1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại hưng yên vụ xuân 2007

124 599 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại Hưng Yên vụ xuân 2007
Tác giả Nguyễn Bá Thưởng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Đĩnh
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Bảo Vệ Thực Vật
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 9,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn, tiến sĩ, thạc sĩ, báo cáo, khóa luận, đề tài

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I

-

Nguyễn bá thưởng

Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại Hưng Yên vụ xuân 2007

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đ0 được cám ơn và các thông tin trích dẫn đ0 được chỉ rõ nguồn gốc

Hà nội, ngày tháng năm 2007

Tác giả luận văn

Nguyễn Bá Thưởng

Trang 3

Lời cảm ơn

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn

Đĩnh người đ0 trực tiếp hướng dẫn và chỉ dẫn tận tình, tạo mọi điều kiện giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Để hoàn thành luận văn này tôi đ0 nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình và động viên của các nhà khoa học, của tập thể giáo viên Bộ môn côn trùng, các cán bộ của Trung Tâm BVTV Phía Bắc – Cục BVTV

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô khoa sau đại học đ0 tạo

điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khoá học này

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình và bạn bè,

đồng nghiệp đ0 động viên giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt khoá học này

Hà Nội, ngày tháng năm 2007

Tác giả luận văn

Nguyễn Bá Thưởng

Trang 4

Môc lôc

4.1.2 T×nh h×nh s¶n xuÊt lóa lai vµ lóa thuÇn cña HTX Trung Hoµ 40 4.2 Thµnh phÇn s©u h¹i lóa lai vµ lóa thuÇn t¹i HTX Trung Hoµ, Yªn

Trang 5

4.3 Diễn biến mật độ và yếu tố ảnh hưởng đến mật độ của 4 loài sâu

hại chủ yếu trên cây lúa lai và lúa thuần vụ xuân 2007 tại HTX

4.3.4 Sâu đục thân bướm 2 chấm Scirpophaga incertulas Walker 58

4.5 Diễn biến mật độ và yếu tố ảnh hưởng đến mật độ Nhện lớn bắt

mồi trên lúa lai và lúa thuần vụ xuân 2007 tại HTX Trung Hoà,

4.5.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến mật độ Nhện lớn bắt mồi trên 2 giống

lúa lai và lúa thuần tại HTX Trung Hoà, Yên Mỹ, Hưng Yên 64 4.6 Biện pháp hoá học phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ và rầy nâu trên lúa

4.6.3 Thí nghiệm tìm hiểu ảnh hưởng của mật độ rầy nâu đến năng suất

Trang 6

Danh môc ch÷ viÕt t¾t

Trang 7

Danh mục bảng

4.1 Tình hình sản xuất lúa lai, lúa thuần của HTX Trung Hoà qua

4.2 Thành phần sâu hại trên giống lúa lai Nhị −u 838 và giống lúa

4.3 Mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên 2 giống lúa lai và lúa thuần ở các

mức đạm khác nhau tại HTX Trung Hoà, Yên Mỹ, H−ng Yên 47

4.4 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên 2 giống lúa lai và lúa thuần

4.5 Mật độ rầy nâu trên 2 giống lúa lai và lúa thuần theo yếu tố chân

4.6 Mật độ rầy nâu trên 2 giống lúa lai và lúa thuần ở 3 mật độ cấy

4.7 Mật độ rầy l−ng trắng trên 2 giống lúa lai và lúa thuần theo yếu tố

4.8 Mật độ rầy l−ng trắng trên 2 giống lúa lai và lúa thuần ở 3 mật độ

4.9 Tỷ lệ hại của sâu đục thân 2 chấm trên 2 giống lúa lai và lúa

thuần theo yếu tố thời vụ tại HTX Trung Hoà, Yên Mỹ, H−ng

4.10 Tỷ lệ hại của sâu đục thân 2 chấm trên 2 giống lúa lai và lúa

thuần ở 3 mật độ cấy tại HTX Trung Hoà, Yên Mỹ, H−ng Yên 62 4.11 Thành phần nhện lớn bắt mồi trên giống lúa lai Nhị −u 838 và

Trang 8

4.12 Mật độ nhện lớn bắt mồi trên 2 giống lúa lai và lúa thuần theo

yếu tố chân ruộng tại HTX Trung Hoà, Yên Mỹ, H−ng Yên vụ

4.13 Mật độ nhện lớn bắt mồi trên 2 giống lúa lai và lúa thuần ở 3 mật

độ cấy tại HTX Trung Hoà, Yên Mỹ, H−ng Yên vụ xuân 2007 68 4.14 Mật độ sâu cuốn lá nhỏ và tỷ lệ lá hại qua các kỳ điều tra 69

4.17 Hiệu lực của một số loại thuốc hoá học đối với rầy nâu 71

4.20 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thống kê 74

Trang 9

Danh mục hình

4.1 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên giống lúa lai và lúa

thuần tại HTX Trung Hòa-Yên Mỹ-H−ng Yên vụ xuân 2007 45 4.2 Diễn biến mật độ rầy nâu trên giống lúa lai và lúa thuần tại

4.3 Diễn biến mật độ rầy l−ng trắng trên giống lúa lai và lúa thuần

4.4 Diễn biến mật độ sâu đục thân 2 chấm trên giống lúa lai và lúa

thuần tại HTX Trung Hòa-Yên Mỹ - H−ng Yên vụ xuân 2007 59 4.5 Tỷ lệ dảnh héo, bông bạc do sâu đục thân 2 chấm trên giống

lúa lai và lúa thuần tại HTX Trung Hòa-Yên Mỹ-H−ng Yên vụ

4.6 Diễn biến mật độ Nhện lớn bắt mồi tổng số trên giống lúa lai

và lúa thuần tại HTX Trung Hòa-Yên Mỹ-H−ng Yên vụ xuân

Trang 10

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Lúa là cây lương thực quan trọng hàng đầu ở nước ta và nhiều nước trên thế giới, là nguồn thức ăn chủ yếu của trên 3 tỷ dân sống ở châu á và cung cấp 1/3 lượng calo cần thiết cho gần 1,5 tỷ dân ở châu Phi và châu Mỹ La tinh (FAO,1995) [91] ở nước ta lúa là cây trồng chính, cung cấp lương thực và là ngành sản xuất truyền thống trong nông nghiệp, hàng năm cây lúa đáp ứng khoảng 80% tổng sản lượng lương thực của cả nước Theo Quyết định 150/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (về Phê duyệt quy hoạch chuyển

đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản đến năm 2010 và tầm nhìn 2020), thì mục tiêu sản xuất lúa của Việt Nam là duy trì diện tích trồng lúa ở mức 3,96 triệu ha và sản lượng lúa đạt 40 triệu tấn, tăng 5,5 triệu tấn so với năm 2003

Để tăng sản lượng lúa, khả năng mở rộng diện tích không nhiều, do đó chủ yếu vẫn dựa vào tăng năng suất, trong đó dùng giống năng suất cao là một trong những biện pháp quan trọng và có hiệu quả (Nguyễn Khắc Quỳnh và Ngô Thị Thuận, 2006) [39] Những năm gần đây, các giống lúa mới đặc biệt

là các giống lúa lai có tiềm năng năng suất cao đ0 được đưa vào gieo trồng với diện tích lớn ở các tỉnh phía Bắc Hầu hết các giống lúa này đều có phản ứng nhiễm đối với một số loài dịch hại và đòi hỏi mức thâm canh cao Giống nhiễm cộng với việc đầu tư thâm canh với lượng phân hoá học cao làm cho ruộng lúa luôn xanh tốt càng tạo điều kiện thuận lợi cho dịch hại phát triển,

đồng thời việc sử dụng thuốc hoá học Bảo vệ thực vật (BVTV) chưa hợp lý đ0 gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng: gây ô nhiễm môi trường, phá vỡ cân bằng sinh thái, làm bùng phát số lượng một số loài thứ yếu Một số loài như Sâu

đục thân lúa bướm 2 chấm, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, rầy lưng trắng, trong những năm gần đây phát sinh trên diện rộng và đ0 trở thành dịch hại nguy

Trang 11

hiểm Theo báo cáo tổng kết công tác BVTV các tỉnh, thành phố phía Bắc sâu cuốn lá nhỏ gây hại nặng ở Phú Thọ, Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng trong

vụ xuân năm 2004 và vụ xuân 2005, sâu đục thân bướm 2 chấm gây hại nặng

ở Hải Phòng, Thái Bình vụ mùa 2005 v.v (Trung tâm BVTV phía Bắc 2005; 2006) [47], [48]

Cũng giống như tình hình chung của các tỉnh phía Bắc, những năm gần

đây ở Hưng Yên diện tích gieo trồng lúa lai cũng được mở rộng, và việc thay

đổi cơ cấu giống lúa cũng dẫn đến diễn biến của dịch hại ngày càng phức tạp

và mức độ gây hại của chúng cũng ngày một tăng lên

Để đảm bảo sản lượng lúa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của con người, ngoài vấn đề gieo trồng các giống lúa có tiềm năng năng suất cao thì việc bảo vệ năng suất nhằm giảm tổn thất do dịch hại gây ra là một công việc có ý nghĩa lớn Thành phần loài dịch hại, diễn biến và mức độ gây hại của một số loài dịch hại chủ yếu trên cây lúa ở nước ta đ0 được tiến hành ở nhiều cơ quan nghiên cứu, trường đại học và đ0 được xác định là rất phong phú và

đa dạng Nhưng những nghiên cứu về thành phần loài dịch hại, diễn biến và mức độ gây hại của một số loài dịch hại chủ yếu trên cây lúa lai ở nước ta chưa nhiều, kết quả thu được ở nhiều mức độ khác nhau Tuy nhiên, ở từng vùng, từng tỉnh, từng cơ sở sản xuất có điều kiện sinh thái khác nhau sẽ có

đặc thù riêng về loài dịch hại cũng như diễn biến và mức độ gây hại của chúng Vì vậy cần thiết phải điều tra, xác định cụ thể hoá để có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu, bảo vệ năng suất, phẩm chất cây trồng, đồng thời làm căn cứ dữ liệu cho công tác dự tính dự báo cũng như công tác chỉ đạo BVTV đạt hiệu quả cao

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, được sự phân công của Bộ môn Côn trùng - Khoa Nông học - Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một

số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại Hưng Yên vụ xuân 2007 "

Trang 12

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

Trên cơ sở xác định sự khác biệt về tinh hình phát sinh gây hại của một

số loài sâu hại chủ yếu trên lúa lai tại Hưng yên vụ xuân 2007 và thử nghiệm biện pháp hoá học phòng trừ chúng sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học trong quản lý dịch hại tổng hợp lúa xuân

1.2.2 Yêu cầu

- Điều tra thành phần sâu hại trên cây lúa lai tại Hưng Yên vụ xuân

2007, xác định các loài gây hại chủ yếu

- Nắm được diễn biến số lượng, mức độ tác hại của 4 loài gây hại chủ yếu trên lúa xuân (Sâu đục thân bướm 2 chấm, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, rầy lưng trắng) trên 2 giống lúa lai và lúa thuần Trung Quốc phổ biến tại Hưng Yên

- Điều tra thành phần nhện lớn bắt mồi trên ruộng lúa lai và lúa thuần phổ biến tại Hưng Yên

- Tìm hiểu khả năng phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ và rầy nâu trên lúa lai bằng biện pháp hoá học

Trang 13

2 Tổng quan nghiên cứu

2.1.Cơ sở khoa học của đề tài

Các loài sinh vật trong một hệ sinh thái tạo thành một lưới thức ăn phức tạp và cùng bị tác động bởi các yếu tố môi trường sống Giữa chúng hình thành sự cân bằng tự nhiên, tức là các mối liên hệ tác động lên nhau đ0 được

ổn định Nhưng trong thực tế mối liên hệ giữa các loài sinh vật không bao giờ

ở trạng thái hoàn toàn ổn định và sự cân bằng tự nhiên luôn luôn dao động

Trong hệ sinh thái nông nghiệp, các loài dịch hại tồn tại trong mối quan

hệ thống nhất với môi trường sống Sự biến động số lượng loài này hay loài khác phụ thuộc vào sự bất lợi hay thuận lợi của môi truờng sống

Để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, con người không ngừng hoàn thiện hệ thống canh tác, áp dụng các biện pháp canh tác tiên tiến hơn phù hợp với điều kiện tự nhiên, x0 hội của từng vùng Điều này đ0 phần nào làm thay đổi các yếu tố sinh thái trong môi trường sống, dẫn đến làm thay đổi mật độ của chủng quần dịch hại, một số dịch hại có xu hướng tăng lên

và một số dịch hại có xu hướng giảm đi Trong điều kiện thoả m0n tối đa các yêu cầu sống, dịch hại sẽ bùng phát về số lượng và phát sinh thành dịch Nghiên cứu động thái quần thể giúp cho việc dự tính được số lượng quần thể sâu hại và thiên địch quan trọng của chúng trong điều kiện đồng ruộng Vì vậy hiểu biết về hệ sinh thái đồng ruộng sẽ là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp thâm canh, bảo vệ cây lúa tránh những mất mát do dịch hại gây ra,

đảm bảo năng suất, bảo vệ môi sinh và góp phần giữ cân bằng sinh thái

Đối với ngành sản xuất lúa, một trong những biện pháp quan trọng và hiệu quả nhất để tăng năng suất, tăng sản lượng lúa trên một đơn vị diện tích

là sử dụng giống lúa có năng suất cao Theo Nguyễn Khắc Quỳnh và Ngô Thị

Trang 14

Thuận (2006) [39], trong những năm gần đây, các giống lúa có tiềm năng năng suất cao đặc biệt là các giống lúa lai đ0 được đưa vào gieo trồng ở nước

ta với diện tích ngày càng mở rộng Từ 100 ha năm 1991 tăng lên 187.700 ha năm 1997, 435.508 ha năm 2000 và 577.104 ha năm 2004, tăng trung bình mỗi năm 38,9% Các giống lúa lai được gieo trồng phổ biến ở Việt Nam như Sán ưu 63, Sán ưu quế 99, Nhị ưu 63, Nhị ưu 838, Bắc ưu 64, Bắc ưu 903 phần lớn đều được nhập từ Trung Quốc Trong đó giống lúa lai Nhị ưu 838 chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng khối lượng giống lúa lai nhập khẩu

Bảng 2.1 Tỷ trọng một số giống lúa lai chủ yếu trong tổng khối lượng

giống lúa lai nhập khẩu từ 2002-2004 (Dẫn theo Nguyễn Khắc Quỳnh và Ngô Thị Thuận 2006)

Tên giống Khối lượng

(tấn)

Tỷ lệ (%)

Khối lượng (tấn)

Tỷ lệ (%)

Khối lượng (tấn)

Tỷ lệ (%)

Ghi chú: BTS Thanh: Bồi tạp sơn thanh

Sản xuất lúa lai thương phẩm ở nước ta phát triển tương đối nhanh, từ năm 1992 đến năm 2004, Việt Nam đ0 đưa vào sản xuất đại trà 3.515.347 ha lúa lai thương phẩm Với ưu thế cho năng suất cao, lúa lai đ0 góp phần đáng

kể tăng sản lượng lúa hàng năm, ở nhiều tỉnh năng suất các giống lúa lai đều cao hơn lúa thuần từ 20-40% (Nguyễn Trí Hoàn, 2005, dẫn theo Nguyễn Khắc Quỳnh, 2006) [39]

Trang 15

Sự thay đổi cơ cấu giống lúa và đầu tư thâm canh đặc biệt là sử dụng phân bón liều lượng cao, sử dụng thuốc hoá học BVTV chưa hợp lý đ0 làm thay đổi các yếu tố sinh thái trong môi trường đồng lúa dẫn đến gia tăng sự phát triển của các loài dịch hại, một số loài như Sâu đục thân lúa bướm 2 chấm, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, rầy lưng trắng, trong những năm gần đây phát sinh trên diện rộng và đ0 trở thành dịch hại nguy hiểm Tại các tỉnh phía Bắc diện tích lúa nhiễm các đối tượng này có xu hướng ngày một tăng lên Bảng 2.2 Diện tích nhiễm (ha) một số đối tưọng chủ yếu của các tỉnh,

thành phố phía Bắc từ 1997 đến vụ xuân 2007 (Số liệu tổng kết của Trung tâm BVTV phía Bắc, 6/2007)

Trang 16

Từ những cơ sở khoa học trên, với mục đích nghiên cứu tìm hiểu tập

đoàn sâu hại chủ yếu trên cây lúa lai, thu thập dữ liệu để giúp cho công tác dự tính dự báo, chỉ đạo phòng trừ sâu hại bảo vệ sản xuất trong điều kiện hệ sinh thái đồng lúa có nhiều thay đổi, đề tài tập trung nghiên cứu tình hình phát sinh, biến động số lượng một số sâu hại chủ yếu trên cây lúa lai tại Hưng Yên 2.2 Một số nghiên cứu ở nước ngoài

2.2.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa

Thành phần sâu hại trên cây lúa rất đa dạng và phong phú, toàn thể giới

đ0 ghi nhận được hơn 800 loài sâu hại lúa (Dale, 1994, Kiritani, 1979) [62], [79] ở các nước trồng lúa thuộc Đông Nam á đ0 phát hiện được khoảng hơn

100 loài (Norton và ct, 1990; Pathak và ct, 1969) [90],[92] ở Trung Quốc đ0 phát hiện được hơn 200 loài (Chiu, 1980; Li, 1982) [61],[84]

Tuy nhiên, trong số chúng chỉ có một số ít loài là quan trọng và gây hại nặng cho cây lúa, còn phần lớn các loài gây hại không đáng kể Các vùng trồng lúa khác nhau có số loài sâu hại chính trên lúa không giống nhau Các kết quả nghiên cứu đ0 ghi nhận ở châu á có số loài sâu hại chính trên lúa nhiều nhất: 28 loài, ở châu úc chỉ có 9 loài, châu Phi có 15 loài và châu Mỹ

có 13 loài (Kiritani, 1979) [79] Các giai đoạn sinh trưởng khác nhau của cây lúa cũng có số lượng loài sâu hại chính khác nhau, ở giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng có khoảng 22 loài, giai đoạn làm đòng đến trỗ khoảng 8 loài và giai đoạn chín 3-4 loài (Norton và ct, 1990) [90],

ở các nước trồng lúa khác nhau các loài sâu hại chính trên lúa cũng khác nhau ở vùng trồng lúa Nam Trung Quốc các loài sâu hại chính là: sâu

đục thân bướm 2 chấm, sâu đục thân 5 vạch, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, rầy xanh đuôi đen, sâu năn và bọ trĩ (Chiu, 1980) [61] ở Nhật bản có các loài: sâu đục thân bướm 2 chấm, sâu đục thân 5 vạch, rầy nâu, rầy xanh đuôi đen,

Trang 17

(Kiritani, 1979) [79] ở ấn Độ có 4 loài là sâu đục thân thân bướm 2 chấm, rầy nâu, rầy xanh đuôi đen và sâu năn (Nagarajan, 1994) [88]

2.2.2 Nghiên cứu về một số sâu hại chính trên cây lúa

2.2.2.1 Nghiên cứu về rầy nâu hại lúa

Rầy nâu Nilaparvata lugens Stal, thuộc họ Delphacidae, bộ Homoptera Rầy nâu phân bố rộng ở nhiều nước Châu á (Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Triều Tiên, Banglađet, ấn Độ, Indonesia, Việt Nam, Lào ),

ở Châu úc, ở quần đảo Solomon, rầy nâu còn thấy ở những vùng dọc theo

đ-ường xích đạo, v.v (Dale,1994) [62] Cây lúa là ký chủ quan trọng nhất của rầy nâu, ngoài ra người ta còn tìm thấy rầy nâu trên các cây trồng và cỏ dại khác ở Nhật Bản đ0 ghi nhận có 29 loài thực vật là ký chủ phụ của rầy nâu, nhưng ký chủ phụ quan trọng hơn cả là lúa dại (Oryza perennis, o Glaberrim

và O Breviligulata), cỏ môi (Leersia hexandra) (Dale, 1994; Mochia và Okada, 1979; Reissig và ct, 1986 [62],[87],[95]

Để hoàn thành vòng đời, rầy nâu phải qua 3 pha phát dục là trứng, rầy non và trưởng thành, giai đoạn rầy non có 5 tuổi Trong điều kiện tự nhiên, vòng đời của rầy nâu rất biến động: Ngắn nhất là 20 ngày, dài nhất là 91 ngày, trong đó thời gian phát dục của trúng, rầy non và thời gian trước đẻ trứng thay

đổi tương ứng trong khoảng 6-36, 11-48 và 3-7 ngày; tuổi thọ của trưởng thành là 26,1-36,6 ngày Trong điều kiện nhiệt độ 250C, vòng đời của rầy nâu trung bình là 31,5 ngày, thời gian trước đẻ trứng là 7,2 ngày và thời gian sống của trưởng thành là 22,3-27,6 ngày (Mochia và Okada,1979) [87]

Trứng rầy nâu mới đẻ có màu vàng nhạt, trong suốt, trước khi nở ngay ở

đầu nhọn có một điểm đỏ vàng sau thành màu nâu đỏ, trứng thường được đẻ trong bẹ hoặc gân lá thành từng ổ, số lượng trứng trong một ổ dao động từ 1-

62 quả Trong điều kiện nhà kính một trưởng thành cái đẻ được 100-200

Trang 18

trứng Trong điều kiện tự nhiên số trứng một con cái đẻ ra dao động từ 598,5 trứng (Mochia và Okada,1979) [87] Suenaga (1963) đ0 ghi nhận khả năng đẻ trứng cao nhất của rầy nâu có thể lên tới 1.474 trứng/con cái (dẫn theo Mochia và Okada,1979) [87] Khả năng đẻ trứng của trưởng thành cái cánh ngắn cao hơn trưởng thành cái cánh dài, một con cái cánh ngắn đẻ được khoảng 300 trứng, trong khi một con cái cánh dài chỉ đẻ khoảng 100 trứng (Reissig, W.H và ct, 1986) [95]

108,2-Trong ruộng lúa, ấu trùng và trưởng thành rầy nâu thường sống ở phần thân cây lúa, chích hút nhựa luyện của cây lúa (Mochia và Okada,1979) [87] ở vùng nhiệt đới, trong một vụ lúa rầy nâu có thể hoàn thành 2-8 lứa, nhưng thực tế ở phía Nam Nhật Bản có 5 lứa rầy nâu, ở Java có 4-5 lứa/ vụ lúa Trên những giống lúa mới có thời gian sinh trưởng trung bình, thường

có 3 lứa rầy nâu/vụ (Dale, 1994) [62] ở vùng Nhiệt đới Châu á, rầy nâu phát triển quanh năm Trong một năm thường có 2 đỉnh cao về mật độ quần thể rầy nâu ứng với 2 vụ lúa chính, mỗi vụ lúa có 1 đỉnh cao (Dyck và ct, 1979; Pathak, 1969) [63],[92]

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển của rầy nâu trên đồng ruộng Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy mật độ quần thể rầy nâu liên quan chặt chẽ với yếu tố nhiệt độ, nhiệt độ cao mật độ quần thể rầy nâu cao và ngược lại Mật độ quần thể rầy nâu đạt cao nhất khi nhiệt độ khoảng 28-300C và ẩm độ 70-80% (Dale, 1994; Dyck và ct, 1979) [62],[63] Theo Dyck và ct (1979) [63] số ngày mưa trong năm có liên quan đến diện tích lúa

bị nhiễm rầy, điều kiện thời tiết khô hoặc lượng mưa thấp dẫn đến mật độ rầy tăng Nhưng Mochida (1979) [87] thì cho rằng lượng mưa không liên quan

đến việc tăng số lượng rầy nâu

Cấy nhiều vụ lúa trong năm, cấy dầy, gieo v0i với mật độ cao, bón nhiều đạm, bón phân không cân đối … là những yếu tố thuận lợi cho rầy nâu

Trang 19

phát triển thành dịch (Dyck và ct, 1979) [63] Việc gieo cấy các giống lúa mới năng suất cao cũng là yếu tố thuận lợi làm tăng mật độ quần thể rầy nâu Theo Heinrichs (1994) [72] và Pathak, 1969 [92] thì việc gieo trồng những giống lúa mới cho năng suất cao có sự tương quan rõ rệt tới sự phát triển của rầy nâu, những giống lúa mới thấp cây, lá thẳng đứng và đẻ nhiều tạo một thảm lá dầy là điều kiện thuận lợi cho rầy nâu phát sinh và phát triển

Thiên địch của rầy nâu rất đa dạng, phong phú và đóng vai trò quan trọng trong việc kìm h0m mật độ quần thể rầy nâu trên đồng ruộng, trong đó

đặc biệt quan trọng là các loài bắt mồi ăn thịt (Dyck và ct, 1979) [63]

2.2.2.2 Nghiên cứu về rầy lưng trắng hại lúa

Rầy lưng trắng Sogatella furcifera (Horvath) thuộc họ Delphacidae, bộ Homoptera, phân bố rộng ở hầu hết các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Châu

á như Trung Quốc, ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Philippine, .(Dale, 1994)[62], một số nước Châu Mỹ như CuBa, Guana, Suriname, một số nước Châu úc và đảo Thái Bình Dương (Hinekley A.D., 1963) [75]

Ký chủ chính của rầy lưng trắng là cây lúa, ngoài ra rầy lưng trắng có thể hoàn thành phát dục của mình trên một số cây khác như ngô, cỏ lồng vực cạn, cỏ lồng vực nước, cỏ đuôi phượng, cỏ chác và các loại lúa dại họ Oryza sativa (Reissig, W.H., 1986) [95]

Cũng như rầy nâu cả rầy non và rầy trưởng thành rầy lưng trắng đều trực tiếp chích hút thân cây lúa, sự chích hút có thể làm cho cây lúa biến vàng, xuất hiện màu đỏ gỉ sắt lan từ ngọn lá đến các phần còn lại của cây Hiện tư-ợng cháy rầy xảy ra khi mật độ rầy cao và có thể lan nhanh, khóm lúa bị vàng

đỏ và cây lùn thụt, điển hình tại vùng Asam ấn độ tháng 5-6 năm 1985 hơn

8000 ha lúa IR8 đ0 bị cháy do rầy lưng trắng (Reissig, W.H., 1986) [95]

Trang 20

Trứng của rầy lưng trắng được đẻ thành từng ổ ở phần mô bẹ lá hoặc gân chính của lá, trứng có hình dạng và kích thước tương tự trứng rầy nâu như-

ng mũi trứng dài hơn, mỗi con cái có thể đẻ khoảng 300-500 trứng, đẻ tập trung trong 3-6 ngày và kéo dài khoảng hai tuần lễ (Pathak, 1969) [92] Thời gian phát dục của trứng tuỳ thuộc vào nhiệt độ và ẩm độ, ở Cuttak- ấn Độ với

điều kiện nhiệt độ trong tháng 9 từ 25,3-32,70C, ẩm độ khoảng 83-85% thời gian trứng của rầy lưng trắng là 6 ngày ở philippine là 8 ngày, ở Punjab- ấn

Độ là 3-5 ngày (Dale, 1994) [62]

Rầy non có 5 tuổi, khi mới nở có màu trắng sữa, sau chuyển lấm chấm màu xám sẫm hoặc màu đen và trắng xen kẽ Thời gian phát dục của rầy non cũng phụ thuộc vào nhiệt độ, ở 200C thời gian phát dục của rầy non là 17 ngày, ở 250C là 13 ngày và ở 28-300C là 12 ngày (Suennaga, 1963) [98]

Trưởng thành cũng có hai dạng cánh dài và cánh ngắn tương tự rầy nâu, tất cả con đực đều có cánh dài, con cái có cả hai dạng cánh ngắn và cánh dài Thời gian sống của rầy trưởng thành cũng phụ thuộc vào nhiệt độ, ở 200C thời gian sống trung bình của rầy trưởng thành là 20 ngày, ở 250C là 16 ngày và ở 28-300C là 9 ngày (Suennaga, 1963) [98]

Rầy lưng trắng thường có số lượng lớn vào đầu vụ, quần thể rầy lưng trắng cao nhất vào thời kỳ đẻ nhánh, trước khi phân hoá đòng vào khoảng 7-8 tuần sau khi cấy sau đó số lượng giảm dần vào giai đoạn lúa sau khi trỗ (Ram, P., 1986) [94] Tuy nhiên biến động số lượng của rầy lưng trắng còn phụ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm, nhiệt độ dưới 80C hoặc trên 350C là ngưỡng nhiệt độ

ảnh hưởng đến hoạt động của rầy lưng trắng (Pathak, 1969) [92]

ở Hyrishima Nhật Bản, trong một năm rầy lưng trắng có 2 thế hệ trên lúa và 3 thế hệ trên cỏ họ hoà thảo, đỉnh cao của quần thể đạt vào thế hệ thứ nhất sau khi nhập cư và giảm đi vào thế hệ thứ hai khi trưởng thành di chuyển khỏi đồng lúa ở Yiang Trung Quốc, rầy lưng trắng có 5 thế hệ một năm, đỉnh

Trang 21

cao của mật độ quần thể từ giữa đến cuối tháng 7 (Zhu, X.W.,1985) [107] Quần thể rầy lưng trắng trong mùa mưa cao hơn mùa khô và có ít nhất 3 thế

hệ, mặc dù số lượng nhập cư ban đầu của rầy lưng trắng cao hơn rầy nâu

như-ng tốc độ tănhư-ng quần thể lại thấp, chỉ tănhư-ng được 4 lần tronhư-ng 3 thế hệ tronhư-ng khi quần thể rầy nâu tăng 8 lần ở mỗi thế hệ Do tốc độ tăng trưởng thấp nên rầy l-

ưng trắng hiếm khi đạt tới đủ số lượng có thể gây thiệt hại kinh tế đối với cây lúa (Ram, P., 1986) [94]

Cũng giống rầy nâu, rầy lưng trắng thường di chuyển hàng loạt từ nơi này sang nơi khác, sự di chuyển của rầy lưng trắng liên quan đến cường độ

ánh sáng và nhiệt độ, hoạt động di chuyển này có liên quan đến tuần trăng (Dyck, V.A và cộng sự, 1979)[63]

Bón nhiều phân đạm, cấy dầy, tưới nước thường xuyên và mật độ ký sinh thấp làm bùng phát số lượng rầy lưng trắng Giống lúa cũng ảnh hưởng

đến mật độ quần thể rầy lưng trắng trên đồng ruộng, các giống lúa lai có mật

độ rầy lưng trắng cao gấp 1,67-7,5 lần so với giống lúa cổ truyền (Gao, M.C

bọ xít và nhện là những thiên địch quan trọng

Việc sử dụng thuốc hoá học để phòng trừ rầy lưng trắng đ0 được nhiều tác giả công bố Haq, E và cộng sự (1991) [70], Shulka, B.C và cộng sự (1990) [99] cho thấy rằng: ở Pakistan và ở ấn Độ các loại thuốc Chlopyriphos

và carbosulphal có hiệu lực cao và kéo dài trong 5 ngày đối với rầy lưng trắng, ngoài ra dầu xoan, dầu neem cũng có tác dụng trừ rầy lưng trắng nhưng chỉ có Phsphamilon có khả năng diệt trứng

Trang 22

2.2.2.3 Nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ hại lúa

Sâu cuốn lá nhỏ Cnaphalocrocis medinalis Guenee (Lepidoptera: Pyralidae) phân bố ở nhiều nước trồng lúa thuộc châu á (Trung Quốc, ấn Độ, Nhật Bản, Triều Tiên, Philippine, Thái Lan,…) và ở châu úc (Dale, 1994) [62] Sâu cuốn lá nhỏ sống trên nhiều loại cây như lúa, ngô lúa miến, mía, một

số cây thuộc họ hoà thảo và một số loài cỏ dại (Dale, 1994; Reissig và cộng

sự, 1986) [62], [95]

Sâu cuốn lá nhỏ là loài côn trùng biến thái hoàn toàn Pathak (1969) [92] cho rằng vòng đời sâu cuốn lá nhỏ từ 33-44 ngày, nhưng theo Dale (1994) [62] vòng đời của sâu cuốn lá nhỏ chỉ khoảng 24-39 ngày, trong đó thời gian phát dục pha trứng từ 3-6 ngày, sâu non từ 15-30 ngày, nhộng 4-8 ngày

Trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ thường hoạt động về ban đêm, ban ngày chúng ẩn náu trong tán lá lúa, khi bị khua động chúng chỉ bay một đoạn ngắn

là lại đậu ở mặt dưới lá lúa hoặc trên thân cây lúa phía dưới Trưởng thành cái

đẻ trứng rải rác từng quả một hoặc thành ổ 10-12 quả xếp dọc theo gân chính lá lúa Một con cái có thể đẻ được khoảng 300 trứng, lượng trứng đẻ nhiều nhất vào đêm thứ 4-7 sau khi trưởng thành vũ hoá Sâu non ăn chất xanh của lá, để lại màng trắng trong suốt Sâu non từ tuổi 2 trở đi cuốn lá làm tổ và nằm trong đó gặm chất xanh của lá Khi đẩy sức sâu làm nhộng ngay trong tổ hoặc xuống bẹ lá phía dưới để hoá nhộng (Dale, 1994; Pathak, 1969; Reissig và ct, 1986; Saxena và ct, 1987) [62], [92],[95], [97]

ở các nước nhiệt đới châu á, sâu cuốn lá nhỏ phát sinh quanh năm nhưng phát triển mạnh hơn trong mùa mưa (Dale, 1994; Pathak 1969) [62], [92] Các nước có mùa đông lạnh, sâu cuốn lá nhỏ phát sinh từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm và sự qua đông của sâu cuốn lá nhỏ đ0 được xác nhận ở Okinaoa (Nhật Bản) Sâu cuốn lá nhỏ không thể sống sót được qua mùa đông

ở Nhật Bản và Triều Tiên Các nghiên cứu cũng cho thấy trưởng thành sâu

Trang 23

cuốn lá nhỏ cũng di chuyển theo mùa từ Trung Quốc đến Nhật Bản và Triều Tiên giống như rầy nâu và rầy lưng trắng (Dale, 1994) [62]

Trong một vụ lúa, mật độ quần thể sâu cuốn lá nhỏ gia tăng từ đầu vụ

đến khi lúa làm đòng-trỗ Tuy nhiên có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển và tích luỹ quần thể của sâu ở điều kiện nhiệt độ thích hợp và ẩm độ cao, sâu cuốn lá nhỏ phát triển và sinh sản rất nhanh (Pathak 1969) [92] Việc gieo cấy các giống lúa mới năng suất cao, bón nhiều phân đạm hoặc bón kết hợp các loại phân N, P, K ở liều lượng cao đ0 tạo điều kiện thuận lợi cho sâu cuốn lá nhỏ phát triển, nhưng bón phân kali đơn độc thì mật độ quần thể sâu cuốn lá nhỏ giảm (Dale, 1994) [62]

Trên đồng ruộng có nhiều loài là kẻ thù tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ, trong đó nhện lớn bắt mồi là một trong những loài đóng vai trò quan trọng trong hạn chế số lượng sâu cuốn lá nhỏ (Ambethgar, 1996; Reissig và ct, 1986) [53], [95]

2.2.2.4 Nghiên cứu về sâu đục thân lúa bướm hai chấm

Sâu đục thân lúa bướm hai chấm (Scirpophaga incertulas (Walk.) (Lepidoptera: Pyralidae) là loài phổ biến và quan trọng nhất trong các loài sâu

đục thân lúa Sâu đục thân lúa bướm hai chấm phân bố ở hầu hết các nước trồng lúa thuộc châu á như Trung Quốc, ấn Độ, Nhật Bản, Triều Tiên, Philippine, Thái Lan,… (Dale, 1994; Pathak 1969) [62], [92] Sâu đục thân lúa bướm hai chấm là loài đơn thực, chuyên tính trên cây lúa, tuy nhiên có một số tài liệu cho rằng các loài lúa dại (Oryza rufipogon, o nivara, O.latifolia) và

cỏ Leptochloa panicoides có thể là những ký chủ phụ của loài sâu này (Dale, 1994) [62]

Theo Dale (1994) [62] và Reissig và ct (1986) [95], sâu đục thân lúa bướm hai chấm cần 41-48 ngày để hoàn thành vòng đời của mình, trong đó thời gian

Trang 24

phát dục của pha trứng là 5-8 ngày, pha sâu non 30 ngày và pha nhộng 6-10 ngày, tuổi thọ của trưởng thành cái 5,3-8,8 ngày và trưởng thành đực là 4,5-8,6 ngày Nhưng theo Grist và ct (1969) [67] vòng đời của sâu đục thân lúa bướm hai chấm dài đến 48-66 ngày và thời gian phát dục pha trứng, sâu non, nhộng tương ứng là 7-10, 35-46 và 6-10 ngày, thời gian sống của trưởng thành 4-5 ngày

Trưởng thành sâu đục thân lúa bướm hai chấm ưa hoạt động ban đêm và ưa

ánh sáng đèn Ban ngày chúng đậu trên thân hoặc lá lúa Trưởng thành thường

vũ hoá, giao phối và đẻ trứng vào ban đêm khoảng từ 7-10 giờ tối Trứng

được đẻ thành từng ổ, mỗi ổ có khoảng 100-150 trứng Sâu non mới nở có xu hướng phát tán ngay, chúng bò lên ngọn cây lúa, sau đó nhả tơ thả mình cho gió đưa sang cây khác Chúng bò vào bẹ lá và thân cây lúa và sống ở đó khoảng 3-7 ngày mới đục vào thân nơi gốc bẹ lá, sâu non lớn dần và di chuyển dần xuống phần gốc rạ Sâu đẫy sức làm nhộng trong gốc rạ (Dale, 1994; Pathak 1969) [62], [92]

Sâu đục thân lúa bướm hai chấm có nhiều thế hệ trong năm, tuy nhiên số lượng các thế hệ phát sinh nhiều hay ít phụ thuộc vào yếu tố môi trường và sự

có mặt của cây lúa trên đồng ruộng ở hầu hết các nước trồng lúa vùng nhiệt

đới châu á, nơi gieo trồng từ 2 vụ lúa trở lên, sâu đục thân lúa bướm hai chấm hoạt động gần như quanh năm hoặc chỉ ngủ nghỉ tạm thời ở giai đoạn sâu non tuổi cuối khi không còn cây lúa là thức ăn ở trên đồng ở vùng chỉ trồng 1 vụ lúa trong năm thì sâu đục thân lúa bướm hai chấm phải qua hè hoặc qua đông thực sự (Dale, 1994; Pathak 1969) [62], [92]

Mật độ quần thể của sâu đục thân lúa bướm hai chấm trên đồng ruộng biến động rất lớn từ năm này qua năm khác tại cùng một địa điểm, và trong cùng một thời gian cũng biến động rất lớn ở các địa điểm khác nhau ở vùng

ôn đới Kochi (Nhật Bản) mật độ quần thể sâu đục thân lúa bướm hai chấm chỉ

Trang 25

có 1 đỉnh cao vào khoảng tháng 7 hàng năm Nhưng ở một số nước như ấn

Độ, Bangladesh và Pakistan, một năm có 2 đỉnh cao mật độ quần thể sâu đục thân lúa bướm hai chấm vào khoảng tháng 4-5 và tháng 9-10 (Ahmad và ct, 1982; Dale, 1994) [52], [62]

Sâu đục thân lúa bướm hai chấm phát triển tốt nhất ở điều kiện nhiệt độ khoảng 24-290C Ngưỡng nhiệt độ tối thiểu cho sâu non phát triển là 160C, trong khoảng nhiệt độ 17-350C tỷ lệ sâu non phát triển tỷ lệ thuận với nhiệt

độ, còn trong điều kiện nhiệt độ không thích hợp và trên đồng ruộng không có lúa thì sâu non rơi vào trạng thái đình dục ẩm độ không khí cần cho sự phát triển của phôi là 90-100%, nếu thấp hơn 70% sẽ giảm đáng kể tỷ lệ nở của trứng (Dale, 1994) [62]

Trên đồng ruộng có nhiều loài kẻ thù tự nhiên của sâu đục thân lúa bướm hai chấm, đặc biệt trứng của chúng bị ký sinh với tỷ lệ khá cao bởi một số loài ong, trong đó ong ký sinh Tetrastichus schoenobii là loài đóng vai trò quan trọng nhất (Dale, 1994) [62]

2.2.3 Nghiên cứu về nhện lớn bát mồi trên ruộng lúa

Nhện lớn bắt mồi (NLBM) thuộc ngành động vật chân đốt Arthropoda, lớp nhện Arachnidae, bộ nhện lớn Araneae (Theodove, 1977) [101] NLBM thuộc nhóm có cơ thể là một khối, bụng không phân đốt rõ ràng (Krantz, 1978) [82] Cơ thể của NLBM chia làm 2 phần: phần đầu ngực (Cephalothorax) và phần bụng không phân đốt (Abdomen), hai phần này được nối với nhau bởi cuống nối, Thông thường NLBM có 4 đôi chân, cơ thể không có cánh, bộ phận sinh dục nằm ở mặt giữa phần bụng chỗ cuống nối Việc phân loại nhện phải được tiến hành trên nhện trưởng thành, với nhện đực khi đầu của chân xúc giác phình to, với nhện cái khi buồng sinh dục nhìn thấy rõ ràng (Barrion và ct, 1981; He,Jun-hua và ct, 1986; Humphreys, 1988; Kotlyarava 1986; Ly, Yong-xi và ct, 1988; Tanaka và ct, 1982; Valerie, 1986;) [54], [73], [76], [81], [86], [100], [102]

Trang 26

Trên ruộng lúa NLBM là một nhóm thiên địch quan trọng trong việc hạn chế số lượng sâu hại lúa chính Nhiều tác giả đ0 ghi nhận thành phần NLBM trên ruộng lúa ở các nước châu á rất phong phú (Barrion, 1994; 1995; Chen, 1988; Ly, Yong-xi, 1983) [57], [58], [59], [85] Trong những năm 1977-1985,

ở Trung Quốc đ0 thu thập và xác định được 159 loài NLBM thuộc 64 họ (Wang và ct, 1992) [104] ở Thái Lan, Napompeth (1983) [89] đ0 tiến hành

điều tra tại 11 tỉnh trồng lúa và xác định tên được 62 loài NLBM thuộc 12 họ, trong đó có 6 loài là phổ biến ở Nhật Bản đ0 ghi nhận được 92 loài thuộc 14

họ ở Triều Tiên phát hiện được 32 loài thuộc 13 họ (Lee, 2001) [83] Philippin định loại được 50 loài thuộc 15 họ, trong đó có 10 loài phổ biến Đài Loan cũng đ0 phát hiện được 75 loài thuộc 15 họ (Barrion, 1984) [56] Trong quá trình phát triển NLBM phải trải qua 3 giai đoạn: trứng, ấu trùng

và trưởng thành Giai đoạn ấu trùng có thể có tới 15 tuổi Cơ thể con đực luôn luôn nhỏ hơn con cái và đa số con đực bị chết sau giao phối, vì vậy mà tỷ lệ giữa con đực và con cái rất thấp (0,15) Sau khi giao phối 1 nhện cái có thể đẻ

1 bọc trứng hoặc nhiều hơn (Foelix, 1982; Humphreys, 1988) [65], [76] Trên ruộng lúa mỗi năm NLBM sinh sản từ 2-7 lứa, mỗi nhện cái đẻ 4-5 lần, nhiều loài đẻ tới 10 lần (Wang, 1988) [104]

NLBM có khả năng ngừng dục trong điều kiện sống bất thuận ở cả giai

đoạn ấu trùng và trưởng thành, chúng còn có khả năng nhịn đói rất tốt, sau khi

được ăn một lần đầy đủ chúng có thể nhịn đói tử 10- >100 ngày (Tanaka, 1982; Wang, 1988) [100], [104]

Trên ruộng lúa NLBM có mặt thường xuyên từ khi cấy cho đến khi thu hoạch, chúng phân bố theo kiểu quần tụ hoặc rải rác (Wang, 1988) [104] Chúng có mặt ở hầu hết các bộ phận của cây lúa từ dưới gốc, lên thân và cả trên tán lá Có hai loại hình chủ uếy là nhện kéo lưới và nhện không kéo lưới Nhện kéo lưới chăng lưới để bắt các con mồi biết bay bao gồm các trưởng thành của

Trang 27

côn trùng Có loài bơi trên mặt nước để tìm mồi (Barrion, 1983) [55]

Khi chưa có lúa trên đồng ruộng, NLBM thường cư trú trên bờ ruộng, chúng sống trên cỏ hoặc ngay dưới mặt đất, khi trên ruộng có lúa chúng di chuyển từ bờ cỏ vào ruộng (IRRI, 1984) [77]

Thời gian cao điểm của NLBM trên ruộng lúa không giống nhau ở các nước khác nhau Tại Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI, 1984) [77], kết quả nghiên cứu của Saxena cho thấy mật độ NLBM trên ruộng lúa đạt cao nhất vào 40-50 ngày sau cấy Các kết quả của Kenmore (1979) [78], Reynaldo (1990) [96] cho thấy ở vụ xuân mật độ NLBM trên ruộng lúa cao nhất từ 13-

14 tuần sau cấy, ở vụ mùa từ 6-8 tuần sau cấy Các nghiên cứu tại tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) thấy rằng NLBM bắt đầu xuất hiện trên ruộng lúa sau khi cấy 15-20 ngày, mật độ của chúng tăng dần và đạt đỉnh cao vào cuối tháng 6 (vụ xuân) và cuối tháng 9-đầu tháng 10 (vụ mùa) Mật độ quần thể NLBM có thể lên đến 31,5 con/m2 (Wang,1988) [104] Tại tỉnh Hồ Bắc, mật độ quần thể NLBM có thể lên đến 10-15 con/m2 vào cuối mùa xuân khi cây lúa có tán lá rậm rạp nhất (Zhao, 1989) [106] Tại vùng ngập nước Philippin thì mật độ NLBM cao nhất khi sắp thu hoạch (Barrion, 1984) [56] Tại Nepan trong mùa mưa mật độ NLBM cao nhất sau khi gieo lúa 88 ngày (Gyawali, 1988) [69] Chế độ nước trong ruộng có ảnh hưởng rất rõ rệt đến thành phần loài và mật độ NLBM ở những ruộng khô ít được tưới nước, hay tại những khu ruộng sâu ngập nước, thành phần loài NLBM và mật độ thấp hơn ở những khu ruộng được tưới nước hay có nước thường xuyên (Barrion, 1984; Wang, 1988) [56],[104]

Giống lúa cũng có ảnh hưởng rất rõ rệt đến thành phần loài và mật độ NLBM ở những ruộng lúa phát triển tốt, giống lúa có tán lá rậm, mật độ NLBM cao hơn so với ở ruộng lúa phát triển kém hoặc là giống có tán lá thưa

Trang 28

(Wang, 1988) [104] Những ruộng sử dụng giống kháng sâu hại (rầy nâu) mật

độ một số loài NLBM cũng giảm đáng kể (Pu,Zhe-long, 1988) [93]

Các hoá chất BVTV, đặc biệt là hoá chất trừ sâu hại có ảnh hưởng lớn đến NLBM, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng khác nhau tuỳ từng loại thuốc, số lần sử dụng và biện pháp phun rải (Li,Yong-xi, 1988; Pu,Zhe-long, 1988; Wang, 1988) [85], [93], [104]

2.3 Một số nghiên cứu ở trong nước

2.3.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa

Kết quả điều tra côn trùng 1967-1968 ở miền Bắc và 1977-1979 ở miền Nam của Viện Bảo vệ thực vật (BVTV) đ0 xác định được ở miền Bắc có 88 loài côn trùng và ở miền Nam có 86 loài côn trùng và nhện nhỏ hại trên cây lúa (Viện BVTV,1975; 1999) [49][51] Thành phần sâu hại lúa ở Việt Nam còn được một số tác giả khác công bố, trong đó có công trình nghiên cứu của Phạm Văn Lầm tổng hợp tất cả các tài liệu đ0 công bố và chỉ ra rằng: ở Việt Nam có 133 loài côn trùng và nhện nhỏ (thuộc 90 giống, 33 họ của 8 bộ côn trùng và nhện nhỏ) gây hại trên cây lúa (Phạm Văn Lầm, 2000) [32]

Trong tổng số 133 loài đó chỉ có khoảng trên 40 loài thường xuyên xuất hiện trên cây lúa, và chỉ một số loài gây hại chính là rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu đục thân 2 chấm, sâu cuốn lá nhỏ, bọ xít dài, bọ trĩ, sâu năn, v.v (Phạm Văn Lầm, 2000; Phạm Bình Quyền, 2002) [32], [38]

Các dẫn liệu về thành phần côn trùng hại lúa, về các đối tượng gây hại chính trên cây lúa còn được đề cập đến trong Giáo trình côn trùng Nông nghiệp [7] và trong những nghiên cứu của Cục BVTV (1995b), Đường Hồng Dật (1996), Nguyễn Văn Đĩnh (2004), Nguyễn Công Thuật (1996), Trung tâm BVTV phía Bắc (2005, 2006) [13], [15], [18], [44], [47], [48]

Trang 29

2.3.2 Những nghiên cứu về sâu hại chính trên cây lúa

2.3.2.1 Những nghiên cứu về rầy nâu hại lúa

Cũng như các nước trồng lúa khác ở châu á, ở Việt Nam rầy nâu đ0 và ngày càng trở thành loài sâu hại lúa quan trọng Dịch rầy nâu đ0 xảy ra từ năm

1969 ở miền Trung ở các tỉnh phía Bắc, trước năm 1971 rầy nâu mới phát sinh rải rác và chỉ gây hại nặng cục bộ tại một số tỉnh, vụ mùa năm 1971 rầy nâu phát sinh thành dịch trên diện rộng ở các tỉnh phía Nam rầy nâu cũng phát sinh mạnh từ năm 1971 (Cục BVTV, 1980; Cục BVTV và Viện BVTV, 1980; Trần Huy Thọ và ct, 1989) [10], [11], [42] Trong những năm 1990-

1994 rầy nâu là loài đứng thứ nhất nguy hại trên cây lúa (Nguyễn Công Thuật, 1996) [44] Và những năm gần đây rầy nâu là dịch hại nguy hiểm đe doạ nghề trồng lúa nước ta, bởi vì ngoài tác hại trực tiếp là chích hút nhựa của cây lúa gây ra hiện tượng cháy rầy khi mật số quần thể cao, ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đông Nam bộ rầy nâu còn là môi giới truyền Virut gây bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá cho cây lúa (Bộ NN&PTNT, 2006b) [5] Theo báo cáo của các địa phương, đến ngày 25/10/2006, diện tích lúa vụ thu đông, vụ mùa 2006 và vụ đông xuân 2006-2007 bị nhiễm rầy nâu của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đông Nam bộ là 33.323 ha và diện tích nhiễm bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá là 51.768 ha, trong đó có 26.283 ha nhiễm bệnh nặng cần phải tiêu huỷ (Bộ NN&PTNT, 2006c) [6] ở các tỉnh phía Bắc, năm

2006 rầy nâu gây hại nặng cả vụ xuân và vụ mùa, diện phân bố rộng, mức độ hại cao hơn 3 năm trước, diện tích nhiễm toàn vùng 130.900 ha, diện tích nhiễm nặng 12.500 ha và diện tích mất trắng 75 ha (Trung tâm BVTV phía Bắc, 2006) [48]

Về đặc điểm sinh học của rầy nâu đ0 được nhiều cơ quan, đơn vị, trường đại học… tiến hành nghiên cứu Các kết quả đ0 chỉ ra rằng: Quá trình phát triển của rầy nâu trải qua 3 giai đoạn: Trứng – rầy non – trưởng thành

Trang 30

(Cục BVTV, 1995b) [13] Thời gian vòng đời của rầy nâu thay đổi phụ thuộc vào nhiệt độ, ở điều kiện nhiệt độ 25-280C vòng đời của rầy nâu giao

động từ 20-32 ngày, ở điều kiện nhiệt độ 21-220C vòng đời 35-40 ngày, và

ở điều kiện nhiệt độ 17-200C vòng đời của rầy nâu kéo dài 50-55 ngày Trong đó thời gian trứng 6,6-19,5 ngày, thời gian rầy non 13,9-24,3 ngày

và thời gian trước đẻ trứng là 2,6-6,9 ngày (Nguyễn Đức Khiêm, 1995c; Bùi Văn Ngạc và CTV, 1980; Trần Huy Thọ và CTV, 1989; Viện BVTV, 1980) ) [26], [36], [42], [50]

Trưởng thành rầy nâu có 2 dạng hình cánh ngắn và cánh dài (Cục BVTV, 1995b) [13] Khả năng đẻ trứng của rầy trưởng thành cánh ngắn cao hơn rầy trưởng thành cánh dài, một rầy trưởng thành cái cánh ngắn đẻ trung bình 362,5 trứng trong khi một rầy trưởng thành cái cánh dài đẻ trung bình 324,8 trứng Số lượng ổ trứng do một rầy trưởng thành cái đẻ là 2-140 ổ, trong một ổ có từ 1-46 trứng (Nguyễn Đức Khiêm, 1995c; Phạm Văn Lầm, 1980; Bùi Văn Ngạc và CTV, 1980; Trần Huy Thọ và CTV, 1989) [26], [29], [36], [42] Cũng theo Nguyễn Đức Khiêm (1995c) [26], số trứng trong mỗi ổ trứng nhiều ít phụ thuộc vào giống lúa làm thức ăn cho rầy, trên giống kháng rầy nâu (CR 203) số trứng trong mỗi ổ trứng ít hơn trên các giống nhiễm rầy nâu khoảng 2 lần

Thời gian sống của trưởng thành rầy nâu cũng thay đổi phụ thuộc vào nhiệt độ, ở điều kiện nhiệt độ cao tuổi thọ ngắn và ngược lại ở điều kiện nhiệt

độ thấp tuổi thọ kéo dài hơn (Phạm Văn Lầm, 1980; Bùi Văn Ngạc và CTV, 1980; Trần Huy Thọ và CTV, 1989) [29], [36], [42]

Rầy nâu có mặt ở tất cả các vùng trồng lúa của nước ta, mỗi vùng khác nhau quy luật diễn biến của rầy nâu khác nhau ở các tỉnh phía Bắc rầy nâu phát sinh từ tháng 1 đến tháng 11 hàng năm và thường có từ 7-8 lứa, trong đó lứa 2, lứa 3 gây hại nặng ở vụ xuân và lứa 6, lứa 7 gây hại nặng ở vụ mùa

Trang 31

(Trung tâm BVTV phía Bắc, 2005; 2006) [47],[48] ở các tỉnh phía Nam rầy nâu phát sinh quanh năm trên đồng ruộng và hoàn thành 12-13 lứa/năm, trong

đó các lứa phát sinh trong mùa mưa gây hại nặng hơn các lứa phát sinh trong mùa khô (Bùi Văn Ngạc và CTV, 1980) [36]

Chế độ nước trên ruộng lúa có ảnh hưởng đến mật độ quần thể rầy nâu, ruộng luôn luôn đủ nước có mật độ quần thể rầy nâu cao hơn ruộng không thường xuyên đủ nước (Nguyễn Đức Khiêm, 1995c; Bùi Văn Ngạc và CTV, 1980; Trần Huy Thọ và CTV, 1989) [26], [36], [42]

Ruộng lúa cấy mật độ dày, bón nhiều đạm sẽ tạo điều kiện cho rầy nâu phát sinh gây hại với mật độ quần thể cao và ngược lại (Nguyễn Đức Khiêm, 1995a; 1995c; Bùi Văn Ngạc và CTV, 1980) [24], [26][36]

Các giống lúa khác nhau thì có phản ứng đối với rầy nâu khác nhau, kết quả khảo sát tính kháng rầy nâu trong điều kiện nhà lưới cho thấy hầu hết các giống lúa lai, lúa thuần Trung Quốc đều có phản ứng nhiễm – nhiễm cao đối với rầy nâu (Phạm Thị Cúc, 2003; Hồ Thị Điểm, 2003; Nguyễn Văn Đĩnh, 2005; 2006) [14], [17], [19], [20] Trên đồng ruộng, giống lúa cúng có ảnh hưởng lớn đến sự phát sinh và khả năng tích luỹ số lượng quần thể của rầy nâu, các giống lúa nhiễm rầy nâu trong điều kiện nhà lưới (Nhị ưu 63, Nhị ưu 838…) luôn luôn có mật độ quần thể cao hơn các giống lúa kháng rầy nâu (CR 203…) (Phạm Thị Cúc, 2003; Hồ Thị Điểm và ct, 2003; Nguyễn Đức Khiêm và ct, 2001; Trung tâm BVTV miền Trung, 2005) [14], [17], [28], [46]

Theo Phạm Văn Lầm (2002b) [34], thiên địch của rầy nâu ở nước ta

tư-ơng đối phong phú, đ0 phát hiện ít nhất 56 loài côn trùng bắt mồi, ký sinh, nhện, nấm và tuyến trùng ở các tỉnh Hà Nội, Hà Tây, Thái Bình, Tiền Giang… trong đó phổ biến nhất là các loài bắt mồi ăn thịt rầy nâu và các loài kí sinh trên trứng rầy nâu

Kết quả phòng trừ rầy nâu bằng biện pháp hoá học đ0 được nhiều tác

Trang 32

giả công bố, nhiều loại thuốc đ0 được tiến hành đánh giá hiệu lực và được khuyến cáo để phòng trừ rầy nâu, trong số đó được khuyến cáo sử dụng nhiều hơn cả là Bassa 50 EC, Admine 50 EC, Applaud 10 WP…

2.3.2.2 Những nghiên cứu về rầy lưng trắng hại lúa

Cùng với rầy nâu, rầy lưng trắng (RLT) cũng là loài sâu hại quan trọng, chúng thường xuất hiện trên ruộng lúa cùng với rầy nâu ngoài tác hại trực tiếp

là chích hút nhựa của cây lúa gây ra hiện tượng cháy rầy giống như rầy nâu, RLT còn là môi giới truyền bệnh trắng lá lúa (Nguyễn Đức Khiêm, 1995b)[25]

Giống như rầy nâu, quá trình phát triển của rầy lưng trắng cũng trải qua

3 giai đoạn: Trứng – rầy non – trưởng thành Trưởng thành rầy lưng trắng cũng có 2 dạng: trưởng thành cánh dài và trưởng thành cánh ngắn (Cục BVTV, 1995b) [13] ở nước ta những công bố về kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học của RLT chưa nhiều Theo Nguyễn Đức Khiêm (1995b) [25], thời gian phát dục của trứng RLT là 6,4 – 6,7 ngày trong điều kiện nhiệt độ từ 23,8 – 29,80C, độ ẩm 93 – 94%; Thời gian phát dục rầy non RLT là 12,5 – 12,9 ngày trong điều kiện nhiệt độ từ 26,1 – 29,80C, độ ẩm 93 – 94%, thời gian vòng đời RLT là 22 ngày trong điều kiện nhiệt độ từ 25,0 – 26,60C và độ ẩm 92,0 – 93,8%

Trên đồng ruộng, RLT thường xuất hiện sớm hơn rầy nâu và gây hại ở giai đoạn đầu của cây lúa, mật độ tăng dần từ giai đoạn lúa hồi xanh đến giai

đoạn lúa làm đòng, sau đó mật độ giảm dần Trong vụ mùa RLT có 4 lứa, đỉnh cao mật độ ở giai đoạn lúa đứng cái – làm đòng (Nguyễn Đức Khiêm, 1995b)[25]

ở các tỉnh phía Bắc, tỷ lệ giữa rầy nâu và RLT trên đồng ruộng luôn luôn thay đổi Trong hai năm 2003 và 2004, ở tất cả các lứa gây hại chính (lứa 2,3 ở vụ xuân và lứa 6,7 ở vụ mùa) tỷ lệ RLT chiếm từ 50,50 - 69,95%, nhưng năm 2006 tỷ lệ RLT ở các lứa này luôn thấp hơn rầy nâu chỉ chiếm từ 20,0 –

Trang 33

49,0% (Trung tâm BVTV phía Bắc, 2005: 2006) [47], [48] Trong cùng một năm tỷ lệ giữa rầy nâu và RLT cũng thay đổi theo lứa và theo vụ sản xuất Trong hai năm 2003 và 2004 tỷ lệ RLT ở vụ mùa (lứa 6 và lứa 7) cao hơn ở vụ xuân (lứa 2 và lứa 3), nhưng năm 2005 và đặc biệt là năm 2006 thì ngược lại

tỷ lệ RLT ở vụ mùa chỉ chiếm từ 20,0 – 23,4% thấp hơn hẳn ở vụ xuân (Trung tâm BVTV phía Bắc, 2005; 2006) [47], [48]

Cũng giống như đối với rầy nâu, giống lúa cũng có ảnh hưởng lớn đến

sự phát sinh, khả năng tích luỹ số lượng quần thể RLT trên đồng ruộng Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Khiêm và ct trong vụ xuân 1999 và vụ xuân

2000 về mức độ nhiễm rầy nâu, RLT của một số giống lúa đang gieo trồng tại Gia Lâm- Hà Nội cho thấy: Các giống lúa khác nhau mức độ nhiễm RLT khác nhau, giống CR 203 là giống kháng rầy nâu nhưng lại nhiễm RLT, các giống lúa lai như Nhị ưu 63, Nhị ưu 838 nhiễm cả rầy nâu, RLT và mức độ nhiễm cao hơn giống lúa thuần Khang dân (Nguyễn Đức Khiêm, 1995b; Nguyễn

Đức Khiêm và CTV, 2001) [25], [28]

1.3.2.3 Những nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ hại lúa

Sâu cuốn lá nhỏ phân bố ở hầu hết tất cả các vùng trồng lúa trên cả nước từ Bắc vào Nam, từ vùng ven biển đến vùng núi cao Tuy nhiên thời gian phát sinh và mức độ gây hại của chúng ở mỗi vùng địa lý có sự khác nhau phụ thuộc vào điều kiện thời tiết khí hậu (chủ yếu là ôn ẩm độ của môi trường) cũng như điều kiện và tập quán canh tác của mỗi địa phương, Nhưng nhìn chung các tỉnh vùng ven biển sâu cuốn lá nhỏ thường có thời gian phát sinh sớm và mức độ gây hại cao hơn các nơi khác (Trung tâm BVTV phía Bắc, 2005; 2006) [47], [48]

Sâu cuốn lá nhỏ là loài sâu hại thứ yếu trong những năm 60 của thế kỷ trước, nhưng từ thập kỷ 70 sâu cuốn lá nhỏ đ0 trở thành một loài nguy hại, trong những năm 1990-1994 sâu cuốn lá nhỏ đứng ở hàng thứ hai nguy hại

Trang 34

sau rầy nâu (Nguyễn Công Thuật, 1996) [44] ở các tỉnh phía Bắc, mấy năm gần đây sự gây hại của sâu cuốn lá nhỏ có xu hướng tăng lên và gây hại nặng cả hai vụ xuân, mùa Diện tích nhiễm sâu cuốn lá nhỏ toàn vùng năm 2005 là 384.583 ha, năm 2006 tăng lên đến 475.549 ha (Trung tâm BVTV phía Bắc, 2005; 2006) [47], [48]

Trên đồng ruộng sâu cuốn lá nhỏ gây hại từ giai đoạn mạ đến giai đoạn lúa trỗ, nặng nhất ở giai đoạn đòng - trỗ ở thời kỳ lúa con gái sâu cuốn lá nhỏ phá hại sẽ không hoặc ít làm giảm năng suất lúa vì cây lúa có thể tự đền

bù, tạo dảnh và lá mới rất nhanh chóng, nhưng ở giai đoạn lứng cái-làm trỗ bông nếu bị sâu cuốn lá nhỏ hại nặng sẽ bị ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa (Gié lúa ngắn, ít hạt, trọng lượng hạt giảm), hoặc gây ra hiện tượng nghẹn đòng, bông lúa ngắn, hạt bị lép lửng, năng suất lúa trong những trường hợp đó có thể giảm tới 60% (Cục BVTV, 1995b; Nguyễn Công Thuật, 1996) [13], [44] Theo Đỗ Xuân Bành và ct (1990) [1] cứ 1% lá bị hại thì tỷ lệ giảm năng suất giai đoạn lúa đẻ nhánh là 0,15-0,18%, giai đoạn lúa đứng cái - làm

đòng-đòng là 0,7-0,8%, giai đoạn đòng-đòng già - trỗ là 1,15-1,20% nhưng giai đoạn này

ít xảy ra vì lúc này lá đòng đ0 cứng, sâu không cuốn tổ được Theo Nguyễn Văn Hành (1989) [21] nếu bông lúa có 1 lá bị hại năng suất giảm 3,7%, 2 lá

bị hại năng suất giảm6%, 3 lá bị hại năng suất giảm 15%, 4 lá bị hại năng suất giảm 33%, trường hợp chỉ có lá đòng bị hại, các lá khác còn nguyên thì năng suất giảm 20-30%

Vòng đời sâu cuốn lá nhỏ thay đổi phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ: ở 25- 300C vòng đời là 25-38 ngày, ở 22-240C vòng đời là 44 ngày Trong đó thời gian phát dục các pha trứng, sâu non, nhộng tương ứng là 3-7,5; 13-24 và 4-8 ngày, thời gian trước đẻ trứng là 3-5 ngày, thời gian sống của trưởng thành 3-8 ngày (Đỗ Xuân Bành, 1990; Nguyễn Văn Hành và ct, 1989) [1], [21]

Trưởng thành cuốn lá nhỏ thường tập trung trên các chân ruộng có mật

Trang 35

độ gieo cấy dày, khóm lúa rậm rạp và màu sắc xanh non, vì vậy những ruộng bón nhiều phân đạm, cấy dày, cấy những giống lúa đẻ khoẻ, bản lá to, màu sắc xanh đậm thì mật độ sâu cuốn lá nhỏ ở đó thường cao Sau khi vũ hoá

được 1-2 ngày thì trưởng thành bắt đầu đẻ trứng, trứng được đẻ rải rác từng quả ở mặt dưới lá, thường 1 lá có 1 trứng nhưng cũng có khi có 2-3 trứng/lá Một trưởng thành cái cuốn lá nhỏ có thể đẻ từ 50-100 trứng (Đỗ Xuân Bành, 1990; Nguyễn Văn Hành và ct, 1989) [1], [21]

Nhiệt độ và ẩm độ có ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát sinh và phát triển của sâu cuốn lá nhỏ ở các tỉnh phía Bắc một năm thường có 7 lứa bướm sâu cuốn lá nhỏ phát sinh Thời gian phát sinh các lứa bướm ở mỗi năm sớm hay muộn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, thức ăn và thời vụ gieo cấy Trong năm sâu non gây hại cả 2 vụ lúa nhưng mức độ gây hại ở vụ mùa thường cao hơn ở vụ xuân Các lứa sâu non gây hại nặng thường là lứa 2 (ở vụ xuân), lứa

5, lứa 6 và có năm cả lứa 7 (ở vụ mùa) (Trung tâm BVTV phía Bắc, 2005; 2006) [47], [48] ở Tiền Giang (Nam bộ), sâu cuốn lá nhỏ phát sinh gây hại quanh năm Mỗi vụ lúa có 3 lứa sâu cuốn nhỏ, trong năm thường có ba cao

điểm: tháng 2 (trên lúa đông xuân), tháng 7 (trên lúa hè thu) và tháng 9-tháng

10 (trên lúa mùa) (Đỗ Xuân Bành, 1990) [1] Phạm vi nhiệt độ hoạt động của sâu cuốn lá nhỏ là 10-320C, trên dưới ngưỡng này mọi hoạt động của sâu đều

bị ức chế nghiêm trọng và có thể dẫn đến tử vong Yếu tố ẩm độ và lượng mưa

là những yếu tố quyết định đến khả năng gia tăng mật độ sâu cuốn lá nhỏ: ẩm

độ tử 85-88% là cực thuận cho sâu sinh trưởng và phát triển; lượng mưa đủ lớn

và rải đều trong các tháng sẽ đáp ứng được điều kiện trên, nếu mưa quá to trên

100 mm sẽ gây tử vong đối với sâu non và hạn chế sự phát tán của trưởng thành (Nguyễn Văn Hành, 1989) [21]

Các yếu tố canh tác như lượng phân bón, mật độ gieo cấy, giống lúa và giai đoạn sinh trưởng của cây cũng có ảnh hưởng đến quy luật phát sinh của

Trang 36

sâu cuốn lá nhỏ Những ruộng cấy dày, bón nhiều đạm, bón lai rai thường có mật độ sâu cuốn lá nhỏ cao hơn và bị gây hại nặng hơn (Nguyễn Văn Hành và

ct, 1989) [21]

Trên ruộng lúa ở Việt Nam sâu cuốn lá nhỏ bị nhiều loài thiên địch tấn công Ghi nhận của Phạm Văn Lầm (2000) [32] có 72 loài thiên địch tấn công sâu cuốn lá nhỏ Trong vụ mùa 1994 tại vùng Gia Lâm (Hà Nội), Đặng Thị Dung (1995) [16] đ0 thu thập được 12 loài bắt mồi ăn thịt sâu cuốn lá nhỏ, trong đó phổ biến nhất là 5 loài nhện, đặc biệt là nhện sói và nhện linh miêu,

có số lượng lớn hơn nhiều so với các loài khác

Một trong những biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ là biện pháp sử dụng thuốc hoá học khi trên đồng ruộng có mật độ sâu cao, nhiều loại thuốc hoá học, thuốc sinh học đ0 được khảo nghiệm đánh giá hiệu lực phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ, trong đó các loại thuốc hoá học như Padan 95 SP, Regent 800

WG, Satchong Shuang 95 WP, Karate 2,5 EC… và thuốc sinh học Biotox… được khuyến cáo là có hiệu lực trừ sâu cuốn lá nhỏ cao

Piri-2.3.2.4 Những nghiên cứu về sâu đục thân lúa bướm hai chấm

Sâu đục thân lúa bướm hai chấm là loài sâu hại phổ biến khắp các vùng trồng lúa nước ta, nhiều khi gây tổn thất lớn cho năng suất lúa Trong những năm 1990-1994, sâu đục thân lúa bướm hai chấm đứng hàng thứ ba về diện tích lúa bị phá hại sau rầy nâu và sâu cuốn lá nhỏ (Nguyễn Công Thuật, 1996) [44].ở các tỉnh phía Bắc, hàng năm có 2 lứa sâu đục thân lúa bướm hai chấm gây hại nặng ứng với 2 vụ lúa là lứa 2 (ở vụ xuân) và lứa 5 (ở vụ mùa) Mấy năm gần đây sự gây hại của sâu đục thân lúa bướm hai chấm có xu hướng tăng lên, đặc biệt năm 2005 và 2006 diện phân bố của sâu rộng hơn, mật độ và mức

độ hại cao hơn nhiều lần so với những năm trước: Sâu gây hại từ vụ xuân, gây hại nặng ngay trên mạ mùa, trên lúa mùa sâu gây hại từ lứa 4 và gây hại nặng

ở lứa 5 Diện tích nhiễm sâu đục thân lúa bướm hai chấm toàn vùng vụ mùa

Trang 37

2005 là 177.917 ha, vụ mùa 2006 là 111.017 ha trong đó diện tích mất trắng

đầu năm ấm áp, lứa 1 phát sinh ngay từ đầu tháng 2 thì sâu hoàn thành 7 lứa trong năm (Mai Thọ Trung, 1979) [45] Sâu non lứa cuối cùng khi đẫy sức nằm im trong gốc rạ vụ mùa, kéo dài thời gian phát dục, đến cuối tháng 2

đầu tháng 3 năm sau mới hoá nhộng và vũ hoá trưởng thành (Phạm Bình Quyền, 1976) [37]

Trên đồng ruộng sâu đục thân lúa bướm hai chấm cũng bị nhiều loài thiên địch tấn công Phạm Văn Lầm (2000) [32] đ0 ghi nhận được 25 loài thiên địch của sâu đục thân lúa bướm hai chấm Các loài thiên địch quan trọng của sâu đục thân lúa bướm hai chấm là các loài ong ký sinh sâu non và đặc biệt là các loài ong ký sinh trứng Tập hợp ký sinh có thể tiêu diệt được khoảng 50% sâu non và khoảng 70 thậm chí tới 90% trứng (Hà Quang Hùng, 1991; 1992; Phạm Bình Quyền và ct, 1976) [22], [23], [37]

2.3.3 Những nghiên cứu về Nhện lớn bắt mồi trên ruộng lúa

Một trong những nhóm thiên địch phổ biến của sâu hại lúa là NLBM NLBM có mặt thường xuyên trên ruộng lúa và có vai trò rất quan trọng trong hạn chế số lượng sâu hại lúa (Trần Đình Chiến, 1993; Vũ Quang Côn, 1986;

Trang 38

Hà Quang Hùng, 1991;1992; Phạm Văn Lầm 1994; 2002c; Phạm Bình Quyền, 2002; Trần Huy Thọ và nnk, 1996) [8], [9], [22], [23], [30], [35], [38], [43]

NLBM trên lúa có thành phần loài khá phong phú Trong ba năm

1991-1993, tại các huyện ngoại thành Hà Nội, Bùi Hải Sơn (1995) [40] đ0 thu thập

được 40 loài NLBM trên đồng lúa và xác định được tên 34 loài Trong các năm 1990-1995, Phạm Văn Lầm và ct (1996) [31] đ0 thu thập được 52 loài NLBM trên ruộng lúa tại các huyện ngoại thành Hà Nội và bổ sung ở 25 tỉnh trong cả nước và đ0 xác định được tên 42 loài thuộc 30 giống ở 12 họ Đến năm 2002, thành phần NLBM trên ruộng lúa đ0 được ghi nhận là có 77 loài,

đ0 xác định được tên cho 54 loài thuộc 35 giống của 12 họ, trong đó có khoảng 10 loài rất phổ biến trên đồng lúa ở nhiều tỉnh (Phạm Văn Lầm, 2002a; Phạm Văn Lầm và ct, 2002b) [33], [34]

Quá trình phát triển của NLBM trải qua ba pha phát dục: Trứng, nhện non và nhện trưởng thành Số tuổi của nhện non thay đổi tuỳ theo từng loài và ngay trong một loài cũng có sự thay đổi số tuổi của nhện non (Phạm Văn Lầm

và ct, 2002b; Bùi Hải Sơn, 1995) [34], [40]

NLBM có mặt thường xuyên trên ruộng lúa từ khi cấy (hoặc sạ) cho đến khi thu hoạch Mật độ quần thể NLBM ở đầu vụ thấp, gia tăng dần và đạt đỉnh cao vào giai đoạn cây lúa làm đòng-trỗ bông, đến cuối vụ mật độ lại giảm thấp Quy luật tích luỹ số lượng quần thể của NLBM cũng tương tự như quy luật tích luỹ số lượng quần thể của một số sâu chính hại lúa (rầy nâu, sâu cuốn lá nhỏ…) Tuy nhiên, thời gian đạt đỉnh cao mật độ quần thể của NLBM chậm hơn so với thời gian đạt đỉnh cao mật độ quần thể của các sâu chính hại lúa (Phạm Văn Lầm, 1996 ; Phạm Văn Lầm và ct, 2002a; Bùi Hải Sơn, 1995) [31], [33], [40] Một số loài NLBM mật độ quần thể thay đổi theo sự thay đổi mật độ quần thể con mồi, đặc biệt các loài nhện sói họ Lycosidae, nhện bụng

Trang 39

tròn Dyschiriognatha,… (Phạm Văn Lầm và ct, 2002a; Bùi Hải Sơn, 1995) [33], [40]

Chế độ nước trên ruộng lúa có ảnh hưởng khá rõ đến sự tích luỹ số lượng của NLBM, mật độ quần thể của những nhóm NLBM chính ở ruộng lúa thường xuyên đủ nước thường cao hơn so với ở ruộng không thường xuyên đủ nước

Tính kháng rầy nâu của giống lúa cũng có ảnh hưởng khá rõ đến sự tích luỹ số lượng của một số nhóm NLBM phổ biến, trên các giống lúa nhiễm rầy nâu (nếp TK90) mật độ của nhóm nhện Lycosidae và nhóm nhện Tetragnatha cao hơn hẳn so với mật độ trên giống lúa kháng rầy nâu (CR 203) (Phạm Văn Lầm và ct, 2002a; Bùi Hải Sơn, 1995) [33], [40]

Thuốc hoá học BVTV có ảnh hưởng rất rõ ràng đến sự tích luỹ số lượng NLBM trên đồng lúa Các thuốc trừ sâu có phổ tác động rộng (Monitor, Bassa, Wofatox…) thường có mức độ độc cao, còn các thuốc trừ sâu đặc hiệu (Applaud, Trebon…), các thuốc thảo mộc (Rotenon, Roka…), các thuốc trừ bệnh (Hinosan, Fujone…) có mức độc từ nhẹ (cấp 2) đến trung bình (cấp 3), chỉ có chế phẩm sinh học Bt là không độc đối với NLBM trên lúa (Phạm Văn Lầm và ct, 2002a; Bùi Hải Sơn, 1995) [33], [40]

Trang 40

3 Nội dung, địa điểm

và phương pháp nghiên cứu

3.1 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra xác định thành phần sâu hại trên 2 giống lúa lai và lúa thuần tại Hưng Yên vụ xuân 2007

- Nghiên cứu tình hình phát sinh, diễn biến số lượng và yếu tố ảnh hưởng

đến số lượng của rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân bướm

2 chấm trên 2 giống lúa Nhị ưu 838 (lúa lai) và Khang dân (lúa thuần) tại Hợp tác x0 (HTX) Trung Hoà, Yên Mỹ, Hưng Yên

- Điều tra xác định thành phần nhện lớn bắt mồi trên 2 giống lúa lai và lúa thuần tại Hưng Yên vụ xuân 2007

- Nghiên cứu tình hình phát sinh, diễn biến số lượng và yếu tố ảnh hưởng

đến số lượng của NLBM trên 2 giống lúa Nhị ưu 838 và Khang dân tại HTX Trung Hoà, Yên Mỹ, Hưng Yên

- Biện pháp hoá học phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ và rầy nâu trên lúa lai Nhị

ưu 838

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

* Các nghiên cứu ở ngoài đồng:

- Điều tra thu thập thành phần sâu hại, thành phần NLBM trên 2 giống lúa lai và lúa thuần được tiến hành chủ yếu ở các HTX của huyện Yên Mỹ,

điều tra bổ sung ở một số vùng lân cận của các huyện Văn Lâm, Văn Giang,

Ân Thi, tỉnh Hưng Yên

- Điều tra diễn biến mật độ, yếu tố ảnh hưởng đến mật độ của một số

Ngày đăng: 20/11/2013, 16:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tỷ trọng một số giống lúa lai chủ yếu trong tổng khối l−ợng - Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại hưng yên vụ xuân 2007
Bảng 2.1. Tỷ trọng một số giống lúa lai chủ yếu trong tổng khối l−ợng (Trang 14)
Bảng 2.2. Diện tích nhiễm (ha) một số đối t−ọng chủ yếu của các tỉnh, - Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại hưng yên vụ xuân 2007
Bảng 2.2. Diện tích nhiễm (ha) một số đối t−ọng chủ yếu của các tỉnh, (Trang 15)
Bảng 4.6. Mật độ rầy nâu (c/m 2 ) trên 2 giống lúa lai và lúa thuần - Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại hưng yên vụ xuân 2007
Bảng 4.6. Mật độ rầy nâu (c/m 2 ) trên 2 giống lúa lai và lúa thuần (Trang 63)
Bảng 4.7. Mật độ rầy l−ng trắng (c/m 2 ) trên 2 giống lúa lai và lúa thuần - Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại hưng yên vụ xuân 2007
Bảng 4.7. Mật độ rầy l−ng trắng (c/m 2 ) trên 2 giống lúa lai và lúa thuần (Trang 65)
Bảng 4.8. Mật độ rầy l−ng trắng (c/m 2 ) trên 2 giống lúa lai và lúa thuần ở - Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại hưng yên vụ xuân 2007
Bảng 4.8. Mật độ rầy l−ng trắng (c/m 2 ) trên 2 giống lúa lai và lúa thuần ở (Trang 67)
Bảng 4.9. Tỷ lệ hại (%) của sâu đục thân 2 chấm trên 2 giống lúa lai - Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại hưng yên vụ xuân 2007
Bảng 4.9. Tỷ lệ hại (%) của sâu đục thân 2 chấm trên 2 giống lúa lai (Trang 70)
Bảng 4.13. Mật độ nhện lớn bắt mồi (c/m 2 ) trên 2 giống lúa lai và lúa thuần - Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại hưng yên vụ xuân 2007
Bảng 4.13. Mật độ nhện lớn bắt mồi (c/m 2 ) trên 2 giống lúa lai và lúa thuần (Trang 77)
Bảng 4.14. Mật độ sâu cuốn lá nhỏ và tỷ lệ lá hại  qua các kỳ điều tra - Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại hưng yên vụ xuân 2007
Bảng 4.14. Mật độ sâu cuốn lá nhỏ và tỷ lệ lá hại qua các kỳ điều tra (Trang 78)
Bảng 4.15. Hiệu lực (%) của một số loại thuốc trừ sâu cuốn lá nhỏ - Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại hưng yên vụ xuân 2007
Bảng 4.15. Hiệu lực (%) của một số loại thuốc trừ sâu cuốn lá nhỏ (Trang 79)
Bảng 4.16. Mật độ rầy nâu (con/ khóm) qua các kỳ điều tra - Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại hưng yên vụ xuân 2007
Bảng 4.16. Mật độ rầy nâu (con/ khóm) qua các kỳ điều tra (Trang 80)
Bảng 4.18. Mật độ rầy nâu (con/m 2 ) qua các kì điều tra - Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại hưng yên vụ xuân 2007
Bảng 4.18. Mật độ rầy nâu (con/m 2 ) qua các kì điều tra (Trang 81)
Bảng 4.19. Mật độ nhện lớn bắt mồi (con/m 2 ) qua các kì điều tra - Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại hưng yên vụ xuân 2007
Bảng 4.19. Mật độ nhện lớn bắt mồi (con/m 2 ) qua các kì điều tra (Trang 82)
Bảng 4.20. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thống kê - Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại hưng yên vụ xuân 2007
Bảng 4.20. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thống kê (Trang 83)
Ảnh 3. Hình ảnh khu thí nghiệm mật độ cấy - Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại hưng yên vụ xuân 2007
nh 3. Hình ảnh khu thí nghiệm mật độ cấy (Trang 102)
Hình 8. Sâu cuốn lá nhỏ hại trên - Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của một số sâu hại chủ yếu trên lúa lai, lúa thuần và biện pháp hoá học phòng trừ chúng tại hưng yên vụ xuân 2007
Hình 8. Sâu cuốn lá nhỏ hại trên (Trang 103)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm