4 triệu ha đất có điều kiện tưới tiêu chủ động để sản xuất lúa Cây màu lương thực chủ yếu là ngô, cần phát triển đạt mức 5 - 6 triệu tấn/năm
đủ nguyên liệu để làm thức ăn chăn nuôi
Về cây công nghiệp ngắn ngày: phát triển mạnh các loại cây có dầu như lạc, đậu tương, vừng, các loại cây có sợi như bông, dâu tằm
Những cây công nghiệp lâu năm: cà phê, điều, hồ tiêu, cao su, chè
Về rau, hoa quả và cây cảnh: ngoài các loại rau truyền thống, phát triển các loại rau cao cấp mới như: các loại đậu rau, ngô rau, măng, nấm ăn, nấm dược liệu là những loại rau có giá trị dinh dưỡng cao, có thị trường tiêu thụ, tiếp tục phát triển các loại cây ăn quả có khả năng xuất khẩu: vải, nhJn, dứa, thanh long
Về nuôi trồng thủy sản: Cùng với việc đánh bắt xa bờ, tập trung đầu tư phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản Tôm là ngành chủ lực trong ngành nuôi trồng thủy sản gồm tôm nước lợ (tôm sú, tôm he) và tôm nước ngọt (tôm càng xanh) Đồng thời phát triển mạnh nuôi trồng các loại cá nước ngọt, nước lợ, nước mặn và các loại đặc sản khác
d) Sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ [36], là vùng có vị trí rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xJ hội của đất nước Có hệ thống giao thông, điều kiện sinh thái và kinh tế - xJ hội rất thuận lợi cho phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng theo hướng sản xuất hàng hoá bền vững
Năm 1994 Nguyễn Trung Quế và những người khác đJ nghiên cứu đề
án " Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn huyện Thuận Thành - tỉnh Hà Bắc"[22]
Năm 2000, Đỗ Nguyên Hải trường ĐHNNI đJ nghiên cứu đồ án "Đánh giá đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp huyện Tiên
Trang 35Sơn tỉnh Bắc Ninh" Luận án tiến sĩ khoa học nông nghiệp Trường ĐHNNI -
Hà Nội [12]
Năm 2004 Trần Văn Tý đJ nghiên cứu đồ án "Thực trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất nông sản hàng hoá ở tỉnh Bắc Ninh", luận án tiến sĩ nông nghiệp Trường ĐHNNI - Hà Nội [43] Nghiên cứu đJ
đánh giá thực trạng tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất nông nghiệp hàng hoá nói riêng, nghiên cứu cũng đJ đưa ra những định hướng, mục tiêu, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm khai thác, sử dụng hợp lý các điều kiện của tỉnh đề đẩy mạnh phát triển nông sản hàng hoá ở tỉnh Bắc Ninh
Hiện nay tỉnh Bắc Ninh cũng đJ hình thành một số vùng sản xuất nông sản hàng hoá như:
- Vùng sản xuất lúa gạo: Vùng lúa tám xoan ở xJ Chi Lăng huyện Quế
Võ, Vùng lúa thơm có năng suất cao (giống DT 122) ở xJ Phú Hoà và Trung Chính huyện Lương Tài; vùng lúa nếp hoa vàng và giống nếp 9603 tập trung ở các xJ Đình Bảng và Tương Giang huyện Từ Sơn, huyện Yên Phong, Tiên Du Các vùng lúa hàng hoá này đều cho thu nhập cao hơn từ 1,2-1,4 lần thóc
tẻ thường trên cùng một diện tích
- Vùng sản xuất rau và hoa: hiện nay ở một số huyện trong tỉnh đJ hình thành một số vùng sản xuất rau tập trung như: rau sạch ở Đại Phúc thành phố Bắc Ninh và xJ Phù Chẩn huyện Từ Sơn; rau xuất khẩu ở các xJ Trung Nghĩa
và Khúc Xuyên Yên Phong, Phật Tích và Khắc Niệm huyện Tiên Du Đối với trồng hoa cây cảnh đây là nghề mới phát triển, mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng hiện toàn tỉnh chưa có những vùng tập trung lớn, hiện tại đJ có những vùng nhỏ trồng cây cảnh như ở Đình Bảng huyện Từ Sơn, xJ Phú Lâm huyện Tiên Du cho hiệu quả kinh tế cao, thu nhập bình quân từ 500 - 600 triệu
đồng/ha/năm
- Vùng chăn nuôi lợn có quy mô lớn ở Văn Môn (Yên Phong), Nhân
Trang 36Hoà huyện Quế Võ, Đình Bảng huyện Từ Sơn, Tân LJng huyện Lương Tài Chăn nuôi bò sữa ở xJ Cảnh Hưng huyện Tiên Du
- Vùng nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn tỉnh có các vùng: xJ MJo Điền huyện Thuận Thành sản xuất cá giống; các xJ Nhân Thắng, Xuân Lai huyện Gia Bình, xJ Trung Chính, Phú hoà huyện Lương Tài, các xJ Đức Long và
Đào viên huyện Quế Võ là vùng sản xuất cá thương phẩm
Để thoát khỏi đói nghèo những năm qua Tiên Du đJ thực hiện chuyển
đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng
Sự chuyển dịch cơ cấu Đồng thời thực hiện đưa giống lúa mới vào như C7, C71, lúa lai 2 dòng Cây màu phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá và xuất khẩu nên có nhiều loại giống mới cho năng suất như Biosed 9681, DK 888; Khoai tây thì đưa vào giống khoai tây Hà Lan
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn được triển khai đồng bộ với chương trình nuôi cà thâm canh Nhiều vùng trũng đJ chuyển sang nuôi cá
đem lại thu nhập và năng suất cao Bên cạnh những mô hình nuôi cá ở vùng trũng thì Tiên Du còn tiềm năng phát triển kinh tế vườn đồi
Để phát huy những thành tựu đạt được từ nay đến năm 2010 , Đảng bộ
và nhân dân huyện Tiên Du đặt ra nhiệm vụ trọng tâm là tập trung mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế, xJ hội Trong đó đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh
tế cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng
Từng bước phân vùng phân vùng sản xuất chuyên canh, sản xuất hàng hoá, hình thành vùng sản xuất giá trị kinh tế cao như Phú Lâm, Hiên Vân, thị trấn Lim và Liên BJo Mở rộng diện tích trồng rau, hình thành các tụ điểm sản xuất rau xuất khẩu như rau, cà chua ở Tân Chi, Cảnh Hưng
Theo tin tức nông nghiệp khuyến nông thì xJ Hiên Vân triển khai mô hình rau an toàn Những loại rau được trồng chủ là su hào, cải bắp, súp lơ phục vụ cuộc sống hàng ngày của người dân địa phương, nâng cao thu nhập cho nông dân trong sản xuất vụ đông Hiện thôn Ngang Nội có 13 gia
Trang 37đình với 0,4 ha tiến hành trồng rau an toàn áp dụng mô hình nhà lưới, áp dụng công nghệ sản xuất sạch phù hợp quy định về an toàn thực phẩm Bước đầu cho giá trị thu nhập gấp 3-4 lần rau thông thường Sản phẩm được tiêu thụ trên các thành phố, trang web của tỉnh Bắc Ninh [31]
Trang 383 Đối tượng, nội dung
và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả loại hình sử dụng đất huyện Tiên Du 3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
a) Về không gian
Phạm vi nghiên cứu trên địa bàn huyện Tiên Du, trong đó chọn 3 xJ đại diện cho các vùng sản xuất để điều tra, khảo sát là:
- Các xJ vùng 1, là xJ có núi thấp, có địa hình cao, vàn, trũng
- Các xJ đại diện cho vùng 2, là những xJ nằm dọc theo sông Đuống
Có thành phần cơ giới nhẹ, tầng đất khá dày, khả năng giữ nước, giữ chất dinh dưỡng thấp Tuy nhiên, do được bồi đắp phù sa hàng năm nên đất vẫn có độ phì khá Loại đất này khá thích hợp với việc trồng các loại hoa màu lương thực như: Lúa, ngô, khoai, mía, rau đậu các loại Là xJ có đất phù sa bồi của hệ thống sông hồng
- Các xJ đại diện cho vùng 3, là xJ có địa hình trũng
b) Về thời gian
Số liệu được thu thập trong giai đoạn 2000 - 2008
Số liệu dự kiến đến năm 2010
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xL hội có liên quan
đến đất đai và sản xuất nông nghiệp hàng hoá
Đánh giá về các điều kiện tự nhiên
Trang 39+ Vị trí địa lý: Xác định các vùng nghiên cứu
+ Điều kiện khía hậu: ảnh hưởng của khí hậu đến cơ cấu mùa vụ và năng xuất cây trồng
- Đánh giá về điều kiện kinh tế, xJ hội: tình hình kinh tế nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, trình độ canh tác và loại hình sử dụng đất
- Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xJ hội
3.2.2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp
Nghiên cứu các kiểu sử dụng đất và sự phân bố các kiểu diện tích trên
địa bàn huyện
3.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hoá
- Đánh giá hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất trên các vùng đất khác nhau
- Đánh giá hiệu quả xJ hội của các kiểu sử dụng đất
- Đánh giá hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất
3.2.4 Định hướng và các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp của huyện theo hướng sản xuất hàng hoá đến năm 2010
- Những quan điểm chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
- Định hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
- Một số nhận xét và định hướng cho tương lai
- Đề xuất các giải pháp để thực hiện định hướng đJ đề ra
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Thu thập số liệu
a) Tài liệu thứ cấp: thu thập tại các cơ quan lưu trữ
b) Tài liệu sơ cấp: Điều tra trực tiếp bằng điều tra nông hộ theo phiếu (xem phụ lục)
Trang 40+ Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất, dịch vụ
được tạo ra trong một thời kì nhất định
+ Chi phí trung gian (CPTG): là toàn bộ chi phí vật chất được sử dụng trong quá trình sản xuất bao gồm các khoản chi phí nguyên vật liệu, giống, phân bón
+ Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa GTSX và CPTG
+ Thu nhập hỗn hợp (TNHH): là phần thu nhập thuần tuý của người sản xuất gồm cả công lao động của một gia đình và lợi nhuận có thể nhận được trong năm