1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra chống bán phá giá dưới góc độ luật so sánh

150 595 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều Tra Chống Bán Phá Giá Dưới Góc Độ Luật So Sánh
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận án
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 850 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khóa luận, luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, đề tài

Trang 1

MỤC LỤC

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và Tổng quan tình hình nghiên

cứu

12

Chương 2: Những vấn đề lý luận về bán phá giá, chống

bán phá giá và điều tra chống bán phá giá

Chương 4: Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Việt Nam về điều tra chống bán phá giá

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Trong thương mại quốc tế, hành vi bán phá giá hàng hóa xuất khẩu của cácnhà sản xuất/xuất khẩu nước ngoài và hoạt động chống bán phá giá của chính phủnước nhập khẩu luôn xảy ra một cách phổ biến Với nhiều mục đích khác nhau (kể

cả bán phá giá và chống bán phá giá), những hành vi này có thể sẽ gây tổn hại cho

1

Trang 2

tự do thương mại quốc tế, gây thiệt hại cho nhiều ngành sản xuất, thiệt hại đối vớingười lao động cũng như đối với nền kinh tế của các quốc gia có liên quan.

Chính sách chống bán phá giá đã xuất hiện cách đây hơn 100 năm Canada là

quốc gia đầu tiên ban hành luật chống bán phá giá vào năm 1904 (An Act to Amend

the Customs Tariff 1897, 4 Edw VIII, I Canada Statutes 111 (1904), New Zealand

1905, Australia ban hành năm 1906 (Industries Preservation Act 1906), Nam Phi và

Vương quốc Anh 1921…Hoa Kỳ ban hành luật chống bán phá giá đầu tiên vào năm

1916 Trong khi quy định chống bán phá giá đầu tiên của Hoa Kỳ còn nằm trêngiấy, chưa có vụ kiện nào được áp dụng thì đến năm 1919 Ủy ban thuế quan Hoa

Kỳ đã xem xét lại luật chống bán phá giá 1916 và kết luận luật này chưa thể ápdụng vào thực tiễn để thực hiện các vụ kiện chống bán phá giá [78, tr.5] Luậtchống bán phá giá 1921 của Hoa Kỳ đã ra đời từ bối cảnh đó, bản chất của đạo luậtnày cũng tương tự như đạo luật chống bán phá giá của Canada có hiệu lực thời đó.Mối quan tâm xây dựng luật phá giá lúc này của Hoa Kỳ là do cơ cấu ngành côngnghiệp của nước Đức, một số doanh nghiệp ở Đức có ưu thế về khoa học côngnghệ, lợi dụng ưu thế của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (cartel-Kartell) và đượcbảo hộ thuế quan, đó là những nhân tố dẫn đến nguyên nhân bán phá giá nhiều hơn

Sau khi một loạt quốc gia đơn phương ban hành luật chống bán phá giá, đãxuất hiện một số sáng kiến đa phương phân tích và bàn về chính sách này Năm

1922 Hội Quốc liên (League of Nations), một tổ chức mang tính tiền thân của Liênhợp quốc, đã tổ chức một nghiên cứu về bán phá giá và sự khác biệt giá Sau đó bảnghi nhớ về chống bán phá giá do Jacob Viner soạn thảo cũng đã được ghi nhận Tuynhiên, không có Hiệp định về chống bán phá giá nào được ký kết

Sau khi Liên hợp quốc được thành lập, một thỏa thuận chung đã đạt được tạiGATT 1947 Trong các phiên đàm phán, Hoa Kỳ đã đưa ra những đề xuất quantrọng, cáo buộc bán phá giá và trợ cấp hàng hóa là hành vi cạnh tranh thương mạibất bình đẳng Điều VI của GATT đã đặt ra các nguyên tắc cơ bản về chống bánphá giá Theo đó, thuế chống bán phá giá có thể được ấn định khi hành vi bán phágiá là nguyên nhân gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đối với ngành sảnxuất trong nước GATT không quy định cụ thể hình thức quản lý và cách tính toán,

mà giành cho các quốc gia tham gia ký kết quy định cơ chế cho riêng mình

Trang 3

Do quy định thiếu chi tiết về phương pháp và cơ chế quản lý trong điều VIdẫn đến hoạt động chống bán phá giá không thống nhất Vì thế, đây là lĩnh vựcquan trọng đầu tiên được cải cách trong lịch sử GATT [78, tr.7] Vòng đàm phán

Kennedy đã thông qua Hiệp định 1967 về thực thi điều VI (the Kennedy Round Anti-Dumping Code) Một số điểm chính là các quy định về thuế có thể chỉ bị ấn

định sau khi điều tra sơ bộ cho thấy có hành vi bán phá giá và thiệt hại Hiệp địnhcũng khuyến nghị áp thuế thấp hơn biên độ phá giá khi mà mức thuế thấp hơn đóloại bỏ được thiệt hại Đồng thời xác định ngành công nghiệp là những nhà sản xuất

có sản lượng gộp lại chiếm một phần lớn trong tổng sản phẩm Trong mối quan hệ

nhân quả, phá giá phải được xem như là các “nguyên nhân chủ yếu” gây ra thiệt hại.

Hiệp định này có hiệu lực vào năm 1967 Tuy nhiên Hoa Kỳ đã không phê chuẩnHiệp định 1967, vì vậy mức độ áp dụng của Hiệp định này vào thực tiễn là rất ít

Vòng đàm phán Tokyo về thương mại đa phương được ký kết vào năm 1979

và có hiệu lực năm 1980, đã xác định rõ hơn về bán phá giá và thiệt hại so với điều

VI của GATT 1947, quy định chi tiết về trình tự và thủ tục trong quá trình điều tra.Tuy nhiên, các quy định về chống bán phá giá ở Hiệp định vòng đàm phán Tokyocũng mới chỉ là quy định khung, còn có nhiều điểm chưa rõ ràng, còn gây tranh cãi

và thực tế là chỉ có 27 thành viên bị ràng buộc với Hiệp định này [123, truy cập lần

cuối 17/07/2012].

Vòng đàm phán Uruguay về thương mại đa phương kết thúc vào ngày

15/4/1994, đã thông qua Hiệp định ADA (Agreement on Implementation of Article

VI of the General Agreement on Tariffs and Trade 1994) Vì nhiều lý do, chống bán

phá giá là vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất trong giai đoạn cuối của vòng đàm phánUruguay Tuyên bố các Bộ trưởng được thông qua ở Punta Del Este ngày 20/9/1986khởi động vòng đàm phán Uruguay đã không có một tham chiếu rõ ràng về chốngbán phá giá [92] Lúc đầu, cải cách chống bán phá giá đơn giản chỉ được xem xét

dưới thỏa thuận chung nhằm “cải tiến, làm rõ hoặc mở rộng, cũng như cho phù

hợp” với Hiệp định vòng đàm phán Tokyo [92,93] Năm 1988, một số quốc gia chỉ

yêu cầu một nghiên cứu thống kê từ Ban thư ký của GATT về vấn đề áp dụng cácbiện pháp chống bán phá giá

3

Trang 4

Tuy nhiên, sau đó Ủy ban thực hành về chống bán phá giá đã xem xét mộtloạt các văn bản pháp lý đã sửa đổi của Hoa Kỳ và EU, cơ quan giải quyết tranhchấp cũng bắt đầu xem xét đến các vấn đề chống bán phá giá ở mức độ nhiều hơn.

Có lẽ khiếu nại quan trọng nhất là từ một đề xuất của Nhật Bản, quốc gia này đã điđầu trong việc yêu cầu cơ quan giải quyết tranh chấp buộc bồi thường thiệt hại Vấn

đề thực tế là, các quốc gia đã đã bắt đầu xem cơ chế giải quyết tranh chấp củaGATT như là một giải pháp mang tính khả thi thay thế cho việc bỏ ra các khoản

“chi phí” lớn để bảo vệ quyền lợi của mình tại nước ngoài Tiếp theo đó, Tổng giám

đốc GATT đã trình bày văn bản đề xuất của mình như là một phần của bản thảocuối cùng của Hiệp định và sau đó được gọi là bản thảo Dunkel [61] Trong khi cácnhà đàm phán không muốn trở lại các tranh cãi về những vấn đề rộng lớn hơn củabản thảo Dunkel vì lo ngại gây ra bất ổn cho đàm phán Các tranh cãi về cải cáchchống bán phá giá cũng đã đề cập các câu hỏi liên quan đến chủ quyền, sự tôn trọng

và nguyên tắc Lotus trong luật quốc tế

Hiệp định ADA ra đời không phải là Hiệp định riêng lẻ, nó khác với quyđịnh về chống bán phá giá của Hiệp định vòng đàm phán Tokyo Vì thế, tất cả cácthành viên của WTO bị ràng buộc bởi Hiệp định này kể từ thời điểm Hiệp địnhWTO có hiệu lực với họ Hiệp định này quy định các yêu cầu cụ thể về thủ tục khi

họ trở thành chủ thể tranh chấp của WTO

Như vậy, lịch sử pháp luật chống bán phá giá đã xuất hiện và tồn tại trên thếgiới hơn 100 năm nay Các quy định pháp luật về chống bán phá giá đã được đàmphán, cải cách và thông qua một Hiệp định chung điều chỉnh về hoạt động chốngbán phá giá trong thương mại quốc tế Theo đó, Hiệp định ADA đã quy định đếncác vấn đề liên quan đến hình thức tổ chức quản lý, thời hạn điều tra, cách tính giátrị thông thường, xem xét theo thủ tục tư pháp.v.v…

Hiệp định ADA ra đời đã chấm dứt những quy định tùy ý của các quốc giathành viên, hạn chế phần nào tình trạng lạm dụng chính sách chống bán phá giá đểbảo hộ ngành sản xuất trong nước Cũng tính từ khi Hiệp định ADA ra đời, chínhsách chống bán phá giá đã được rất nhiều quốc gia thành viên áp dung nhằm bảo vệngành sản xuất trong nước

Trang 5

Tuy nhiên, Hiệp định ADA được thông qua không có nghĩa là các quy định

về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế đã được hoàn thiện Hiện nay đang

có rất nhiều quan điểm nêu lên những bất cập của Hiệp định ADA, những vấn đềliên quan đến việc sửa đổi Hiệp định ADA đang được tranh luận tại vòng đàm phánDoha mà vẫn chưa đi đến hồi kết

Đối với Việt Nam, việc tham gia WTO, thực hiện các điều ước quốc tế nóichung và Hiệp định ADA nói riêng có một vai trò rất quan trọng, là cơ sở pháp lýtrong việc tăng cường và mở rộng các quan hệ thương mại quốc tế Bên cạnh đó,việc thực hiện các điều ước quốc tế đã góp phần tích cực trong việc xây dựng vàhoàn thiện hệ thông pháp luật nói chung và pháp luật về chống bán phá giá nóiriêng.Văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh hành vi bán phá giá hàng hóa nhậpkhẩu là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

số 04/1998/QH10 ngày 20/5/1998 cho phép áp dụng thuế bổ sung đối với hàngnhập khẩu bị bán phá giá vào Việt nam (Điều 1), Quyết định số 46/2001/QĐ-TTgcủa Thủ tướng Chính phủ ngày 4/4/2001 về việc quy định xây dựng nguyên tắc ápdụng thuế chống bán phá giá Tuy nhiên, các quy định trong hai văn bản pháp lýnày chưa có những quy định cụ thể về thẩm quyền, thủ tục điều tra và áp dụng thuếchống bán phá giá cũng như cách thức xác định hành vi bán phá giá Năm 2004

Ủy ban thường vụ Quốc Hội đã ban hành Pháp lệnh chống bán phá giá số 20/2004/PL-UBTVQH11 ngày 29/04/2004 Đây là văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnhtrực tiếp, toàn diện vấn đề chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam.Tiếp theo là các văn bản hướng dẫn thi hành của Chính phủ: Nghị định số 90/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Chốngbán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; Nghị định số 04/2004/NĐ-CP ngày09/01/2006 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu

tổ chức của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ; Nghịđịnh số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006, quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn và cơ cấu tổ chức của cục quản lý cạnh tranh Các văn bản khác như Quyết định

số 32/QĐ-QLCT ngày 15/5/2008 của Cục quản lý cạnh tranh, ban hành mẫu hồ sơyêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá; Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

số 45/2005/QH11 ngày 14/06/2005; Thông tư của Bộ Tài chính số

106/2005/TT-5

Trang 6

BTC ngày 05 tháng 12 năm 2005, hướng dẫn thu, nộp, hoàn trả thuế chống bán phágiá, thuế chống trợ cấp và các khoản đảm bảo thanh toán thuế chống bán phá giá,thuế chống trợ cấp.

Về hoạt động chống bán phá giá trên thế giới, mục đích ra đời của pháp luậtchống bán phá giá là để bảo vệ ngành sản xuất trong nước ở quốc gia nhập khẩu,bảo vệ thị trường nước nhập khẩu được vận hành một cách lành mạnh Tuy nhiên,thực tiễn cũng cho thấy là nhiều quốc gia đã bị khiếu nại, vì sử dụng công cụ chốngbán phá giá không chỉ để bảo vệ ngành sản xuất trong nước mà còn lạm dụng công

cụ này để “bảo hộ” quá mức cho ngành sản xuất trong nước hoạt động kém hiệu

quả

Giai đoạn trước năm 1995, biện pháp chống bán phá giá chủ yếu được ápdụng ở các quốc gia phát triển (Hoa Kỳ, EU, Canada…) Tuy nhiên, kể từ khi Tổchức thương mại thế giới WTO được thành lập cho đến nay, công cụ bán phá giákhông chỉ giới hạn ở các quốc gia phát triển, mà ngày càng được sử dụng rộng rãibởi nhiều quốc gia Điểm mới của vấn đề là các nước đang phát triển đang dẫn đầucác quốc gia áp dụng biện pháp chống bán phá giá nhiều nhất trên thế giới Từ năm1995-2011 Ấn Độ khởi xướng 656 vụ kiện, hơn cả những quốc gia có kinh nghiệm

và thói quen sử dụng công cụ này như Hoa Kỳ 458 vụ và EU 437 vụ [127, truy cậplần cuối ngày 20/07/2012]

Liên quan đến Việt Nam, tính đến tháng 07/2012, các ngành sản xuất củaViệt Nam đã phải đối mặt với 44 vụ kiện chống bán phá giá ở nước ngoài [126, truycập lần cuối ngày 20/07/2012], số lượng các vụ kiện ngày càng tăng, quy mô các vụkiện ngày càng lớn Điều đó cho thấy mức độ nghiêm trọng mà các vụ kiện này đãgây ra cho doanh nghiệp Việt Nam và ngành sản xuất trong nước … Có nhiều lý dokhác nhau, trong số các vụ việc mà phía Việt Nam bị kiện thì đáng kể hơn (về sốlượng và thiệt hại) là các vụ kiện được khởi phát từ phía Hoa kỳ và EU Điều đángquan tâm hơn là, chính sách và pháp luật về chống bán phá giá hàng nhập khẩu củamột số quốc gia thường xuyên sử dụng biện pháp chống bán phá giá như Hoa Kỳ,

EU, Canada… lại có khá nhiều nội dung, thủ tục khác biệt và phức tạp hơn so vớiquy định chung của WTO

Trang 7

Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam còn đang tập trung tiệm cận thị trườngnước ngoài, lo đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá ở các quốc gia nhập khẩu,thì thị trường nội địa đã bị các doanh nghiệp nước ngoài áp đảo, mà rõ nhất là hànghóa nhập khẩu từ Trung Quốc và một số nước lân cận như Hàn Quốc, Thái Lan, ĐàiLoan… Theo số liệu của WTO, Trung Quốc đang là nước bị điều tra chống bánphá giá nhiều nhất trên thế giới, tính từ ngày 31/12/1995 cho đến ngày 31/12/2011Trung Quốc đã phải đương đầu với 853 vụ kiện điều tra chống bán phá giá, đứngđầu các quốc gia bị kiện trên toàn cầu Điều này cho thấy số lượng các vụ kiện màhàng hóa xuất khẩu từ Trung Quốc phải đương đầu là khổng lồ Ngoài Trung Quốc,hàng hóa của nhiều quốc gia khác đang có mặt tại Việt Nam và chiếm một thị phầnđáng kể đều nằm trong danh sách các quốc gia bị kiện chống bán phá giá cao trênthế giới, cụ thể: Hàn Quốc 284 vụ (đứng thứ hai sau Trung Quốc); Đài Loan 211 vụ(đứng vị trí thứ tư), Thái Lan 164 vụ (đứng vị trí thứ bảy)…[127, truy cập lần cuốingày 20/07/2012].

Như vậy, xu hướng trên thế giới, cũng như thực tiễn vận hành của nền kinh

tế Việt Nam hiện nay cho thấy nhu cầu hoàn thiện và áp áp dụng công cụ chống bánphá giá để bảo vệ ngành sản xuất trong nước, cũng như bảo vệ cho nền kinh tế đượcvận hành một cách lành mạnh là cấp thiết Tuy nhiên, bên cạnh hệ thống pháp luật

về chống bán phá giá và pháp luật về về các lĩnh vực liên quan đến điều tra chốngbán phá giá còn chưa hoàn thiện, thiếu tương thích; vị thế của nền kinh tế Việt Namtrên thị trường quốc tế sẽ là những nguyên nhân gây ra khó khăn cho Việt Nam khi

áp dụng chính sách này vào thực tiễn, bởi các lý do sau:

Thứ nhất, với hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh chống bán phá giá

được cho là khá nhiều, nhưng khi so sánh, đối chiếu với Hiệp định ADA và phápluật về chống bán phá giá của Hoa Kỳ, EU thì pháp luật chống bán phá giá của ViệtNam còn nhiều vấn đề cần phải hoàn thiện, nhiều quy định chưa đủ chi tiết, không

rõ ràng, còn chung chung; sự chưa hoàn toàn tương tích giữa pháp luật về chốngbán phá giávới pháp luật về thuế Xuất khẩu, Nhập khẩu; Pháp luật về Hải quan,Pháp luật về Tố tụng hành chính.v.v…

Thứ hai, Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế khá nhỏ bé, các ngành sản

xuất trong nước còn lạc hậu, manh mún, rời rạc và mức độ cạnh tranh thua kém rất

7

Trang 8

nhiều so với các sản phẩm tương tự của các nhà sản xuất trên thế giới Do vậy, khi

áp dụng biện pháp chống bán phá giá với sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài, có thể

sẽ gây thiệt hại cho người tiêu dùng, hoặc là sự “bảo hộ” thái quá cho ngành sản

xuất trong nước kém cỏi và lạc hậu đó sẽ dẫn đến thiệt hại cho nền kinh tế, dẫn đến

sự “trả đũa” thương mại từ các quốc gia bị đánh thuế chống bán phá giá Thực tiễn

cho thấy, những quốc gia bị kiện chống bán phá giá nhiều nhất lại là các nền kinh tếlớn

Mặc dù có những khó khăn nhất định, có thể trong tương lai gần Việt Namchưa thể áp dụng thành công biện pháp phòng vệ này Nhưng, việc nghiên cứu vàhoàn thiện pháp luật về điều tra chống bán phá giá là cần thiết phải làm, nhằm phục

vụ cho nhiệm vụ bảo vệ ngành sản xuất trong nước, bảo đảm cho nền kinh tế hoạtđộng lành mạnh và phát triển trong tương lai

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu

Luận án được nghiên cứu để đạt được các mục đích sau đây:

Thứ nhất, việc nghiên cứu sẽ tìm ra những bất cập của pháp luật về điều tra

chống bán phá giá của Việt Nam Từ đó, đặt ra phương hướng hoàn thiện, nêu lênnhững nội dung pháp luật cần phải được sửa dổi, bổ sung và hoàn thiện để nhằmđáp ứng nhiệm vụ bảo vệ ngành sản xuất trong nước, bảo vệ quyền lợi của ngườitiêu dùng và bảo đảm cho nền kinh tế được hoạt động lành mạnh Bên cạnh đó, viêchoàn thiện pháp luật về điều tra chống bán phá giá cần phải tuân thủ các nguyên tắc

và quy định của WTO và Hiệp định ADA

Thứ hai, mục đích của việc nghiên cứu là tìm hiểu các quy định pháp luật

liên quan đến tổ chức và hoạt động điều tra chống bán phá giá của Hiệp định ADA,của Việt Nam, Hoa Kỳ và EU Từ đó, các Doanh nghiệp, ngành sản xuất trong nướccủa Việt Nam có thể dùng tài liệu để tham khảo khi phải đối mặt với các vụ kiệnchống bán phá giá ở nước ngoài, cũng như chủ động nộp đơn yêu cầu điều trachống bán phá giá ở Việt Nam khi nhận thấy hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài cóhành vi bán phá giá ở thị trường Việt Nam

Trang 9

Thứ ba, mục đích của việc nghiên cứu nhằm chỉ ra sự cần thiết của Chính

phủ, mà cụ thể là Bộ Công thương cần phải chủ động hơn nữa trong việc hỗ trợngành sản xuất trong nước khi có dấu hiệu về hành vi bán phá giá ở thị trường ViệtNam Đặc biệt là, trong trường hợp cần thiết có thể chủ động tự khởi xướng điềutra, không nhất thiết cứ phải chờ vào đơn yêu cầu của ngành sản xuất trong nước

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, Nghiên cứu có hệ thống cơ sở lý luận của chính sách pháp luật

chống bán phá giá của WTO, Hoa Kỳ, EU và pháp luật của Việt Nam về chống bánphá giá;

Thứ hai, Nghiên cứu và làm sáng tỏ nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với các

quy định về điều tra chống bán phá giá của pháp luật Việt Nam;

Thứ ba, Nghiên cứu so sánh các mô hình pháp luật về tổ chức và hoạt động

điều tra chống bán phá giá của Việt Nam với Hiệp định ADA, Hoa Kỳ và EU;

Thứ tư, Phân tích, đối chiếu và làm sáng tỏ thực trạng điều chỉnh pháp luật

về tổ chức và hoạt động điều tra chống bán phá giá nói ở Việt Nam

3 Phạm vi và Đối tượng nghiên cứu

3.1. Phạm vi nghiên cứu

Luận án giới hạn ở nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản liên quanđến chống bán phá giá và quy định pháp luật về tổ chức, hoạt động điều tra chống

bán phá giá đối với “hàng hóa nhập khẩu” Nội dung phân tích quy định pháp luật

về một số khái niệm liên quan đến điều tra chống bán phá giá, cơ cấu tổ chức của cơquan chống bán phá giá, trình tự, thủ tục điều tra chống bán phá giá của Hiệp địnhADA, của pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá, cũng như quy định tương ứngcủa pháp luật Hoa Kỳ và EU

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là cơ sở lý luận, cũng như thực tiễn vềhoạt động điều tra chống bán phá giá, cơ cấu tổ chức và hoạt động điều tra chốngbán phá theo Hiệp định ADA, pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam, của Hoa

9

Trang 10

Kỳ và EU Bên cạnh đó, một vài vụ kiện về chống bán phá giá cũng sẽ được phântích và đánh giá ở trong quá trình nghiên cứu.

4 Những điểm mới của luận án

Đề tài sẽ góp phần:

Thứ nhất, luận án đã phân tích một số khái niệm trong điều tra chống bán

phá giá như: sản phẩm tương tự, khái niệm về chứng cứ, khái niệm về lẩn tránh thuếchống bán phá giá…Đây là những khái niệm đã được đề cập trong Hiệp định ADA

và pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam cũng đã có đề cập hoặc chưa đềcập Từ những khái niệm này, luận án đã phân tích sâu hơn, cụ thể hơn để nhằmhoàn thiện những khái niệm này trong pháp luật về chống bán phá giá ở Việt Nam

Thứ hai, luận án phân tích thực trạng pháp luật về điều tra chống bán phá giá

của Việt Nam, trên cơ sở so sánh và đối chiếu với pháp luật Hoa Kỳ, EU về chốngbán phá giá, cũng như kinh nghiệm nội luật hóa pháp luật về chống bán phá giá củacác quốc gia này từ Hiệp định ADA Từ đó, căn cứ vào tình hình thực tiễn Kinh tế-

xã hội của Việt Nam, luận án đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về điềutra chống bán phá giá trên cơ sở Hiệp định ADA và học hỏi kinh nghiệm từ cácquốc gia khác đã so sánh

Thứ ba, từ việc phân tích một số khái niệm trong điều tra chống bán phá giá,

phân tích thực trạng quy định pháp luật về điều tra chống bán phá giá của ViệtNam, Hoa Kỳ, EU và đặc biệt là trên cơ sở quy định khung của Hiệp định ADA.Luận án đưa ra những kiến nghị nhằm cụ thể hóa các khái niệm, hoàn thiện các quyđịnh về điều tra chống bán phá giá cho phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội củaViệt Nam, cũng như đáp ứng được nhu cầu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của ngànhsản xuất trong nước;

Thứ tư, cũng từ việc nghiên cứu, so sánh và đối chiếu quy định pháp luật của

Hiệp định ADA, pháp luật về điều tra chống bán phá giá của Hoa Kỳ, EU, Luận án

sẽ cung cấp những thông tin quan trọng, có giá trị tham khảo cao cho các doanhnghiệp, ngành sản xuất trong nước, nhà xuất khẩu Việt Nam khi phải đối phó vớicác vụ kiện chống bán phá giá ở Hoa Kỳ, EU

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Trang 11

Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về điều trachống bán phá giá dưới gó độ luật so sánh Những kết luận và đề xuất, kiến nghị màluận án nêu ra đều có cơ sở khoa học và giá trị thực tiễn cao Vì vậy, có ý nghĩa đốivới việc xây dựng và thực hiện pháp luật về chống bán phá giá nói chung và điều trachống bán phá giá nói riêng, góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của ngành sản xuấttrong nước, bảo đảm sự vận hành lành mạnh của nền kinh tế, quyền lợi của người tiêudùng và lợi ích chung của xã hội.

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận

án gồm 4 chương

Chương1: Cơ sở lý thuyết và Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Những vấn đề lý luận về bán phá giá, chống bán phá giá và điều trachống bán phá giá

Chương 3: Thực trạng pháp luật về điều tra chống bán phá giá

Chương 4: Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về điều tra

chống bán phá giá

CHƯƠNG I:

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

11

Trang 12

1.1 Cơ sở lý thuyết

1.1.1 Các câu hỏi nghiên cứu

Chủ đề chính của luận án này liên quan đến các quy định pháp luật về hoạtđộng điều tra chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu Để xác định các câu hỏinghiên cứu, phải tham khảo các tài liệu liên quan, phân tích các quy định của Hiệpđịnh ADA, và của một số quốc gia có quá trình lịch sử lâu dài đối với hệ thốngpháp luật chống bán phá giá, có kinh nghiệm áp dụng thuế chống bán phá giáthường xuyên và được coi là rất hoàn thiện Mục đích giải quyết các câu hỏi nghiêncứu mà tác giả đưa ra không chỉ nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật của Việt Nam

về chống bán phá giá, mà còn dùng tài liệu tham khảo cho các doanh nghiệp trongviệc tự bảo vệ mình khi phải đối phó với các vụ kiện ở những quốc gia này

Cụ thể có ít nhất 8 vấn đề nghiên cứu sau đây sẽ lần lượt được giải quyếttrong luận án này:

(1) Khái niệm sản phẩm tương tự;

(2) Chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá;

(3) Thủ tục nộp và rút đơn kiện chống bán phá giá;

(4) Tư cách đại diện trong đơn kiện chống bán phá giá;

(5) Quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong điều tra chống bán phá giá;(6) Các biện pháp cam kết trong điều tra chống bán phá giá;

(7) Bảo mật thông tin trong quá trình điều tra chống bán phá giá;

(8) Rà soát tư pháp đối với kết quả điều tra chống bán phá giá

Ngoài ra, còn có một số vấn đề khác cũng sẽ được đề cập và phân tích trongphần nội dung của luận án

1.1.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu sau đây sẽ được sử dụng trong quá trình nghiêncứu:

1.1.2.1. Phương pháp nghiên cứu so sánh pháp luật

Đây là phương pháp sẽ được thực hiện xuyên suốt trong luận án Với phươngpháp này, tác giả sẽ so sánh và đối chiếu được các quy định của Hiệp định ADA,quy định của pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá, quy định của pháp luật Hoa

Kỳ và pháp luật EU về chống bán phá giá Từ đó, chỉ ra được những bất cập mà

Trang 13

pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam cần phải bổ sung, hoàn thiện, trênnguyên tắc phải phù hợp với Hiệp định ADA, các quy định của WTO, phù hợp vớiđiều kiện, hoàn cảnh của nền kinh tế Việt Nam, với mục đích đáp ứng được nhiệm

vụ bảo vệ ngành sản xuất trong nước, cũng như bảo vệ quyền lợi của người tiêudùng và bảo đảm sự hoạt động lành mạnh của nền kinh tế

1.1.2.2 Phương pháp chuyên gia:

Với phương pháp này, Tác giả tham khảo ý kiến của các chuyên gia pháp lý,các nhà nghiên cứu luật học Đây là một phương pháp rất quan trọng, với sự góp ýcủa các nhà nghiên cứu, của các chuyên gia cũng như những nhà tham gia trực tiếptrong các vụ kiện chống bán phá giá sẽ giúp tác giả có cái nhìn hoàn thiện hơn,những vấn đề mà giữa lý luận và thực tiễn còn chưa giải quyết được

1.1.2.3 Phương pháp thống kê toán học:

Phương pháp thống kê được sử dụng trong luận án, sử dụng phương phápnày để cho thấy tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nội dung của luận

án, tình hình hoạt động chống bán phá giá trên thế giới và xu hướng của nó trongnhững năm gần đây Từ đó, có thể đưa ra được nhận định có tính khái quát và xuhướng của hoạt động chống bán phá giá về sau

Ngoài ra, các phương pháp lịch sử, phân tích, logíc, tổng hợp, chứng minh…cũng được sử dụng hợp lý xuyên suốt quá trình nghiên cứu

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, luận án chỉ đề cập đến các côngtrình khoa học trong nước và quốc tế đã nghiên cứu đến những vấn đề có liên quan

đến các nội dung mà luận án cần phải làm rõ Cụ thể, các vấn đề sau đây: Khái niệm

sản phẩm tương tự; Chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá; Thủ tục nộp và rút đơn kiện chống bán phá giá; Tư cách đại diện trong đơn kiện chống bán phá giá; Quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong điều tra chống bán phá giá; Các biện pháp cam kết trong điều tra chống bán phá giá; Bảo mật thông tin trong quá trình điều tra chống bán phá giá; Rà soát tư pháp đối với kết quả điều tra chống bán phá giá.

1.2.1 Khái niệm về sản phẩm tương tự

13

Trang 14

Trong hoạt động chống bán phá giá, việc xác định “sản phẩm tương tự” một

cách chính xác có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc áp thuế chống bán phá giáhàng hóa nhập khẩu Việc xác định chính xác sản phẩm tương tự có ý nghĩa quantrong đối với việc khởi xướng điều tra chống bán, cũng như ra quyết định áp thuế

chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu Hiện thời, khái niệm “sản phẩm

tương tự được hiểu là sản phẩm giống hệt, tức là sản phẩm có tất cả các đặc tính giống với sản phẩm đang được xem xét, hoặc trong trường hợp không có sản phẩm nào như vậy thì là sản phẩm khác mặc dù không giống ở mọi đặc tính nhưng có nhiều đặc điểm gần giống với sản phẩm được xem xét”[2, điều 2.6].

Với khái niệm tưởng chừng đơn giản như vậy, nhưng khi áp dụng vào thựctiễn thì vô cùng khó khăn, gây ra nhiều tranh cãi giữa các học giả, giữa các chuyêngia và các quốc gia Vì thế, có rất nhiều công trình trong và ngoài nước đã nghiêncứu về khái niệm này, cụ thể là:

- Konrad von Moltke, Reassessing‘Like Products’ Trade, Paper presented at the Chatham House Conference, Trade, Investment and the Environment, 29 & 30 October 1998

Trước hết tác giả này phân tích về “sản phẩm tương tự” trong giải quyết tranh chấp của WTO, mọi vấn đề xoay quanh việc giải thích từ “like” trong “like

product” Khái niệm sản phẩm tương tự là yếu tố cốt lõi được đề cập đến nhiều

phương diện trong hệ thống GATT/WTO Hai nguyên tắc trung tâm của nó là Quychế Tối huệ quốc (MFN) và quy chế đối xử quốc gia đều phụ thuộc rất nhiều vào

khái niệm này Theo GATT “bất cứ lợi thế, đặc ân, đặc quyền hoặc miễn trừ bởi

bất cứ bên ký kết nào đối với bất cứ sản phẩm nào có xuất xứ hoặc đến từ bất kỳ quốc gia nào khác thì sẽ được giành ngay lập tức và vô điều kiện cho sản phẩm tương tự xuất xứ hoặc đến từ lãnh thổ của tất cả các thành viên khác”[1, điều I.1].

“Sản phẩm của bất cứ quốc gia thành viên nào nhập khẩu vào lãnh thổ của quốc

gia thành viên khác sẽ không phải là đối tượng trực tiếp hoặc gián tiếp phải chịu thuế, phí trong nước vượt quá mức thuế đã áp dụng trực tiếp, gián tiếp đối với sản phẩm nội địa tượng tự” [1, điều III.2].

Theo tác giả này, từ “like” tiếng Anh không hoàn toàn tương ứng trong phiên

bản tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha Phiên bản tiếng Pháp của GATT là

Trang 15

“equivalent” diễn tả sự “tương đương” mà thực sự thể hiện một gì đó khác nhau Các nhà soạn thảo đã chọn từ “like” là chính xác và phản ánh sự “không hoàn toàn

rõ ràng” của nó Tác giả cũng cho rằng một số sản phẩm là “tương đương”

(equivalent) nhưng không giống (like), (ví dụ: Rượu wishky và rượu sake) hoặc làmột số sản phẩm là tương đương nhưng không giống (cá Hồi tự nhiên và cá Hồi

nuôi ở trang trại) Một trong những tranh chấp liên quan đến từ “like product” là vụ

việc đánh thuế rượu ở Nhật Bản Cơ quan giải quyết tranh chấp đã vất vả với những

vấn đề, không chỉ vì tính “tương tự” giữa rượu Sake và những loại rượu khác được

nhập vào Nhật Bản được xác định một cách cảm tính, mà còn nguyên nhân nữa làchính sách bảo hộ bằng thuế của Nhật Bản đã buộc một số quốc gia phải đưa vụkiện ra giải quyết tại WTO

Từ nội dung phân tích trên cho thấy khái niệm về “sản phẩm tương tự” được

định nghĩa trong Hiệp định ADA cũng như trong GATT còn nhiều bất cập, chưa rõràng dẫn đến sự chồng chéo và phát sinh nhiều tranh chấp trong thương mại quốctế

- Robert E Hudec “Like Product”: The Differences in Meaning in GATT

Articles I and III, this article was originally published in thomas cottier & petros mavroidis, eds., regulatory barriers and theprinciple of non-discrimination in world trade law (University of Michigan Press 2000) p 101-123

Theo tác giả, không thể áp dụng khái niệm “tương tự” mà không chỉ ra các đặc tính để “cấu thành” sự “tương tự” Tác giả này cho rằng, để so sánh được “sản

phẩm tương tự” cần phải xác định được các tiêu chí mà tính tương tự có thể đo

được, đó là các tiêu chí về đặc tính vật lý Theo tác giả này, thì có sự định nghĩa

khác nhau về tính chất “tương tự” (likeness), có hai điều quan trọng mà khái niệm

“sản phẩm tương tự” được đề cập trong điều I và III của GATT là liên quan đến các

quy định cấm sự khác biệt trong việc xử lý một sản phẩm nhất định, với mục đích

ngăn chặn sự bóp méo cạnh tranh giữa các hàng hóa và vấn đề chính là “sản phẩm

tương tự” được quy định tại điều VI và điều XIX của GATT, theo đó nhà sản xuất

được bảo vệ khỏi sự cạnh tranh không lành mạnh từ các sản phẩm nhập khẩu Có

rất nhiều khái niệm về tiêu chí của “tính tương tự” được đề cập trong các cuộc đàm

phán của GATT, như là khả năng thay thế của người tiêu dùng, chức năng tương tự,

15

Trang 16

đôi khi áp dụng tính tương tự mà sản phẩm đó không liên quan đến sự cạnh tranhđối với hàng hóa đề cập trong bảng câu hỏi (ví dụ: hai sản phẩm đó được làm từnguyên liệu thô như nhau, bởi cùng người lao động, cùng nhà máy, từ một nguồnvốn….)

- Nguyễn Ngọc Sơn, Luận án Tiến sỹ về Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam, Đại học Luật TPHCM, 2010

Phân tích rằng: “Pháp lệnh chống bán phá giá và NĐ 90/2005/NĐ-CPkhông quy định những yếu tố nào được coi là đặc tính, đặc tính cơ bản của hànghóa Thông thường, các yếu tố như đặc tính vật lý, công dụng, đặc tính kỹ thuậtcủa hàng hóa, cách thức trưng bày, phân phối và tiêu thụ của hàng hóa… đượccoi là những đặc tính của sản phẩm”[34, mục 2.1.1.1]

Như vậy qua phân tích của các tác giả nêu trên cho ta thấy một vấn đề chung

trong nhận định là cần phải làm rõ tính “tương tự” (likeness), giống nhau ở mức độ

nào thì sẽ được xem là sản phẩm tương tự…với những quy định hiện tại trong luậtthì chưa đủ chi tiết để áp dụng thành công cho một vụ kiện cụ thể Theo quy định,

“nhiều đặc tính cơ bản giống với hàng hóa bị điều tra” vậy đặc tính thế nào được

gọi là cơ bản? các tỷ lệ đó chiếm bao nhiêu phần trăm trong các đặc tính được coi lànhiều để xem đó là sản phẩm tương tự…? Cần phải quy định rõ các tiêu chí của tính

“tương tự” để cơ quan chống bán phá giá có thể xác định được chính xác khi điều

tra sản phẩm nhập khẩu Mặt khác chính sự quy định rõ ràng này nhằm tránh sự lạmdụng của cơ quan điều tra, có thể gây tổn hại đến các quan hệ thương mại quốc tế

1.2.2 Chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá

Lẩn tránh thuế chống bán phá giá là hiện tượng rất phổ biến trong thươngmại quốc tế Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất giữa các quốcgia thành viên WTO Vì thế, có khá nhiều đề tài khoa học nghiên cứu và đưa ra cáchướng giải quyết cho trường hợp lẩn tránh thuế chống bán phá giá, cụ thể như sau:

- Lucia Ostoni, Anti-Dumping Circumvention in the EU and the US: Is There

a Future For Multilateral Provisions Under the WTO?, Fordham Journal of

Corporate & Financial Law, Volume 10, Issue 2, 2005

Tác giả đã thống kê, phân tích các hiện tượng lẩn tránh thuế chống bán phágiá trong thương mại quốc tế; phân tích các quy định về chống lẩn tránh thuế chống

Trang 17

bán phá giá của EU và Hoa Kỳ và những quy định nào còn vi phạm các nguyên tắccủa WTO như Hiệp định về nguồn gốc xuất xứ, Hiệp định ADA…cũng như cácquy định khác của GATT 1994 Đồng thời tác giả này cũng nêu lên các vụ việc màHoa Kỳ và EU đã bị các quốc gia thành viên khiếu nại lên cơ quan giải quyết tranhchấp của WTO.

- Jacques Steenbergen, Circumvention of Antidumping Duties by Importation

of Parts and Materials: Recent EEC Antidumping Rules, 2001

Tác giả đã nêu vấn đề về sửa đổi các quy định của EU về chống bán phá giá(trong đó có chống lẩn tránh thuế) cho phù hợp với GATT và pháp luật của cộngđồng châu âu (EEC), các khía cạnh chính sách của ngành sản xuất trong nước, cũngnhư các vấn đề liên quan đến thủ tục chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá Côngtrình khoa học này cũng là tài liệu tham khảo cho các nhà lập pháp của Việt Namtrong quá trình hoàn thiện pháp luật về chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá ởViệt Nam;

- Ở Việt Nam, gần đây có nhiều bài viết về vấn đề các nhà sản xuất Việt Nam

bị kiện vì hành vi lẩn tránh thuế của các doanh nghiệp FDI Theo đó, cảnh báo các

cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam cẩn trọng và hợp tác để đối phó với các

vụ kiện chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá từ các quốc gia khác (Ví dụ: Cty

sản xuất mắc áo Angang (An Cường - Hải Phòng) và Cty quốc tế Quyky - Yanglei (Long An) bị Cty luật Vorys - đại diện cho ngành sản xuất mắc áo của Mỹ - yêu cầu

Bộ Thương mại Mỹ (DOC) điều tra hànhvi lẩn tránh thuế Theo cáo buộc, mặt hàng mắc áo bằng thép được sản xuất tại Trung Quốc, sau đó gia công (tỷ lệ không đáng kể) và lắp ráp đơn giản tại VN, rồi xuất sang Mỹ, nhằm tránh thuế CBPG của

Mỹ đang áp cho mặt hàng tương tự của Trung Quốc Phía Mỹ đã điều tra và được biết đây là Cty con của các Cty Trung Quốc vốn đang bị áp thuế CBPG) [125, truy

cập lần cuối ngày 26/07/2012] Tuy nhiên, đến nay tôi chưa có dịp để tiếp cận đếnbất cứ một công trình khoa học nào của Việt Nam nghiên cứu chuyên sâu các quyđịnh về lẩn tránh thuế của WTO, và các quốc gia trên thế giới, cũng như những vụviệc mà các quốc gia bị áp thuế chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá đã thắngkiện khi khiếu nại lên WTO

17

Trang 18

Vì thế, việc nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm thực tiễn về áp dụng thuế lẩntránh thuế chống bán phá giá ở các quốc gia khác là cần thiết, từ đó có thể đóng gópphần nào cho việc hoàn thiện pháp luật của Việt Nam về chống lẩn tránh thuế chốngbán phá giá Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng có thể tham khảo và khiếu nạiviệc áp thuế chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá khi các quy định của quốc gia

đó không phù hợp với GATT và WTO

1.2.3 Tư cách đại diện trong đơn kiện chống bán phá giá

Căn cứ để tiến hành điều tra vụ kiện chống bán phá giá theo quy định củaHiệp định ADA bao gồm: (i) đại diện ngành sản xuất trong nước [2, điều 5.4], đạidiện cho người lao động nộp đơn khởi kiện [2, chú thích 14]; (ii) cơ quan có thẩmquyền của quốc gia nhập khẩu tự khởi xướng điều tra; và (iii) điều tra chống bánphá giá theo yêu cầu của quốc gia thứ ba [2, điều 5.6]

- Raj Bhala, Rethinking Antidumping Law, George Washington Journal of

International Law and Economics 1-144 (1995)

Trong tài liệu này, tác giả đã phân tích rất sâu các nội dung của vấn đề nàytrong các giai đoạn trước khi thành lập WTO, Hoa Kỳ bắt đầu sử dụng công cụchống bán phá giá và 90% số vụ kiện được tìm thấy có bán phá giá Giai đoạn1982-1995 DOC chỉ đình chỉ 2% số vụ kiện vì không có hành vi bán phá giá.Tương tự, ITC cho thấy 60% số vụ kiện là có gây thiệt hại cho ngành sản xuất trongnước Không chỉ ở Hoa Kỳ, chống bán phá giá cũng là công cụ bảo hộ hữu hiệu ởcác quốc gia như Canada, Australia, EU chiếm 95% số vụ kiện trên toàn thế giới

Về nội dung tỷ lệ ủng hộ đơn kiện, tác giả phân tích những quy định tại điều 5 vàđiều 4 của Hiệp định ADA, quy định của Hoa Kỳ về tỷ lệ ủng hộ đơn kiện Tác giảcũng cho rằng quy định tại Hiệp định ADA là mở rộng không gian của các nguyênđơn vượt ra ngoài phạm vi các doanh nghiệp trong ngành sản xuất trong nước nhưbao gồm các bên liên quan khác trình bày để hành động đại diện cho ngành sản xuấttrong nước Theo đó, công đoàn hoặc các hiệp hội công nhân khác, cá nhân côngnhân hoặc các tổ chức lâm thời của công nhân có thể nộp đơn kiện

- Ở Việt Nam có một số công trình khoa học đã nghiên cứu đến chống bán phágiá như luận án của Nguyễn Ngọc Sơn, Đoàn Trung Kiên cũng đã có nêu qua,nhưng chưa phân tích sâu đến các vấn đề này

Trang 19

Về phần nội dung nghiên cứu trong luận án của tác giả sẽ có đóng góp trongphần hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam, như: thẩm quyền nộp đơn;trình tự, thủ tục để xác định tỷ lệ yêu ủng hộ và không ủng hộ ngành sản xuất trongnước; trường hợp đại diện người lao động nộp đơn khởi kiện thì phải tiến hành rasao khi chủ doanh nghiệp đối lập quan điểm người lao động, hay là trong trườnghợp có một tỷ lệ người lao động không đồng ý thì phải tính tỷ lệ phần trăm ủng hộngành sản xuất trong nước; bổ sung thêm quy định về việc điều tra theo yêu cầu củaquốc gia thứ ba.

1.2.4 Thủ tục nộp và rút đơn kiện chống bán phá giá

Thủ tục nộp đơn kiện và rút đơn kiện trong vụ kiện chống bán phá giá là haigiai đoạn khác nhau trong quá trình khởi xướng và điều tra vụ kiện Về các thủ tụcnày nhìn chung pháp luật các nước quy định khá đầy đủ Nhưng pháp luật về chốngbán phá giá của Việt Nam quy định còn chưa đủ mức chi tiết, đối với vấn đề rút đơnkiện và nộp lại đơn kiện sau khi rút đơn là chưa có quy định cụ thể…, nghiên cứuvấn đề này có những tác giả sau:

- Russell Hillberry & Phillip McCalman, What Triggers an Anti-Dumping

Petition? Finding the Devil in the Detail, 2009

Tài liệu này đã phân tích các vấn đề: (i) quan sát diễn biến khác nhau trongkhoảng thời gian 24 tháng, từ đó so sánh giữa các quốc gia bị điều tra và quốc giakhông bị điều tra, đặc điểm của sự gia tăng nhập khẩu có liên quan đến các quốc gia

bị điều tra như thế nào; (ii) nhân tố nào dẫn đến các quốc gia bị điều tra chống bánphá giá?

- Thomas J Prusa, Why are so many antidumping petitions withdrawn?

revised version, 1991

Trong giai đoạn trước WTO, số lượng các vụ kiện chống bán phá giá đượckhởi xướng tăng lên một cách mạnh mẽ Tuy nhiên, chỉ 1/3 trong số đó là bị áp thuếchống bán phá giá, số còn lại là tự nguyện đình chỉ hoặc rút đơn kiện Tác giả đãcho thấy sự ảnh hưởng của các vụ kiện được rút đơn có tác động mạnh mẽ đến hoạtđộng thương mại như là áp thuế chống bán phá giá Tác giả phân tích: (i) mối quan

hệ giữa điều tra chống bán phá giá và thương mại; (ii) thỏa thuận giá và bản chấtcủa cạnh tranh

19

Trang 20

- US International Trade Commission, Antidumping and Countervailing duties

Handbook, 2005.

Tài liệu này mô tả đầy đủ các quy định của pháp luật Hoa Kỳ về hồ sơ khởikiện một vụ kiện chống bán phá giá Nội dung của đơn kiện bao gồm: (i) mô tả sảnphẩm nội địa tương tự và sản phẩm nhập khẩu, nhà sản xuất trong nước, nhà sảnxuất nước ngoài, nhà nhập khẩu; (ii) các thông tin về giá thấp hơn gia trị thôngthường; (iii) các thông tin về yêu cầu hồi tố; (iv) thông tin về thiệt hại

Các tác giả trong nước chưa có công trình nghiên cứu sâu về vấn đề này,ngoài một vài tài liệu nói đến đơn kiện phải có các nội dung được ghi tại điều 9,Pháp lệnh chống bán phá giá và điều 18 của Nghị định số 90/2005/NĐ-CP Tuynhiên, các quy định của Việt Nam còn thiếu, chưa đủ chi tiết Ví dụ: các thông tin

về quốc gia xuất khẩu, về quốc gia thứ ba (trường hợp lẩn tránh thuế); hoặc là cácdoanh nghiệp đó có tiền lệ bị áp dụng thuế chống bán phá giá hay không; trườnghợp doanh nghiệp rút đơn kiện thì thủ tục để nộp lại đơn kiện như thế nào?…Vì thế,nội dung này trong pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam cần phải được làm

rõ và hoàn thiện thêm

1.2.5 Quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong vụ kiện chống bán phá giá

Các bên liên quan trong vụ kiện chống bán phá giá theo quy định của WTObao gồm: (i) một nhà xuất khẩu hoặc một nhà sản xuất nước ngoài hoặc một nhànhập khẩu của sản phẩm tương tự đang được điều tra hoặc là một hiệp hội ngànhnghề, …của nước xuất khẩu; (ii) Chính phủ của Thành viên xuất khẩu; và (iii) nhàsản xuất sản phẩm tương tự tại nước nhập khẩu…Danh sách các bên liên quan nêutrên không loại trừ khả năng Thành viên có thể đưa thêm vào các bên liên quan, cácbên trong nước hoặc các bên nước ngoài khác các bên đã được nêu trên [2, điều11.6]

Đây là một trong những nội dung quan trọng trong pháp luật về chống bánphá giá, vấn đề này đã được một số tài liệu nước ngoài phân tích rất đầy đủ, cụ thểnhư sau:

- WTO negotiations on the agreement on anti-dumping practices, Technical Paper June 2005.

Trang 21

Tài liệu này đã phân tích về: (i) quyền và nghĩa vụ của nhà sản xuất nướcngoài, nhà xuất khẩu nước ngoài và nhà nhập khẩu (để bảo vệ quyền lợi của họ, vềcam kết giá, tham gia phiên điều trần…); (ii) quyền và nghĩa vụ của nhà sản xuấttrong nước về việc nộp đơn khởi kiện; (iii) quyền và nghĩa vụ của các bên liên quanđược yêu cầu bảo mật các thông tin đã nộp; (iv) Nghĩa vụ của cơ quan điều tra đểbảo đảm tính minh bạch trong quá trình điều tra (minh bạch về nghĩa vụ, nghĩa vụliên quan đến việc thông báo cho chính phủ nước xuất khẩu, nghĩa vụ thông báo racông chúng); (v) các vấn đề thực trạng và khó khăn đối với các bên liên quan khithực hiện quyền lợi của họ.

- Trần Việt Dũng, Anti dumping, competition and the WTO system implication

for Vietnamese legal reform, 2007

Tác giả có đề cập đến vấn đề các bên liên quan trong vụ kiện và phân tíchmột số quy định về các bên liên quan được quy định tại điều 14, nghị định 90/CP vàđiều 6.11 và 6.12 Hiệp định ADA [64, tr 262]

Về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong vụ kiện chống bán phá giátheo pháp luật Việt Nam, cần phải phân tích và làm rõ không chỉ các quyền vànghĩa vụ được quy định trong các văn phản pháp luật về chống bán phá giá, mà cònphải xem xét lại các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong giaiđoạn rà soát tư pháp của vụ kiện Vì thế, những quy định này phải cụ thể, chi tiết vàphù hợp với Hiệp định ADA, đồng thời bảo đảm được đầy đủ quyền và nghĩa vụcủa các bên liên quan một cách công bằng và minh bạch

1.2.6 Bảo mật thông tin trong điều tra chống bán phá giá

Khi tham gia vụ kiện chống bán phá giá, các doanh nghiệp phải cung cấp rấtnhiều thông tin dùng để làm chứng cứ bảo vệ quyền lợi cho mình, những thông tinliên quan đến tổ chức, kinh doanh, sở hữu trí tuệ, doanh thu, bán hàng, phát triểnsản phẩm mới…v.v Trong những thông tin mà doanh nghiệp cung cấp cho cơ quanđiều tra thì có những loại thông tin tác động rất lớn đến sự phát triển của doanh

nghiệp Do vậy, việc bảo đảm rằng các thông tin “có giá trị thương mại” đã cung

cấp cho cơ quan chống bán phá giá phải được bảo mật tuyệt đối là mối quan tâmhàng đầu

21

Trang 22

Cũng vì lý do bảo mật thông tin mà số liệu về vi phạm bảo mật thông tin vàcác tài liệu nghiên cứu về bảo mật thông tin là rất ít Tài liệu nước ngoài có:

- United State International Trade Commission, An introduction to administrative protective order practice in import injury investigations, Publication

No 3755, March 2005

Tài liệu viết về các loại thông tin được xem là thông tin mật; trình tự, thủ tục

để nộp hồ sơ yêu cầu bảo mật; điều kiện để được tiếp cận các thông tin bảo mật;hình thức chế tài khi tiết lộ thông tin mật theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ

- Trần Việt Dũng, Anti dumping, competition and the WTO system implication

for Vietnamese legal reform, 2007,

Tác giả phân tích đến quy định của Việt Nam về bảo mật thông tin, quy địnhcuả WTO về vấn đề này và kinh nghiệm của Hoa Kỳ về bảo mật thông tin trongđiều tra chống bán phá có thể hữu ích khi hoàn thiện pháp luật về chống bán phá giácủa Việt Nam

- Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và cơ

chế thực thi tại Việt Nam, 2010,

Đề cập đến quy chế bảo mật, theo đó có liệt kê và phân tích các quy định vềbảo mật thông tin theo pháp luật Việt Nam và có đưa ra ý kiến đề nghị sửa đổi cácquy định về bảo mật thông tin cho phù hợp với quy định của WTO

1.2.7 Rà soát tư pháp quyết định chống bán phá giá

Đây là nội dung quan trọng trong quá trình rà soát lại kết quá điều tra theo

thủ tục tư pháp Vì thế, hiệp định ADA quy định là “các hình thức tòa án hay các

thủ tục này sẽ được đặt độc lập đối với các cơ quan hữu quan chịu trách nhiệm đưa ra các quyết định hoặc xem xét lại có liên quan”[2, điều 13] Theo đó, việc quy

định cơ quan nào có thẩm quyền xem xét khiếu kiện loại này, cơ quan Tư pháp (Toàán) hay cơ quan hành chính, sẽ do pháp luật của từng quốc gia quy định Nhưng,với điều kiện là phải độc lập với cơ quan điều tra

- Trần Việt Dũng, Anti dumping, competition and the WTO system implication for Vietnamese legal reform, 2007

Tác giả cho rằng pháp luật về chống bán phá giá Việt Nam không đề cập đếnnhiều về sự sẵn sàng để xem xét lại quyết định của Bộ trưởng theo thủ tục tư pháp,

Trang 23

ngoại trừ một điều khoản trong Pháp lệnh Chống bán phá giá quy định rằng các bêntranh chấp được quyền khởi kiện ra Tòa án theo quy định của pháp luật Việt Namnếu họ không đồng ý với quyết định của Bộ trưởng Theo tác giả, các bên liên quan

có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết nếu họ không đồng ý với quyết định giải quyếtkhiếu nại trước đó của Bộ trưởng Cơ sở pháp lý để giải quyết theo thủ tục tư pháp

là căn cứ vào luật khiếu nại, tố cáo và pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hànhchính (nay là luật tố tụng hành chính) Pháp lệnh thủ giải quyết hành chính (sửa đổi2006) đã giải quyết các khiếu nại đối với hành vi hành chính liên quan đến thươngmại trong nước và quốc tế…

- Nguyễn Ngọc Sơn, Luận án Tiến sỹ, Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa

nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam, 2010

Vấn đề này tác giả đã nêu lên một số quy định của Việt Nam, WTO, Hoa Kỳ,

EU và tác giả nhận định rằng “Nếu quan niệm quyết định xử lý vụ việc là một quyếtđịnh hành chính thông thường thì việc áp dụng pháp luật giải quyết khiếu nại hànhchính là phù hợp Song, về bản chất quyết định trên không chỉ là quyết định xử lý

vụ việc mà còn mang tính chất của việc giải quyết những tranh chấp trong cạnhtranh quốc tế

Phân tích và nhận định của các tác giả nêu trên đã nhìn thấy những vấn đềchưa hợp lý về rà soát theo thủ tục tư pháp trong pháp luật chống bán phá giá ViệtNam

1.2.8 Quy định về các biện pháp cam kết

Hiệp định ADA cho phép chính phủ các quốc gia có thể chấm dứt hoặc đìnhchỉ các thủ tục chống bán phá giá mà không đưa ra các biện pháp đánh thuế chống

bán phá giá nếu nhà xuất khẩu đồng ý “xem xét lại giá hoặc chấm dứt xuất khẩu…

với mức giá phá giá dẫn đến chính quyền nước nhập khẩu hài lòng khi tác hại của việc bán phá giá đã bị loại bỏ” [2, điều 8.1].

Pháp luật Việt Nam quy định: sau khi có kết luận sơ bộ và trước khi kết thúcgiai đoạn điều tra, tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc xuất khẩu hàng hóa thuộc đốitượng điều tra có thể đưa ra cam kết với Bộ thương mại, với các nhà sản xuất trongnước về một hoặc các nội dung sau đây: (a) Điều chỉnh giá bán; (b) Tự nguyện hạn

23

Trang 24

chế khối lượng, số lượng hoặc giá trị hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam [16, điều

21, k1]

Đây là một biện pháp mà khá nhiều quốc gia sử dụng trong quá trình điều trachống bán phá giá Mặc dù Hiệp định ADA đã đưa ra khái niệm chung về biện phápnày Nhưng, thực tế còn có nhiều quan điểm trái chiều khi phân tích về việc áp dụngđiều luật này trong hoạt động điều tra chống bán phá giá

- Cheng-Hau Peng and Hong Hwang: Antidumping Policy, Price-undertaking

and FDI, 2007

Khi nghiên cứu tài liệu này, tác giả đã tìm ra được chính sách chống bán phágiá tác động thế nào đến các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cạnh tranh với doanhnghiệp trong nước tại thị trường nội địa;

- Michael O Moore: VERs and Price Undertakings under the WTO, 2007

Tác giả đã phân tích rất sâu về các biện pháp tự nguyện hạn chế xuất khẩu(Voluntary Export Restrain- VERs) và cam kết giá ở các thời kỳ trước WTO, lý dotại sao giai đoạn 1980-1990 lại được các quốc gia sử dụng VERs rất nhiều trongchống bán phá giá Tác giả đồng thời cũng phân tích thực trạng việc áp dụng camkết giá trong các vụ kiện chống bán phá giá ở Hoa Kỳ và cho rằng số lượng vụ kiện

áp dụng cam kết giá ở Hoa Kỳ là rất ít Trong khi đó thì tỷ lệ đình chỉ vụ kiện do ápdụng cam kết giá tại EU lại khá cao;

- Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và cơ

chế thực thi tại Việt Nam, Đại học luật Tp Hồ Chí Minh, 2010

Tác giả có đặt ra một số vấn đề sau: hiện nay “chưa có sự thống nhất về khái

niệm…của biện pháp cam kết”, vì thế cần có các khái niệm thống nhất; bên cạnh

đó, tác giả này nhận định rằng: “WTO chủ yếu khuyến khích việc sử dụng biện pháp

điều chỉnh giá bán bằng các quy định về cam kết giá” và trên thế giới chia ra hai

xu hướng: (i) các nước tuân thủ quy định của WTO là sử dụng thỏa thuận “cam kết giá” và (ii) các nước sử dụng cả hai biện pháp đó là thỏa thuận ‘tự nguyện hạn chế xuất khẩu” (VER) và thỏa thuận cam kết giá, bao gồm Hoa Kỳ, EU và Việt Nam…

- Đoàn Trung Kiên, Luận án Tiến sỹ: Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa

nhập khẩu ở Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Đại học Luật Hà Nội,

2010

Trang 25

Tác giả đã phân tích sơ bộ về cam kết giá trong chống bán phá giá và có đặt

vấn đề về “thỏa thuận đình chỉ” ở Hoa Kỳ có bản chất giống với “cam kết giá” Tác giả cũng cho rằng, “theo pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ, thỏa thuận đình

chỉ là một thỏa thuận được ký kết giữa DOC với chính phủ nước ngoài nếu nước đó được xác định là nước có nền kinh tế phi thường trường” [31, mục 1.1.3.2].

Kết luận chương 1:

Trong chương một luận án đã giải quyết được các vấn đề liên quan đến tínhcấp thiết của để tài nghiên cứu, cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu và tổng quantình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Thứ nhất, nội dung tính cấp thiết của đề tài, luận án đã nêu lên được xu

hướng của hoạt động chống bán phá giá trên thế giới, đặc biệt là sau khi thành lậpWTO đến nay hoạt động chống bán phá giá đã trở nên phổ biến hơn ở các quốc giađang phát triển như Ấn Độ, Brazil, Argentina…Bên cạnh đó, số liệu thống kê cũngcho thấy sản phẩm xuất khẩu từ những quốc gia bị kiện nhiều hàng đầu thế giới nhưTrung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan…đang chiếm thị phần rất lớn tại thịtrường Việt Nam, một số sản phẩm của Việt Nam đã bị chiếm mất thị phần bởi giá

rẻ từ sản phẩm của các quốc gia này (ví dụ: thép xây dựng) Điều đó cho thấy, sựcần thiết phải nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về chống bán phá nói chung vàđiều tra chống bán phá giá nói riêng là vô cùng cần thiết, nhằm phục vụ cho nhiệm

vụ bảo vệ ngành sản xuất trong nước cũng như bảo vệ cho nền kinh tế phát triểnmột cách lành mạnh và bền vững

Thứ hai, cơ sở lý thuyết của đề tài, luận án đã thể hiện được nội dung của

những vấn đề liên quan đến quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án Liên quanđến câu hỏi nghiên cứu, tác giả đã đưa ra một số vấn đề mà luận án cần phải giảiquyết Bên cạnh đó, phương pháp nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, phạm vinghiên cứu…cũng đã được đề cập cụ thể

Thứ ba, về nội dung tổng quan tình hình hình nghiên cứu, như đã trình bày ở

phần câu hỏi nghiên cứu, tác giả chỉ phân tích tổng quan về các công trình khoa họctrong nước và trên thế giới có liên quan đến nội dung các vấn đề đã đặt ra ở phầncâu hỏi nghiên cứu, cụ thể liên quan đến các vấn đề: Khái niệm về sản phẩm tươngtự; Khái niệm về chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá; Tư cách đại diện trong

25

Trang 26

đơn kiện chống bán phá giá; Thủ tục nộp và rút đơn kiện chống bán phá giá; Quyền

và nghĩa vụ của các bên liên quan trong vụ kiện chống bán phá giá; Bảo mật thôngtin trong điều tra chống bán phá giá; Quy định về các biện pháp cam kết

CHƯƠNG 2:

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁN PHÁ GIÁ, CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

VÀ ĐIỀU TRA CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

2.1. Khái niệm, phân loại hành vi và tác động của bán phá giá

2.1.1 Khái niệm bán phá giá

Khi nghiên cứu về chủ đề bán phá giá, có rất nhiều cách hiểu và lý giải khácnhau Các chuyên gia kinh tế có những lý giải dưới góc độ kinh tế, các chuyên giapháp lý có cách lý giải dưới góc độ pháp luật và các chuyên gia ngôn ngữ đươngnhiên lại có cách hiểu riêng… Tuy nhiên, điểm chung của các học giả khi định

nghĩa về bán phá giá là đều nói đến “sự phân biệt giá giữa các thị trường khác

nhau”.

Một cách kinh điển, JacobViner định nghĩa phá giá là “sự phân biệt giá giữa

thị trường các quốc gia” [100, tr.6] Trong Thương mại quốc tế phá giá được xem

là đã xảy ra khi bán một sản phẩm xuất khẩu ở mức “giá thấp hơn giá bán cho

người tiêu dùng nội địa, có tính đến điều kiện về bán hàng”[100, tr.6] Theo một số

tác giả khác, định nghĩa một cách mở rộng hơn, Hoekman, Bernard M and Michael

P Leidy cho rằng “bán phá giá xảy ra khi một sản phẩm tương tự được doanh

nghiệp bán ở thị trường nước xuất khẩu với mức giá rẻ hơn ở thị trường nội địa Ngoài ra, phá giá có thể xảy ra nếu giá xuất khẩu của sản phẩm ít hơn tổng số chi

Trang 27

phí trung bình hoặc chi phí cận biên”[74]; James Devault: “hiện tượng bán phá giá xảy ra khi một doanh nghiệp bán sản phẩm ra nước ngoài với giá thấp hơn giá trị công bằng của nó”[60]; Finger, J Michael: “phá giá là bất cứ những gì mà bạn làm

dẫn đến chính phủ có hành động chống lại theo luật chống bán phá giá”[70].

Về mặt ngôn ngữ, theo từ điển kinh tế: bán phá giá là hàng hóa xuất khẩu ở

mức giá thấp hơn mức giá ở thị trường nội địa, trong việc bán phá giá về giá (in price-to-price dumping), nhà xuất khẩu sử dụng giá thị trường nội địa cao hơn để

bù vào thâm hụt lợi nhuận cho việc xuất khẩu giá thấp Trong việc bán phá giá về chí phí (in price-cost dumping), nhà xuất khẩu được trợ cấp bởi chính phủ của họ bằng cách hoàn thuế, ưu đãi tiền mặt (lãi suất cho vay…)[124, truy cập lần cuối

ngày 1/8/2012].v.v…Từ điển kinh tế học hiện đại định nghĩa “việc bán một hàng

hóa ở nước ngoài ở mức giá thấp hơn so với mức giá ở thị trường trong nước”[35,

tr.282], hay như Đại từ điển Trung Việt định nghĩa “bán phá giá là bán với giá thấp

hơn giá chung của thị trường để nhằm cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường”[27, tr.96].

Bên cạnh đó còn có tài liệu khác cũng định nghĩa tương tự: bán phá giá là việc

bán một sản phẩm ở nước ngoài thấp hơn giá bán ở thị trường trong nước [26,

tr.282]

Trong các cuộc đàm phán Hiến chương Havana và sau đó được quy định

tại điều VI của GATT 1947, bán phá giá được khái niệm là: các nhà xuất khẩu

bán hàng hóa ra nước ngoài với giá thấp hơn giá tại thị trường trong nước, và điều này có thể gây ảnh hưởng có hại cho ngành công nghiệp ở nước nhập khẩu sản xuất sản phẩm tương tự Hiện nay, định nghĩa về bán phá giá được các quốc

gia thống nhất tại Hiệp định thực thi điều VI của Hiệp định chung về thuế quan

và thương mại năm 1994 (Hiệp định chống bán phá giá – ADA) của WTO: Một

sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác với giá thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường [2, điều 2.1]

Trên cơ sở quy định khung của Hiệp đinh ADA, các nước thành viênWTO ban hành các nội luật của mình cho phù hợp với Hiệp định Theo đó, quy

27

Trang 28

định của EU: Một sản phẩm bị xem là bán phá giá nếu giá xuất khẩu vào khối

cộng đồng ít hơn so với mức giá đối với sản phẩm tương tự theo tiến trình thương mại thông thường được thiết lập ở nước xuất khẩu [8, điều 1.2]; Tương

tự, pháp luật Hoa kỳ cũng quy định: bán phá giá là việc bán một sản phẩm ở thị

trường Hoa Kỳ với một mức giá thấp hơn giá của sản phẩm đó được bán ở thị trường nội địa (giá trị thông thường), sau khi điều chỉnh những khác biệt về hàng hóa, số lượng mua, điều kiện bán Trong trường hợp không có giá bán ở thị trường nội địa thì giá của sản phẩm được bán được thay thế (surrogate) ở nước thứ ba có thể được áp dụng Nếu ở thị trường nội địa và nước thứ ba thay thế không xác định được giá thì sử dụng “giá xây dựng” để áp dụng [4, mục

771(34)].

Nhìn chung, các định nghĩa nêu trên đã góp phần xác định khái niệm bánphá giá hàng hóa trong thương mại quốc tế Tuy nhiên, không đề cập đến việc bánhàng hóa dưới mức chi phí (price-cost dumping), một yếu tố vốn được xem là nộihàm của việc bán phá giá Ở đây, yếu tố then chốt để xác định hành vi bán phá giá

là sự so sánh biên độ chênh lệch giữa giá được bán tại nước nhập khẩu với giáthông thường của sản phẩm tại nước xuất khẩu Việc so sánh phải được tiến hànhđối với sản phẩm cùng loại hoặc đối với sản phẩm tương tự (like product) Theo

điều 2.6 của Hiệp định ADA, “sản phẩm tương tự” trong trường hợp bán phá giá

được hiểu theo nghĩa rất hẹp là sản phẩm phải giống hệt, tức là có tất cả các yếu tốtương đồng với sản phẩm đang được xem xét, hoặc nếu không có sản phẩm nào nhưvậy thì phải sử dụng sản phẩm có những đặc tính rất giống (closely resembling) vớisản phẩm đang được xem xét Sản phẩm tương tự tại điều 2.6 của Hiệp định ADAbảo gồm mang ý nghĩa sản phẩm tương tự ở nước xuất khẩu khi xác định để tính giátrị thông thường hoặc nước thứ ba trong trường hợp quốc gia xuất khẩu là thuộcquốc gia có nền kinh tế phi thị trường (None Market Economy - NME) và sản phẩmtương tự mang ý nghĩa đối với sản phẩm ở quốc gia nhập khẩu khi xác định đốitượng điều tra

2.1.2 Phân loại bán phá giá

Trang 29

Trong hoạt động thương mại quốc tế, hành vi bán phá giá được thể hiện ởnhiều hình thức, mục đích khác nhau Vì thế, các nhà nghiên cứu đã phân loại bánphá giá theo cách nhìn nhận ở nhiều góc độ.

2.1.2.1 Phân loại bán phá giá theo Hiến chương Havana

Hiến chương Havana được các bên ký kết vào năm 1948, trong thời gianđàm phán và đi tới việc ký kết Hiến chương Havana về quan hệ thương mại quốc tế,những nước tham gia đã thống nhất phân chia bán phá giá thành 4 loại:

Thứ nhất, phá giá về giá: Đây là hành vi đã được quy định định trong điều VI

của Hiệp định GATT (“sản phẩm của một nước được đưa vào kinh doanh trên thị

trường của một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm”).

Thứ hai, phá giá dịch vụ: Đây là hành vi tạo ra lợi thế về giá do có phá giá

cung cấp dịch vụ vận tải biển

Thứ ba, phá giá hối đoái: Đây là hành vi dựa trên cơ sở khống chế tỷ giá hối

đoái để đạt được lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu

Ví dụ: chính sách kiềm chế sự tăng giá của đồng Nhân dân tệ để tăng lợi thế

cho hàng xuất khẩu của Trung Quốc đã làm chính phủ Hoa Kỳ và các quốc gia khác phản đối kịch liệt ở các diễn đàn của WTO trong những năm gần đây.

Thứ tư, phá giá xã hội: Đây là hành vi xuất phát từ việc nhập khẩu hàng hoá

với giá thấp do các sản phẩm có nguồn gốc từ các hoạt động mang tính chất đạo đức

xã hội, ví dụ: các sản phẩm do tù nhân hay lao động khổ sai sản xuất hoặc do bóc

lột trẻ em…

2.1.2.2 Phân loại bán phá giá căn cứ vào động cơ và mục đích

Khi phân loại theo động cơ và mục đích, Jacob Viner chia ra ba loại bán phágiá:

Thứ nhất, bán phá giá không thường xuyên, mục đích, động lực của việc bán

phá giá là sắp xếp lại hàng hóa trong một giai đoạn ngắn hạn để nhằm tránh khỏi sự

dư thừa của hàng hóa, là hình thức phá giá này được sử dụng để bán hết các sảnphẩm tồn kho Đây là một hình thức tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp và là hành động cần thiết phải thực hiện để thu hồi vốn Tuy

29

Trang 30

nhiên, hành vi này lại làm ảnh hưởng đến các nhà sản xuất kinh doanh khác cũngnhư ảnh hưởng đến thị trường nói chung Vì thế, đây cũng là một hành vi khôngđược khuyến khích trong hoạt động thương mại quốc tế.

Thứ hai, bán phá giá ngắn hạn hoặc bán phá giá gián đoạn, mục đích của

việc bán phá giá này là nhằm tham gia vào thị trường mới, duy trì thị phần hoặc đẩycác đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường, vì khi thâm nhập vào một thị trườngmới, hoặc mở rộng thị phần thì doanh nghiệp phải thực hiện các hành vi này ởthị trường nước nhập khẩu, trong khi ở thị trường nội địa doanh nghiệp vẫn bánhàng hóa ở mức giá đúng theo giá thị trường

Thứ ba, bán phá giá dài hạn hoặc liên tục bán phá giá nhằm mục đích để đạt

được hoặc duy trì sự sản xuất quy mô lớn trong toàn bộ nền kinh tế Hành vi bán

phá giá này còn được gọi là “phá giá độc quyền hay còn gọi là phá giá hủy diệt”.

Jacob Viner cho rằng chính sách chống bán phá giá là rất cần thiết để chống lại

hành vi phá giá hủy diệt (predatory dumping) và bảo vệ quyền lời người tiêu dùng

trong nước Khi áp dụng trường hợp này các công ty hoặc tập đoàn nước ngoài nỗlực để đẩy các đối thủ cạnh tranh nội địa ra khỏi thị trường, sau đó thiết lập một cơchế độc quyền và sử dụng quyền lực thị trường của mình để sẽ tăng giá bất hợp lý,khi đó người tiêu dùng không có lựa chọn nào khác là phải chấp nhận mức giá này

“Giá hủy diệt” thực tế được xem là việc sử dụng phương thức giảm giá trong giai đoạn ngắn hạn nhằm nỗ lực để loại bỏ các đối thủ (exclude rivals) hơn là nhằm mục

đích đạt được hay là bảo vệ quyền lực thị trường…Phá giá hủy diệt là một hình thứcphức tạp của hành vi cạnh tranh không lành mạnh Để đạt được mục đích độc quyềnthị trường như trên, nó đòi hỏi các doanh nghiệp này phải chịu thiệt hại đáng kểhoặc ít nhất là từ bỏ lợi nhuận hiện tại để hy vọng rằng những tổn thất này có thểđược bù lại nhiều hơn trong tương lai thông qua việc thực hiện quyền lực thị trường

từ việc độc quyền Do đó, thị trường đóng một vai trò rất quan trọng trong việc xác

định “giá hủy diệt”, là một thủ đoạn mà các doanh nghiệp có thể sử dụng Các công

ty bán phá giá hủy diệt phải chiếm một thị phần rất đáng kể trên thị trường hoặc ítnhất là năng lực của công ty để thâu tóm được thị phần [99, tr.81]

Tuy nhiên, dưới góc độ kinh tế, một số nhà kinh tế học không hoàn toànđồng ý với sự xuất hiện của bán phá giá có tính hủy diệt Bởi lẽ, họ cho rằng không

Trang 31

thể tin được một công ty lại có thể chịu thua lỗ trong một thời gian dài để đạt đượcmục đích này, và hơn nữa một công ty muốn thực hiện được việc bán phá giá hủydiệt thì công ty đó phải là một công ty độc quyền trên toàn cầu, điều này là khôngkhả thi và quá khó để xảy ra trong hầu hết các ngành công nghiệp Hoekman và

Leidy cho rằng: ngay cả việc thực nghiệm trong phòng thí nghiệm của Isac và

Smith đã không tìm ra được bất kỳ bằng chứng nào về giá hủy diệt [76] Mặt khác,

các trường hợp giá cướp đoạt cũng hiếm khi xảy ra Do đó, Báo cáo của OECD đã

đề cập ở trên kết luận rằng: "các trường hợp phá giá hủy diệt có thể xảy ra nhưng

hầu như là rất hiếm".

Theo Hoekman and Leidy, bán phá giá mang tính hủy diệt chỉ xảy ra khi thị

trường tồn tại các vấn đề sau: (i) Thị trường phải được phân khúc do đó thị trường

nội địa của nhà xuất khẩu được đóng so với bán hàng thứ cấp, (ii) Công ty xuất khẩu có được sức mạnh thị trường đầy đủ trong ít nhất một thị trường để cho phép

nó tác động đươc đến giá, và (iii) Nhu cầu thị trường xuất khẩu co giãn nhiều hơn thị trường nội địa, tức là đáp ứng được việc bán hàng với giá thấp hơn Một vấn đề

đặt ra là, liệu phân khúc như vậy có thể có trong thị trường quốc tế hay không?

“Trong thực tế, phân khúc thị trường thường sẽ trở thành các điều kiện cần thiết

chủ yếu cho việc bán phá giá xảy ra Vấn đề sau đó phát sinh là: việc phân khúc thị trường quốc tế có phổ biến không? Đối với nhiều sản phẩm và ngành công nghiệp câu trả lời là có Sự khác biệt của sản phẩm, sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng, chính sách thương mại và quy định của chính phủ, sự khác nhau về tiêu chuẩn sản phẩm, vv…, tất cả việc làm đó để tạo ra phân khúc thị trường Kết quả là môi trường kinh doanh sẽ luôn luôn thuận lợi cho hành vi cố ý và vô ý bán phá giá”

[50]

Phân loại bán phá giá theo động cơ có ý nghĩa rất lớn cho việc xác định và

áp dụng các biện pháp chống bán phá giá cho phù hợp với từng biểu hiện củaloại hành vi này Bên cạnh đó, điều tra, xem xét hành vi bán phá giá theo động

cơ, mục đích cũng cho kết quả chính xác, rõ ràng hơn

2.1.2.3 Một số biến tướng của bán phá giá

Khái niệm về hành vi bán phá giá đang được các chuyên gia, nhà nghiên cứutiếp tục hoàn chỉnh, để nhằm giải quyết một thực tế là có những hành vi bán phá

31

Trang 32

giá, nhưng bề ngoài biểu hiện là không có sự phá giá theo đúng khái niệm đã đượccông nhận của Hiệp định ADA Nhưng, một nhà sản xuất lại có những hành vi khác

có thể dẫn đến những hậu quả tương tự Đó chính là những biến tướng của bán phágiá Các loại biến tướng của phá giá được phân chia chi tiết hơn, bao gồm:

Bán phá giá ẩn (hidden dumping): Phá giá ẩn, được định nghĩa trong bản

phụ lục của điều VI của Hiệp định GATT, là nhà nhập khẩu bán hàng với giá thấphơn giá ghi trên hoá đơn của nhà xuất khẩu có mối liên kết với nhà nhập khẩu, đồngthời giá cũng thấp hơn giá ở nước xuất khẩu Đây là hành vi có sự cấu kết giữa nhàxuất khẩu và nhà nhập khẩu để thực hiện các hành vi gian lận thương mại

Bán phá giá gián tiếp (Indirect dumping): Phá giá gián tiếp là việc nhập

khẩu thông qua một nước thứ ba mà tại đó sản phẩm không bị coi là bán phá giá.Đây có thể được coi là một dạng lẩn tránh thuế chống bán phá giá thông qua nướcthứ ba

Bán phá giá thứ cấp (secondary dumping): Phá giá thứ cấp là việc xuất

khẩu sản phẩm có chứa đựng các bộ phận được nhập khẩu với giá thường được xem

là phá giá.1

2.1.3 Ảnh hưởng của bán phá giá đối với nền kinh tế

2.1.3.1 Ảnh hưởng của bán phá giá đối với nền kinh tế nước xuất khẩu

Các công ty xuất khẩu chỉ có thể tiến hành phân biệt giá quốc tế khi họ cóthể bán sản phẩm của mình ở thị trường nội địa với mức giá cao để bù đắp cho giáxuất khẩu thấp Các quốc gia có thị trường đàn hồi ít hơn và mô hình phân biệt giáquốc tế, thị trường đàn hồi ít hoặc sự tập trung của quyền lực thị trường là sự hạnchế của các hoạt động kinh doanh, sẽ có xu hướng đẩy giá lên cao hơn và đươngnhiên là ảnh hưởng đến người tiêu dùng và các nhà sản xuất hạ nguồn trong nước[85, tr.18] Đó là lý do cần phải bảo đảm an toàn cho thị trường nội địa nhằmkhuyến khích các nhà sản xuất trong nước quyết định sản xuất và mở rộng theohướng tích cực Tất nhiên, với sự bảo đảm bởi lợi nhuận kếch xù ở thị trường nộiđịa, các nhà sản xuất được khuyến khích bán phá giá ở nước ngoài để nhằm mởrộng thị trường Bằng cách mở rộng thị trường xuất khẩu, họ bảo đảm được sự giatăng nhất định ở đầu ra và đầu tư lớn hơn Hơn thế nữa, bằng cách sử dụng chiến

1 Ví dụ: Nhà xuất khẩu ô tô nhưng các bộ phận như máy, khung gầm được nhập khẩu từ nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường.

Trang 33

lược phá giá, các công ty có thể làm suy giảm lợi nhuận của các đối thủ cạnh tranh

ở thị trường nước nhập khẩu và làm giảm các nguồn tích lũy để đầu tư vào việcnghiên cứu và phát triển và tiếp thị Tất cả những nhân tố này cuối cùng sẽ thúc đẩy

sự phát triển ngành sản xuất và nền kinh tế quốc gia xuất khẩu Trong trường hợpnày, lợi nhuận của các nhà sản xuất bán phá giá sẽ vượt quá thiệt hại của người tiêudùng Đó là lợi thế cho các doanh nghiệp của quốc gia xuất khẩu để hình thành cácCarten (Kartell) xuất khẩu nhằm khai thác sức mạnh độc quyền tập thể ở thị trườngnước ngoài và từ đó nhằm cải thiện điều kiện thương mại của quốc gia xuất khẩu

Có một số vụ kiện mà các cartel xuất khẩu được sự khuyến khích và hỗ trợ củachính phủ trong một giai đoạn phát triển nhất định

Tóm lại: Ảnh hướng của bán phá giá đối với nước xuất khẩu là: (i) Người

tiêu dùng tại quốc gia xuất khẩu phải mua ở mức giá cao hơn so với quốc gia nhậpkhẩu; (ii) Quốc gia xuất khẩu tìm kiếm thị trường mới cho sự thâm nhập của sảnphẩm; (iii) Cán cân thanh toán có thể trở nên thuận lợi hơn cho nước xuất khẩu

2.1.3.2 Ảnh hưởng của bán phá giá đối với nền kinh tế nước nhập khẩu

Tại thị trường nước nhập khẩu, hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu đãtạo ra những xung đột lợi ích giữa các nhà sản xuất cạnh tranh của nước nhập khẩu

và người tiêu dùng bởi lý do phân phối hàng hóa với giá rẻ

Xét về mặt tích cực, người tiêu dùng, trong giai đoạn đầu họ được hưởng lợi

nhiều từ việc bán phá giá, và hàng hóa sẽ được bán rẻ hơn bởi sự cạnh tranh của cáchãng Điều này đã mang lại những lợi ích to lớn cho người tiêu dùng; đối với cácdoanh nghiệp trong nước kinh doanh kém hiệu quả sẽ bị loại bỏ và sẽ làm trongsạch nền kinh tế

Xét về mặt tiêu cực, sau khi loại bỏ được các đối thủ cạnh tranh trong nước

để chiếm lĩnh được thị phần, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ độc quyền và họ đẩygiá lên để bù lỗ cho giai đoạn trước đây, lúc này người tiêu dùng lại bị thiệt hại Đốivới các nhà sản xuất nội địa thì đây lại là một hành vi gây thiệt hại cho họ, bởi vìhàng hóa nhập khẩu giá rẻ đã chiếm mất thị phần, dẫn đến lợi nhuận bị giảm, sảnphẩm không tiêu thụ được, lao động không có việc làm…Hậu quả là không chỉ làmảnh hưởng trực tiếp đến các ngành công nghiệp trong nước mà còn ảnh hưởng đến

sự ổn định xã hội và sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia

33

Trang 34

Theo Jacob Viner, bán phá giá có thể mang lại lợi ích cho nước nhập khẩukhi nó xảy ra liên tục và mãi mãi, nhưng ngược lại nếu nó xảy ra không thườngxuyên và ngắn hạn thì sẽ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước cũng nhưnước nhập khẩu Theo đó, bán phá giá ngắn hạn gây thiệt hại trực tiếp cho các đối

thủ cạnh tranh và quốc gia nhập khẩu Ông cho rằng “bán phá giá ngắn hạn, cho dù

là mục đích nào đi chăng nữa đều có thể dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng hoặc loại

bỏ hoàn toàn đố với toàn bộ ngành công nghiệp trong nước Lợi ích của việc bán phá giá mang lại cho người tiêu dùng không đủ nhiều để bù đắp cho thiệt hại của ngành sản xuất trong nước…Đặc biệt, bán phá giá dường như dẫn đến bị lỗ tại nước nhập khẩu, tuy nhiên sau đó nó sẽ đẩy giá lên cao một cách bất thường.”

Các lập luận của Viner đã góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về bánphá giá Tuy nhiên, một số tác giả cho rằng lập luận của Viner đã không làm rõtrong việc đánh giá tính hiệu quả kinh tế của việc bán phá giá đối với toàn bộ nềnkinh tế, việc loại bỏ những đối thủ hoạt động kém hiệu quả là mang lại lợi ích chonền kinh tế, xã hội và là cần thiết Theo Rechard Dale thậm chí xảy ra việc phânbiệt giá quốc tế trong giai đoạn ngắn hạn, chỉ loại bỏ những đối thủ cạnh tranh kém

hiệu quả: “nếu nhà sản xuất trong nước bị buộc phải ngừng hoạt động nhà máy, tuy

nhiên, điều này có nghĩa là chi phí cận biên ngắn hạn của nhà sản xuất đang ở mức cao hơn giá hàng hóa nhập khẩu bán phá giá, trong khi đó nếu chúng ta giả định rằng các nhà nhập khẩu nước ngoài hưởng lợi nhuận tối đa/thua lỗ tối thiểu sau đó giá xuất khẩu của họ phải nằm ở mức bằng hoặc cao hơn chi phí cận biên ngắn hạn Theo đó, chi phí kinh doanh ngắn hạn của nhà sản xuất trong nước là cao hơn giá của sản phảm của các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, do đó, chừng nào còn có khả năng dư thừa công suất trong ngành công nghiệp, nhà xuất khẩu nước ngoài phải được coi là hoạt động có hiệu quả hơn”[105]

Thực tiễn áp dụng thuế chống bán phá giá không phải lúc nào cũng mang lạilợi ích cho nền kinh tế, cho xã hội và thậm chí cho ngành công nghiệp nội địa củanước xuất khẩu Có nhiều vụ kiện đánh thuế chống bán phá giá đã gây tác hại rấtlớn cho nền kinh tế, cho xã hội và người tiêu dùng

Tóm lại, Nước nhập khẩu sẽ chịu tác động bởi hành vi bán phá giá: (i) Quốc

gia nhập khẩu sẽ phải gánh chịu sự suy giảm về bán hàng và lợi nhuận; (ii) Cơ cấu

Trang 35

ngành sản xuất nội địa thay đổi do bán phá giá liên tục/bán phá giá hủy diệt và khinhà xuất khẩu nước ngoài tăng giá sau đó, có ít sự lựa chọn chọn cho người tiêudùng khi phải trả giá cao hơn; (iii) Cán cân thanh toán có thể trở nên bất lợi cho nềnkinh tế nước nhập khẩu; (iv) Sự thay đổi thói quen của người tiêu dùng có thể xảyra.

2.2. Chống bán phá giá và một số khái niệm trong điều tra chống bán phá

Mục đích của việc đánh thuế chống bán phá giá là nhằm phục hồi sự tăngtrưởng của ngành sản xuất trong nước, ổn định thị trường bị thiệt hại bởi do hànghóa nhập khẩu bán phá giá gây ra Đánh thuế chống bán phá giá có thể đạt đượcmục đích là làm tăng giá sản phẩm nhập khẩu và giảm số lượng hàng hóa nhập khẩuvào thị trường trong nước Hay hiểu một cách đơn giản là chống bán phá giá lànhằm loại bỏ bớt một số đối thủ cạnh tranh nước ngoài ra khỏi thị trường trongnước

2 Ngoại trừ một số trường hợp quốc gia nhập khẩu “lạm dụng” hiện tượng này để bảo hộ ngành sản xuất trong nước.

35

Trang 36

Cũng như các biện pháp phòng vệ thương mại khác, mục tiêu của chống bánphá giá có xu hướng nhằm hạn chế sản lượng nhập khẩu từ một/một số quốc gia.Tuy nhiên, vấn đề là khi nước nhập khẩu hạn chế được khối lượng hàng hóa nhậpkhẩu từ quốc gia bị đánh thuế thì sẽ dẫn đến hiện tượng tăng sản lượng nhập khẩu

từ quốc gia thứ ba Hiện tượng gia tăng khối lượng nhập khẩu từ quốc gia thứ ba cóthể xuất phát từ hai nguyên nhân sau: (i) Nguyên nhân thứ nhất là, sau khi một sốquốc gia bị đánh thuế chống bán phá giá thì sẽ dẫn đến sản phẩm của các quốc gianày tại nước xuất khẩu tăng lên, lợi thế cạnh tranh giảm Vì thế, các nhà nhập khẩutrong nước đã tìm nguồn hàng mới có mức giá cạnh tranh hơn từ nước thứ ba; (ii)Nguyên nhân thứ hai là, sau khi quốc gia bị áp thuế chống bán phá giá dẫn đễn sảnphẩm có xuất xứ từ quốc gia này sẽ tăng giá tại nước nhập khẩu, lợi thế cạnh tranh

ở nước xuất khẩu sẽ kém hơn Vì thế, các nhà sản xuất ở quốc gia này sẽ chuyểntoàn bộ hoặc một phần nhà máy, hoặc chuyển sang lắp ráp ở quốc gia thứ ba không

bị áp thuế chống bán phá giá

Mức độ chuyển hướng hoạt động nhập khẩu sản phẩm tương tự từ nước thứ

ba sẽ cho thấy hiệu quả của việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá của nướcnhập khẩu Thuế chống bán phá giá sẽ làm giảm khối lượng nhập khẩu sản phẩmtương tự từ một số quốc gia nhất định và làm tăng giá đối với loại hàng hóa nhậpkhẩu

Cho dù việc áp thuế chống bán phá giá với mục đích là bảo vệ các nhà sảnxuất trong nước, thì việc chuyển hướng nhập khẩu lại có chiều hướng mang lại lợiích cho nước thứ ba và ngành xuất khẩu của họ hơn là ngành sản xuất trong nướccủa nước nhập khẩu Mục đích của việc đánh thuế chống bán phá giá nhiều khi cóthể không đáp ứng được mục đích của nước nhập khẩu Mặt khác, từ việc áp thuếchống bán phá giá, nước nhập khẩu lại phải chịu ảnh hưởng bởi việc thiếu hụt hànghóa nhập khẩu khi nước thứ ba không đáp ứng được khối lượng nhập khẩu nhưtrước đây và sẽ dẫn đến khan hiếm hàng hóa, giá cả tăng cao Bên cạnh đó, thuếchống bán phá giá có thể gây ra tác động lan tỏa tiêu cực đến các ngành sản xuất,các sản phẩm không liên quan đến sản phẩm bị áp thuế chống bán phá giá

Trang 37

Ví dụ: Việc đánh thuế chống bán phá giá đối với thép nhập khẩu, dẫn đến giá cả

của mặt hàng này tại thị trường nội địa sẽ tăng và các ngành sản xuất hạ nguồn của sản phẩm này như sản xuất ô tô sẽ bị thiệt hại

Việc đánh giá chính xác hành vi bán phá giá là vô cùng khó khăn Bởi lẽ, vấn

đề quan trong trong việc chứng minh rằng phá giá đã xảy ra có thể xác định sự thiệthại cho thị trường nội địa hoặc đe dọa gây thiệt hại tiềm tàng trong tương lai Thiệthại của ngành sản xuất trong nước bị xảy ra được cho là nguyên nhân của bán phágiá gây ra Ngoài ra còn có thể xảy ra bởi các lý do sau: (i) Ngành sản xuất trongnước hoạt động kém hiệu quả; (ii) Cạnh tranh nội địa không lành mạnh, và (iii)Việc phân bổ nguồn lực kém.v.v… Do đó, đây là sự quản lý kém cỏi của quốc gianhập khẩu chứ không phải vì lý do hậu quả của hành vi bán phá giá Bên cạnh đó,vấn đề xác định chứng cứ về bán phá giá, sử dụng sản phẩm tương tự ở quốc gia thứ

ba để thay thế, cũng như là việc xác định quốc gia có điều kiện kinh tế tương tự để

áp dụng khi tính giá trị thông thường là điều hết sức khó khăn3.v.v…

Điều tra chống bán phá giá là hoạt động của cơ quan chống bán phá giá vàcác cơ quan có liên quan của nước nhập khẩu Hoạt động điều tra chống bán phá giáchỉ được bắt đầu khi ngành sản xuất trong nước nộp đơn khởi kiện/hoặc trường hợpchính phủ nước nhập khẩu ra quyết định khởi xướng điều tra/ hoặc điều tra theo yêucầu khởi kiện của quốc gia thứ ba

Hoạt động điều tra chống bán phá giá phải giải quyết được hai vấn đề: (i) thứ

nhất, phải xác định được có hành vi bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu bị khiếu

nại hay không Biên độ phá giá là bao nhiêu, đáng kể hay không đáng kể Nếu biên

độ phá giá không đáng kể, tức là nhỏ hơn 2% của giá xuất khẩu thì cơ quan điều tra

sẽ đình chỉ vụ kiện [2, điều 5.8]; (ii) thứ hai, cơ quan điều tra phải xác định được

thiệt hại vật chất của ngành sản xuất trong nước Khi xác định thiệt hại vật chất củangành sản xuất trong nước phải được tiến hành và dựa trên bằng chứng xác thực vàđiều tra khách quan các khía cạnh: (a) khối lượng sản phẩm nhập khẩu được bánphá giá và ảnh hưởng của hàng hóa được bán phá giá đến giá trên thị trường nội địacủa sản phẩm tương tự và (b) hậu quả của hàng nhập khẩu này đến các nhà sản xuấtcác sản phẩm trên ở trong nước [2, điều 3.1]

3 Trường hợp tại nước xuất khẩu không có sản phẩm tương tự hoặc nước xuất khẩu là một quốc gia có nền kinh tế phi thị trường

37

Trang 38

Các chủ thể liên quan đến vụ kiện chống bán phá giá được phân thành cácnhóm: (i) Bên khởi kiện: các nhà sản xuất trong nước ủng hộ đơn kiện, người laođộng khởi kiện; (ii) Bên bị kiện: các nhà sản xuất và xuất khẩu nước ngoài; (iii)Chính phủ các quốc gia có ngành sản xuất bị kiện; (iv) Các bên liên quan khác:Hiệp hội người tiêu dùng, ngành sản xuất hạ nguồn của sản phẩm bị điều tra ở nướcnhập khẩu, của hoạt động điều tra chống bán phá giá.v.v…

2.2.1.2 Tác động của một số yếu tố chính trị đối với chống bán phá giá

Trong một thời gian dài, các học giả khi đề cập đến chống bán phá giá đềunhấn mạnh và đi sâu vào nghiên cứu về các vấn đề tác động của bán phá giá đếnkinh tế là chủ yếu chứ không quan tâm nhiều đến yếu tố chính trị và những tác độngcủa chính trị trong các vụ kiện chống bán phá giá

Tuy nhiên, gần đây đã có những công trình khoa học nghiên cứu đến sự tácđộng của yếu tố chính trị đối với các vụ kiện chống bán phá giá Các nhà nghiêncứu đã tập trung vào phân tích những vấn đề như: chiến lược chống bán phá giácủa các công ty, sự cạnh tranh lẫn nhau giữa các công ty và thủ tục chống bán phá

giá của chính phủ…v.v Để làm rõ vấn đề này, Mustapha Sadni Jallab đã tìm thấy

thấy bằng chứng về sự tồn tại của sự tác động chính trị đối với các phán quyếtchống bán phá giá Tác giả đã tập trung vào nghiên cứu các cuộc điều tra chống bánphá giá với mục đích bảo vệ các nhà sản xuất trong nước Đồng thời kết hợp cácyếu tố kinh tế và chính trị, công trình đã cho thấy bằng chứng của cả hai yếu tố nàyđều có tác động đến quyết định của cơ quan điều tra Tỷ lệ các vụ kiện có tác động

từ yếu tố chính trị là 76,5% đối với EU và 87% đối với Hoa Kỳ [95] Kết qủa đốichiếu nghiên cứu của ông đã cho thấy có mối quan hệ giữa mức thuế quan trung

bình và quyết định chống bán phá giá là “khẳng định”

Sự bắt đầu và kết thúc của một vụ kiện chống bán phá giá đều có mối liên hệtương tác qua lại giữa các yếu tố kinh tế, chính trị và chiến lược Theo Nicoleta

Iliescu “các yếu tố chính trị đóng vai trò quan trọng trong quá trình nộp hồ sơ và

kết quả của điều tra chống bán phá giá, kể từ khi có nhiều tác động chính trị vào ngành công nghiệp thì có càng nhiều hồ sơ được nộp, điều này cũng đồng nghĩa với việc ngành công nghiệp được hưởng lợi ích thương mại thông qua việc bán phá giá”[97] Tác giả cho rằng, trọng tâm của biến chính trị là “hiệu quả của vận động

Trang 39

hành lang”, có sự tồn tại việc ngành công nghiệp sử dụng biện pháp vận động hành

lang và có sự tồn tại mối liên quan tích cực giữa chống bán phá giá và các hoạtđộng vận động hành lang Những ngành công nghiệp sử dụng biện pháp vận độnghành lang nhiều đồng thời cũng nộp đơn khởi kiện nhiều Hơn thế nữa, các ngànhcông nghiệp sử dụng biện pháp này nhiều thì cũng có nhiều cơ hội hơn để đạt đượccác phán quyết chống bán phá giá với biên độ phá giá lớn hơn so với những ngànhcông nghiệp không sử dụng biện pháp này

Vận động hành lang (lobby) là “hoạt động của các doanh nghiệp tác động

đến các nhân vật chính trị, có ảnh hưởng lớn đối với việc đưa ra các chính sách, quyết định chống bán phá giá có lợi cho mình” Vận động hành lang được phân

thành hai loại, đó là vận động hành lang trực tiếp và vận động hành lang gián tiếp.Vận động hành lang gián tiếp đã có từ lâu và được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận.Nhưng, đối với vận động hành lang trực tiếp thì có rất nhiều tài liệu trước đây đã

cho rằng không có hiện tượng này Douglas Nelson cho rằng: “họ đã sai lầm khi

nhận định không có lobby trực tiếp Bởi vì, các vụ kiện chống bán phá giá không phải tự bản thân chúng nộp hồ sơ kiện, mà do các doanh nghiệp trong nước và hiệp hội ngành nghề thuê Luật sư, các chuyên gia kinh tế làm việc này Hơn thế nữa, các

nỗ lực quan hệ công chúng ở Washington và các đại biểu quốc hội ở địa phương có liên quan đến các doanh nghiệp cũng liên quan, cũng như các hoạt động lobby truyền thống là gặp các Thượng nghị sĩ và bất cứ ai có thể mang lại lợi ích Đó là vận động hành lang” [63]

Theo tác giả, một trong những phân tích đầy đủ nhất về vấn đề này làAnderson (1993,1994) Công trình này của Anderson xây dựng lên một cơ cấu kinh

tế chính trị dựa vào phân tích về phản ứng dây chuyền của chống bán phá giá Cấutrúc tổng thể của mô hình xem xét cạnh tranh kinh tế và cạnh tranh chính trị ở tronghoạt động cạnh tranh lành mạnh giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp

nước ngoài ở hai giai đoạn: (i) Giai đoạn thứ nhất, các doanh nghiệp trong nước có

thể đưa ra các chiến dịch kêu gọi đóng góp, việc này sẽ làm giảm chi phí trongtương lai Các nền kinh tế giai đoạn đầu có liên quan đến cạnh tranh hoàn hảo giữacác doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, nhưng các doanh nghiệpnước ngoài có thể tham gia vận động hành lang gián tiếp thông qua phản ứng dây

39

Trang 40

chuyền của chống bán phá giá; (ii) Giai đoạn thứ hai, là cơ quan điều tra chống bán

phá giá điều tra thiệt hại với khả năng được quyết định bởi vận động hành langtrong giai đoạn thứ nhất Qua các phân tích cho thấy vận động hành lang ảnh hưởngđến việc khả năng áp dụng mức thuế nhất định cho các doanh nghiệp nước ngoài

Tuy nhiên, một hiện tượng thực tế rằng khi có một kết quả chống bán phá giá

“khẳng định” sẽ tự động dẫn đến một biên độ phá giá dương và giá cả ở thị trường

nội địa sẽ tăng lên, các ngành sản xuất hạ nguồn cho sản phẩm đầu ra của ngànhcông nghiệp khởi kiện sẽ phải gánh chịu thiệt hại khi sản phẩm đầu vào quan trọngcủa họ tăng giá và họ sẽ phản công bằng cách khiếu nại và sử dụng áp lực đối vớicác chính trị gia thông qua việc vận động hành lang của mình Trong tình huốngnày, hiệu quả vận động hành lang của ngành sản xuất nộp đơn kiện sẽ giảm bớt

Thêm một nhân tố chính trị khác có tác động mạnh mẽ đối với việc nộp hồ

sơ và ra quyết định chống bán phá giá, đó là quy mô của ngành sản xuất Nhữngngành sản xuất có quy mô lớn sẽ có khả năng gây áp lực nhiều hơn đối với cácchính trị gia cũng như là họ có nhiều tiềm lực để cạnh tranh với các đối thủ nướcngoài Các doanh nghiệp khởi kiện tự tổ chức nộp đơn khiếu nại có thể đưa ra yêucầu để cơ quan điều tra đưa ra kết quả cuối cùng Khi Nhiều doanh nghiệp hoặcHiệp hội nghề nghiệp ký đơn yêu cầu thì vụ kiện sẽ được ủng hộ nhiều hơn, đồngthời nhiều người khiếu kiện có thể trình bày vụ kiện được thuyết phục hơn

Tóm lại, yếu tố chính trị có tác động nhất định đối với các quyết định chống

bán phá giá Tuy nhiên, hiệu quả của các tác động chính trị sẽ giảm bớt khi có yếu

tố tác động đối lập, từ người tiêu dùng, các nhà sản xuất sản phẩm hạ nguồn của sảnphẩm bị điều tra chống bán phá giá

2.2.2 Một số khái niệm trong điều tra chống bán phá giá

Điều tra chống bán phá giá là một giai đoạn mà chính phủ nước nhập khẩutiến hành xác minh yêu cầu đơn khởi kiện của ngành sản xuất trong nước, hoặc tựchính phủ nước nhập khẩu khởi xướng điều tra, hoặc trong trường hợp điều trachống bán phá giá theo yêu cầu của quốc gia thứ ba Trình tự, thủ tục điều tra của

cơ quan điều tra chống bán phá giá phải tuân thủ các quy định khung của hiệp địnhADA và các nguyên tắc của GATT

Ngày đăng: 20/11/2013, 14:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Chương1: Cơ sở lý thuyết và Tổng quan tình hình nghiên cứu - Điều tra chống bán phá giá dưới góc độ luật so sánh
h ương1: Cơ sở lý thuyết và Tổng quan tình hình nghiên cứu (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w