Cùng với đó, những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về văn hóa, văn học dân tộc thiểu số là bước đệm quan trọng giúp các nhà văn, nhà thơ, các nhà nghiên cứu, lý luận phê
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MÃ THỊ TUYẾT TRINH
VĂN HỌC DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC TRONG ĐỜI SỐNG LÝ LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC
VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TỪ 1986 ĐẾN NAY
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Ngọc Anh
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019
Người cam đoan
Mã Thị Tuyết Trinh
Trang 4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Luận văn là một phần kết quả nghiên cứu của dự án “Những vấn đề cấp bách
về bảo tồn và phát huy các giá trị văn học cổ truyền dân tộc thiểu số Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và phát triển” (Ủy ban Dân tộc là cơ quan chủ quản, Viện NCKH
và NVMN là cơ quan chủ trì, TS Trần Thị Ngọc Anh chủ nhiệm), mã số CTDT.30.17/16-20
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Trần Thị Ngọc Anh - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi về tri thức, phương pháp và kinh
nghiệm nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, quý thầy cô khoa Ngữ văn, Phòng Đào tạo Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới người thân, đồng nghiệp, bạn
bè đã động viên, quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa học này
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019
Tác giả luận văn
Mã Thị Tuyết Trinh
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của đề tài 7
7 Cấu trúc đề tài 8
NỘI DUNG 9
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 9
1.1 Những vấn đề lý luận chung về văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại 9
1.1.1 Khái niệm văn học dân tộc thiểu số 9
1.1.2 Khái quát về văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại 10
1.2.3 Văn học dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong dòng chảy của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại 14
1.2 Lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại 18
1.2.1 Khái niệm lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số 18
1.2.2 Lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại khu vực miền núi phía Bắc từ năm 1986 đến nay 19
Tiểu kết chương 1 24
Chương 2: MỘT SỐ KHUYNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC TỪ 1986 ĐẾN NAY 25
2.1 Văn học DTTS miền núi phía Bắc - Những nghiên cứu dưới góc nhìn văn hóa 26
2.1.1 Nghiên cứu khai thác bản sắc văn hóa thông qua phong tục, tập quán đặc sắc 30
2.1.2 Nghiên cứu khai thác các giá trị văn học cổ truyền qua các làn điệu, câu ca 36
2.1.3 Nghiên cứu khai thác các giá trị biểu tượng văn hóa truyền thống 39
2.2 Văn học DTTS miền núi phía Bắc - Những nghiên cứu dưới góc độ bản thể nghệ thuật 41
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
2.2.1 Nghiên cứu khai thác các giá trị nội dung 43
2.2.2 Nghiên cứu khai thác các giá trị hình thức nghệ thuật 47
2.3 Văn học dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc - những nghiên nhìn từ góc độ tổng thuật 55
2.3.1 Tổng kết các giá trị đặc sắc thông qua nội dung và nghệ thuật của văn học DTTS miền núi phía Bắc 56
2.3.2 Phục dựng lại quá trình phát triển, tổng kết những thành tựu của văn học DTTS miền núi phía Bắc 60
2.3.3 Khái quát chặng đường phát triển của văn học thông qua các thể loại tiêu biểu của một số địa phương miền núi phía Bắc 63
Tiểu kết chương 2 68
Chương 3: KHẢ NĂNG VÀ THÁCH THỨC CỦA LÝ LUẬN PHÊ BÌNH VỀ VĂN HỌC DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN 69
3.1 Khả năng 70
3.1.1 Thời kỳ đổi mới đất nước tạo ra những thời cơ thuận lợi cho nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc 70
3.1.2 Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước 74
3.1.3 Nhu cầu thưởng thức văn học nghệ thuật DTTS của đồng bào miền núi phía Bắc tăng cao thúc đẩy lý luận, phê bình phát triển 79
3.2 Thách thức 82
3.2.1 Những mặt trái của nền kinh tế thị trường trong thời kỳ đổi mới tác động đến nghiên cứu, lý luận về văn học DTTS miền núi phía Bắc 82
3.2.2 Sự phát triển mất cân đối giữa các hướng nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc 83
3.3 Một số kiến nghị phát triển nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc trong bối cảnh hội nhập và phát triển 90
Tiểu kết chương 3 95
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong bối cảnh hội nhập và phát triển đang là xu thế diễn ra trên toàn cầu hiện nay, mỗi dân tộc, quốc gia đều cần đẩy mạnh lưu giữ và phát huy các nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc mình Trong đó, Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy của thời kì mở cửa hội nhập và phát triển Một trong những vấn đề được quan tâm hàng hiện nay là đẩy mạnh phát triển và lưu giữ những nét đẹp văn hóa, những thành tựu của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam Bởi lẽ, văn học là một bộ phận quan trọng trong đời sống đồng của các bào các dân tộc thiểu số miền núi, thông qua văn học những tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của người dân tộc thiểu số được thể hiện một cách tự nhiên và đủ đầy nhất Đồng thời, những nét đẹp văn hóa truyền thống đặc sắc mang đậm bản sắc văn hóa tộc người cũng được lưu giữ một cách trọn vẹn thông qua lăng kính của văn học dân tộc thiểu số Sự phát triển mạnh mẽ của bộ phận văn học dân tộc thiểu số tạo tiền đề và cơ sở cho hoạt động nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số (DTTS) miền núi phía Bắc ra đời và phát triển, tạo nên một bức tranh nghiên cứu đa dạng và phong phú về văn học DTTS
1.2 Từ năm 1986, văn học dân tộc thiểu số miền núi là đề tài thu hút nhiều sự quan tâm chú ý của giới nghiên cứu Song hành với đó, nghiên cứu, lý luận phê bình
về văn học dân tộc thiểu số ngày càng khẳng định vai trò và vị trí của mình Đặc biệt, nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc cũng tạo được dấu ấn riêng trong đời sống lý luận, phê bình văn học nước nhà Với sự xuất hiện của nhiều khuynh hướng nghiên cứu, phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc Cùng với đó, những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về văn hóa, văn học dân tộc thiểu số là bước đệm quan trọng giúp các nhà văn, nhà thơ, các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc có điều kiện thuận lợi hơn trong việc thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, lý luận phê bình theo nhiều khuynh hướng nghiên cứu khác nhau
1.3 Hoạt động nghiên cứu, lý luận phê bình văn học dân tộc thiếu số khu vực miền núi phía Bắc được đặt nền móng từ chính các nhà văn, nhà thơ khi họ vừa sáng tác, vừa viết nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học Tiếp đó là các bài nghiên cứu, phê bình dần xuất hiện trên báo chí Kể từ đó các công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
học dân tộc thiểu số khu vực miền Bắc ngày càng nở rộ và mang tính chuyên nghiệp hơn Đội ngũ viết nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc ngày càng tăng lên và cho ra đời những tác phẩm lý luận phê bình
có cơ sở khoa học cao Có thể kể đến một vài nhà nghiên cứu như: Lâm Tiến, Nông Quốc Chấn, Lò Ngân Sủn, Hoàng An, Mã A Lềnh, Ma Trường Nguyên, Trần Thị Việt Trung, Hà Anh Tuấn, Đỗ Thị Thu Huyền, Nguyễn Đức Hạnh, Đào Thủy Nguyên với những công trình phê bình, lý luận được nghiên cứu theo nhiều khuynh hướng khác nhau là minh chứng cho sự phát triển của hoạt động nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc từ năm 1986 đến nay
1.4 Lựa chọn đề tài Văn học dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong đời sống
lý luận phê bình văn học Việt Nam hiện đại từ 1986 đến nay là việc làm thiết thực và
có nhiều ý nghĩa Việc tìm hiểu và phân nhóm các công trình lý luận theo từng khuynh hướng nhằm khái quát lại diện mạo mảng nghiên cứu, lí luận phê bình của nền văn học này, giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về bức tranh nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc Đồng thời góp phần định hướng và thúc đẩy hoạt động sáng tạo văn học dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc phát triển mạnh mẽ
và đúng hướng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ năm 1986 trở lại đây, văn học DTTS miền núi phía Bắc thực sự là một mảng
đề tài hấp dẫn và thu hút được sự quan tâm và chú ý của giới chuyên môn Là đối tượng đặc biệt của nghiên cứu, lý luận phê bình Nghiên cứu lý luận về văn học dân tộc thiểu
số bước đầu có sự quan tâm và chú ý từ những bài viết được đăng tải trên các trang báo, tạp chí chuyên ngành Các công trình nghiên cứu về văn học DTTS dần xuất hiện như một sự minh chứng sâu sắc cho sự phát triển của bộ phận văn học DTTS miền núi phía Bắc
Nghiên cứu, lý luận phê bình văn học DTTS miền núi phía Bắc có sự khởi sắc mạnh mẽ và để lại dấu ấn sâu sắc từ các công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu chuyên sâu tổng thuật lại các chặng đường và quá trình phát triển của văn học DTTS
như: Nhà nghiên cứu, phê bình Lâm Tiến với các công trình nghiên cứu Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại (1995), Về một mảng văn học dân tộc (1999), Văn học và miền núi (2002), Tiếp cận văn học dân tộc thiểu số miền núi (2011) Các
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
công trình nghiên cứu của Lâm Tiến vừa mang tính khái quát, tổng thể vừa mang tính
cụ thể khi khái quát, đánh giá và nghiên cứu phê bình về từng tác giả cụ thể, qua từng giai đoạn phát triển của văn học hay các thể loại có thành công nổi bật của bộ phận văn học dân tộc thiểu số Việt Nam Lâm Tiến với bốn cuốn nghiên cứu, lý luận phê bình giúp người đọc hình dung ra khá rõ nét diện mạo và sự vận động phát triển của văn học DTTS qua tình hình phát triển đội ngũ sáng tác, chất lượng các tác phẩm sáng tạo văn học hay những điểm còn hạn chế Tất cả đều được thể hiện khá đầy đủ trong nghiên cứu của Lâm Tiến Ngoài ra, nghiên cứu lý luận phê bình văn học DTTS mang tính tổng thuật cao còn được nghiên cứu và đánh giá, bình thẩm sân sắc trong nghiên cứu
của PGS.TS Trần Thị Việt Trung với các công trình Nghiên cứu, lí luận phê bình văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại - Diện mạo và đặc điểm (2013), Lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số (2016) Để khẳng định những thành tựu đặc sắc
và những mặt còn thiếu sót, tồn đọng của bộ phận văn học DTTS Việt Nam, PGS.TS Trần Thị Việt Trung trong nghiên cứu trên đã phá thảo rõ nét và sâu sắc về các chặng đường phát triển của văn học DTTS nói chung, đồng thời nghiên cứu, phê bình về những mặt thành công của các thể loại văn học phát triển mạnh như: Thơ ca, văn xuôi DTTS Bên cạnh đó, trong Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thị Thanh Tuyền cũng đặc
biệt quan tâm nghiên cứu về văn học DTTS với công trình Lý luận, phê bình văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (2012) Ngoài ra, nghiên cứu, lý luận phê bình về
văn học DTTS miền núi phía Bắc dưới góc nhìn tổng thuật còn xuất hiện khá nhiều dưới dạng Luận văn thạc sĩ, luận án Tiến sĩ thuộc các trường Đại học trong cả nước
như: Cao Thị Thu Hoài (2015), Nửa thế kỉ phát triển văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam (khoảng từ 1960 đến nay), Luận án Tiến sĩ, Đại học Thái Nguyên, Phạm Thị Thương (2015), Văn học Lào Cai từ năm 1986 đến nay, Trần Thị
Lệ Thanh (2013), Văn học Tuyên Quang từ thời kì đổi mới (1986 - 2006) tác phẩm và
dư luận, Hoàng Kim Dung (2009), Văn học Bắc Kạn từ 1945 đến nay, Nguyễn Thị Kiều Giang (2017), Truyện ngắn Thái Nguyên đầu thế kỉ XXI (2000 - 2015), Hà Thị Bích Ngọc (2016), Văn xuôi Yên Bái từ 1986 đến nay Các công trình nghiên cứu về
văn học DTTS miền núi phía Bắc nêu trêu đều mang tính chất khát quát và tổng thuật cao Ẩn chứa trong mỗi công trình nghiên cứu là diện mạo phát triển của văn học DTTS
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
qua từng chặng đường cũng như những nét đặc sắc trong văn chương DTTS thông qua các vùng miền và tỉnh thành thuộc khu vực miền núi phía Bắc
Bên cạnh đó, nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc còn là sự ghi nhận những công trình nghiên cứu tiếp cận tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa Từ năm 1986 trở lại đây, nghiên cứu phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc đã công bố khá nhiều những công trình khai thác các giá trị văn chương qua lăng kính của văn hóa Có thể kể tên một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Nguyễn Kiến Thọ (2012), Thơ ca dân tộc H’Mông - từ truyền thống đến hiện đại, Luận án Tiến sĩ, Đại học Thái Nguyên, Hà Anh Tuấn (2015): Ảnh hưởng của văn học dân gian trong văn xuôi và thơ ca Tày hiện đại, Luận án Tiến sĩ, Đại học Thái Nguyên, Nguyễn Thị Thu Huyền (2009) với công trình Bản sắc Tày trong thơ Y Phương và Dương Thuấn; Lê Thị Hồng Trang (2016), Bản sắc Nùng trong thơ Mã Thế Vinh; Bàn Thị Quỳnh Giao (2010), Bản sắc văn hóa Dao trong thơ Bàn Tài Đoàn; Phạm Thế Thành (2005), Bản sắc Tày trong thơ Nông Quốc Chấn; La Thúy Vân (2011) Bản sắc văn hóa dân tộc trong những sáng tác của Cao Duy Sơn… Nguyễn Thị Huyền Anh (2018), Bản sắc dân tộc trong thơ Ma Trường Nguyên; Hoàng Thị Vi (2009), Bản sắc dân tộc trong văn xuôi Triều Ân; Tăng Thanh Phương (2018) Biểu tượng văn hóa trong thơ ca Mông Hà Giang Các công trình nghiên cứu về văn học
DTTS miền núi phía Bắc dưới góc nhìn văn hóa tập trung khai thác các giá trị thuộc bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện qua những phong tục, tập quán đặc sắc của đồng bào DTTS miền núi phía Bắc Ngoài ra, những công trình trên còn góp phần tạo dựng bức tranh nghiên cứu về văn học DTTS miền núi phía Bắc đậm đà bản sắc dân tộc Tuy nhiên, những công trình nêu trên chỉ tập trung vào nghiên cứu và khám phá những nét đặc sắc về văn hóa truyền thống có trong tác phẩm văn học
Ngoài sự xuất hiện và ghi nhận thành công của một số công trình nghiên cứu về văn học DTTS miền núi phía Bắc từ góc nhìn tổng thuật đến những công trình nghiên cứu dưới góc nhìn văn hóa Nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc còn có sự xuất hiện của một số công trình nghiên cứu từ góc độ bản thể nghệ thuật như: khai thác các giá trị của văn học DTTS qua nội dung và hình thức nghệ thuật đặc sắc, hoặc những công trình nghiên cứu dưới góc độ thi pháp tiêu biểu như: Nguyễn
Kiến Thọ (2008), Một số đặc điểm của thơ ca dân tộc Mông thời kỳ hiện đại (Từ 1945
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đến nay), Trương Hoàng Anh (2017), Truyện ngắn Mã A Lềnh; Bùi Thị Thanh Huyền (2017), Truyện Ngắn Bùi Thị Như Lan; Phạm Thị Cẩm Anh (2017), Thơ Lò Ngân Sủn;
Vũ Ngọc Kim (2013), Đặc điểm tiểu thuyết Ma Trường Nguyên; Thiều Thị Phương Nga (2011), Đặc điểm tiểu thuyết Vi Hồng; Đinh Minh Hảo (2009), Đặc điểm truyện ngắn Cao Duy Sơn Những công trình trên đều tập trung khai thác các giá trị của văn
học thông qua nội dung và hình thức nghệ thuật
Có thể thấy, nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc
là một bức tranh đa sắc màu với nhiều hướng tiếp cận, nghiên cứu khác nhau Với sự
đa dạng của những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy hiện nay vẫn chưa
có một công trình nào bước đầu tổng có hệ thống về bức tranh nghiên cứu, lý luận phê bình văn học dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc từ năm 1986 đến nay theo từng khuynh hướng với sự phát triển vốn có của nó Tuy nhiên, những công trình kể trên đều là những nguồn tư liệu vô cùng quý giá, là những công trình gợi dẫn cho chúng tôi lựa
chọn Văn học dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong đời sống lý luận văn học Việt Nam hiện đại từ 1986 đến nay làm đề tài luận văn của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là tìm hiểu và hệ thống hóa bức tranh nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc từ năm 1986 đến nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu của đề tài những bài báo khoa học, luận văn Thạc
sĩ, luận án Tiến sĩ, sách chuyên khảo, những công trình nghiên cứu chuyên biệt về văn học dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc Các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc được lưu giữ trong các thư viện của các trường Đại học: Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Đại học Sư phạm Hà Nội 1, Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn, thư viện văn học, thư viện Quốc gia, Trung tâm học liệu - Đại học Thái Nguyên Ngoài ra, trong quá trình triển khai các vấn đề của đề tài, chúng tôi còn sử dụng những Nghị quyết, Quyết định, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về vấn đề văn học DTTS thông qua các trang web: Thư viện pháp luật, văn hóa học, Đảng cộng sản
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
4.1 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu về văn học dân tộc thiểu số miền núi phía bắc trong đời sống lý luận văn học Việt Nam từ 1986 đến nay nhằm tìm hiểu, phác thảo diện mạo của bức tranh tình hình nghiên cứu lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc theo những khuynh hướng khác nhau Nghiên cứu, phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc theo từng khuynh hướng góp phần định hướng và thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc phát triển đúng hướng và cân đối Đồng thời định hướng cho sự phát triển của văn học DTTS miền núi phía Bắc trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn những vấn đề có liên quan đến đề tài
- Đánh giá, phân chia các khuynh hướng nghiên cứu, lý luận về văn học DTTS miền núi phía Bắc nhằm khái quát đầy đủ nhất về diện mạo và bức tranh của nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc Đồng thời, đặt ra những thời cơ và thách thức của vấn đề nghiên cứu, lý luận về văn học DTTS trong bối cảnh hội nhập hiện nay cũng như đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn học DTTS miền núi phía Bắc
5 Phương pháp nghiên cứu
Ở đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp này giúp chúng tôi phân loại
và lực chọn chính xác đối tượng nghiên cứu Phân loại các khuynh hướng nghiên cứu chính của lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc Đồng thời, trong quá trình tìm hiểu triển khai và giải quyết vấn đề phương pháp này giúp chúng tôi cụ thể hóa các khía cạnh của vấn đề
- Phương pháp tổng hợp: Với phương pháp tổng hợp, chúng tôi sẽ có cái nhìn
bao quát hơn về vấn đề mình nghiên cứu Sử dụng phương pháp tổng hợp giúp chúng tôi bao quát bức tranh nghiên cứu phê bình về văn học dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc một cách đầy đủ và dễ dàng hơn Bên cạnh đó, giúp chúng tôi tóm tắt được vấn đề chính trong các phần và các chương
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Phương pháp phân tích: Với phương pháp này, giúp chúng tôi đi sâu vào tìm
hiểu, phân tích và khám phá nền văn học dân tộc thiểu số trong đời sống của lý luận phê bình một cách sâu sắc và khá đầy đủ làm nổi bật lên những giá trị to lớn về nghiên cứu lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và văn học dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc nói riêng
- Phương pháp so sánh: Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và khái quát các
vấn đề Chúng tôi có sử dụng phương pháp so sánh đề so sánh văn học thiểu số của riêng khu vực miền núi phía Bắc trong đời sống lý luận phê bình với việc nghiên cứu,
lý luận phê bình văn học dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung
- Phương pháp liên ngành: Trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi có vận
dụng, sử dụng một vài kiến thức của các ngành khác như văn hóa học, xã hội học, ngôn ngữ học Giúp chúng tôi có cái nhìn bao quát hơn, tìm hiểu được đúng, đủ và sâu sắc, toàn diện vấn đề đang được nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu thi pháp học: Phương pháp này giúp chúng tôi nắm
vững lý thuyết về thi pháp học, tiếp cận đối tượng nghiên cứu một cách dễ dàng và đúng hướng
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Trong quá trình khảo sát và hệ thống hóa
chúng tôi có sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết như kim chỉ nam cho các vấn
đề sẽ được triển khai trong nội dung chương 2 và 3
6 Đóng góp của đề tài
- Luận văn Văn học dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong đời sống lý luận phê
bình văn học Việt Nam hiện đại từ 1986 đến nay là công trình đầu tiên hệ thống hóa
một cách toàn diện và có hệ thống về bức tranh nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc trên tất cả các phương diện Với mục tiêu nghiên cứu và phục dựng lại diện mạo nghiên cứu chung của lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc Qua đó, chỉ ra được vị trí cũng như tầm quan trọng của bộ phận nghiên cứu, lý luận phê bình trong việc tìm hiểu và khám phá các giá trị của văn học DTTS
- Trên cơ sở phác họa và tái hiện lại bức tranh nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc được phân chia theo các khuynh hướng Luận văn chỉ ra sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu về văn học DTTS trong bối cảnh đầy thách
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
thức hiện nay Đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị đặc sắc của văn học nghệ thuật DTTS miền núi phía Bắc
7 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung
Chương 2: Một số khuynh hướng nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số miền núi
phía Bắc từ 1986 đến nay
Chương 3: Khả năng và thách thức của lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu
số khu vực miền núi phía Bắc trong bối cảnh hội nhập và phát triển
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Những vấn đề lý luận chung về văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
1.1.1 Khái niệm văn học dân tộc thiểu số
Theo sự quan sát của chúng tôi, trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây, văn học DTTS là từ khóa được tìm kiếm của đông đảo giới nghiên cứu Thực tiễn cho thấy, văn học dân tộc thiểu số có những bước phát triển đột phá và tạo ra được những dấu ấn đặc biệt trong dòng chảy văn học nước nhà Hơn nửa thế kỷ qua, bộ phận văn học DTTS
đã có những bước phát triển khá mạnh mẽ và đạt được những thành công đáng ghi nhận Bộ phận văn học dân tộc thiểu số đang dần phát triển mạnh và hoàn thiện hơn nữa để đủ lớn mạnh, đủ sức để hòa vào dòng chảy chung của nền văn học Việt Nam hiện đại qua đó từng bước khẳng định được vị trí quan trọng và xứng đáng của mình trong sự phát triển chung của nền văn học nước nhà Chính sự thành công của văn học DTTS đã tạo điều kiện thuận lợi và trở thành đối tượng nghiên cứu của lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số Hiện nay, xuất hiện một vài định nghĩa về văn học
dân tộc thiểu số Trong đó, Cao Thị Thu Hoài cho rằng: “Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam bao gồm những sáng tác của các nhà văn dân tộc thiểu số viết về miền núi và đời sống của nhân dân các dân tộc ít người trên khắp các vùng miền của đất nước” [22;
tr.1] PGS.TS Trần Thị Việt Trung trong công trình Nghiên cứu, phê bình về văn học
dân tộc thiểu số thiểu số cho rằng: “Văn học các DTTS thời kì hiện đại là một bộ phận khăng khít cấu thành của nền văn học Việt Nam Trong đời sống văn học nước nhà, bên cạnh đội ngũ sáng tác người Kinh còn có một đội ngũ tác giả là người DTTS Lực lượng sáng tác này ngày càng đông đảo hơn, tích cực sáng tác hơn.” [61; tr.36,37]
Như vậy, khi nghiên cứu về mảng đề tài dân tộc thiểu số, các nhà nghiên cứu đứng dưới góc nhìn của mình đã đưa ra những khái niệm riêng về văn học dân tộc thiểu
số Và hiện nay, số lượng các công trình nghiên cứu về văn học DTTS ngày càng nở
rộ dưới nhiều hình thức tiếp cận phong phú Theo chúng tôi: Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam bao gồm những sáng tác, những sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn, nhà
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
thơ, nhà viết kịch là người dân tộc thiểu số và người Kinh tham gia viết đề tài miền núi
và đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ít người trong mọi mặt đời sống của các
dân tộc ít người như đời sống sinh hoạt tinh thần phong phú, đặc sắc, thiên nhiên núi rừng hùng vỹ, hoang sơ mà thơ mộng, trữ tình
1.1.2 Khái quát về văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
Văn học thiểu số Việt Nam hiện đại tuy xuất hiện chậm nhưng đã có bước vận động
và phát triển khá nhanh chóng, đội ngũ sáng tác ngày càng đông đảo và số lượng các tác phẩm ngày càng tăng trên tất cả các thể loại với đề tài hấp dẫn và phong phú
Văn học dân tộc thiểu số (DTTS) Việt Nam từ sau khi hòa bình đã có những bước phát triển mạnh mẽ, trước hết vốn văn học dân gian của các dân tộc thiểu số Việt Nam được khơi gợi và làm sống lại thông qua các công trình sưu tầm và in ấn thành sách Chúng ta có thể thấy, vốn văn học cổ dân gian dân tộc thiểu số Việt Nam rất phong phú
và đa dạng bao gồm các thể loại như: Sử thi, dân ca, truyện cổ, thành ngữ - tục ngữ, truyện thơ, trường ca Từ năm 1986 đến nay, có rất nhiều những tác phẩm thuộc về nền văn học gian dân DTTS được sưu tầm, in ấn thành sách Một số tác phẩm dân gian DTTS được phiên dịch ra tiếng phổ thông và lưu hành rộng rãi đến công chúng như:
trường ca Đam San, Xinh Nhã, Y Prao, Đam Di của các dân tộc Gia Rai, Ê Đê khu vực Tây Nguyên, truyện thơ Tiễn dặn người yêu, truyện thơ Khảm hải của đồng bào dân tộc Tày, sử thi Đẻ đất đẻ nước thuộc khu vực miền núi phía Bắc, ngoài ra văn học dân
tộc thiểu số Việt Nam hiện đại còn xuất hiện những cuốn sách sưu tầm, biên dịch thành
ngữ - tục ngữ DTTS như Thành ngữ dân tộc Thái (Việt - Thái) do Phan Kiến Giang sưu tầm, Ksor Nút với cuốn biên dịch Tục ngữ Chăm Hroi (Việt - Chăm), Lương Bèn (chủ biên) với cuốn Từ điển Tày - Việt, Nguyễn Quang Tuệ với cuốn biên dịch Câu đố của người Jrai Ngoài ra, còn có rất nhiều tác phẩm truyện thơ, sử thi, trường ca của
đồng bào DTTS như: Ê Đê, Gia Rai, Tày, Nùng, Mường, Thái, Giáy đã được sưu tầm
và in ấn thành sách nhằm giới thiệu và công bố rộng rãi đến độc giả Với những cuốn sách đó đồng bào dân tộc trải dọc khắp đất nước Việt Nam sẽ hiểu hơn về nguồn văn học dân gian DTTS đa dạng và phong phú của các dân tộc Có thể nói, đây là dấu hiệu tích cực cho sự phát triển của bộ phận văn học DTTS Việt Nam
Văn học DTTS Việt Nam hiện đại phát triển nhanh với đội ngũ sáng tác đông đảo thuộc các dân tộc khác nhau trải dài khắp các vùng miền đất nước, tiêu biểu như các tác
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
giả DTTS khu vực miền núi phía Bắc: Nông Quốc Chấn, Triều Ân, Vi Hồng, Cao Duy Sơn, Nông Minh Châu, Cao Duy Sơn, Mai Liễu, Y Phương, Dương Thuấn, Hoàng An,
Ma Trường Nguyên, Hà Lâm Kì, Lò Văn Cậy, Vương Trung, Lò Cao Nhum, Cầu Biêu, Bùi Thị Tuyết Mai, Mã Thế Vinh Các tác giả DTTS khu vực Bắc Trung Bộ như: Vương Anh, Hà Thị Cẩm Anh, Khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ: Inrasara, Hơ
vê, Kim Nhất, Dư Thị Hoàn, Thao Khằm, Hồ Chư, Y Điêng, Niê Thanh Mai, Hoàng Thanh Hương, Linh Nga Niêkdăm, Trà Vigia Như vậy, ta có thể thấy các văn nghệ sĩ DTTS thuộc khu vực miền núi phía Bắc chiếm phần đa số và hiện nay, vẫn còn khá nhiều DTTS chưa có được nhà văn của dân tộc mình Văn học DTTS vẫn chưa phát triển mạnh
với nhiều màu sắc khác nhau, với những giọng điệu và cách thể hiện khác nhau như: Tiếng hát tháng giêng, Lời chúc của Y Phương, Đi tìm bóng núi của Dương Thuấn, Tiếng lá rừng gọi đôi, Mát xanh rừng cọ của Ma Trường Nguyên, Rượu núi của Lò Cao Nhum, Giọt khèn, Ngọn lửa rừng của Triệu Lam Châu, Suối làng, Mây vãn bay về núi của Mai Liễu, Những người con của núi, Chiều biên giới của Lò Ngân Sủn, Người con trai Pa Dí, Chiều biên giới của Pờ Sảo Mìn, Thắp nắng của Inrasara, Bên suối Nậm
Mơ, Tình ca núi đá của Mã A Lềnh, Tự cảm của Hoàng Thanh Hương, tập thơ Hoa trên đá, Dòng mưa muộn màng, Tiếng gió rừng của Hồ Chư, tập thơ Tiếng chiêng dài của H’TremKnul, tập thơ Cao nguyên tôi yêu, Cao nguyên của tôi của K’RaZanPlin, Đóa hoa rừng, Plây em mùa xuân của Đinh Xăng Hiền và Nga Ri Các tác phẩm thơ
ca DTTS giai đoạn bước vào đổi mới mang nhiều màu sắc và âm hưởng khác nhau Đó
là một bức tranh náo nhiệt và vui tươi ca ngợi về thiên nhiên, đất nước và con người miền núi mộc mạc, giản dị và vui tươi Các tác phẩm thơ ca DTTS khám phá cuộc sống của con người vùng cao DTTS trong thời kì mới mang hơi thở mới mẻ, vui tương và
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nhiệt huyết Có thể thấy, thơ ca là thể loại phát triển mạnh mẽ và để lại dấu ấn sâu sắc nhất trong nền văn học DTTS Việt Nam hiện đại Thơ ca mang đến nhiều thành tựu đáng ghi nhận và tự hào Sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của thơ ca DTTS góp phần quan trọng vào sự phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại
Bên cạnh sự nở rộ của thơ ca DTTS, thể loại văn xuôi (truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch) cũng đạt được nhiều thành công đáng ghi nhận với sự ra đời của hàng loạt những tác phẩm đặc sắc với đề tài phong phú và hấp dẫn Đặc biệt, truyện ngắn được phát triển mạnh mẽ với những cuốn tuyển tập của nhiều tác giả hoặc của từng tác giả như:
Mai Liễu với Vẫn còn mùa thổ cẩm (2001); Hà Lâm Kì với Con trai bà chúa Nả (1997);
Hà Thị Cẩm Anh với những truyện ngắn Nước mắt của đá (2005), Người con gái Mường Biện (2002), Mưa bụi (2008), Một nửa của người đàn bà (2014); Kha Thị Thường với Lũ núi (2002); Hoàng Quảng Uyên với những truyện ngắn Thầy giáo đại học (1998), Buồn vui (1999), Vọt tiếng non ngàn (2001); Mã A Lềnh với Cao Nguyên trắng (1992), Có một con đường (1992), Nhọc nhoài với ký (2000); Niê Thanh Mai với Ngày mai sáng rỡ (2010), Về bên kia núi (2007), Suối của rừng (2005); Trà Vigia với Chăm H’ri (2008); Cao Duy Sơn với những tác phẩm Những chuyện ở lũng Cô Sầu (1996), Ngôi nhà xưa bên suối (2007), Người chợ (2010), Kim Nhất với Động rừng (1999); Bùi Thị Như Lan với các tác phẩm Tiếng chim kỷ giàng (2004), Con nước đôi (2012), Tiếng kèn Pí lè (2014); Linh Nga NiêKdam với Con rắn màu xanh da trời (1997), Đi tìm hồn chiêng (2003), Gió đỏ (2004) Những tác phẩm truyện ngắn DTTS
Việt Nam phong phú về đề tài, mới lạ trong cách tiếp cận và khám phá nhiều cuộc sống sinh hoạt đời thường của đồng bào DTTS trong thời đại mới Phản ánh đầy đủ và sinh động bức tranh thiên nhiên núi rừng và hình ảnh con người mới trong lao động sản xuất xây dựng đất nước tiến lên xã hội chủ nghĩa Có thể thấy, truyện ngắn là thể loại được phát triển khá mạnh mẽ và đạt được những thành công đáng kể Với sự ra đời của nhiều tác phẩm hay, độc đáo và mang nhiều giá trị, truyện ngắn DTTS Việt Nam hiện đã góp phần xây dựng và đưa nền văn học DTTS Việt Nam hiện đại đủ lớn mạnh để hòa chung vào dòng chảy của nền văn học nước nhà
Văn học DTTS Việt Nam hiện đại còn đạt được những thành công đáng ghi nhận với sự ra đời và phát triển khá mạnh mẽ của thể tiểu thuyết DTTS Có thể kể tên một
vài tác phẩm nổi bật như: Hơ Giang (1978), Truyện bên bờ sông Hinh (tiểu thuyết 2
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
tập) của Y Điêng; Mối tình Mường Sinh (1994) của Vương Trun; Núi có yêu thương (1984), Thung lũng đá rơi (1985), Ngường trong ống (199), Gã ngược đời (1990), Lòng
dạ đàn bà (1992) của Vi Hồng; Cực lạc (1995), Đàn trời (2006) của Cao Duy Sơn; Chân dung cát (2006) và Hàng mã kí ức (2011) của Inrasara; Gió hoang (1992), Trăng yêu (1993), Bến đời (1995), Rễ người dài (1996), Mùi hoa hải đường (1998) của Ma Trường Nguyên; Mặt trời Pác Bó (2010), Giải phóng (2013), Trông vời cố quốc
(2015) Nội dung phản ánh trong những tiểu thuyết trên đều hướng về con người và cuộc sống của con người DTTS miền núi giàu lòng vị tha và chan chứa tình yêu thương đồng loại, đoàn kết và đùm bọc nhau trong những hoàn cảnh khó khăn và khổ đau trong cuộc sống thường ngày Thông qua các tác phẩm tiểu thuyết, các nhà văn DTTS đã vẽ nên một bức tranh phản ánh cuộc sống của con người DTTS với biết bao nhiêu cung bậc cảm xúc chứa chan, đó có thể là niềm vui, hạnh phúc, là những nỗi buồn, khó khăn Tuy vậy, dẫu cuộc sống của đồng bào DTTS trong thời đại mới có trải qua bao nhiêu khó khăn, vất vả những họ vẫn giữ mãi trong lòng một tình yêu đất nước sâu sắc, tình yêu dân tộc luôn cháy bỏng trong mỗi trái tim người DTTS Ngoài ra, các đồng bào DTTS Việt Nam thông qua văn học họ còn lưu giữ và phát huy những nét đẹp truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc
Như vậy, có thể thấy, văn học DTTS Việt Nam hiện đại là một bức tranh đa màu sắc với sự phát triển của nhiều thể loại Ở mỗi thể loại đều để lại dấu ấn và những thành công đáng ghi nhận Qua việc khái quát về diện mạo văn học DTTS, ta có thể thấy, thơ
ca được coi là thể phát triển mạnh mẽ nhất đối trong nền văn học DTTS Việt Nam hiện đại với số lượng tác giả và tác phẩm ngày càng lớn Đề tài ngày một phong phú và hấp dẫn, lối tiếp cận và khám phá cuộc sống của con người đa chiều trên mọi khía cạnh sinh hoạt đời thường Bên cạnh đó, tiểu thuyết và truyện ngắn cũng đạt được nhiều thành công, để lại nhiều dấu ấn trong nền văn học nước nhà Từ việc khái quát trên ta thấy văn học DTTS Việt Nam hiện đại chủ yếu tập trung và phát triển mạnh mẽ ở khu vực miền núi phía Bắc, minh chứng cho sự phát triển đó là sự ra đời của rất nhiều tác giả và tác phẩm từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay Các khu vực khác cũng dần xuất hiện nhiều cây bút DTTS và cho ra đời những tác phẩm mang giá trị đặc sắc và hấp dẫn
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.2.3 Văn học dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong dòng chảy của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
Văn học DTTS Việt Nam thời kì hiện đại được phát triển mạnh mẽ sau thời kì đổi mới 1986 Dấu ấn của sự nở rộ đó được phát triển từ đội ngũ sáng tác đến chất lượng những sản phẩm dưới nhiều thể loại khác nhau như: Thơ ca, văn xuôi (truyện ngắn, tiểu thuyết ), kịch Trong đó, văn học DTTS miền núi phía Bắc cũng có những đóng góp nhất định vào quá trình phát triển của nền văn học DTTS nước nhà Văn học DTTS miền núi phía Bắc là một dấu gạch nối quan trọng trong việc hoàn thiện bức tranh chung của văn học DTTS Việt Nam Văn học dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc được phát triển mạnh mẽ từ nền văn học cổ đến văn học hiện đại Như đã biết, miền núi phía Bắc là khu vực tập trung rất nhiều đồng bào DTTS sinh sống như: Tày, Nùng, Thái, Dao, Mông, Mường, Sán Chỉ văn học của khu vực này ra đời và phát triển từ nền văn học cổ Hiện nay, đã có rất nhiều hoạt động sưu tầm, in ấn và phát hành các sáng tác của văn học cổ dân gian như: Thơ Tiễn dặn người yêu của dân tộc Thái, dân
ca Mông Hà Giang, tuyển tập truyện cổ Thái, truyện cổ Xứ Lạng, thơ ca dân tộc Tày, các hoạt động văn hóa tinh thần như hát lượn, hát đối, hát quan lang cũng dần xuất hiện qua những trang báo, những công trình sưu tầm Qua đó, ta thấy văn học DTTS thiểu
số Việt Nam mà tiêu biểu là văn học DTTS miền núi phía Bắc đã có từ lâu đời, chứa nhiều những điểm độc đáo và hấp dẫn, từ những vần thơ da diết, mềm mại của truyện thơ Thái đến những làn điệu Then Tày, hát đối, hát lượn của dân tộc Nùng, những câu dân ca tha thiết, chứa đựng những thông điệp ý nghĩa của cuộc sống miền núi cao của dân tộc Mông miền núi phía Bắc Tất cả tạo nên một bức tranh văn hoa thổ cẩm đẹp rực rỡ trong dòng chảy chung của văn học DTTS Việt Nam Bên cạnh những nét đặc sắc trong nền văn học cổ, văn học DTTS miền núi phía Bắc hiện đại cũng có những bước phát triển đặc sắc, đó là sự xuất của nhiều những cây bút trẻ, tài năng tiêu biểu như: Mã A Lềnh, Lò Ngân Sủn, Vi Hồng, Ma Trường Nguyên, Y Phương, Cao Duy Sơn, Pờ Sảo Mìn, Dương Thuấn, Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Triều Ân, Mã Thế Vinh, Hoàng Quảng Uyên, Hoàng An, Lò Cao Nhum, Tuy nhiên, ta có thể thấy các nhà văn, nhà thơ DTTS miền núi phía Bắc đa số là các tác giả của dân tộc Tày, từ
đó thấy được sự chênh lệch khá lớn giữ số lượng các văn nghệ sĩ giữa các dân tộc
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Cùng với sự phát triển của nền văn học DTTS Việt Nam, bộ phận văn học DTTS miền núi phía Bắc cũng để lại dấu ấn quan trọng trong quá trình phát triển của văn học DTTS Việt Nam nói chung Qua từng giai đoạn, bộ phận văn học DTTS miền núi phía Bắc đã có những bước tiến đáng kể từ số lượng đội ngũ sáng tác đến chất lượng những sáng tạo văn học nghệ thuật ở nhiều các thể loại khác nhau như: Thơ ca, văn xuôi, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, ở mỗi một thể loại đều tạo ra những nét đặc sắc riêng biệt và đóng góp lớn vào sự thành công chung của bộ phận văn học DTTS miền núi phía Bắc Số lượng tác giả văn học DTTS miền núi phía Bắc tăng lên đáng kể là bàn đạp và cơ sở vững chắc cho những sáng tạo văn học nghệ thuật ra đời Số lượng các tác phẩm văn học DTTS ngày càng tăng lên, độc đáo và đa dạng về mặt thể loại, phong phú về chủ đề, đề tài, tư tưởng và chất lượng ngày càng được nâng cao Đặc biệt, từ những năm 70 của thế kỷ XX là sự khởi sắc mạnh mẽ của thể loại Thơ ca, với sự xuất hiện của nhiều tác giả tiêu biểu và sự ra đời của rất nhiều tác phẩm đặc sắc, hấp dẫn mang đậm bản sắc văn hóa các DTTS miền núi phía Bắc, đó là lời ca tiếng hát ca ngợi
cuộc sống tươi đẹp như: Tiếng hát tháng Giêng, Lời chúc của Y Phương, nhà thơ Ma Trường Nguyên với Tiếng lá rừng gọi đôi, Mát xanh rừng cọ, Câu hát vắt qua vai hay Mai Liễu với Mây vẫn bay về núi, suối làng tất cả vẽ nên một bứ tranh văn học DTTS
miền núi phía Bắc rực rỡ sắc màu với những âm hưởng và giai điệu tươi mới, rộn ràng của cuộc sống núi rừng Và đó cũng là niềm tự hào, tự tôn dân tộc, khẳng định sắc sống
mãnh liệt của dân tộc mình qua Người con trai Pa Dí, Tiếng chim cao nguyên của Pờ Sảo Mìn, Bên suối Nậm Mơ, Tình ca núi đá của Mã A Lềnh, Lò Ngân Sủn với Chiều biên giới, Người con của núi hay Dương Thuấn với sáng tác Đi tìm bóng núi Có thể
thấy, sáng tác thơ ca giai đoạn này phát triển rực rỡ về mặt chất lượng cũng như số lượng, là thời kì vươn lên những đỉnh cao mới, góp phần quan trọng vào sự phát triển của thơ ca Việt Nam vốn phong phú, đa dạng và mang đậm màu sắc văn hóa truyền thống Các sáng tác thơ ca giai đoạn này mang những màu sắc đa dạng và phong phú hơn, đó là cảm hứng mãnh liệt và sự khao khát bùng cháy của con người xứ núi, khát vọng khám phá thiên nhiên núi rừng, khám phá cuộc sống của con người miền núi mang hơi thở trẻ trung, sôi nổi và đầy nhiệt huyết Mỗi sáng tác thơ ca DTTS miền núi phía Bắc đều mang đậm bản sắc văn hóa tộc người, bởi lẽ các nhà thơ sinh ra và lớn
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
lên ở vùng miền núi cao, thiên nhiên hùng vỹ, hoang dã nhưng cũng không kém phần thơ mộng, kỳ bí Chính nơi núi rừng xanh thẳm này đã tạo nên nguồn cảm hứng mãnh liệt trong các sáng tác thơ ca của các nhà thơ DTTS, những hình ảnh núi rừng bát ngát với lưng chừng ngọn đèo, ngọn núi cheo leo, những vực thẳm hoang sơ dữ dội mà cũng rất đỗi tươi đẹp, thơ mộng đã được trở đi trở lại rất nhiều trong những lời thơ, lời ca của văn học DTTS miền núi phía Bắc, tạo nên một dấu ấn đặc sắc trong quá trình vận động và phát triển của thể loại thơ ca trong sự phát triển chung của nền văn học Việt Nam hiện đại
Bên cạnh sự thành công của thể loại thơ ca với sự xuất hiện của đông đảo đội ngũ sáng tác cũng như sự đóng góp chất lượng của những sáng tác thơ ca Mặc dù quá trình hình thành và phát triển muộn hơn so với thơ ca nhưng thể loại văn xuôi DTTS miền núi phía Bắc vẫn tạo được nền tảng vững chắc và quan trọng của mình trong sự phát
triển của văn học Việt Nam Tác phẩm Ché Mèn được đi họp của Nông Minh Châu là
tác phẩm đầu tiên đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển mãnh mẽ về sau của thể loại văn xuôi hiện đại DTTS nói chung Ngay từ những năm 60, trên các trang báo, tạp chí văn hóa, văn nghệ địa phương đặc biệt là ở hai khu tự trị Tây Bắc và Việt Bắc đã xuất hiện nhiều gương mặt trẻ tiêu biểu, sôi nổi trong sáng tác và cho ra đời nhiều tác phẩm
có chất lượng, mang ý nghĩa nhân văn lớn, các lớp văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số để lại dấu ấn đặc sắc qua những tác phẩm của mình Ở thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết và kí
là sự quan sát linh hoạt, ghi lại cuộc sống chiến đấu và xây dựng cuộc sống mới của đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Các tác phẩm chủ yếu tập trung khắc họa hình ảnh con người miền núi với những nét đẹp hết sức bình dị và chân thực, thiên nhiên miền núi hùng vỹ và nên thơ cũng là đề tài được các nhà văn quan tâm đặc biệt Văn học DTTS miền núi phía Bắc giai đoạn này là một nền văn học phong phú, đậm chất bản sắc văn hóa dân tộc Đề tài sáng tác chủ yếu xoay quanh cuộc sống sinh động của con người miền núi cao, con người trong mối quan hệ với thiên nhiên, với xã hội, với lịch sử cách mạng vĩ đại của dân tộc Cuộc sống bình dị của con người miền núi được thay đổi từng ngày, từng giờ, theo từng giai đoạn lịch sử của dân tộc qua từng trang viết của các nhà văn Ngoài ra, khung cảnh thiên nhiên hoang dã cũng không ngừng xoay vần cùng sự vận động của thời gian trong từng sáng tác cụ thể Có thể kể
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
tên một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu nhận được nhiều giải thưởng lớn về thể loại văn xuôi giai đoạn này như: Vi Hồng đạt giải Nhì của Tổng hội sinh viên Việt Nam
(1960) với truyện ngắn Ngôi sao đỏ trên núi Phja Hoàng, Cây su su noọng Ý (1962)
đạt giải Nhì của báo người giáo viên nhân dân, đạt giải Nhì văn nghệ Việt Bắc (1963)
với truyện ngắn Nước suối tiên đào, Mã A Lềnh đạt giải thưởng của Ủy ban Tổ quốc liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cho các dân tộc ít người với tác phẩm Chuyện bây giờ mới kể - Tập truyện ngắn (1966), Cao Duy Sơn với tiểu thuyết Người lang thang đạt giải A Hội nhà văn Việt Nam và giải Nhì hội Hữu nghị văn hóa Việt - Nhật (1993), tiểu thuyết Đàn trời đạt giải A của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc
thiểu số Việt Nam (2006), tặng giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam (1997) với tập truyện
ngắn Những chuyện ở lũng cô sầu và đặc biệt Cao Duy Sơn với tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối (2007) cùng lúc nhận được hai giải thưởng: Giải Hội nhà văn Việt
Nam 2008 và Giải thưởng Văn học ASEAN năm 2009 Bên cạnh đó, với tiểu thuyết
Rễ người dài (1996) đạt giải thưởng Ủy ban Tổ quốc liên hiệp các hội văn học nghệ
thuật Việt Nam cho các tác giả văn học ít người Như vậy, để làm nên những tác phẩm giá trị và có ý nghĩa sâu sắc phản ánh sinh động cuộc sống da điện, đa chiều của đồng bào dân tộc miền núi phía Bắc đó là sự làm việc hăng say, không ngừng tìm tòi học hỏi cũng như yêu con người, yêu thiên nhiên cội nguồn của các tác giả dân tộc thiểu số Và chỉ có thể là những tác giả người dân tộc thiểu số mới có thể có cách cảm, lối tu duy
và suy nghĩ gần gũi với đồng bào dân tộc thiểu số vì nơi đây chính là nơi họ được sinh
ra và lớn lên Núi rừng là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn của các nhà văn, nhà thơ từ đó tạo nên những nguồn cảm hứng bất tận cho những sáng tác của họ Chính đội ngũ văn nghệ sĩ miền núi phía Bắc đã tạo được dấu ấn sâu sắc đối với văn học DTTS Việt Nam hiện đại nói chung và góp phần tích cực và quan trọng, khẳng định vị trí xứng đáng của mình trong dòng chảy nền văn học nước nhà
Bên cạnh sự phát triển nhanh chóng và vượt bậc của Thơ ca, hay sự khởi sắc mạnh mẽ của thể Văn xuôi, tiểu thuyết Văn học DTTS miền núi phía Bắc còn có nhiều thành công đối với thể loại truyện ngắn Truyện ngắn để lại được dấu ấn đặc biệt trong bức tranh chung văn học DTTS miền núi phía Bắc Truyện ngắn được phát triển mạnh vào cuối những năm 60, đầu những năm 80 của thế kỉ XX gắn với tên tuổi của một số
tác giả tiêu biểu như: Hoàng Hạc và Triền Ân với truyện ngắn Tiếng hát rừng xa (1969),
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Nông Minh Châu với truyện ngắn Tiếng chim Gô (1979) Đặc biệt, từ sau những năm
90 các tác phẩm truyện ngắn có dấu hiệu của sự khởi sắc gắn với tên tuổi của một số văn nghệ sĩ DTTS miền núi phía Bắc tiêu biểu như: Mã A Lềnh với các tập truyện ngắn
Có một con đường (1992), Cao nguyên trắng (1992), Dấu chân trên đường (1996), Rừng xanh (1997); Hoàng Quảng Uyên với Dấu chân trên đường (1996) hay tác giả Cao Duy Sơn với những tác phẩm tiêu biểu như Những chuyện ở lũng Cô Sầu (1996), Những đám mây hình người (2002), Ngôi nhà xưa bên suối (2007), Ngời chợ (2010)
Như vậy, có thể khẳng định các nhà văn dân tộc thiểu số là những người vẽ thêm nét vẽ để hoàn thiện bức tranh của nền văn học Việt Nam hiện đại Họ là những đội ngũ văn nghệ sĩ có những đóng góp quan trọng và to lớn vào sự phát triển chung của văn học nước nhà trên tất cả các thể loại: Thơ ca, văn xuôi, kịch ở mỗi một thể loại mang đậm những dấu ấn riêng, những đóng góp đáng ghi nhận về mặt chất lượng của tác phẩm mang những giá trị lớn lao Có thể thấy, từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, văn học DTTS miền núi phía Bắc đã có những chuyển biến tích cực Đó là sự sôi nổi và tràn đầy nhiệt huyết, hăng say của đội ngũ tác giả với mảng đề tài dân tộc và miền núi vốn phong phú và đa dạng này, tô điểm thêm cho nền văn học Việt Nam ngày càng hoàn thiện và giá trị hơn
1.2 Lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
1.2.1 Khái niệm lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số
Lý luận, phê bình là hoạt động luôn giữ vai trò quan trọng và thiết yếu, bởi lẽ đó
là quá trình để tìm hiểu, đồng cảm, thấu hiểu và đồng hành cùng các sáng tác văn chương nghệ thuật Một mặt thể hiện sự thẩm định, đánh giá về các sáng tạo nghệ thuật, mặt khác là những định hướng quan trọng và có cơ sở khoa học thúc đẩy sự phát triển đúng hướng của bộ phận sáng tác văn học
Hiện tại, thực tế ở Việt Nam chưa có một khái niệm cụ thể nào về “lý luận , phê
bình văn học” TS Trần Thị Ngọc Anh cho rằng: “Lý luận, phê bình văn học ở nước
ta về thực chất vẫn được ngầm hiểu là sự tích hợp của hai khái niệm lý luận văn học
và phê bình văn học Nó cũng cho thấy một thực tế về sự khó phân định hai hoạt động này trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam” [5; tr41] Thực tế ở Việt Nam, hoạt động
lý luận phê bình văn học thường tập trung ứng dụng các lý thuyết của văn học nước
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ngoài và hiện tại, ở nước ta, cụm từ “Lý luận, phê bình văn học” được xem như là một
sự tổng hòa giữa khái niệm lý luận văn học và phê bình văn học Việc tìm hiểu, ứng dụng các lý thuyết của văn học nước ngoài giúp cho hoạt động lý luận phê bình văn học Việt Nam được phát triển một cách khoa học và chuyên môn hơn Từ các lý thuyết thuần túy đó đã định hướng cho các nhà văn, nhà nghiên cứu vận dụng sáng tạo vào tình hình thực tế lý luận phê bình ở Việt Nam Hoạt động lý luận phê bình phát triển mạnh mẽ đồng thời thúc, định hướng cho bộ phận sáng tác văn học phát triển mạnh mẽ
và đúng hướng hơn
Đồng quan điểm trên, chúng tôi cũng cho rằng lý luận văn học là khái niệm của
sự tổng hòa giữa hai khái niệm: Lý luận văn học và phê bình văn học, hiện tại có thể hiểu lý luận phê bình là hệ thống nghiên cứu các nguyên tắc sáng tác văn học, trong đó
có sự đánh giá, bình phẩm, phán đoán hay giải thích về nội hàm ý nghĩa trong các sáng tác văn chương nghệ thuật
Từ việc tìm hiểu và đưa ra định nghĩa “lý luận phê bình văn học” nói chung Chúng ta có thể rút ra được cách hiểu riêng về lý luận phê bình văn học dân tộc thiểu
số Chúng tôi cho rằng: Lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số là một hệ thống những ý kiến đánh giá, phân tích, thẩm định về các sáng tác của văn học dân tộc thiểu
số Lý luận phê bình làm nổi bật lên những tầng lớp ý nghĩa ẩn chứa trong mỗi sáng tác văn chương, từ đó tạo điều kiện cho việc đọc cũng như tìm hiểu về tác phẩm văn học dân tộc thiểu số một cách dễ dàng và đầy đủ hơn Mặt khác, lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số cũng là động lực to lớn cho sự phát triển của bộ phận sáng tác văn học nghệ thuật, tạo đà cho những bước phát triển hơn nữa của nền văn học dân tộc thiểu số trong dòng chảy của nền văn học nước nhà
1.2.2 Lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại khu vực miền núi phía Bắc từ năm 1986 đến nay
Cùng với sự vận động và phát triển mạnh mẽ, phong phú của bộ phận văn học DTTS Việt Nam hiện đại, hoạt động nghiên cứu, lý luận phê bình của nền văn học này cũng đã được hình thành và phát triển khá nhanh chóng Mặc dù thời gian hình thành và phát triển của nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS Việt Nam khá muộn nhưng
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
bộ phận này vẫn đạt được những thành công đáng kể với sự đánh giá, thẩm định kịp thời
và có cơ sở khoa học về văn chương DTTS Nhằm mục đích thúc đẩy và định hướng cho văn học DTTS Việt Nam hiện đại phát triển nhanh và đúng hướng
Lý luận, phê bình về văn học DTTS được đặt dấu mốc đầu tiên từ nghiên cứu, lý
luận phê bình của Nông Quốc Chấn với bài Kể ít chuyện làm thơ xuất hiện vào năm
1957 Đặc biệt là từ sau năm 1986, lý luận phê bình về văn học DTTS trở nên sôi nổi
và phát triển mạnh mẽ với khá đông đảo đội ngũ vừa sáng tác văn học vừa nghiên cứu phê bình Những nghiên cứu lý luận phê bình kịp thời đưa ra lý giải và nhận định sự phức tạp trong cuộc sống con người thời đại mới trong các sáng tác văn chương Với việc vừa sáng tác văn học nghệ thuật, và thực hiện hoạt động nghiên cứu lý luận phê bình họ đã cho ra mắt nhiều những nghiên cứu lý luận phê bình có chất lượng và số lượng người viết lý luận có chuyên môn ngày càng tăng lên, bởi họ có cách cảm nhận tinh tế và sâu sắc hơn về những sáng tác văn học DTTS nên những sản phẩm phê bình cũng đạt được nhiều thành tích nổi bật Hoạt động nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS diễn ra trong bầu không khí sục sôi nhiệt huyết dưới đủ mọi hình thức Minh chứng cho sự sôi nổi và mãnh mẽ đó là những bài nghiên cứu, bài viết được dần đăng trên các trang tạp chí, các trang báo đầu ngành, tạp chí địa phương hay những bài tham luận trong các cuộc hội thảo, hội nghị Đó là những khoảng không gian dành riêng cho giới văn nghệ sỹ, những người viết nghiên cứu, lý luận phê bình bày tỏ quan điểm của bản thân mình trong quá trình sáng tác văn học DTTS miền núi phía Bắc Bên cạnh những bài tham luận, những bài báo được đăng lẻ trên các trang tạp chí, trong sự phát triển chung của bức tranh nghiên cứu về văn học DTTS Việt Nam hiện đại vốn đa dạng
và phong phú này là sự xuất hiện của hàng chục cuốn sách nghiên cứu, phê bình văn học DTTS tiêu biểu như: Nhà nghiên cứu, phê bình về văn học DTTS Lâm Tiến với
các công trình tiêu biểu như Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (1995),
Về một mảng văn học dân tộc (1999), Văn học và miền núi (2002) và Tiếp cận văn học dân tộc thiểu số (2011) Với sự lao động miệt mài, tâm huyết cùng lòng yêu mến sâu
sắc với cuộc sống đồng bào DTTS và đặc biệt là niềm say mê mãnh liệt với văn học DTTS Lâm Tiến đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của bộ phận nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS đặc biệt là khu vực miền núi phía Bắc Lâm
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tiến được giới nghiên cứu đánh giá là một trong những nhà nghiên cứu người DTTS
có thành tích đóng góp to lớn cho sự phát triển của bộ phận nghiên cứu lý luận phê bình về văn học DTTS Ngoài ra, nghiên cứu lý luận phê bình về văn học DTTS còn là
sự ghi nhận của một số tác giả vừa sáng tác vừa viết nghiên cứu, lý luận phê bình và đật được nhiều thành tích đáng kể tiêu biểu như Hoàng An với 3 tập sách có tên chung
Nét đẹp trong thơ văn và ngôn ngữ dân tộc với lần lượt tiêu đề của từng tập: Một vùng thơ văn của đất nước (Tập 1 - 1999), Hương sắc núi rừng (Tập 2 - 2003) và Hương rừng (Tập 3 - 2008) Những nghiên cứu này đã giúp Hoàng An giành được một số giải
của Trung ương cũng như địa phương như: Giải thưởng Hội văn học Nghệ thuật các DTTS Việt Nam, Giải thưởng Hoàng Văn Thụ của tỉnh Lạng Sơn (5 năm 1 lần), Giải nhất cuộc thi thơ về đề tài biên phòng, và một số giải thương cao quý khác Bên cạnh
đó, lý luận phê bình về văn học DTTS còn có sự đóng góp đặc sắc của một số tác giả
tiêu biểu khác như: Mã A Lềnh với bốn tập tiểu luận Tần ngần đứng trước văn chương (1998), Suối nguồn vẫn chảy hồn nhiên (2007), Dân tộc miền núi và đời sống văn chương (2012), Những người tôi đã gặp trên đường (2013), Hoàng Quảng Uyên với tiểu luận chân dung văn học Một mình trong cõi thơ (2000), Vương Anh với Núi mọc trong gương - Thơ của các dân tộc thiểu số, Ma Trường Nguyên với ba cuốn sách tiêu biểu: Hiện đại mà dân tộc (2010), Trên cánh đồng chữ nghĩa (2011), Các nhà văn nói
về nghề (2013) hay Lò Ngân Sủn với 4 tập Hoa văn thổ cẩm Hoàng Quảng Uyên cho
ra đời 3 cuốn sách nghiên cứu, phê bình văn học như: Một mình trong cõi thơ (2000),
Đi tìm nhật kí trong tù (Tập 1, tập 2 - 2010) Có thể thấy rằng các nhà nghiên cứu, lý
luận phê bình về văn học DTTS Việt Nam đã dành nhiều sự quan tâm đặc biệt tới văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam Trong hơn bốn mươi năm qua, các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình DTTS không ngừng khám phá, đánh giá và thẩm định về văn chương DTTS nhằm thúc đẩy và định hướng sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa của
bộ phận sáng tác văn học DTTS
Nếu như lý luận phê bình về văn học DTTS có sự đóng góp của những văn nghệ
sỹ DTTS vừa sáng tác vừa viết lý luận phê bình thì mảng đề tài về DTTS đang dần trở thành mảnh đất màu mỡ, là một đối tượng nghiên cứu hứa hẹn nhiều giá tiềm ẩn, thu hút sự chú ý của nhiều nhà viết nghiên cứu, lý luận phê bình của người Kinh tham gia
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
tiêu biểu như: Vũ Tuấn Anh (2004) với nghiên cứu Truyện thơ Tày, nguồn gốc quá trình phát triển và thi pháp thể loại; Trần Thị Việt Trung với nhiều công trình nghiên cứu mang tính chuyên nghiệp cao trong cách đánh giá và phê bình như: Bản sắc dân tộc trong thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (2010), Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại - một số đặc điểm (2011 - đồng chủ biên), Nghiên cứu, lí luận phê bình văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đai - Diện mạo và đặc điểm (2013 - chủ biên), Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam - truyền thống và hiện đại (2014
- đồng chủ biên) và cuốn sách nghiên cứu, phê bình mang tính chuyên nghiệp và cách đánh giá sâu sắc, với sự nghiên cứu nghiêm túc và đầy tâm huyết của tác giả Trần Thị
Việt Trung Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số (2016) Đào Thủy Nguyên, Dương Thu Hằng (2014), Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam; Nguyễn Đức Hạnh với cuốn Văn học địa phương miền núi phía Bắc, Đỗ Thị Thu Huyền với nhiều bài báo và công trình nghiên cứu về
văn học DTTS Việt Nam qua thơ văn của các văn nghệ sĩ DTTS tiểu biểu như: Lò Cao Nhum, Y Phương, Triệu Văn Kim, Mai Liễu, Hoàng Kim Dung, Hoàng Thanh Hương hay những bài viết về thơ ca của một số dân tộc thiểu số tiêu biểu như: Tày, Dao, Nùng Ngoài ra, Đỗ Thị Thu Huyền còn dành sự quan tâm đặc biệt tới các sáng tác của nhà
văn dân tộc Kinh viết về đề tài dân tộc và miền núi như tác phẩm Vợ chồng A Phủ của
tác giả Tô Hoài
Như vậy, có thể nói: nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS ngày càng khẳng định được vị trí và sự có mặt của mình trong dòng chảy của đời sống lý luận, phê bình văn học Việt Nam Mặc dù hoạt động nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS còn khá trẻ (mới xuất hiện từ 1957) nhưng cho đến nay đã có sự xuất hiện của khá đông nhà nghiên cứu, lý luận phê bình thuộc các dân tộc khác nhau, mỗi công trình đều mang những ý nghĩa và vai trò riêng Những công trình nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS thực hiện khá tốt vai trò của mình trong việc thẩm định, đánh giá, nhận xét và kịp thời đưa ra những vấn đề còn tồn đọng trong sáng tác văn học DTTS từ đó đưa văn học DTTS phát triển một cách đúng hướng và góp phần cho sự thành công của văn học DTTS đối với sự phát triển chung của nền văn học Việt Nam
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn hiện đại Và đặc biệt, nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc cũng tạo được dấu ấn riêng của mình trong sự phát triển của nền văn học nước nhà
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tiểu kết chương 1
Văn học dân tộc thiểu số là một bộ phận khăng khít cấu thành của nền văn học Việt Nam hiện đại Bộ phận văn học dân tộc thiểu số trong những năm đã qua, trong từng giai đoạn đã góp phần bổ sung tiếng nói mới, đem đến cho nền văn học nước nhà những màu sắc độc đáo, mới lạ tạo nên một bức tranh đa dạng, phong phú của nền văn học Việt Nam hiện đại Với sự ra đời của rất nhiều những tác phẩm đặc sắc và có giá trị, ý nghĩa lớn trên cả phương diện nội dung lẫn nghệ thuật Mỗi tác phẩm đều mang một thông điệp và tư tưởng riêng biệt nhưng đều có chung một tinh thần dân tộc sâu sắc, các giá tri bản sắc văn hóa được đề cao và quan tâm trên tất cả các thể loại từ thơ
ca đến văn xuôi, kịch Nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đã thực hiện khá tốt vai trò và nhiệm vụ của mình trong việc đánh giá, bình thẩm về văn học dân tộc thiểu số trên nhiều mặt Kịp thời khẳng định sự thành công của bộ phận sáng tác văn học cũng như đánh giá những mặt còn hạn chế từ đó định hướng cho văn học dân tộc thiểu số phát triển đúng hướng và đưa bộ phận văn học này lớn mạnh đủ sức hòa chung vào dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại
Chương 2
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỘT SỐ KHUYNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC DÂN TỘC THIỂU SỐ
MIỀN NÚI PHÍA BẮC TỪ 1986 ĐẾN NAY
Nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc là một bộ phận quan trọng cho việc hoàn thiện bức tranh chung của hoạt động, nghiên cứu lý luận phê bình văn học Việt Nam Đặc biệt, qua quá trình khảo sát và thu thập dữ liệu chúng tôi nhận thấy rằng: Lý luận phê bình về văn học dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc từ năm
1986 đến nay là một bức tranh đa màu sắc với nhiều lối triển khai nghiên cứu đa dạng
và phong phú Nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc cho đến nay, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu khám phá và khai thác các giá trị thuộc
về nội dung của văn học nghệ thuật qua góc nhìn văn hóa thông qua một số phương diện biểu hiện cụ thể như: Đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người miền sơn cước, những nét đẹp văn hóa truyền thống DTTS miền núi phía Bắc trong phong tục, tập quán (cách ăn mặc, phong tục cưới hỏi, ma chay, lễ tết, hội hè ) Ngoài những công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề khai thác các giá trị đặc sắc về giá trị mặt nội dung
có trong tác phẩm văn học Lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc còn xuất hiện những công trình đặc biệt đi sâu vào khám phá các giá trị thuộc bản thể nghệ thuật khi đi sâu vào khai thác các giá trị nổi bật của hình thức nghệ thuật với những vấn đề thuộc về thi pháp thuần túy, từ việc khám phá kết cấu tác phẩm, ngôn ngữ, giọng điệu, cách xây dựng và tạo hình nhân vật đến việc khai thác các giá trị của thời gian và không gian nghệ thuật trong tác phẩm Mặt khác, một số công trình nghiên cứu còn đặc biệt quan tâm nghiên cứu phục dựng lại các chặng đường phát triển của văn học DTTS miền núi phía Bắc theo từng giai đoạn, từng vùng miền, từng dân tộc cụ thể Nhận thấy được sự đa dạng trong các lối nghiên cứu đó, chúng tôi tạm chia các nghiên cứu,
lý luận phê bình về vă học DTTS miền núi phía Bắc thành một số khuynh hướng nghiên cứu chính như sau:
- Khuynh hướng thứ nhất: Văn học dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc - Những
nghiên cứu dưới góc nhìn văn hóa
- Khuynh hướng thứ hai: Văn học dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc - Những
nghiên cứu từ góc độ bản thể nghệ thuật
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Khuynh hướng thứ ba: Văn học dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc - Những
nghiên cứu nhìn từ góc độ tổng thuật
Trong quá trình khảo sát và phân chia những nghiên cứu theo từng khuynh hướng
cụ thể Chúng tôi nhận thấy có sự giao thoa lẫn nhau trong một vài công trình nghiên cứu thuộc các hướng đã phân chia Tuy nhiên, đứng trên góc nhìn của mình, việc phân chia các nghiên cứu theo từng hướng cụ thể mang lại cái nhìn bao quát và tổng thể về một bức tranh toàn cảnh của nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc trong dòng chảy chung của văn học Việt Nam hiện đại Từ đó, có cái nhìn bao quát về sự vận động và phát triển của các hướng nghiên cứu, những điểm đã đạt được và những mặt còn hạn chế để kịp thời định hướng và đưa nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS phát triển một cách toàn diện và cân bằng trong những hướng nghiên cứu
2.1 Văn học DTTS miền núi phía Bắc - Những nghiên cứu dưới góc nhìn văn hóa
* Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
Văn hóa là một khái niệm rộng và được đề cập tới rất nhiều trong đời sống hiện
nay Văn hóa không chỉ là được thể hiện ở các giá trị truyền thống dân tộc mà còn được thể hiện ngay trong chính cuộc sống sinh hoạt, ứng xử hàng ngày của con người trong xã hội Văn hóa là chìa khóa quan trọng và là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển và tồn tại của một dân tộc, một quốc gia
Văn học là một loại hình nghệ thuật đặc sắc, và ngôn ngữ là phương tiện truyền đạt những giá trị tư tưởng của con người trong đời sống, văn học có chức năng kết tinh giá trị văn hóa tinh thần của con người và có khả năng truyền cảm hứng mạnh mẽ và
có sức sống lâu bền khi đi sâu vào khám phá tư tưởng, đạo đức, lối sống bên trong của con người Văn học và văn hóa có mối quan hệ khăng khít, gắn bó mật thiết với nhau Văn học là một bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối và ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa Mỗi dân tộc, quốc gia đều có một nền văn hóa khác nhau do đó tạo nên những dấu ấn đặc sắc văn học riêng biệt, không thể trộn lẫn Văn học được đóng vai trò rất quan trọng trong việc lưu giữ các giá trị văn hóa không bị mai một hoặc mất đi theo thời gian và theo sự biến đổi của xã hội, vì văn hóa qua quá trình hình thành và phát triển đã trải qua những chặng đường rất khó khăn trong việc tìm kiếm, đấu tranh và sáng tạo nên các giá trị văn hóa
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trong mối quan hệ với văn học, văn hóa đóng vai trò là nhân tố chi phối văn học với tư cách là hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối bộ phận Văn học là một bộ phận của văn hóa và chịu sự tác động và chi phối của văn hóa Văn học chịu sự ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa của thời đại và truyền thống văn hóa đặc sắc của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Mỗi một sáng tạo văn học đồng nghĩa với việc lưu giữ và sáng tạo văn hóa, nhà văn sáng tác văn học là một thành viên thuộc một cộng đồng, một dân tộc nhất định Chính vì thế mà các nhà văn sẽ tiếp nhận những yếu tố về văn hóa của cộng đồng mình, từ cách cảm nhận đến tư duy, tâm lý riêng của thời đại mình
để sáng tạo ra những tác phẩm văn học nghệ thuật Mặt khác, ta có thể thấy nhà văn trong quá trình sáng tạo nghệ thuật luôn mang theo và thể hiện những yếu tố và dấu ấn mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc mình
Và nếu như văn hóa tác động đến văn học, văn hóa là yếu tố chi phối sự phát triển của văn học thì ngược lại ở một khía cạnh nào đó, văn học cũng tác động ngược trở lại đối với văn hóa Văn học là tấm gương của văn hóa, là nơi lưu giữ, bảo tồn những giá trị đặc sắc của văn hóa Có những giá trị văn hóa lâu đời qua thời gian đã dần mất đi, không còn nguyên vẹn hoặc có thể không còn tồn tại trong xã hội ngày nay nữa mà người ta chỉ có thể biết đến và hiểu được những đặc sắc văn hóa đó trong các tác phẩm văn học còn lưu giữ lại Đồng thời, văn học còn có vai trò to lớn trong việc định hướng
và rèn luyện đạo đức của con người, văn hóa ứng xử hàng ngày của con người với môi trường tự nhiên, với xã hội và văn hóa cộng đồng Văn học giáo dục và rèn luyện nhân cách của con người bằng hệ thống những nhân vật độc đáo, bằng những câu chuyện sâu sắc mang đầy tính hấp dẫn và lôi cuốn Mặt khác, văn học còn là yếu tố quan trọng trong việc lên án, phê phán và đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, những hủ tục văn hóa lạc hậu, những dấu hiệu của việc xuống cấp trong văn hóa đạo đức của con người thời
kỳ mới
Như vậy, văn học là một bộ phận quan trọng và gắn bó khăng khít với văn hóa Nghiên cứu văn học không thể không tiếp cận dưới góc nhìn văn hóa Soi chiếu tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa sẽ khám phá được trọn vẹn những tầng lớp ý nghĩa ẩn sâu trong mỗi sáng tạo văn học nghệ thuật Việc nghiên cứu văn học từ góc
độ văn hóa là một hướng đi cần thiết và thực sự quan trọng hơn nữa trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
* Quan điểm của Đảng về văn hóa và sự phát triển của văn hóa thông qua văn học
Sau thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta chú trọng đặc biệt đến việc phát triển hướng nghiên cứu văn hóa trong văn học nghệ thuật Nhận thức rõ vai trò quan trọng của văn hóa trong sự tồn tại và phát triển đất nước Đảng và Nhà nước ta trong các kì đại hội
đã đặc biệt quan tâm đến các vấn đề về phát triển và lưu giữ văn hóa truyền thống dân tộc thông qua văn học Trong các kì Đại hội, Đảng ta đã đặc biệt quan tâm đến việc đề
ra những chính sách, chủ trương về văn hóa Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 28/11/1987 của Bộ chính trị khóa VI về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật và văn hóa phát
triển lên một bước mới đã nêu rõ: “Văn hóa và văn học nghệ thuật có tác dụng to lớn trong việc góp phần thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, giữ gìn vai trò cực kì quan trọng trong việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, có chức năng bồi dưỡng đạo đức, tình cảm và năng lực thẩm mỹ của con người, thỏa mãn những nhu cầu văn hóa ngày càng tăng của nhân dân Do đó, “phải xem xét việc đầu tư cho sự phát triển văn hóa để phục vụ con người, xây dựng con người mới có ý nghĩa cơ bản, lâu dài” [37; tr.482 -
483] Đặc biệt, trong hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (1993), Đảng ta khẳng định và nêu rõ vai trò quan trọng của văn hóa đối với mục tiêu
xây dựng xã hội chủ nghĩa: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là một mục tiêu của xã hội chủ nghĩa Văn học nghệ thuật là bộ phận trọng yếu của nền văn hóa dân tộc, thể hiện khát vọng của nhân dân về chân - thiện - mỹ” [71] Nghị quyết Đại hội VI, VII và nghị quyết 05
của Bộ chính trị khóa VI đã tạo điều kiện cho văn hóa, văn nghệ đạt nhiều thành tựu, đáp ứng một phần nhu cầu hưởng thị văn hóa của các tầng lớp nhân dân, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới
Như vậy, có thể thấy sự quan tâm đặc biệt từ Đảng và Nhà nước về những vấn đề văn hóa và sự phát triển của văn hóa thông qua văn học Bởi lẽ, văn học là nơi chứa đựng và lưu giữ những giá trị và nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc Văn học và văn hóa có mối quan hệ khăng khít không tách rời, văn học tác động tới văn học đồng thời văn học cũng tác động trở lại văn hóa tạo nên một mối quan hệ cộng hưởng đặc sắc
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
* Một số công trình nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc dưới góc nhìn văn hóa
Qua quá trình khảo sát và dựa trên những nguồn tài liệu đã thu thập được, chúng tôi nhận thấy từ sau 1986 đến nay đã có hàng trăm bài báo, công trình nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc dưới góc nhìn văn hóa được công
bố Các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình văn học DTTS miền núi phía Bắc dưới góc nhìn văn hóa thường được thực hiện bởi đội ngũ cán bộ, giảng viên chuyên ngành
Văn học thuộc các trường Đại học trong cả nước tiêu biểu như: Bản sắc dân tộc trong thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (2010) của Trần Thị Việt Trung (chủ biên); Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam (Đào Thủy Nguyên, Dương Thu Hằng); Nguyễn Kiến Thọ (2012), Thơ ca dân tộc HMông - từ truyền thống đến hiện đại; Luận án Tiến sĩ, Đại học Thái Nguyên, Hà Anh Tuấn (2015): Ảnh hưởng của văn học dân gian trong văn xuôi và thơ ca Tày hiện đại,
Luận án Tiến sĩ, Đại học Thái Nguyên… Các nghiên cứu theo hướng văn hóa còn được thực hiện phần nhiều dưới hình thức luận văn Thạc sĩ, của các học viên thuộc các trường Đại học đặc biệt là với ngành Sư phạm Ngữ văn như: Nguyễn Thị Thu Huyền
(2009) với công trình Bản sắc Tày trong thơ Y Phương và Dương Thuấn Lê Thị Hồng Trang (2016), Bản sắc Nùng trong thơ Mã Thế Vinh Bàn Thị Quỳnh Giao (2010), Bản sắc văn hóa Dao trong thơ Bàn Tài Đoàn Phạm Thế Thành (2005), Bản sắc Tày trong thơ Nông Quốc Chấn Nguyễn Thị Bích Dậu (2014), Bản sắc văn hóa Mường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh La Thúy Vân (2011) Bản sắc văn hóa dân tộc trong những sáng tác của Cao Duy Sơn… Nguyễn Thị Huyền Anh (2018), Bản sắc dân tộc trong thơ Ma Trường Nguyên Hoàng Thị Minh Phương (2011) Ảnh hưởng của văn hóa dân gian trong một số tiểu thuyết của Vi Hồng Hà Thị Liễu (2004), Ảnh hưởng của văn học dân gian trong truyện ngắn Vi Hồng Hoàng Văn Huyên (2013), Tính dân tộc trong tiểu thuyết Vi Hồng Nguyễn Thị Thu Hòa (2018), Truyện ngắn dân tộc thiểu
số Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn văn hóa Cao Thành Dũng (2013), Tiểu thuyết đàn trời của Cao Duy Sơn từ góc nhìn văn hóa Hoàng Thị Vi (2009), Bản sắc dân tộc trong văn xuôi Triều Ân Tăng Thanh Phương (2018) Biểu tượng văn hóa trong thơ ca Mông Hà Giang Các công trình nghiên cứu, phê bình về văn học DTTS miền núi
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
phía Bắc khám phá những nét độc đáo về cuộc sống bình dị, đời thường mang đậm nét văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS miền núi trong sinh hoạt hàng ngày của người dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc như: Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, Mông, Sán Chỉ, Qua những áng văn xuôi, những vần thơ ca mộc mạc, giản dị mà rất đỗi chân thành, sâu sắc đã đem đến một nguồn cảm xúc mới mẻ, hấp dẫn
2.1.1 Nghiên cứu khai thác bản sắc văn hóa thông qua phong tục, tập quán đặc sắc
Các nghiên cứu về văn học DTTS miền núi phía Bắc dưới góc nhìn văn hóa dành
sự quan tâm đặc biệt đến những vấn đề bản sắc văn hóa DTTS qua những phong tục tập quán của các đồng bào dân tộc ít người miền núi phía Bắc như trong những dịp lễ tết, hội hè, cưới hỏi và ma chay tất cả đều lần lượt được khám phá và đào xới thông qua các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình vền văn học DTTS miền núi phía Bắc Những lễ hội, những phong tục tập quán đặc sắc thể hiện rõ những nét văn hóa riêng
biệt của từng dân tộc hiện lên trong văn thơ một cách hấp dẫn và đặc sắc Có thể kể tên
một số công trình nghiên cứu về văn học DTTS miền núi phía Bắc tiêu biểu khai thác
các giá trị đặc sắc thể hiện qua những phong tục, tập quán đặc sắc như: Bản sắc dân tộc trong thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, 2010 Trần Thị Việt Trung (chủ biên); Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam (Đào Thủy Nguyên, Dương Thu Hằng) Nguyễn Thị Thu Huyền (2009) với công trình Bản sắc Tày trong thơ Y Phương và Dương Thuấn Lê Thị Hồng Trang (2016), Bản sắc Nùng trong thơ Mã Thế Vinh Bàn Thị Quỳnh Giao (2010), Bản sắc văn hóa Dao trong thơ Bàn Tài Đoàn Phạm Thế Thành (2005), Bản sắc Tày trong thơ Nông Quốc Chấn Nguyễn Thị Bích Dậu (2014), Bản sắc văn hóa Mường trong sáng tác của
Hà Thị Cẩm Anh La Thúy Vân (2011) “Bản sắc văn hóa dân tộc trong những sáng tác của Cao Duy Sơn, Nguyễn Thị Thu Hòa (2018), Truyện ngắn dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn văn hóa Hoàng Thị Vi (2009), Bản sắc dân tộc trong văn xuôi Triều Ân Các công trình nghiên cứu về văn học DTTS trên đều quan tâm
khai thác các giá trị văn hóa độc đáo của đồng bào DTTS miền núi phía thông qua các phong tục, tập quán mới lạ và độc đáo như: Phát hiện và phê bình về những nét đẹp văn hóa mang đậm bản sắc tộc người qua các dịp lễ hội đón xuân, lễ hội cầu mùa màng
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
bội thu, phong tục tập quán trong truyền thống hôn nhân, cưới hỏi, phong tục tang lễ người đồng bào DTTS, phong tục chợ phiên, chợ tình
Ta có thể dễ dàng nhận thấy những bức tranh rực rỡ trong lễ hội dịp Tết của người dân tộc Tày miền núi phía Bắc trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền
“Mỗi năm người Tày có hàng trăm ngày lễ tết, hội hè Mỗi dịp như thế, con người khắp bản mường lại có cơ hội tụ họp với nhau, vui chơi ca hát Trong những ngày lễ Tết, hội hè trang phục của người đồng bào cũng khác ngày thường: Khăn áo, vòng bạc rực
rỡ, vui tươi” [30, tr47] Mỗi dịp xuân về, đồng bào dân tộc Tày nô nức chuẩn bị váy
áo, trang sức rực rỡ để đón một năm mới bình an và xua đi những điều không tốt của năm cũ Họ tụ họp và quân quần bên nhau ca hát vui tươi bên cây đàn tính và ngân nga
những giai điệu Then truyền thống của dân tộc họ qua cây đàn Tính độc đáo “Hát dân
ca và đánh đàn tính tẩu là hoạt động văn hóa, văn nghệ rất đặc trưng của đồng bào Tày Việt Bắc” [60, tr92] Ngoài ra, bản sắc văn hóa đặc trưng của đồng bào dân tộc Tày còn được thể hiện một cách rõ nét và độc đáo trong công trình nghiên cứu Bản sắc dân tộc trong thơ Ma Trường Nguyên của tác giả Nguyễn Thị Huyền Anh “Người Tày trong dịp Tết thường dựng cây nêu Khởi nguyên cây nêu được dựng với ý nghĩa trừ
ma quỷ, thờ phụng thần linh và vong hồn tổ tiên, trừ những điều xấu xa của năm cũ.”
[4, tr71], mỗi năm khi dịp tết đến xuân về, đồng bào các dân tộc thiểu số đặc biệt là dân tộc Tày miền núi phía Bắc, họ vẫn giữ được những đặc sắc văn hóa truyền thống của mình Việc dựng cây nêu trong dịp năm mới đến với họ là đánh dấu một năm với mùa màng bội thu, cuộc sống no đủ, hạnh phúc, ngoài ra cây nêu còn là hình ảnh mang
ý nghĩa thiêng liêng của dân tộc Tày vì theo quan niệm từ thời cha ông thì cây nêu là biểu tượng của việc trừ ma quỷ, trừ những điều không may mắn của một năm cũ đã qua, chào đón một năm mới bình an và hạnh phúc Bên cạnh những lễ hội mùa xuân rực rỡ sắc hoa, váy áo và cả những điệu hát, tiếng đàn ngân vang khắp núi rừng miền núi Trong khi đó, Hoàng Thị Vi trong công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa trong văn xuôi Triều Ân lại có những phát hiện đặc biệt về truyền thống lễ hội dân gian truyền thống của người Tày và người Dao như thú vui ngày hội đầu năm, mừng xuân, mừng
sự đua nở của trăm hoa hay lễ hội ăn mừng thành quả của việc săn bắn thú rừng của người dân tộc Dao miền núi phía Bắc Tất cả được Hoàng Thị Vi tái hiện sinh động và
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đầy màu sắc trong công trình nghiên cứu của mình: “Đối với cư dân miền núi, lễ hội
là dịp để mọi người gặp gỡ, làm quen, dốc bầu tâm sự Trong những ngày hội xuân không thể thiếu các trò chơi dân gian Người dân tộc vùng cao thường có các trò chơi như tung còn, hát giao duyên, đánh cờ tiên, đánh sảng, kéo co, đẩy gậy Giữa các dân tộc thiểu số cũng không có ranh giới Cuộc vui kéo dài trong khung cảnh bình yên, thân thiện và lành mạnh” [69; tr.36] Trong văn xuôi Triều Ân, những hình ảnh con
người dân tộc thiểu số mỗi lúc tết đến xuân về họ lại náo khoác lên mình những bộ váy
áo rực rỡ sắc đầy sắc màu để chào đón một năm mới bình an và cầu mùa màng bội thu bằng các trò chơi dân gian truyền thống Cũng giống như những công trình nghiên cứu
về văn học DTTS miền núi phía Bắc về bản sắc văn hóa, công trình nghiên cứu về văn xuôi Triều Ân của Hoàng Thị Vi cũng đặc biệt khám khám phá hình ảnh sống động vì
lễ hội của đồng bào DTTS đầu xuân Và nếu như những công trình trêu đều đặc biệt phát hiện và khám phá các giá trị văn học DTTS của bản sắc văn hóa dân tộc thông qua hình thức lễ hội đầu xuân với đầy đủ các âm thanh khác nhau như: âm thanh của con người náo nước trẩy hội, âm thanh của những làn điệu dân ca, âm thanh của đàn tính tẩu, âm thanh của tiếng khèn réo rắt thì Nguyễn Thị Bích Dậu trong công trình nghiên cứu, lý luận phê bình về bản sắc văn hóa Mường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh lại phát hiện ra âm thanh độc đáo và vui tươi của lễ hội mùa xuân thông qua tiếng cồng chiêng nhộn nhịp và mang đầy âm sắc cầu bình an và may mắn cho một năm mới bội
thu “Đọc những sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh, ta như được phiêu du trong lễ hội của người Mường Đó là không khí lễ hội của những ngày xuân, khắp đất trời đều tưng bừng, rộn rã âm thanh Cùng với lễ hội thì âm thanh tiếng cồng, tiếng chiêng thể hiện đậm đà bản sắc văn hóa của dân tộc Mường” [10; tr.22] Và nếu như bản sắc văn hóa
tộc người của người dân tộc Mường thể hiện qua lễ hội nhộn nhịp với những nhịp gõ
và tiếng cồng, tiếng chiêng rộn ràng trong lễ hội ngày xuân thì trong công trình của Hoàng Thị Minh Phương nghiên cứu về văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Vi Hồng lại miêu tả bức tranh lễ hội đầy màu sắc tươi mới của đồng bào dân tộc Tày miền núi phía
Bắc trong lễ hội “Lồng Tồng” đầu xuân năm mới “Lễ hội Lồng Tồng ở Cao Bằng được
mở từ giữa tháng Chạp, những năm hội lớn là những năm kết hợp với lễ mời nàng
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
trăng (mời Nàng Hai) Trong những ngày lễ hội có nhà thịt hai con lợn to, nấu rượu hết nửa gánh gạo xay để tiếp khách” [45; tr.45]
Bên cạnh sự đặc sắc thể hiện trong các dịp lễ hội mùa xuân, các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học DTTS miền núi phía Bắc dưới góc nhìn văn hóa qua phương diện bản sắc văn hóa thể hiện qua phong tục, tập quán còn đặc biệt quan tâm và nghiên cứu, khám phá các giá trị bản sắc văn hóa tộc người thông qua hình ảnh và hoạt động của những buổi chợ phiên, chợ tình vùng cao bởi lẽ yếu tố tạo nên dấu ấn dân tộc của người miền núi còn là hình thức tổ chức chợ phiên Chúng ta còn dễ dàng phát hiện ra những nét văn hóa đặc sắc, độc đáo của đồng bào DTTS miền núi phía Bắc qua những phiên chợ phiên đông vui và náo nhiệt trong công trình nghiên cứu về truyện ngắn DTTS Việt Nam đầu thế kỷ XXI của Nguyễn Thị Thu Hòa Đó là một khung cảnh sinh hoạt rộng lớn và đa dạng đầy màu sắc rực rỡ của
trang phục con người và hàng hóa buôn báo trong buổi họp chợ phiên: “Chợ phiên cũng là hình thức sinh hoạt văn hóa đặc sắc của đồng bào các DTTS Ở vùng cao, nhất là ở những nơi có bản người Tày, Dao, Mông sinh sống, chợ chỉ họp theo phiên (thường là năm ngày một phiên hoặc một tháng hai phiên) Người dân đến chợ không chỉ đơn thuần để mua bán hay trao đổi hàng hóa mà đây còn là dịp để họ được giao lưu qua những món ẩm thực độc đáo, những bộ trang phục rực rỡ sắc màu hay cơ hội để thanh niên tìm vợ tìm chồng” [24; tr48 - 49] Con người DTTS miền núi phía
Bắc coi trọng đời sống văn hóa tinh thần gắn liền với việc giữ gìn bản sắc riêng của dân tộc mình Mỗi dân tộc đều có những bản sắc văn hóa riêng cần được lưu giữ và phát triển Tuy nhiên, đa số các dân tộc miền núi phía Bắc đều có những tập tục độc đáo như thường xuyên có những buổi họp chợ phiên, có thể là năm ngày một phiên hoặc một tháng hai phiên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt trong đời sống cũng như sinh hoạt tinh thần của con người Những nét đẹp văn hóa truyền thống đó đã đi vào trong những trang văn, những vần thơ của các văn nghệ sỹ một cách tự nhiên và giàu cảm xúc Đồng thời, trong các công trình nghiên cứu về văn học DTTS miền núi phía Bắc các tác giả nghiên cứu cũng đã dành rất nhiều sự quan tâm đặc biệt để khám phá những giá trị đặc sắc thể hiện trong khung cảnh và hoạt động của con người trong buổi chợ phiên miền núi Cùng khám phá ra nét đặc sắc trong hình thức tổ chức chợ
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
phiên, công trình nghiên cứu của Hoàng Thị Vi cũng phát hiện ra những dấu ấn tiêu biểu và đặc biệt của phong tục họp chợ phiên của đồng bào dân tộc Tày, Nùng miền
núi phía Bắc: “Ai đã từng đặt chân lên mảng đất biên giới phía Bắc chắc chắn sẽ không thể không ấn tượng với những phiên chợ vùng cao” và đặc biệt “ở vùng Tày - Nùng, chợ ngày mồng tám tết là chợ khai xuân Trong phiên chợ này, hàng hóa bán chủ yếu là các đồ ăn, đồ chơi của trẻ em ” [69; tr.37] Ngoài ra chợ phiên của người
dân tộc thiểu số trong văn xuôi Triều Ân còn là không gian của những đôi trai gái hẹn
hò, gặp gỡ và trao gửi yêu thương qua những làn điệu hát đối, hát lượn “Những phiên chợ đầu xuân cũng là dịp để trai gái bản gặp gỡ hẹn hò, cùng nhau hát đúm (dân ca giao duyên) Hát dân ca, làn điệu khi thì tài si khi lượn, lúc hà lều lúc vàng
dà là một nét đặc sắc văn hóa của người Tày Thông qua các làn điệu này người dân
có thể bày tỏ được tâm tư, tình cảm, ước nguyện của mình Triều Ân đã đưa chúng ta đến với chợ phiên cô Sầu vào một ngày mưa xuân lất phất bay như rắc bụi ” [69;
tr.38] Công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa chợ phiên trong văn xuôi Triều Ân
là hình ảnh đặc sắc về văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, con người đến chợ không chỉ đơn thuần là đến trao đổi mua bán, họ đến chợ còn là để giao lưu văn hóa
ẩm thực, ngoài ra còn là dịp để cho các bạn trẻ trai gái gặp gỡ và hẹn hò Hoàng Thị
Vi với công trình nghiên cứu về văn xuôi Triều Ân đã phát hiện ra những nét đặc sắc trong văn hóa chợ phiên với những cuộc hát đối giao duyên kéo dài đến tận khi mặt trời gác núi Đây quả thực là một nét đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào DTTS miền núi phía Bắc trong văn xuôi Triều Ân
Một trong những dấu ấn tạo nên sự đặc sắc trong bức tranh phong phú về bản sắc văn hóa dân tộc là phong tục hôn nhân, gả vợ cưới chồng của đồng bào dân tộc thiểu
số miền núi phía Bắc Những nét đặc sắc trong tục hôn nhân gia đình đều được tái hiện đầy đủ và khá rõ nét trong một số nghiên cứu tiêu biểu như: Bàn Thị Quỳnh Giao
(2010), Bản sắc văn hóa Dao trong thơ Bàn Tài Đoàn, Hoàng Thị Vi; Hoàng Thị Vi (2009), Bản sắc dân tộc trong văn xuôi Triều Ân; Đào Thủy Nguyên, Dương Thu Hằng (2014), Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam; Trần Thị Việt Trung (2010 - chủ biên), Bản sắc dân tộc trong thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, Nguyễn Thị Thu Huyền (2009), Bản sắc Tày trong thơ Y