1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng gia lâm hà nội

81 1,1K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng Gia Lâm – Hà Nội
Tác giả Keo Bua Son
Người hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Viết Tùng
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Bảo Vệ Thực Vật
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 22,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn, tiến sĩ, thạc sĩ, báo cáo, khóa luận, đề tài

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I

-o0o -

keo bua son

nghiên cứu về thành phần và đặc đIểm sinh tháI học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng Gia lâm – hà nội

Luận Văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên nghành: bảo vệ thực vật

M> số: 60.62.10

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS nguyễn viết tùng

Hà Nội - 2007

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và ch−a hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đ1 đ−ợc cảm ơn Các thông tin, tài liệu trong luận văn này đ1 đ−ợc ghi rõ nguồn gốc

Tác giả

Keo bua son

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn Nhà trường, Phòng Quan hệ Quốc tế, Khoa Sau đại học cũng như khoa Nông Học của nhà trường đã giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn sự hợp tác giữa các cấp lãnh đạo của chính phủ Việt Nam và Lào tạo điều kiện cho tôi được sinh hoạt trong thời gian học tập

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn những ý kiến đóng góp của các thầy cô trông Bộ môn Côn Trùng và Bộ môn Bệnh cây đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên tốt trong quá trính thực hiện đề tài

Qua đây cho tôi gửi lời cảm ơn tới tất cả bạn bè, đồng nghiệp

đã cùng tôi hoàn thành đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn

Tác giả

Keo bua son

Trang 4

Mục lục

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt iv

Danh mục các bảng v

Danh mục các hình vi

1 mở đầu 1

1.1 đặt vấn đề 1

1.2 mục đích và yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 1

1 1.2.2 Yêu cầu 1

1 2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3

1 những nghiên cứu ngoài nước về rệp muội 3

2 những nghiên cứu trong nước về rệp muội 18

3 nội dung và phương pháp nghiên cứu .23

3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 23

3.2 nội dung nghiên cứu 23

4 kết quả nghiên cứu và thảo luận 25

Trang 5

4.1 thành phần và đặc điểm gây hại của rệp muội vùng

hà nội .25

4.1.1 Thành phần rệp muội hại trên cây ngô 36

4.1.2 Thành phần rệp muội hại trên cây cam quýt 38

4.1.3 Thành phần rệp muội hại trên cây rau họ thập tự 40

4.2 thành phần thiên địch rệp muội 31

4.2.1 Thành phần thiên địch của rệp hại trên cây ngô 41

4.2.2 Thành phần thiên địch của rệp hại cam quýt 43

4.3 đặc điểm hình thái của một số loài thiên địch của rệp 34

4.3.1 Nhóm bọ rùa (Coleoptera, Coccinellidae) 44

4.3.1.1 Bọ rùa đỏ (Micrapis discolor Fabr) 44

4.3.1.2 Bọ rùa vằn chữ nhân (Coccinella transversalis Thunberg) 46

4.3.1.3 Bọ rùa 6 vằn đen (Menochilus sexmaculata Fabr) 47

4.3.1.4 Bọ rùa hai mảng đỏ (Lemnia biplagiata Swartz) 47

4.3.2 Nhóm bọ cánh cộc (Coleoptera, Staphylinidae) 47

4.3.2.1 Bọ cánh cộc nâu (Paederus fuscipes Curtis) 47

4.3.2.2 Bọ cánh cộc đen .48

4.3.3 Nhóm ruồi ăn rệp (Diptera,Syrphidae) 49

4.3.3.1 Ruồi ăn rệp bụng vàng (Episyrphus balteatus De geer) 49

4.3.3.2 Ruồi ăn rệp bụng đen (Ischidon scutellais Fabr) 49

4.3.4 Nhóm bọ chân chạy (Coleoptera, Carabidae) 49

4.3.4.1 Chân chạy đuôi cánh hình mũi tên (Chlaenius micans Fabr.) 49

4.3.4.2 Bọ chân chạy đuôi 2 chấm trắng (Chlaenius boiculaius Mots) 50 4.3.5 Nhóm nhện ăn rệp (Bộ Araneae - bộ nhện lớn) 51

4.3.5.1 Nhện nhảy (Bianor hotingchichi Schenkel) 52

4.3.5.2 Nhện linh miêu (Oxyopes javanus Thorell) 52

4.3.5.3 Nhện chân dài (Tetragnatha maxillosa Thonell) 52

Trang 6

4.3.5.4 Nhện lùn (Atypena (Callitrichia); Formosana (Oi)) 53

4.3.5.5 Nhện sói (Pardosa insignita Boets) 53

4.3.6 Nhóm côn trùng bắt mồi khác 54

4.3.6.1 Bọ xít bắt mồi (Orius sauteri Poppius) 54

4.3.6.2 Bọ cánh cứng 3 khoang (Ophionea nirgosaciata Schmidt Goebel) 54

4.4 diễn biến mật độ thiên địch của rệp 44

4.4.1 Diễn biến mật độ thiên địch của rệp hại ngô 55

4.4.2 Diễn biến mật độ thiên địch của rệp hại cây rau họ thập tự 56

4.4.3 Diễn biến mật độ thiên địch của rệp hại cam quýt 58

4.5 chu chuyển theo phổ thức ăn của bọ rùa 48

4.6 đề xuất biện pháp bảo vệ thiên địch trong phòng chống rệp muội 50

5 KếT LUậN Và đề NGHị

ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED 5.1 kết luận 52

5.2 đề nghị 54

TàI LIệU THAM KHảO 65

Trang 7

Danh môc c¸c tõ viÕt t¾t

Trang 8

Danh mục các bảng

Bảng 4.1 Thành phần rệp muội hại cây trồng chính vùng Hà Nội 26 Bảng 4.2 Thành phần rệp hại ngô vụ xuân hè năm 2007 27 Bảng 4.3 Thành phần rệp hại trên cây cam quýt vụ xuân hè năm 2007 29 Bảng 4.4 Thành phần rệp trên cây rau họ thập tự vụ xuân hè năm 2007 31 Bảng 4.6 Thành phần thiên địch của rệp hại trên cây rau họ hoa thập tự vụ xuân hè năm 2007 33 Bảng 4.7 Thành phần thiên địch của rệp hại trên cây cam quýt vụ xuân hè năm 2007 34 Bảng 4.8: Mật độ thiên địch của rệp hại ngô vụ xuân hè năm 2007 46 Bảng 4.9 Mật độ thiên địch của rệp hại cây họ hoa thập tự vụ xuân hè 2007 48 Bảng 4.10 Mật độ thiên địch của rệp hại cam quýt vụ xuân hè 2007 49 Bảng 4.11 Sơ đồ chu chuyển theo phổ thức ăn của bọ rùa 50

Trang 9

Danh mục các hình

Hình 4.1 Rệp muội gây hại ngô Rhopalosiphum maidis Fitch (Theo Shepard) 28 Hình 4.2 Rệp muội gây hại đậu Aphis craccivora Koch: (Theo Shepard)30 Hình 4.3 Rệp bông Aphid gossypii Glover (Theo Shepard) 31 Hình 4.4 Bọ rùa đỏ (Micrapis discolor Fabr) (Theo Nguyễn Thị Bích Lan) 35 Hình 4.5 Bọ rùa vằn chữ nhân (Coccinella transversalis Thunberg) (Theo Nguyễn Thị Bích Lan) 35 Hình 4.6 Bọ rùa 6 vằn đen (Menochilus sexmaculata Fabr) (Theo Nguyễn Thị Bích Lan) 35 Hình 4.7 Bọ rùa hai mảng đỏ (Lemnia biplagiata Swartz) (Theo Nguyễn Thị Bích Lan) 35 Hình 4.8 Bọ cánh cộc nâu (Paederus fuscipes Curtis) (Theo Trần Đình Chiến) 39 Hình 4.9 Bọ cánh cộc đen (Theo Trần Đình Chiến) 39 Hình 4.10 Ruồi ăn rệp bụng vàng (Episyrphus balteatus De geer) (Theo Carner) 40 Hình 4.11 Ruồi ăn rệp bụng đen (Ischidon scutellais Fabr) (Theo Carner) 40 Hình 4.12 Chân chạy đuôi cánh hình mũi tên (Chlaenius micans Fabr.)41 (Theo Trần Đình Chiến) 41 Hình 4.13 Bọ chân chạy đuôi 2 chấm trắng (Chlaenius boiculaius Mots) (Theo Trần Đình Chiến) 41

Trang 10

Hình 4.15 Nhện chân dài (Tetragnatha maxillosa Thonell) (Theo Barrion) 42 Hình 4.16 Nhện lùn (Atypena formosana (Oi) ) (Theo Barrion) 42 Hình 4.17 Nhện sói (Pardosa insignita Boets) (Theo Barrion) 42 Hình 4.18 Nhện linh miêu (Oxyopes javanus Thorell) (Theo Barrion) 42 Hình 4.19 Bọ xít bắt mồi (Orius sauteri Poppius) (Theo Shepard) 45 Hình 4.20 Bọ cánh cứng 3 khoang (Ophionea nirgosaciata Schmidt Goebel) (Theo Litsinger) 45 Hình 4.21 Diễn biến mật độ thiên địch của rệp hại ngô vụ Xuân hè 2007 47 Hình 4.22 Diễn biến mật độ thiên địch rệp hại rau họ thập tự vụ Xuân hè

2007 48 Hình 4.23 Diễn biến mật độ thiên địch của rệp hại cam quýt vụ Xuân hè

Trang 11

1 Mở đầu 1.1 Đặt vấn đề

Ngày nay, việc phát triển một nền nông nghiệp bền vững đang là mục tiêu hàng đầu của sản xuất nông nghiệp ở mỗi quốc gia Nhờ có một nền nông nghiệp phát triển bền vững và sự phát triển của một nền nông nghiệp hiện đại sẽ được gắn liền với một môi trường sinh thái trong lành và ổn định góp phần phát triển con người

Trong hơn nửa thế kỷ qua, công tác phòng chống dịch hại để bảo vệ mùa màng chủ yếu dựa vào biện pháp hoá học Hàng năm, thế giới sử dụng khoảng 1,15 triệu tấn thuốc hoá học, đặc biệt là các nước Anh, Pháp, Nhật chiếm 4/5 tổng lượng thuốc hoá học trên thế giới (Seicke, 1965)

Để giải quyết những bức xúc của vấn đề bảo vệ môi trường, bảo tồn

sự đa dạng sinh học và sản xuất nông sản an toàn trong một nông nghiệp sạch Các nhà khoa học nông nghiệp đ1 nghiên cứu và đưa ra mọi biện pháp phòng chống dịch hại đáp ứng được những bước xúc trên, đó là biện pháp quản lý dịch hại cây tổng hợp (IPM)

Nước Việt Nam có một nền nông nghiệp phát triển chưa bền vững Một trong những biện pháp làm cho nền nông nghiệp nước nhà phát triển bền vững là áp dụng biện pháp IPM và một trong những nội dung quan trọng của biện pháp IPM là sử dụng thiên địch trong phòng chống sâu hại

Và tôi đ1 chọn việc nghiên cứu về nhóm thiên địch ăn rệp muội, một loại sâu hại khá phổ biến trong nông nghiệp nước nhà

Để có thể bảo vệ và khích lệ được các loài thiên địch của côn trùng thì những hiểu biết về quy luật sinh sống của chúng, cụ thể là sự phân bố, chu chuyền của côn trùng trong phổ ký chủ hoặc phổ vật mồi của các loài

ký sinh và các loài bắt mồi theo không gian và thời gian là điều không thể thiếu được

Trang 12

Việt Nam có điều kiện thời tiết rất thích hợp cho các loài thiên địch rệp muội phát triển quanh năm với số lượng phong phú và đa dạng, nhiều chủng loại

Chính vì lẽ đó mà chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng Gia Lâm – Hà Nội”

1.2 Mục đích và yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Tìm hiểu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của đối tượng nghiên cứu đề xuất biện pháp bảo vệ và sử dụng nhóm thiên địch bắt mồi vào việc phòng chống các loài rệp muội hại cây trồng đạt hiệu quả kinh tế cao và an toàn với môi trường

1.2.2 Yêu cầu

1 – Nắm được thành phần và đặc điểm hình thái của các loài thiên

địch bắt mồi rệp muội (bọ rùa, ruồi ăn rệp, bọ xít ăn sâu và nhện lớn)

2 – Tìm hiểu con đường chu chuyển trong phổ thức ăn của một số loài thiên địch chủ yếu vào thời gian nào và ở đâu (hiện tượng chu chuyển theo mùa vụ)

3 – Sau khi kết thúc nghiên cứu đưa ra đề xuất biện pháp bảo vệ và khai thác sử dụng một số loài thiên địch trong việc phòng chống rệp muội hại cây trồng

Trang 13

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Những nghiên cứu ngoài nước về rệp muội

Rệp muội nằm trong tổng họ Aphidoidea (Tổng họ rệp muội) thuộc bộ cánh đều Homoptera, là nhóm côn trùng chích hút nhựa cây Những hoá thạch của rệp muội (Triassoaphis cubitus) đ1 được biết đến từ kỷ Triassic, điều đó cho thấy tổng họ rệp muội có từ 280 triệu năm trước đây trong kỷ Cacbon Cũng chính từ đó rệp muội được phát triển và hoàn thiện dần để trở thành các loài rệp muội ngày nay Theo các nhà khảo cổ cho biết hình thức sinh sản thông qua trứng không được thụ tinh của rệp muội xuất hiện vào cuối kỷ Cacbon và đầu kỷ Permian, hình thức sinh sản đơn tính chu kỳ (hình thức sinh sản đơn tính xen kẽ sinh sản hữu tính) được hình thành vào cuối kỷ Permian và

được coi là kết quả của sự biến đổi thời tiết trong kỷ này Một số đặc điểm hình dạng của rệp như: cấu trúc gân cánh, vòi và chân của rệp muội xuất hiện

ở cuối kỷ Jurassis, nhưng lông đuôi và ống bụng của rệp muội thì xuất hiện muộn hơn ở kỷ Cretaceous (Shuposhnikov,1977) [125]

Heie (1967) [63] cho rằng mắt rệp muội rất đơn giản chỉ có 3 mắt

đơn, kích thước cơ thể nhỏ có thể sử dụng các luồng gió trong phát tán là những đặc điểm thích nghi của rệp muội trong quá trình tiến hoá

Tuy sự xuất hiện của họ rệp muội (Aphididae) đ1 từ rất lâu, nhưng sự phát hiện và quan tâm của con người với chúng được bắt đầu từ năm 1568, tác giả đầu tiên phát hiện ra rệp muội là (Hill, 1568) [68] và sau đó Worlidge (1669) [145], Linne (1758) [88] đ1 xây dựng bảng thành phần rệp theo cây kí chủ, sự liên quan giữa rệp và cây kí chủ là cơ sở cho việc phân loại rệp muội ngày nay

Phân loại rệp muội:

Với sự gây hại nghiêm trọng và tính phổ biến của rệp muội trên cây trồng ngoài sản xuất đ1 thu hút được sự tham gia của nhiều nhà phân loại

Trang 14

[38], Shaposhnikov (1964) [126] đ1 xây dựng khoá phân loại rệp muội cho các loài rệp muội xuất hiện ở Châu Âu; Eastop (1958)[54]; đ1 có khoá phân loại cho các loài rệp muội phân bố ở Đông, Tây Phi; Eastop (1966) [55] xây dựng khoá phân loại cho tổng họ rệp muội (Aphidoidea) ở úc; Eastop (1977) [56]; Heie (1980) [64] đ1 có khoá phân loại riêng cho họ Aphididae Nói chung các khoá phân loại không có sự khác nhau nhiều về số lượng các

họ phụ Tuy nhiên việc sắp xếp họ phụ Lachninae (thuộc họ Aphididae) vào nhóm cổ xưa nhất hoặc vào nhóm cổ đại là chưa có sự nhất trí Rệp muội thuộc loại đa hình, vì vậy sự phân loại chúng qua quan sát bằng mắt thường khó khăn Việc phân loại phải dựa vào mẫu rệp được làm trên bản lam quan sát dưới kính lúp để xem rõ đặc điểm ống bụng, lông đuôi, cấu trúc và độ dài của các đốt râu, và đặc biệt là trên cây kí chủ mà chúng phân bố mới

đảm bảo sự chính xác của phân loại (Blackman và Eastop, 1984) [35] Tuy nhiên những khóa phân loại rệp muội hiện đ1 được xây dựng nhiều vùng trên thế giới như: Vùng Bắc Âu (Heie, 1980 [64]; 1982 [65] Hille Ris Lambers (1938 [69]; 1939 [70] ; 1947 [71]; 1949 [72]; 1953 [73] Shaposhnikov (1964 [126]; vùng Bắc Mỹ: Palmer (1952) [106]; Richards (1960) [115]; 1963 [116]; 1965 [117]; 1972 [118]) Vùng Trung Đông: Bodenheimer và Swirski (1957) [37] ở ấn Độ: Ghosh (1980 [60] ở Nhật: Shinji (1941) [124]; Miyazaki (1971) [96]; Higuchi (1972) [67]; Akimoto (1983) [22] và ở Nam Triều Tiên : Paik (1965) [104]; 1972 [105] Newzealand: Cottier (1953) [47] Đáng kể hơn cả là những công trình của Linne (1758) [88], và đặc biệt là Blackman và Eastop (1984) [34] đ1 cho ra

đời một khóa phân loại rệp muội theo cây trồng trên toàn thế giới Với một

hệ thống khóa phân loại phong phú trên người ta đ1 phát hiện, mô tả và phân loại được gần 4000 loài rệp muội khác nhau và đ1 có kết luận là rệp muội tuy có nguồn gốc ở vùng ôn đới nhưng cho tới nay chúng phân bố ở tất cả các nước trên địa cầu (Eastop 1977) [56]

Trang 15

Theo các nhà phân loại thì tổng họ rệp muội (Aphidoidea) bao gồm 3

họ chính là: Họ rệp muội (Aphididae), Họ rệp bướu thông (Adelgidae) và

Họ rệp bướu nho (Phylloxeridae)

Trong đó họ rệp muội (Aphididae) bao gồm 8 họ phụ là: Họ phụ Aphidinae và Drepanosiphinae là 2 họ phụ lớn nhất có số loài chiếm 70% tổng số loài rệp muội Hai họ Greenideinae và Horma phidinae có số loài ít nhất chiếm 7% tổng số loài rệp muội Ngoài ra còn 4 họ phụ còn lại là Lachninae, chaitophrinae, Anoeciinae và Pemphiginae

Họ phụ Aphidinae là họ phụ có số loài nhiều nhất Các loài trong họ phụ này là những rệp muội gây hại quan trọng trong sản xuất bao gồm một

số tộc trong đó tộc Macrosiphini (có khoảng 1000 loài), tộc Aphidini (có khoảng 400 loài) (Blackman và Eastop, (1984) [34])

Tộc Aphidini

Đây là tộc có số loài nhiều Chúng xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới và gây hại trên nhiều loài cây trồng Trong đó có một số loài có tác hại nổi bật

đó là A.gossypii Glover phát sinh quanh năm có phổ ký chủ rất rộng: họ bầu

bí, bông, cà, cúc, bìm bìm và một số cây thân gỗ thân thảo khác Loài A

xanh, đậu đen, đậu rồng, điền thanh, đậu ván và lạ Loài Rhopasiphum maidis gây hại trên ngô và một số cây thuộc họ hoà thảo; Rhophasiphum rufiabdominalis gây hại trên rễ cây khoai tây và một số cây trong họ hoà thảo…(Blackman và Eastop,1984)[34]

Tộc Macrosiphini: Có khoảng 1000 loài Masahisa,1971)[132]

Theo Blackman và Eastop (1984)[34], Myzus persicae (Sulzer) là loài sống trên nhiều kí chủ khác nhau đặc biệt gây hại nặng trên khoai tây, thuốc lá, các cây khác thuộc họ cà và một số họ khác Nó có thể truyền

được khoảng 100 loài bệnh virus khác nhau Ngoài ra còn có loài

Trang 16

Một số nước xung quanh ta như ấn Độ, Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc đ1 có những bước tiến nhất định trong việc nghiên cứu thành phần rệp muội hại

Masahisa (1971) [94] đ1 công bố tộc Macrosiphini ở Nhật Bản có 240 loài rệp muội trong đó có 13 loài mới được phát hiện ở nhật Bản: Szelgiewicz (1968) [129] đ1 thu thập được 22 loài rệp muội gây hại ở Việt Nam

Woon Hah Paik (1965) [147] phát hiện được 170; Loài rệp muội gây hại ở Triều Tiên

Ngoài ra một số tác giả đ1 công bố thành phần loài rệp muội trên một

số cây trồng quan trọng như Kashyap và Verma (1982) [134] đ1 phát hiện 7 loài rệp muội hại khoai tây của ấn Độ trong đó có 3 loài quan trọng là Myzus persicae; Aphis gossypii và Aphis craccivora Năm 1989 [136], Verma sau khi điều tra tại các vùng trồng khoai tây của ấn Độ đ1 công bố

có trên 12 loài rệp muội hại khoai tây, nhưng trong đó chỉ có 5 loài M persicae, A gossypii, R rufiabdominalis, A fabae và R latysiphon là quan trọng hơn cả

Tại Anh khi theo dõi về thành phần rệp hại trên cây củ cải Cayley và CTV (1987) [42] đ1 phát hiện thấy 6 loài rệp muội, trong đó loài rệp có số lượng nhiều nhất là B brassicae, M persicae và A fabae

Trên cây dưa chuột tại Ai Cập, Attia (1984) [24] đ1 tìm thấy 2 loài rệp gây hại chủ yếu là A gossypii và M persicae

Khi nghiên cứu quần thể rệp muội trên cây cà chua tại Brazil Bergman (1984) [30] đ1 dùng bẫy màu vàng để bẫy rệp vào khoảng thời gian từ giữa tháng 4 tới tháng 8 và đ1 phát hiện được 18 loài rệp muội bay tới ruộng cà chua trong đó phổ biến nhất là M persicae ngoài ra còn có A gossypii, Rhopalosiphum sp Macrosiphum euphorbiae

Trang 17

Trên cây ngô tại Ai Cập Heneidy và CTV (1984) [91] đ1 thông báo Ngô của Ai Cập bị Rhopalosiphum maidis hại chính và sau đó là A.gossypii

Rệp đào thường có 2 loại hình màu sắc là màu đỏ và màu xanh, qua quan sát sức sinh sản, tỷ lệ sống của 2 loại hình màu sắc trên thuốc lá, Lampert (1987) [84] đ1 kết luận rệp đào màu đỏ có sức sống cao hơn rệp

đào màu xanh và bằng kết quả nuôi sinh học rệp đào trong phòng thí nghiệm ông đ1 cho biết quá trình phát triển cá thể của rệp đào như sau : rệp

ở giai đoạn non trải qua 4 tuổi, vòng đời của rệp 11,3 – 14,6 ngày, thời gian phát triển thay đổi tùy theo nhiệt độ và cây ký chủ, rệp có 2 dạng không cánh và có cánh Thời gian sinh sản của rệp được chia làm 3 giai đoạn: giai

đoạn tiền sinh sản 0,7 – 1,2 ngày; sinh sản mạnh 8,3 – 14,0 ngày; hậu sinh sản 1,8 ngày Tùy theo nhiệt độ và cây kí chủ mà khả năng sinh sản của rệp

có thể thay đổi rất nhiều từ 12,4 – 55,1 rệp con/1 rệp mẹ không cánh

ở các nước có khí hậu ôn đới rệp đào thường có hình thức sinh sản đơn tính chu kỳ, trong đó hình thức sinh sản hữu tính diễn ra như sau: Trưởng thành đực và trưởng thành cái bay đến cây mận đào vào tháng 8 (Đây là cây kí chủ chính), chúng ghép đôi giao phối và đẻ trứng, trứng này sẽ qua đông và nở vào tháng 3 – 4 năm sau Sau khi nở rệp gây hại trên kí chủ chính từ cuối tháng 4 đầu tháng 5 tới tháng 8 (Hille Ris Lambers 1972) [74]

Tuy nhiên sự có mặt đầy đủ cả 2 hình thức sinh sản của rệp muội hoặc chỉ có một kiểu sinh sản đơn tính là tùy thuộc vào khí hậu của từng nước:

Tại Pháp rệp đào sinh sản đơn tính từ 1 – 4 năm sau đó lại xuất hiện hình thức sinh sản hữu tính một lần (Verma 1990) [137]

ở ấn Độ rệp bắt đầu xuất hiện gây hại trên cây khoai tây vào giữa tháng 11, chúng tiếp tục gây hại trên khoai tây và một số cây kí chủ khác vào mùa đông Rệp đào có sự nhân số lượng nhanh trong tháng 1 và đặc biệt có mật độ cao vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 Mật độ rệp đào giảm xuống sau

Trang 18

vào tháng 5, 6 ở vùng đồng bằng Sau thời gian này chúng di cư tới vùng đồi cao hoặc vùng trung du (Ram và Verma 1989 [114] Tại vùng núi có điều kiện nhiệt độ và cây kí chủ thích hợp, những cá thể rệp này lại tiếp tục sinh sản đơn tính và đạt đỉnh cao về số lượng vào cuối tháng 7 đầu tháng 8 Sau đó vào tháng 11 – 12 khi nhiệt độ vùng đồng bằng đ1 hạ thấp rệp di cư trở lại vùng

đồng bằng để gây hại, Verma và CTV 1982) [195]

ở nhiệt độ cao và điều kiện ngày dài không thích hợp cho rệp đào đẻ trứng và trứng nở Hình thức sinh sản hữu tính của rệp thường bắp gặp ở những vùng có vĩ độ cao, độ dài ngày ngắn và có nhiệt độ thấp trong mùa

đông (Das B,1918[48]; Nagaich và CTV 1970 [90], Verma và CTV 1982 [134]) Theo Verma (1987) [135] khi nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ tới sự phát triển quần thể rệp đào đ1 kết luận nhiệt độ tối thấp cho sự phát

Hwang (1983) [77] khi nghiên cứu sức tăng quần thể rệp đào trên lá

Mật độ rệp đào thường giảm xuống sau tháng 3 – 4 khi nhiệt độ

của ấn Độ (Pushkaruath và Niula, 1970 [110]; Chandla và CTV,1988 [44],

(Pushkaruath, 1959 [109]; Chu Hoàng Phúc, 1960 [159]

là điều kiện sống rất khó khăn với rệp đào, tuy nhiên vẫn có thể có một vài cá thể rệp đào sống sót

Một biện pháp phòng trừ được rất nhiều tác giả đề cập tới trong phòng chống rệp đào là biện pháp hóa học Với gần 40 công trình nghiên cứu các loại thuốc trừ rệp ở các nước: Anh, Bungari, Pháp, Scotlen,

Trang 19

Malaysia, Trung Quốc, Tiệp Khắc, ấn Độ, Ai Cập các tác giả đ1 đi đến nhận xét một số loài thuốc trừ rệp đào tốt nhất đó là : Oxydemetonmethyl, Monoctophos, Montir, Nuvacron và khuyên nên sử dụng một số loại thuốc rắc vào đất hoặc trộn vào hạt như: Phorate 10G, Difulfoton 5G, Menazon, Oncal5G; (Misra 1989 [98]; Pathar 1968 [108]

Tuy nhiên do việc sử dụng thuốc hóa học quá nhiều và thường xuyên trong phòng trừ rệp, vì vậy cho tới nay rệp đào đ1 trở thành một loài chống thuốc Vấn đề này được một số tácgiả nói đến như Choi (1986) [46] đ1 phát hiện thấy rệp đào ở Nam Triều Tiên chống với thuốc Acephate và có tính chống chéo với Cypermethrin và Oxydemeton – methyl Tại Đức Muer (1987) [102] đ1 thấy xuất hiện tính chống thuốc của rệp đào trên củ cải

đường, với những nghiên cứu trong phòng ông đ1 đi tới kết luận M persicae chống chịu rất cao với Dimethoate Bi58 và Dicofol Kelthan, ngoài

ra rệp đào còn có khả năng chống với Cypermerthrin, dầu khoáng

Để khắc phục tính chống thuốc của rệp đào một số tác giả đ1 đi theo hướng tìm ra cách phòng trừ rệp nhằm hạn chế tới mức thấp nhất việc dùng thuốc Kishore và Verma (1990) [82] cho rằng khi mật độ rệp đào trên khoai tây là 20 con /100 lá thì không cần phun thuốc và việc sản xuất giống khoai tây vẫn sẽ thu được kết quả tốt

Trên cây ớt trồng tại ấn Độ Rajagopal (1983) [112] cho rằng mật độ rệp đào ở giai đoạn vườn ươm 5 con / 1 cây cần được phòng trừ Trumble và Batman (1983) [131] khi nghiên cứu sự gây hại của Myzus persicae trên cây dâu tây tại California đ1 có kết luận mật độ rệp đào 30,6 con/ cây gây nguy hiểm cho cây và ngưỡng gây hại trên thuốc lá là 24 con/ 1 lá (Zumreoglu 1986) [144]

Bên cạnh đó để làm giảm sự gây hại của rệp đào Stein (1988) [127]

đ1 tiến hành trồng xen hương nhu với bắp cải tại Thái Lan, kết quả cho thấy, mật độ rệp đào Myzus persicae rất thấp

Trang 20

Ngoài ra những thí nghiệm trong phòng dùng nước có Metanol hay Etanol được chiết từ lá hương nhu để phun trừ rệp đ1 làm chết 77% rệp đào sau 24h

Thời vụ trồng cũng là yếu tố có ảnh hưởng tới sự phát sinh của quần thể rệp đào Trên cây thuốc lá, thời vụ trồng muộn (được trồng tháng 12 – tháng 1) đ1 bị rệp đào gây hại mạnh hơn vụ sớm (Ayala – Sifontes, 1988 [25]

Song cũng như việc phòng chống với các laọi côn trùng khác người ta

đang cố gắng tìm ra hệ thống phòng chống tổng hợp đối vơí rệp muội nói chung và rệp đào nói riêng Trong đó biện pháp sinh vật học đ1 đưa lên hàng đầu Trivedi (1988) [132] đ1 tìm thấy loài kí sinh Aphidius colemani

kí sinh 3 – 70% rệp Myzus persicae trên khoai tây vào tháng 8, 9 và 1 – 2 Ngoài ra còn có 4 loài thiên địch của rệp trong đó có 3 loài họ rùa Menochilus sexmaculatus; Coccinella transversaliss Fabr; Harmonia octomaculatta và một loài ruồi ăn rệp Episyrphus balteatus Tại Mỹ Meadow và CTV (1985) [97]; Kuo – Sell (1989) [83] khi nghiên cứu quần thể rệp đào hại trên cây cà chua, ớt phát hiện loài thiên địch Aphidolates aphidimyza (ruồi) Loài ruồi ăn rệp Xanthograma scutellare (Eschiodon scutellais) và Syrphus confrate cùng được phát hiện tại ấn Độ khi chúng kí sinh trên rệp đào hại thuốc lá Ngoài ra còn tìm thấy loài bọ rùa ăn rệp Menochilus sexmaculatus và loài Aphelinus sp kí sinh trên rệp đào (Rao, 1985) [111] Bằng việc nuôi 20 loài bọ rùa trên thức ăn là rệp đào Hsieh (1985) [76] đ1 tìm ra hệ số hiêu quả nhất của Cocinellid và M persicae là 1:200 Dharpure (1987) [50] đ1 xác định một đời C septempuncatus có thể

ăn hết 1538 con rệp

Ngoài nhóm thiên địch, nhóm kí sinh của rệp đào cũng hết sức phong phú Tại ấn Độ, Califrnia đ1 tìm thấy trên cải xoăn (Hon) có 2 loài kí sinh rệp đào là Diaeretus và Aphidius sp (Chandra và CTV 1987) [53]; Horn (1988) [75] nghiên cứu trên khoai tây cho biết tỷ lệ kí sinh rệp đào bởi loài

Trang 21

Aphelinus sp có khi đạt tới 100% (Verma và CTV, 1976) [133] Khi quan sát quan hệ giữa rệp đào và ong mặt đỏ trên vụ bông xuân (Li và CTV 1988) [122] đ1 thấy loài Aphidius avenae kí sinh tới 80% cá thể rệp đào Ngoài ra rệp đào khi gây hại trên ớt còn bị 2 loài ong kí sinh, đó là Aphidius matricariae và Ephedrrus cerasicola (Hagvar 1988) [62] Tại Ai Cập đ1 phát hiện rệp đào gây hại trên bông và đậu Vicia fabae bị kí sinh bởi loài Aphidius colemani (Selim và CTV 1987) [123]

Nấm gây hại trên rệp đào cũng là loài kí sinh có hiệu quả cao Glare (1986) [61] đ1 phát hiện thấy nấm gây bệnh Zoophthora phalloides Batko

kí sinh trên rệp đào gây hại ớt tại úc

Cho tới nay trên một số cây trồng người ta đ1 xây dựng hệ thống phòng chống tổng hợp về rệp đào: Setiawati và CTV 1992 đ1 đề xuất hệ thống phòng chống tổng hợp rệp đào trên cây khoai tây; Mansur và CTV (1983) [95] đ1 thiết lập hệ thống phòng chống tổng hợp trên rệp đào trên cây đào tại Argentina Rệp bông (Melon Aphid, Cotton Aphid) Aphis gossypii (Glover) Theo Paik (1965) [104] cho biết rệp bông được Glover phát hiện năm 1876 đặt tên là A gossypii Sau đó được nhiều tác giả phát hiện và mang nhiều tên khác nhau Aphis colocariae Matsumura 1917; Toxoptera odorikonis Matsumura 1917; Aphis clerodendri Matsumura 1917; A malvae Takahashi 1921

Rệp bông gây hại phổ biến trên nhiều lọai cây trồng (Raychaudhuri

1983 [113] và chủ yếu là trên cây bông (Xia 1987 [146]; Luo 1986 [89]; Maimi và CTV 1982 [92] ngoài ra chúng còn gây hại trên khoai tây, cà tím, mướp tây, dưa hấu, vừng, hành, dưa chuột, rau họ hoa thập tự, bí ngô, (Moursi và CTV 1985 [101]; Attia và CTV 1984 [24] Rệp bông còn là dịch hại nguy hiểm trên một số cây ăn quả như: nho (Mirica và CTV 1987 [99], cam, chanh, ổi, táo (Nagar và CTV 1984) [91]

Trang 22

A gossypii là một trong những loài rệp đóng vai trò quan trọng trong việc lan truyền virus cuốn lá khoai tây (PLRV) virus Y trên khoai tây (Singh và CTV, 1982) [121], truyền virus gây bệnh hoa chuối (Banana mosaic Disease) (Pandey và CTV, 1981) [107] và virus ZYMV (Zucchini yellow mosaic virus) trên cây dưa hấu và cây bầu (Blua và CTV, 1992 [36]; Castle và CTV, 1992 [41]

Rệp tấn công gây hại ở mặt dưới của lá (Roy và CTV, 1983) [119] chúng xuất hiện đầu tiên trên lá già và sau đó có sự lan dần lên lá non và ngọn (Banerjee, 1985) [28]

ở Châu Âu và ở Bắc Mỹ loài này đ1 luân chuyển và đẻ trứng trên Rhamnus frangila và những cây trồng thuộc họ Biguoniaceae (Eastop, 1966) [55] Tại ấn Độ rệp bông có hai hình thức sinh sản đơn tính đẻ con

và sinh sản hữu tính đẻ trứng Điều này đ1 được Basu và Raychaudhuri công bố năm 1980 [26]

Jawal và CTV (1988) [79] đ1 có những nghiên cứu khá sâu về đặc

70%, thức ăn là ớt Capsicum annuum thì thời gian phát triển của giai đoạn rệp non 9,24 ± 1,01 ngày, sau khi hóa trưởng thành 1 ngày rệp bắt đầu đẻ con, thời gian đẻ con có thể kéo dài từ 9 – 12 ngày, trung bình một con cái

đẻ 36,3 rệp con, trung bình một năm rệp có 31 lứa Vòng đời của rệp được rút ngắn hơn khi nuôi trên dưa chuột trong điều kiện nhiệt độ tương tự xong

ẩm độ có thấp hơn 59,76%, thời gian trung bình của một thế hệ là 7,79 ± 0,39 ngày Sức đẻ trung bình 36,04 ± 0,67 rệp non trên một trưởng thành cái và rệp có 47 thế hệ/1 năm (Attia và CTV, 1984) [24]

Trang 23

Bên cạnh đó một số tác giả đ1 có những nghiên cứu về diễn biến chủng quần rệp A gossypii trên một số cây trồng Rệp bông thường xuất hiện trên khoai tây tại Bắc ấn Độ vào đầu tháng 10 và tiếp tục phát triển cho đến tháng 4 Trong thời kỳ này chúng hình thành 2 đỉnh cao về số lượng, lần thứ nhất có mật độ thấp hơn vào khoảng cuối tháng 11 Và đỉnh cao thứ 2 vào tháng 2 với mật độ cao, sau đó mật độ rệp giảm dần (Verama

và Pariha, 1990) [138] Trên cây bông mật độ rệp bông cao vào tháng 11,

12, 1, 2 trong đó đỉnh cao nhất vào tháng 1 (Roy và CTV, 1983) [119] Sau khi gây hại trên một số cây trồng, rệp bông thường có hiện tượng bay đi tìm những kí chủ mới, đó là sự di cư của rệp Hoạt động bay (phát tán) của rệp bông cao nhất vào đầu tháng 3, số lượng rệp bay vào buổi sáng thường cao hơn rất nhiều so với buổi chiều (George, 1983) [58]

Từ những kết quả nghiên cứu trên cho thấy rệp bông có khả năng phát triển quần thể cao, sức phá hoại lớn vì vậy cần có biện pháp phòng chống hữu hiệu Cho tới nay rất nhiều nhà nghiên cứu cũng như người sản xuất thường cố gắng tìm ra những loại thuốc trừ rệp có độ hữu hiệu cao Dhandapani và CTV (1983) [49] đ1 cho rằng phu Pirimicab 0,1% hoặc Monocrotofos có hiệu lực cao với A gossypii trong suốt thời gian 21 ngày sau phun Ghany và CTV (1992) [59] khi đánh giá hiệu quả của 5 loại thuốc trừ rệp bông đ1 rút ra kết luận: Priothiofos và Chlorpyrophis methyl với lượng 166 g.a.i/100 lít nước thuốc đ1 giữ mật độ rệp thấp hơn đối chứng rất nhiều và những loại thuốc này gây ảnh hưởng ít tới nhóm côn trùng bắt mồi Ngoài ra còn rất nhiều tác giả đ1 có những kết luận về thuốc hóa học trừ rệp bông Nhưng sau khi sử dụng thuốc sâu trong một thời gian dài, trên cây bông tại Sudan người ta thấy có hiện tượng rệp bông trở lại nên gây hại ngày càng trầm trọng hơn (Tigana va CTV 1991) [130] và ở một số nước khác tác giả cũng đ1 phát hiện ra tính chống thuốc của rệp bông Cho tới nay người ta đ1 phát hiện ra rệp bông có tính chống chịu rất cao với các loại thuốc: Carboxylesterases (Brien và CTV, 1992) [40],

Trang 24

Để khắc phục tình trạng chống thuốc của rệp bông và để có thể hạn chế được sự gây hại của rệp bông, một số tác giả đ1 tìm ra các giống kháng rệp bông như: giống bông Gossypium hirsutim (Singh và CTV, 1988) [122], giống ớt Cayenne longslim (Samhan, 1990) [120], giống dưa hấu PMAR

No 5 (Yoshida và CTV, 1991) [140], hoặc biện pháp trồng “cây mồi” Bennison (1992) [32] đ1 trồng cây lúa mì là cây ký chủ phụ của rệp ngô Chính loài rệp ngô này lại có tác dụng duy trì 2 loài ký sinh Aphidoletes aphidiny và Aphididus matricariae trước khi trồng cây dưa chuột Việc làm này có tác dụng rất hữu hiệu làm giảm số lượng rệp bông gây hại cho dưa chuột do rệp bị 2 loài ký sinh trên ký sinh sớm với tỷ lệ ký sinh cao

Biện pháp phòng trừ sinh học đang ngày càng được sử dụng nhiều trong phòng chống rệp bông Trên cánh đồng bông ở Trung Quốc Zhang (1992) [142] đ1 phát hiện thấy 48 loài (thuộc 19 họ) kẻ thù tự nhiên của rệp bông, trong đó nhóm bọ rùa, nhện, ong ký sinh và ruồi ăn rệp đóng vai trò quan trọng trong điều hòa số lượng rệp bông Một con bọ rùa Scymus goffmanni có khả năng ăn 25 rệp bông/ngày Nhện (Erigonidium graminicolum) ăn hết 20 rệp bông/1 ngày Và chrysoperla sinica ăn 30 rệp bông/ngày Zhang (1985) [141] đ1 kết luận rằng: ngoài tự nhiên trên cánh

đồng bông nếu có tỷ lệ bông/thiên địch nhỏ hơn 80/1 sẽ không cần phun thuốc hóa học, ông thấy rằng ngoài các loài bọ rùa Cocconella septempuctata và Propylea japonica, rệp bông trong tháng 6 trên cánh

đồng bông còn bị các loài ong ký sinh như ong mặt đỏ Trioxys spp và Aphelinus sp ký sinh từ 16 – 47,9% rệp bông

Việc sử dụng Baccillus thurigiensis (B T) trong phòng trừ rệp bông gây hại trên dưa chuột tại Liên Xô đ1 cho kết quả tốt làm tăng năng suất

Việc sử dụng từng biện pháp riêng lẻ để phòng trừ rệp bông ngày càng ít hiệu quả vì vậy Dincer (1984) [51] đ1 xây dựng hệ thống phòng chống tổng hợp cho bông tại Thổ Nhĩ Kỳ Hệ thống bao gồm các biện pháp như thời vụ trồng bông tốt sau 20/5, mật độ trồng thưa, nên phun thuốc trừ rệp 2 lần/1 vụ là hợp lý

Trang 25

Rệp cải : Brevicoryne brassicae (Linnaeus) (Cabbage Aphhid, Maely Cabbage Aphid) Theo Paik (1965) [104] cho biết rệp lần đầu tiên phát hiện năm 1758 ở Triều Tiên

Rệp còn được mang tên Aphis brassicae Linnaeus, 1758

Là loài dịch hại quan trọng có mặt ở tất cả các nước trên thế giới đặc biệt là vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Chúng gây hại nặng trên các cây trồng thuộc hoa thập tự như bắp cải, rau cải xanh, súp lơ, cải củ, cải trắng,

su hào và gây hại nhẹ hơn trên cải xoăn (Blackman và CTV, 1984) [35] Trên súp lơ có mật độ cao khi cây bắt đầu ra hoa, làm giảm năng suất và phẩm chất của hoa rất rõ rệt (Mustaf, 1984) [103] Nó làm môI giới truyền khoảng 20 loại bệnh vius như đốm vòng đen cải bắp, bệnh thối vòng cải bắp, khảm súp lơ, khảm rau cảI củ (Blackman 1984) [35]; Choi và CTV

1984 [45]

Ngoài ra khi gây hại rệp cải còn làm chất lượng của hạt cải (hàm lượng Glucosinlates rất cao khi bị rệp gây hại) không có rệp hàm lượng 24,3 Mnules/g; rệp gây hại đầu thời kỳ ra hoa hàm lượng Glucosinultes là 42,5 Muoles/g làm giảm giá thành rau cải Lammerin, 1984) [85]

Những vùng khí hâụ lạnh rệp cải xuất hiện hình thức sinh sản hữu tính, riêng những vùng có mùa đông ấm áp rệp chỉ có sinh sản đơn tính Khi gặp thời tiết lạnh trong quần thể rệp xuất hiện rệp đực có cánh, rệp có cánh đực và cái bay tới cây thuốc (cỏ = herbaceous) để giao phối và đẻ trứng Trứng sẽ giúp cho rệp cải có khả năng qua đông ở những vùng có nhiệt độ rất thấp (Bale và CTV 1987) [27]

Rệp thường nằm ở mặt dưới của lá và xuất hiện sớm trên bắp cải, súp lơ (1 tuần sau trồng), chúng từng xuất hiện muộn trên rau cải khoảng 2 – 3 tuần sau trồng (Chandra và CTV 1984) [43]

Trang 26

Để phòng chống rệp cải người ta đ1 dùng nhiều loại thuốc như Dimethoate, Teepol; Malathion, Pirimicarb, Dimecron vừa có tác dụng diệt rệp và bảo vệ được kẻ thù tự nhiên của rệp (Zumiga 1985 [143]; Dimetry và CTV, 1992 [52]; Zumiga, 1985 [209]; Mesbah và CTV 1990 [100]) Người

ta có thể sử dụng các chất kìm h1m sinh trưởng đối với rệp cải, chẳng hạn qua khảo nghiệm Ammar và CTV (1986) [23] đ1 kết luận rằng 2 chất XRD-473 và IK1-7899 ở nồng độ 0,1 ppm có thể kìm h1m toàn bộ sự phát triển của rệp cải

Một quan điểm khác là sử dụng giống kháng để phòng chống rệp cải, Stone (1992) [128] đ1 sử dụng 2 dòng súp lơ “Broc 5” và “Glossy Andes” cấy 2 gen mới, kết quả cho thấy mật độ rệp cải ở giống mới này thấp hơn 95% so với đối chứng, việc trồng xen cải và đậu mật độ rệp cũng giảm hẳn (Braun, 1993) [39] Phân bón là một biện pháp góp phần làm giảm mật độ rệp cải, bón càng nhiều K thì mật độ rệp cải càng giảm (Marwat Gul Nawas, 1985) [93]

Biện pháp đấu tranh sinh học đ1 và đang được nhiều tác giả quan tâm Horn (1988) [75] đ1 liệt kê các loài ký sinh của rệp cải là Diaeretiella rapae và Alloxysta fuscicornis

Rệp ngô (Rhopalosiphum maidis Fitch) với tên tiếng Anh là corn leaf aphid được Fitch phát hiện vào năm 1885 Trước đó rệp mang tên Aphis maidis Fitch, 1856

Ban đầu rệp ngô thường chỉ gây hại ở Châu á, nhưng tới nay nó đ1 phân bố trên toàn cầu Tuy vậy trong điều kiện mùa đông giá lạnh của Châu

Âu tỷ lệ sống sót của chúng rất thấp Chúng thường phá hại mạnh trên các cây thuộc họ hòa thảo (Gramineae) trong đó cây ngô là kí chủ ưa thích nhất Ngoài ra rệp còn phá hại trên 30 giống cỏ khác nhau như Avena sativa, Secale cercale Rệp ngô là môi giới truyền bệnh theo kiểu sinh học với một số bệnh virus như (barley yellow dwarf, maiz leaf fleck và millet

Trang 27

red leaf) và cũng có thể truyền theo kiểu cơ học một số bệnh virus (abaca musaic) và khảm mía (Dicke, 1989 [53]; Jamornmarm, 1989 [78]) cho rằng khi cây ngô còn nhỏ nếu bị rệp gây hại sẽ làm cho bắp ngô rất ít hạt (Bing

và CTV 1991) [33]

Tại tất cả các nơi rệp ngô phân bố người ta đều thấy rệp chỉ có hình thức sinh sản đơn tính, tuy rằng thỉnh thoảng có bắt gặp rệp ngô đực sống trên các loài cỏ, nhưng chưa bao giờ thấy trứng và sự qua đông ở giai đoạn

độ đến sự phát triển của rệp ngô Elliott và CTV (1988) [57] đ1 tính được

Rệp ngô thường tấn công cây lúa mạch vào giữa tháng 7 và kéo dài tới cuối tháng 10 Số lượng rệp nhiều nhất vào cuối tháng 8 đầu tháng 9 khi lúa mạch đ1 trổ hoa, sau đó mật độ rệp giảm dần (Lazzari và CTV, 1983) [86] Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các giai đoạn phát triển của cây trồng

đến sức sinh sản của rệp, Kieckhefer và CTV (1988) [81] cho rằng cây ngô non dường như miễn dịch đối với rệp ngô Rệp thường có mật độ rất cao ở giai đoạn sắp trổ cờ, phun râu

Để phòng trừ rệp ngô một số tác giả đ1 cho rằng nên sử dụng các loại thuốc như Cacbofuran, Metaphos, Metathion, Phosphamidon và Disulfoton

sẽ có hiệu lực phòng trừ rệp cao và thời gian tồn tại hiệu lực dài (Vidya và CTV, 1983) [139] Việc phòng chống rệp bằng dịch chiết từ rễ cỏ tranh có thể diệt được 76,6% rệp ngô (Abdul và CTV, 1985) [21]

Cũng như các loài rệp khác rệp ngô bị nhiều loài kẻ thù tự nhiên tiêu diệt như loài bọ rùa Coccinella septempunctata, Coccinella undecimpunctata, Orius spp (Heneydy và CTV, 1984) [66] Ngoài ra rệp ngô còn bị nấm Beauveria bassiana gây hại khi mật độ rệp trên nõn và cờ

Trang 28

2 2 Những nghiên cứu trong nước về rệp muội

Rệp muội hại cây trồng đ1 được một số tác giả nhắc tới

Theo tác giả Nguyễn Viết Tùng (1992) [18] thì rệp muội (Aphididae)

là nhóm côn trùng chích hút có tác hại to lớn và sâu xa đến năng suất và phẩm chất của nhiều loại cây trồng thông qua sự gây hại trực tiếp cũng như vai trò môi giới truyền bệnh virus của chúng ở vùng đồng bằng sông Hồng, nhóm sâu hại này khá phổ biến Rất hiếm có loại cây trồng nào không bị rệp muội gây hại Một số loài như rệp đào, rệp bông, rệp xám hạt cải, rệp đen hại đậu, rệp gốc khoai tây đ1 được ghi nhận là những dịch hại nguy hiểm cho mùa màng ở nước ta Theo kết quả điều tra côn trùng (Viện Bảo vệ thực vật, 1967 – 1968) [20] đ1 phát hiện được 9 loài rệp gây hại cây trồng ở Việt Nam Cho đến nay việc phòng chống rệp muội chủ yếu vẫn dựa vào thuốc hóa học, biện pháp đơn độc này đ1 gây ảnh hưởng xấu đến

hệ sinh thái đồng ruộng (Nguyễn Viết Tùng, 1992) [18]

Khi nói về sâu hại rau tác giả Nguyễn Xuân Cung, Vũ Minh (1974) [2] đ1 viết “Rệp rau Brevicoryne brassicae (Linne) phá hại nhiều loại rau thập tự (cải canh, cải bắp, su hào) Nó thường phá hạ mạnh và bám tập chung ở mặt dưới lá, trên ngọn và trên hoa cây giống Khi rệp rau phát triển nhiều, cây rau bị cằn cỗi và héo vàng dần Phạm Thị Nhất (1975) [6] cho rằng rệp muội hại cải Brevicoryne brassicae là một trong những sâu hại quan trọng trong vụ rau Đông xuân Chúng thường phá hại mạnh vào các tháng đầu vụ, sau đó giảm dần và từ tháng 3 – 4 lại phá mạnh “ Tạ Thu Cúc (1979) [1]có nhận xét : “ Cây cải bắp bị một số loài sâu hại chính phá hoại

là : sâu tơ, sâu xanh, bọ nhảy sọc cong, vỏ lạc và rệp muội (Brevicoryne brassicae)” Hồ Khắc Tín (1982) [15] có kết luận: “ Sâu hại quan trọng trên cải bắp là sâu tơ, sâu xanh, sâu xám, bọ nhảy sọc cong vỏ lạc và rệp muội (Brevicorynae brassicae)” Bùi Hải Sơn, Nguyễn Thị Diệp (1990) [12] đ1 thấy rõ sự gây hại nghiêm trọng của loài rệp muội trên rau họ thập tự và bước đầu co nghiên cứu một số đặc tính của lòai ruồi ăn rệp (Ishiodonscutellaris)

Trang 29

Các tác giả nêu trên đều ghi nhận loài rệp hại cải Brevicoryne brassicae

đ1 là loài dịch hại quan trọng trên các cây trông thuộc họ hoa thập tự

Trên cây bông Nguyễn Thơ và tập thể (1991) [13] cho rằng sâu hại bông ở nước ta có nhiều loại, nhưng quan trọng nhất là các loài sâu chích hút như rầy xanh và rệp Aphis gossypii Vũ Khắc Nhượng (1991) [7] khi nói về sâu bệnh hại bông có nhận xét: Khi cây bông vượt qua giai đoạn cây con và bông bắt đầu phân cành lúc này xuất hiện các loại như rầy xanh, rệp muội Aphis gossypii Rệp tập trung sinh sống ở ngọn cây và lá non, chúng làm cành lá bông cong queo, dị hình, không phát triển Điều cần chú ý là rệp muội bị loài bọ rùa tiêu diệt khá nhiều, do vậy cần hết sức bảo vệ và tạo

điều kiện để bọ rùa khống chế sự phát triển của rệp

Nguyễn Viết Tùng (1993) [19] khi nói về sự chu chuyển qua các kí chủ của rệp bông có viết: Rệp bông A gossypii Glover là loài rệp điển hình

ở Việt Nam, chúng có thể phát sinh phát triển quanh năm trên một phạm vi

kí chủ rất rộng gồm các cây trong họ bầu bí, bông, cà, cúc, bìm bìm và hàng loạt cây thân gỗ, thân thảo khác, trong đó phổ biến nhất là các loại dưa, bầu bí, bông, cà, ớt và khoai sọ

Nguyễn Kim Oanh (1991) [8] khi đề cập đến thời gian xuất hiện và mức độ gây hại của các loại rệp gây hại của các loại rệp quan trọng có nhận xét: Rệp bông có mật độ không cao nhưng xuất hiện thường xuyên khi cây khoai có mặt trên đồng ruộng

Từ kết luận của các tác giả trên cho thấy rệp bông là loài rệp đa thưc

điển hình và phá hoại chủ yếu trên bông và khoai tây

Rệp đào Myzus persicae : là loài rệp gây hại trên rất nhiều kí chủ và

đặc biệt nó là môi giới truyền nhiễm loại virus gây bệnh cho cây (Vũ Triệu Mân,1986) [5]

Rệp đào M persicae có mặt trên cây thuốc lá ở tất cả cácvùng tròng thuốc lá như: Lạng Sơn, Sóc Sơn (Hà Nội), Hà Bắc khi thử hiệu lực của một số loại thuốc trừ rệp đào kết quả thí nghiệm cho thấy Monitor, Pirimor, Nuvacron dùng phong trừ rệp mang lại hiệu quả cao (Nguyễn Kim Oanh,

Trang 30

Nguyễn Viết Tùng (1991) [17] có một số nhận xét về chu chuyển phát tán, thời gian qua các giai đoạn phát triển, vòng đời của rệp cũng như diễn biến số lượng rệp đào ở các thời vụ trồng khoai tây khác nhau

Sự gây hại của rệp đào còn rất nghiêm trọng trên cây mận và mơ của tỉnh Lào Cai theo nhận xét của Nguyễn Văn Đĩnh và nông dân huyện Bắc

Hà (Lào Cai) (1995) cho biết: Diện tích trồng mận xấp xỉ 3000ha, rệp đào gây hại làm cho chồi, lá của cây mận bị xoăn lại và ở những cành đó cây không cho quả, ước tính rệp đào đ1 làm giảm ẵ sản lượng thu hoạch

Rệp đen hại đậu (A craccivora) theo Lương Minh Khôi và CTV (1990) [3]; Trần Văn Lai và CTV (1969) [4] cho biết: Khi nghiên cứu về thành phần sâu hại lạc và đậu xanh thì rệp đen hại đậu A craccivora được coi là loài sâu gây hại trên đất rất nặng và gây hại trên lạc tương đối nặng Rệp đen thường có mật độ cao khi cây đậu có hoa và làm ảnh hưởng đáng

kể tới năng suất đậu

Lê Văn Thuyết và CTV (1993) [14] khi nghiên cứu về sâu hại lạc cho biết rệp muội A craccivora Koch là loại sâu chích hút, chúng gây hại nặng trong tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cây lạc xong nó lại chưa được ghi nhận trong danh mục điều tra 1967 – 68 và người nông dân hiểu biết chúng quá ít ỏi

Theo tác giả Nguyễn Viết Tùng (1993) [19] rệp đen hại đậu Aphis craccivora Koch, loài rệp này được bắt gặp nhiều trên đậu đen, đậu đũa,

đậu xanh, lạc, đậu rồng, điền thanh, về mùa đông chúng sinh sống trên các chùm hoa đậu ván, cốt khí

Ngoài các loài rệp kể trên thì rệp ngô R maidis loài có mặt trên nhiều loại cây trồng và cỏ dại thuộc họ hỏa thảo song gây hại quan trọng nhất là trên ngô Rệp xuất hiện trên tất cả các thời vụ ngô từ lúc ngô mới 3 – 4 lá cho đến thời kỳ chín sáp ở thời kỳ đầu rệp phân bố chủ yếu trong loa kèn, thời kỳ trổ cờ phun râu rệp phân bố chủ yếu ở cờ ngô, áo bắp non và mặt trong của bẹ lá Đây là thời kỳ rệp có mật độ cao nhất trên ngô (Nguyễn Viết Tùng, 1993 [11]; Nguyễn Kim Oanh, 1992 [10]

Trang 31

Nguyễn Kim Oanh, 1992 [10] công bố các kết quả về thời gian phát triển, nhịp điệu và khả năng sinh sản, sự biến động mật độ rệp ngô các giống ngô của Viện nghiên cứu ngô cũng như mật độ rệp ngô ở các thời

điểm phun thuốc phòng trừ rệp ngô khác nhau

Nguyễn Kim Oanh, 1993 [11] đ1 nghiên cứu về một số chỉ tiêu sinh học cơ bản của rệp ngô ở 2 điều kiện nhiệt độ nuôi khác trong phòng thí

ngô qua các tháng điều tra và hiệu lực của một số loại thuốc trong phòng trừ rệp ngô

Loài rệp gốc khoai tây R.rufiabdominalis lần đầu tiên được tác giả Nguyễn Viết Tùng (1993) [19] phát hiện trên ruộng khoai tây ở HTX Văn Lâm – Hải Hưng Đây là đối tượng nguy hiểm Loài rệp gốc khoai đến nay

đ1 nổi lên như một đối tượng gây hại quan trọng tại khắp các vùng tròng khoai tây ở Miền Bắc nước ta Chúng tấn công vào phần gốc khoai tây, kể cả các tia củ, rệp hút dịch cây làm cho cây bị héo vàng và chết hàng loạt vào thời điểm 60 ngày sau trồng, làm giảm năng suất một cách đáng kể

Nguyễn Kim Oanh (1995) đ1 công bố kết quả nghiên cứu các chỉ tiêu sinh học của rệp rễ, danh mục các loài kí chủ phụn của rệp rễ cũng như việc xem xét ảnh hưởng của mưa, chế độ tưới nước, tới mật độ rệp và xử lý các loại thuốc hóa học trong phòng chống chúng (Báo cáo tại Hội nghị khoa học của NCS Khoa học trồng trọt 1995)

Qua những nghiên cứu trong và ngoài nước đ1 sơ bộ kết luận rằng rệp muội hại cây có vai trò ngày càng cao đối với một số cây trồng như bôg, thuốc lá, ngô, đậu đỗ, các loại rau họ cải, khoai tây mận Việc lập danh mục rệp muội hại trên cây trồng là cần thiết Trên cơ sở đó điều tra để xác

định loài gây hại quan trọng và từng bước tiến hành nghiên cứu các đặ điểm sinh học phát triển và khả năng phòng chống chúng Nhiệm vụ đó nhằm

Trang 32

Từ những kết quả nghiên cứu trong nước đ1 trình bày ở trên và kết quả điều tra người sản xuất chúng tôi thấy rằng những loài rệp muội hại sau

đây thường xuất hiện và gây hại nặng trên các cây trồng ở nước ta:

1 Rệp đào : Myzus persicae (Sulzer) hại nhiều trên thuốc lá, khoai tây, cây thuộc họ hoa thập tự và các cây họ cà khác

2 Rệp bông: Aphis gossypii (Glover) hại nhiều trên cây bông, ớt, khoai tây

3 Rệp đen: Aphis craccivora (Koch) hại nhiều trên đậu đen, đậu xanh, đậu ván, điền thanh và 1 số cây họ đậu khác

4 Rệp cải: Brevicoryne brassicae (L.) hại nhiều trên cải xanh, cải trắng, bắp cải, su hào và một số cây khác thuộc họ hoa thập tự

5 Rệp ngô: Rhopalosiphum maidis (Fitch) hại nhiều trên ngô và một số cây trồng, cây cỏ thuộc họ hoa thập tự

6 Rệp rễ: Rhopalosiphum rufiabdominalis (Sasaki) hại nhiều trên rễ khoai

Sáu loài rệp nêu ở trên trong nhiều trường hợp là những sâu hại quan trọng với từng loại cây trồng, chúng rất cần được quan tâm nghiên cứu

Trang 33

3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: thiên địch rệp muội: bọ rùa, bọ xít, nhện, bọ chân chạy, bọ cánh cộc, ruồi ăn rệp

Địa điểm: Các vùng nông nghiệp lân cận huyện Gia Lâm

Vật liệu: Các dụng cụ thu bắt, nhân nuôi: vợt, chai lọ, hộp nuôi cấy, các dụng cụ thu bắt khác

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2007

3.2 Nội dung nghiên cứu

Điều tra thành phần thiên địch rệp muội

Phương pháp điều tra: Điều tra tự do theo phương châm càng nhiều

điểm điều tra càng tăng thêm cơ hội bắt gặp Phải chụp ảnh và thu mẫu để tiến hành mô tả kết hợp với điều tra định kỳ (10 ngày/1 lần) trên một đơn vị

điều tra cố định để theo dõi được mật độ của đối tượng nghiên cứu

a Điều tra thành phần thiên địch rệp muội

Phương pháp điều tra tự do theo phương trâm càng nhiều điểm điều tra càng tăng thêm cơ hội bắt gặp Chụp ảnh và thu mẫu Để tiến hành mô tả kết hợp với điều tra định kỳ (10 ngày/1 lần) trên một đơn vị điều tra cố định

để theo dõi được mật độ của đối tượng nghiên cứu

b Tìm hiểu quá trình phát triển cá thể có một số loài thiên địch chủ yếu

- Tìm hiểu thành phần và mức độ xuất hiện rệp muội, thành phần và mức độ xuất hiện các loài thiên địch rệp muội tại địa điểm điều tra

Phương pháp nghiên cứu

Phơng pháp điều tra: Điều tra tự do theo phơng châm càng nhiều

điểm điều tra càng tăng thêm cơ hội bắt gặp, Theo dõi ngẫu nhiên với

ph-ơng châm gặp là bắt, càng đợc nhiều càng tốt Phải chụp ảnh và thu mẫu để

Trang 34

tiến hành mô tả kết hợp với điều tra định kỳ (10 ngày/1 lần) trên một đơn vị

điều tra cố định để theo dõi đợc mật độ của đối tợng nghiên cứu

Phơng pháp bắt dùng vợt, ống hút, bắt tay… Mẫu côn trùng thu đợc cho ngay vào lọ, sau 15-20 phút chuyển sang lọ đựng mẫu khác giữ cho chúng không bị mất màu hoặc không bị g1y chân, cánh Đối với các loại lớn chúng tôI cố gắng phát hiện và quan sát kỹ bằng mắt các hoạt động sống của côn trùng và thức ăn thích hợp khác của nó ngoài tự nhiên

Phơng pháp theo dõi: Thu bắt mẫu theo 5 điểm đờng chéo

Thu thập số liệu: Ghi chép lại những mẫu đ1 thu bắt đợc: Số lợng mẫu, ngày giờ, địa điểm thu bắt

Phương pháp điều tra: Theo dõi ngẫu nhiên với phương châm gặp là bắt, càng được nhiều càng tốt

Phương pháp theo dõi: Thu bắt mẫu theo 5 điểm đường chéo

Thu thập số liệu: Ghi chép lại những mẫu đ1 thu bắt được: Số lượng mẫu, ngày giờ, địa điểm thu bắt

Chỉ tiêu theo dõi: Mức độ phổ biến của nhóm thiên địch ăn rệp muội

Tổng số lần bắt gặp Tần số bắt gặp (%) =

+++: Xuất hiện nhiều (> 60% số lần bắt gặp)

++ : Xuất hiện trung bình (41 – 60% số lần bắt gặp) + : Xuất hiện ít (16 - 41% số lần bắt gặp)

- : Xuất hiện rất ít (0 – 15% số lần bắt gặp)

Điều tra diễn biến số lượng những loài thiên địch chủ yếu có mặt trên

đồng ruộng

Trang 36

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Thành phần và đặc điểm gây hại của rệp muội vùng Hà Nội

Trong suốt những năm gần đây quá trình đô thị hoá dạng diễn ra một cách mạnh mẽ Những vùng ven đô dang dần trở thành các trung tâm cung cấp nguồn rau sạch cho toàn thành phố, trong đó Gia Lâm cũng là một đơn

vị Nhiều x1 đ1 tập trung vào chuyên canh rau sạch Tuy nhiên, trong suốt quá trình phát triển của rau trên đồng ruộng, cây rau còn gặp nhiều khó khăn Sâu hại rau ảnh hưởng mạnh mẽ nhất tới năng suất và chất lượng rau Rệp muội là một ví dụ điển hình, chúng sống thành từng quần thể với mật

độ cao có lúc lên tới 400-500 con/1lá, chúng bám vào mặt sau của lá chích hút dịch cây làm cho cây còi cọc mất năng suất có thể gây hại nặng hơn tới mức không được thu hoạch Chính vì vậy công tác bảo vệ thực vật phòng chống sâu bệnh cho rau là vấn đề cấp bách

Thành phần rệp muội hại cây trồng phổ biến vùng Hà Nội mà chúng tôi thu thập được là khá phong phú, bao gồm 11 loài thuộc họ phụ Aphidinae (Bảng 4.1)

Bảng 4.1 Thành phần rệp muội hại cây trồng chính vùng Hà Nội

Họ phụ (Subfamily)

Mức độ xuất hiện

6

Rhopalosiphum

rufiabdominalis

(Sasaki)

Trang 37

Glover

++: xuất hiện trung bình từ 11-25%;

+++: xuất hiện nhiều > 25%

Trong số 11 loài rệp muội kể trên có 4 loài thường xuyên có mặt trên các loại cây trồng đó là rệp bông A gossypii; rệp đen A craccivora, rệp ngô

R maidis, rệp xám hại cải B brasicae, chúng được coi là rệp muội hại quan trọng trên cây bông, đậu, ngô, cải, khoai tây và một số cây trồng khác Trong đó rệp bông A gossypii xuất hiện với 5 loại hình màu sắc khác nhau trên nhiều loại cây trồng Tuy nhiên với đặc điểm cơ thể nhỏ, ống bụng đen, trán không lõm và các đặc điểm về râu, đuôi đ1 cho ta dễ phân biệt với các loài rệp muội khác Trong điều kiện sinh sống thuận lợi chúng dễ phát triển thành dịch gây thiệt hại lớn với sản xuất

4.1.1 Thành phần rệp muội hại trên cây ngô

Rệp ngô (R maidis) chúng tôi tìm thấy trên ngô ở Đặng Xá, Văn

Đức, Cổ Bi, loài này xuất hiện và gây hại rất sớm trồng vụ trồng ngô Loài này thường sống chủ yếu ở trong nõn ngô khi cây ngô còn non, rệp sống trên cờ và lá bao cờ ở giai đoạn ngô trước trổ cờ và sống ở lá bao bắp thứ 2

và 3 (kể từ ngoài vào) ở giai đoạn ngô mang bắp Nếu mật độ rệp R maidis cao ở giai đoạn cây ngô non sẽ làm cây sinh trưởng còi cọc Nếu mật độ rệp ở cờ ngô cao thường làm cho cờ ngô khô và bắp thường ít hạt, hạt lép ở giai đoạn ngô mang bắp nếu mật độ rệp cao thường làm cho bắp

nở, lá bao bắp bị úa vàng và có lớp muội đen phát triển, hạt ngô ít Rệp gây

Trang 38

hại trên rất nhiều kí chủ khác nhau thành phần cây kí chủ của rệp ngô được trình bày ở bảng 4.2

Bảng 4.2 Thành phần rệp hại ngô vụ xuân hè năm 2007

Mức độ gây hại của rệp qua các tháng

TT Tên Việt Nam Tên khoa học

++: xuất hiện trung bình từ 11-25%;

+++: xuất hiện nhiều > 25%

Từ trước tới nay các tài liệu ở nước ta chỉ nhắc tới loài rệp muội hại ngô R maidis Trong thời gian nghiên cứu, chúng tôi thấy trên cây ngô vụ xuân hè 2007, có 3 loài rệp đó là R.maidis, A gossypii, M persicae Tuy nhiên

sự gây hại chủ yếu và phổ biến ở các vùng trồng ngô là loài R maidis Loài này thường xuất hiện và gây hại rất sớm ở tất cả các thời vụ trồng ngô trong năm và thường sống chủ yếu trong nõn ngô khi cây ngô còn non, rệp sống trên

cờ và lá bao cờ ở giai đoạn ngô trước trổ cờ và sống lá ở lá bao bắp thứ 2 và 3 (kể từ ngoài vào) ở giai đoạn ngô mang bắp Nếu mật độ rệp R.maidis cao ở giai đoạn cây ngô non thường sinh trưởng còi cọc Nếu mật độ rệp ở cờ ngô cao thường làm cho cờ ngô khô và bắp thường ít hạt, hạt lép ở giai đoạn ngô mang bắp nếu mật độ rệp cao thường làm cho bắp nhỏ ít hạt, lá bao bắp bị úa vàng và có lớp muội đen phát triển, hạt ngô nhỏ

R maidis là môi giới truyền theo kiểu bền vững các loại virus gây bệnh trên lá ngô, vàng lùn lúa mạch, đỏ lá kê Chúng là môi giới truyền theo kiểu không bền vững các loại virus gây bệnh khảm lùn ngô, khảm lá mía và khảm lá chuối sợi (Blackman và Eastop, 1987) [35]

Ngoài ra chúng tôi còn rải rác bắt gặp hai loài rệp muội đa thực điển hình đó là A gossypii và M persicae Chúng xuất hiện trên cây ngô vào

Trang 39

những tháng mùa xuân ở mặt dưới của lá ngô bánh tẻ nhưng gây hại không

đáng kể

Hình 4.1 Rệp muội gây hại ngô Rhopalosiphum maidis Fitch

(Theo Shepard)

4.1.2 Thành phần rệp muội hại trên cây cam quýt

Đây là loài A citricola là loài gây hại tương đối quan trọng trên cam chanh Rệp thường tập trung gây hại ở lá non và ngọn cây cam chanh hoặc trên đỉnh hoa làm cho lá bị cuốn lại, gồ ghề, ngọn xoăn Khi mật độ rệp cao nó

có thể nằm cả mặt trên, mặt dưới của các lá gần ngọn và bám cả phần thân

Rệp thường tạo thành một lớp muội đen phủ lên các lá gần ngọn cây cam chanh ở giai đoạn cây có hoa, quả rệp gây hại làm hoa bị thui, hoặc quả bị rụng non Rệp xuất hiện phổ biến ở các vùng trồng cam chanh ở nứoc Việt nam

Rệp muội gây hại trên cây cam quýt khá phổ biến, gồm 3 loài đó là:

- Rệp cam chanh Aphis citriccola

- Rệp muội Aphis nerii

- Rệp bông Aphis gossypii

Trong 3 loài rệp trên, loài Aphis gossypii là loài gây hại tương đối

Trang 40

cây cam chanh hoặc trên đỉnh hoa làm cho lá bị cuốn lại, gồ ghề, ngọn xoăn Khi mật độ rệp cao nó có thể nằm cả mặt trên, mặt dưới của các lá gần ngọn và bám cả phần thân Rệp thường tạo thành một lớp muội đen phủ lên các lá gần ngọn cây cam chanh ở giai đoạn cây có hoa, quả rệp gây hại làm cho hoa bị thui, hoặc quả bị rụng non

Bảng 4.3 Thành phần rệp hại trên cây cam quýt vụ xuân hè năm 2007

++: xuất hiện trung bình từ 11-25%;

+++: xuất hiện nhiều > 25%

Loài Aphis nerii thường bám ở phần thân còn non và Aphis citriccola xuất hiện rải rác ở mặt dưới của lá bánh tẻ và thường vào khoảng tháng 3–4 trong năm, mật độ thường thấp và tác hại không rõ rệt

Hình 4.2 Rệp muội gây hại đậu Aphis craccivora Koch

(Theo Shepard)

Ngày đăng: 20/11/2013, 16:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Thành phần rệp muội hại cây trồng chính vùng Hà Nội  TT  Tên khoa học  Ký chủ - Nghiên cứu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng gia lâm   hà nội
Bảng 4.1. Thành phần rệp muội hại cây trồng chính vùng Hà Nội TT Tên khoa học Ký chủ (Trang 36)
Hình 4.1 Rệp muội gây hại ngô Rhopalosiphum maidis Fitch  (Theo Shepard) - Nghiên cứu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng gia lâm   hà nội
Hình 4.1 Rệp muội gây hại ngô Rhopalosiphum maidis Fitch (Theo Shepard) (Trang 39)
Hình 4.2. Rệp muội gây hại đậu Aphis craccivora Koch   (Theo Shepard) - Nghiên cứu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng gia lâm   hà nội
Hình 4.2. Rệp muội gây hại đậu Aphis craccivora Koch (Theo Shepard) (Trang 40)
Bảng 4.3. Thành phần rệp hại trên cây cam quýt vụ xuân hè năm 2007  TT  Tên Việt Nam  Tên khoa học  Họ  Bé  TÇn sè - Nghiên cứu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng gia lâm   hà nội
Bảng 4.3. Thành phần rệp hại trên cây cam quýt vụ xuân hè năm 2007 TT Tên Việt Nam Tên khoa học Họ Bé TÇn sè (Trang 40)
Bảng 4.4. Thành phần rệp trên cây rau họ thập tự vụ xuân hè năm 2007  Sự xuất hiện qua các tháng  TT  Đối t−ợng cây - Nghiên cứu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng gia lâm   hà nội
Bảng 4.4. Thành phần rệp trên cây rau họ thập tự vụ xuân hè năm 2007 Sự xuất hiện qua các tháng TT Đối t−ợng cây (Trang 41)
Hình 4.3. Rệp bông Aphid gossypii Glover  (Theo Shepard) - Nghiên cứu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng gia lâm   hà nội
Hình 4.3. Rệp bông Aphid gossypii Glover (Theo Shepard) (Trang 42)
Bảng 4.6 Thành phần thiên địch của rệp hại trên cây rau họ hoa thập tự vụ  xu©n hÌ n¨m 2007 - Nghiên cứu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng gia lâm   hà nội
Bảng 4.6 Thành phần thiên địch của rệp hại trên cây rau họ hoa thập tự vụ xu©n hÌ n¨m 2007 (Trang 43)
Bảng 4.5 Thành phần thiên địch của rệp hại ngô vụ xuân hè năm 2007. - Nghiên cứu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng gia lâm   hà nội
Bảng 4.5 Thành phần thiên địch của rệp hại ngô vụ xuân hè năm 2007 (Trang 43)
Bảng 4.7 Thành phần thiên địch của rệp hại trên cây cam quýt vụ xuân hè  n¨m 2007 - Nghiên cứu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng gia lâm   hà nội
Bảng 4.7 Thành phần thiên địch của rệp hại trên cây cam quýt vụ xuân hè n¨m 2007 (Trang 44)
Hình 4.5. Bọ rùa vằn chữ nhân  (Coccinella transversalis Thunberg) - Nghiên cứu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng gia lâm   hà nội
Hình 4.5. Bọ rùa vằn chữ nhân (Coccinella transversalis Thunberg) (Trang 45)
Hình 4.6. Bọ rùa 6 vằn đen  (Menochilus sexmaculata Fabr) - Nghiên cứu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng gia lâm   hà nội
Hình 4.6. Bọ rùa 6 vằn đen (Menochilus sexmaculata Fabr) (Trang 46)
Hình 4.9. Bọ cánh cộc đen   (Synharmonia octomacalata Fabr.) - Nghiên cứu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng gia lâm   hà nội
Hình 4.9. Bọ cánh cộc đen (Synharmonia octomacalata Fabr.) (Trang 49)
Hình 4.8. Bọ cánh cộc nâu  (Paederus fuscipes Curtis)  (Theo Trần Đình Chiến) - Nghiên cứu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng gia lâm   hà nội
Hình 4.8. Bọ cánh cộc nâu (Paederus fuscipes Curtis) (Theo Trần Đình Chiến) (Trang 49)
Hình 4.10. Ruồi ăn rệp bụng vàng  (Episyrphus balteatus De geer) - Nghiên cứu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng gia lâm   hà nội
Hình 4.10. Ruồi ăn rệp bụng vàng (Episyrphus balteatus De geer) (Trang 50)
Hình 4.14. Nhện nhảy (Bianor  hotingchichi Schenkel) (Theo - Nghiên cứu về thành phần và đặc điểm sinh thái học của nhóm thiên địch bắt mồi rệp muội trong vụ xuân hè ở vùng gia lâm   hà nội
Hình 4.14. Nhện nhảy (Bianor hotingchichi Schenkel) (Theo (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w