khóa luận, luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, đề tài
Trang 1-TRẦN VĂN SÁNG
ĐỊA DANH
CÓ NGUỒN GỐC NGÔN NGỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TÂY THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
HÀ NỘI- 2013
Trang 2-TRẦN VĂN SÁNG
ĐỊA DANH
CÓ NGUỒN GỐC NGÔN NGỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TÂY THỪA THIÊN HUẾ
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 62 22 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS NGUYỄN TƯƠNG LAI
2 PGS.TS ĐOÀN VĂN PHÚC
HÀ NỘI- 2013
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trần Văn Sáng
Trang 41 Danh mục các từ viết tắt
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Địa danh gốc DTTS Địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc thiểu
số ở Tây Thừa Thiên Huế
2 Quy ước trình bày
(1) Do cố gắng tránh trình bày dài dòng, lặp lại nhiều lần, trừ những lúc cần giải
thích chi tiết, chúng tôi quy ước cách viết cụm từ: “địa danh gốc DTTS” trong luận
án được hiểu tương đương là “địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS ở Tây Thừa
Thiên Huế”.
(2) Chữ viết dùng để ghi các địa danh gốc DTTS trong luận án, chúng tôi sử dụng các quy định về mẫu chữ viết trong các tài liệu sau:
+ Chữ viết dùng để ghi địa danh gốc Cơ-tu theo “Tiếng Katu” của Nguyễn Hữu
Hoành và Nguyễn Văn Lợi, Nxb Khoa học Xã hội, 1998
+ Chữ viết dùng để ghi địa danh gốc cô, gốc Ta-ôi theo “Sách học tiếng
Pa-cô Ta-ôi”, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1986.
Trang 5(3) Các ví dụ địa danh trình bày trong luận án được diễn giải như sau: cách ghi
chữ Quốc ngữ - cách ghi chữ DTTS - ý nghĩa của các thành tố Ví dụ: thôn A Ngo (veel Ango - thôn, cây thông)
(4) Để ghi địa danh gốc DTTS theo kí hiệu phiên Quốc tế, luận án sử dùng bộ
kí hiệu phiên âm SIL Doulos IPA
5 Tên các tộc danh hiện có nhiều cách viết khác nhau, luận án thống nhất cách
viết tên các tộc danh là Tà-ôi, Pa-cô, Cơ-tu, Bru-Vân Kiều Cách viết này được chúng tôi sử dụng theo Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam do Tổng cục Thống kê
ban hành ngày 02 tháng 3 năm 1979
Trang 61 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 1
2.1.Vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới 1
2.2 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam 4
2.2.1 Nghiên cứu địa danh từ cách tiếp cận địa lí - lịch sử - văn hoá 4
2.2.2 Nghiên cứu địa danh từ cách tiếp cận ngôn ngữ học 5
2.3.Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Thừa Thiên Huế 7
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN ÁN 8
3.1 Mục đích 8
3.2 Nhiệm vụ 8
4 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 9
5 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 10
5.1 Về ý nghĩa khoa học 10
5.2 Về ý nghĩa thực tiễn 10
6 TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
6.1 Nguồn tư liệu của luận án 11
6.1.1 Tư liệu thành văn 11
6.1.2 Tư liệu điền dã 12
6.2 Phương pháp nghiên cứu 13
6.2.1 Phương phương miêu tả 13
6.1.2 Phương pháp ngôn ngữ học điền dã 13
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN 14
Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH HỌC VÀ VẤN ĐỀ ĐỊA DANH, ĐỊA BÀN Ở TÂY THỪA THIÊN HUẾ 15
1.1 DẪN NHẬP 15
1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH HỌC 16
1.2.1 Khái niệm địa danh 16
1.2.2.Vấn đề xác định chức năng của địa danh 19
1.2.2.1.Chức năng cá thể hoá đối tượng 20
1.2.2.2.Chức năng định danh sự vật 20
1.2.2.3 Chức năng phản ánh hiện thực 20
1.2.2.4 Chức năng bảo tồn văn hóa 20
1.2.3.Vấn đề phân loại địa danh 21
1.2.4.Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học 25
1.2.4.1.Quan hệ giữa địa danh học với ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp học 25
1.2.4.2.Vị trí của địa danh học trong ngành danh xưng học 26
1.2.5 Mối quan hệ giữa địa danh học với các ngành khoa học khác 27
1.2.6 Các hướng tiếp cận địa danh từ góc độ ngôn ngữ học 28
1.3 VỀ ĐỊA BÀN, ĐỊA DANH TÂY THỪA THIÊN HUẾ 29
1.3.1 Giới thiệu chung về Thừa Thiên Huế 29
1.3.1.1.Về địa lí 29
1.3.1.2.Về lịch sử 30
1.3.1.3.Về nguồn gốc dân cư 31
Trang 71.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 40
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA ĐỊA DANH GỐC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY THỪA THIÊN HUẾ 42
2.1 DẪN NHẬP 42
2.2 KẾT QUẢ THU THẬP VÀ PHÂN LOẠI ĐỊA DANH 43
2.2.1 Nguyên tắc thống kê - thu thập địa danh 43
2.2.2 Kết quả thống kê - thu thập địa danh 44
2.2.3 Kết quả phân loại địa danh 44
2.2.3.1 Phân loại địa danh dựa vào tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên 45
2.3 CẤU TRÚC MÔ HÌNH PHỨC THỂ ĐỊA DANH 50
2.3.1 Về yếu tố tổng loại và yếu tố loại biệt trong phức thể địa danh 50
2.3.1.1 Quan niệm yếu tố tổng loại 51
2.3.1.2 Quan niệm yếu tố loại biệt 52
2.3.1.3 Về mối quan hệ giữa yếu tố tổng loại với yếu tố loại biệt 53
2.3.2 Cấu trúc mô hình phức thể địa danh gốc DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế 54
2.4 CẤU TRÚC CỦA YẾU TỐ TỔNG LOẠI 56
2.4.1 Về số lượng các yếu tố tổng loại: 56
2.4.2 Về sự chuyển hóa của yếu tố tổng loại 56
2.4.3 Về khả năng kết hợp của yếu tố tổng loại với yếu tố loại biệt 58
2.5 CẤU TRÚC CỦA YẾU TỐ LOẠI BIỆT 61
2.5.1 Về số lượng và hoạt động của YTLB trong các loại hình địa danh 61
2.5.3 Yếu tố loại biệt phức 64
2.5.3.1.Yếu tố loại biệt phức xét về mặt từ loại 65
2.5.3.2 Quan hệ ngữ pháp giữa các thành phần trong yếu tố loại biệt phức 65
2.6 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 69
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH, NGỮ NGHĨA VÀ ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA ĐỊA DANH GỐC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY THỪA THIÊN HUẾ 72
3.1 DẪN NHẬP 72
3.2 PHƯƠNG THỨC ĐỊNH DANH ĐỊA DANH 73
3.2.1 Vấn đề định danh trong ngôn ngữ 73
3.2.1.1 Về khái niệm định danh (nomination) 73
3.2.1.2 Về tính lí do của định danh 74
3.2.2 Phương thức định danh tự tạo 75
3.2.2.1 Định danh dựa vào đặc điểm chính của bản thân đối tượng 75
3.2.2.2 Định danh dựa vào các đặc điểm có liên quan đến đối tượng 75
3.2.3 Các phương thức định danh theo lối chuyển hoá 76
3.2.3.1 Định danh theo lối chuyển hoá trong nội bộ một loại địa danh 76
3.2.3.2 Định danh theo lối chuyển hoá giữa các loại địa danh khác nhau 76
3.3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA CÁC YẾU TỐ CẤU TẠO ĐỊA DANH 79
3.3.1 Vấn đề ý nghĩa của địa danh 79
3.3.2 Đặc điểm ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh 81
Trang 8DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY THỪA THIÊN HUẾ 90
3.4.1 Mối quan hệ giữa văn hóa với ngôn ngữ trong nghiên cứu địa danh 90
3.4.1.1 Về khái niệm văn hoá 90
3.4.1.2 Ngôn ngữ trong mối quan hệ với văn hoá 91
3.4.2 Đặc trưng văn hóa thể hiện qua các thành tố ngôn ngữ 94
3.4.2.1 Đặc trưng văn hóa thể hiện qua yếu tố tổng loại 94
3.4.2.2 Đặc trưng văn hóa thể hiện qua các chế định ngôn ngữ - văn hóa 96
3.4.3 Đặc trưng văn hóa thể hiện qua ngữ nghĩa và sự phản ánh hiện thực của yếu tố loại biệt 98
3.4.3.1 Sự phản ánh phương diện không gian văn hoá trong địa danh 98
3.4.3.2 Sự phản ánh các phương diện văn hóa lịch sử trong địa danh 103
3.4.3.3 Sự phản ánh phương diện văn hoá - tộc người của chủ thể định danh 107
3.4.3.4 Sự phản ánh các phương diện xã hội - ngôn ngữ học 110
4.5 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 112
Chương 4 VẤN ĐỀ CHUẨN HÓA CHÍNH TẢ ĐỊA DANH GỐC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY THỪA THIÊN HUẾ TRONG TIẾNG VIỆT 115
4.1 DẪN NHẬP 115
4.2 THỰC TRẠNG CÁCH VIẾT ĐỊA DANH GỐC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY THỪA THIÊN HUẾ TRONG TIẾNG VIỆT 116
4.2.1 Cách viết từ ngữ âm học không thống nhất 116
4.2.1.1 Viết rời các âm tiết của các địa danh có nhiều âm tiết 116
4.2.1.2 Viết liền các âm tiết của địa danh đa tiết 118
4.2.2 Cách viết các phụ âm không thống nhất 119
4.2.2.1 Viết không thống nhất phụ âm và tổ hợp phụ âm đầu âm tiết 119
4.2.2.2 Viết không thống nhất phụ âm và tổ hợp phụ âm cuối âm tiết 121
4.2.3 Cách viết các nguyên âm không thống nhất 123
4.2.4 Chuyển tự không thống nhất 124
4.2.5 Phiên âm kết hợp với sự chuyển dịch “trùng lặp về nghĩa” 125
4.2.6 Nhận xét 126
4.3 CÁCH PHIÊN CHUYỂN ĐỊA DANH GỐC DTTS SANG TIẾNG VIỆT 131
4.3.1 Một số đặc điểm ngữ âm - chữ viết các DTTS ở Thừa Thiên Huế (so sánh với tiếng Việt và chữ Quốc ngữ) 132
4.3.1.1 Những tương đồng và khác biệt về ngữ âm 132
4.3.1.2 Những tương đồng và khác biệt về chữ viết 132
4.3.2 Cách phiên chuyển địa danh gốc DTTS sang tiếng Việt 133
4.3.2.1 Một số nguyên tắc khi phiên chuyển 134
4.3.2.2 Những giải pháp cụ thể 134
4.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 142
KẾT LUẬN 144
TÀI LIỆU THAM KHẢO 149
I TIẾNG VIỆT 149
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 164
Trang 10Bảng 2.1: Kết quả thu thập địa danh gốc DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế 44
Bảng 2.2: Kết quả phân loại địa danh theo tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên 45
Bảng 2.3: Kết quả thống kê địa danh theo nguồn gốc ngôn ngữ của các yếu tố 49
Bảng 2.4: Số lượng và tần số chuyển hóa của các yếu tố tổng loại 58
Bảng 2.5: Thống kê địa danh theo số lượng các âm tiết của yếu tố loại biệt 62
Bảng 2.6: Phân loại địa danh theo kiểu cấu tạo của yếu tố loại biệt 69
Bảng 4.1: Thực trạng cách viết địa danh gốc DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế 131
MỤC LỤC SƠ ĐỒ Trang Sơ đồ 1.1:Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học 27
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa địa danh học với các ngành khoa học khác 28
Mô hình 2.1: Cấu trúc phức thể địa danh nói chung 54
Mô hình 2.2: Cấu trúc phức thể địa danh gốc DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế 55
Trang 11MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Địa danh học là một bộ phận đặc biệt của từ vựng học, chuyên nghiên cứu nguồn gốc, ý nghĩa và đặc điểm cấu tạo các tên gọi chỉ các đối tượng địa lý tự nhiên
và nhân văn Vì vậy, qua nghiên cứu địa danh, chúng ta có thể chỉ ra các phương thức
và nguyên tắc tạo địa danh đặc thù gắn với mỗi vùng phương ngữ và các khu vực địa
- văn hóa khác nhau
1.2 Là một cán bộ giảng dạy ở một trường đại học trên địa bàn Thừa Thiên Huế, một vùng đất giàu truyền thống văn hoá và lịch sử, chúng tôi hướng đến một nguyện vọng thiết thực: góp phần nghiên cứu những đặc trưng văn hoá - ngôn ngữ xứ Huế bằng việc khảo sát hệ thống địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế, qua đó chỉ ra quá trình tiếp xúc, giao thoa văn hóa ngôn ngữ dân tộc - Việt trên địa bàn
1.3 Đặc biệt, cho đến nay, việc nghiên cứu địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế chưa được tìm hiểu, nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, nếu không muốn nói là đang bỏ sót, chưa một cá nhân hay tổ chức khoa học nào quan tâm đến việc này một cách đúng mực Vì vậy, lựa chọn đề tài này, chúng tôi hướng đến mục đích nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên sâu về địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS ở đây, góp phần giữ gìn các đặc trưng văn hóa - tộc người được
ký thác qua mỗi địa danh, cung cấp tư liệu cần thiết cho việc lập từ điển bách khoa và
từ điển từ nguyên địa danh Thừa Thiên Huế
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1.Vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới
Địa danh học là một bộ phận đặc biệt của từ vựng học, chuyên tìm hiểu nguồn gốc, cấu tạo và ý nghĩa của các từ ngữ chỉ các địa danh Việc nghiên cứu địa danh đã xuất hiện từ lâu trên thế giới
Theo nhà nghiên cứu Lê Trung Hoa [49], ở Trung Quốc, ngay từ đầu Công nguyên, nhiều sách địa lí, lịch sử đã ghi chép và chỉ ra cách đọc, ngữ nghĩa của các
Trang 12địa danh Đầu thời Đông Hán (32-92), Ban Cố đã viết “Hán thư” ghi chép trên 4000
loại địa danh, chỉ ra lý do gọi tên và quá trình diễn biến của địa danh; Lệ Đạo Nguyên
trong “Thủy kinh chú” thời Bắc Nguỵ (466-527) có ghi chép trên hai vạn địa danh, số
được giải thích là 2.300 Ở phương Tây, từ điển địa danh đầu tiên xuất hiện ở Ý thế
kỷ XVII (Poyares Dicionario de nomes proprios de Regiónes, Rome, 1667) nhưng Địa danh học thì mãi đến cuối thế kỷ XIX mới ra đời J.J.Egli, người Thuỵ Sĩ có
“Địa danh học” công bố năm 1872 Và 30 năm sau (1903), J.W.Nagl người Áo cũng cho ra đời công trình “Địa danh học”.
Bước sang thế kỷ XX, các Uỷ ban địa danh của nhiều nước trên thế giới ra đời, nhiều tài liệu khảo cứu bắt đầu quan tâm đến nguồn gốc các địa danh Từ năm
1902 đến 1910, J.Gillénon xuất bản “Atlat ngôn ngữ Pháp”, nghiên cứu địa danh
theo hướng địa lí học Vào năm 1926, A.Dauzsat, nhà địa danh học Pháp, đã viết
“Nguồn gốc và sự phát triển của địa danh”, đề xuất phương pháp văn hoá địa lí học
để nghiên cứu các lớp niên đại của địa danh Năm 1948, ông lại cho xuất bản “Địa
danh học Pháp” (La toponymie Francaise) Năm 1963, A.Dauzat và Ch.Rostaing lại
cho ra đời cuốn “Từ điển ngữ nguyên học các địa danh ở Pháp” (Dictionnaire étymologique des noms de lieux en France) Qua các công trình này, “cơ sở lí luận
đã được xác lập, đối tượng địa danh đã được xác định, sự phân loại địa danh tương đối hợp lí, phương pháp nghiên cứu đã mang tính khoa học” [49, tr.22].
Đi đầu và đạt được nhiều thành tựu trong nghiên cứu, xây dựng hệ thống lí luận địa danh học là các công trình của các tác giả Xô Viết trước đây Từ những năm
60 của thế kỷ XX, nhiều công trình nghiên cứu về địa danh có giá trị đã ra đời Đáng
chú ý trong số đó là: “Dẫn luận địa danh học” (1965) và “Từ điển địa danh bỏ túi” (1968) của V.N Nhikonov; “Môn địa lí trong các tên gọi” (1979) của E.M.Muzaev;
“Địa danh Matxcơva” (1982) của G.P Xmolixkaja và M.V Gorbanhexki Đặc biệt, công trình “Địa danh học là gì?” của A.V.Superanxkaja là “tác phẩm quan trọng
nhất đã tổng kết, thu gọn các tri thức cơ bản của địa danh học” [33, tr.9], và là công
trình “mang tính tổng hợp, trình bày toàn diện những kết quả nghiên cứu địa danh” [145, tr 12-13] Hơn nữa, đây là công trình lớn “có giá trị tổng kết những kết quả
Trang 13nghiên cứu mới, làm cơ sở vững chắc cho việc nghiên cứu địa danh tiếp theo ở Liên bang Xô Viết trước đây” [80, tr.11-12].
Một số chuyên luận dành riêng để bàn luận về lý thuyết địa danh nằm trong hệ
thống tên riêng gắn với từng ngôn ngữ Đáng chú ý là chuyên luận “The Theory of
Proper Names” [170] của Alan Gardiner công bố vào năm 1953 Trong công trình
này, địa danh được tác giả lí giải trong hệ thống các tên riêng về các mặt ý nghĩa,
nguồn gốc ra đời của chúng Ở một góc độ khác, trong chuyên luận “The Grammar
of Names” [162], John M Anderson đã dành hơn 300 trang để bàn luận về danh xưng
học (onomastics), trong đó có địa danh (toponym), từ quan điểm triết học ngôn ngữ
Dưới góc nhìn ngôn ngữ học ứng dụng, các luận án tiến sĩ của Polina P.Kobeleva [178] và của Barry Cowan [166] đã miêu tả chi tiết địa danh như một loại tên riêng đặc biệt có vai trò trong việc giảng dạy và thụ đắc ngôn ngữ thứ hai
Nghiên cứu tên riêng và địa danh từ tiếp cận triết học ngôn ngữ vốn có truyền thống lâu đời ở châu Âu Nhiều công trình khảo cứu sâu về tên gọi được tiến hành trên nhiều khía cạnh khác nhau Nổi bật trong số đó là các công trình nghiên cứu:
“Naming and Nessecity” [179]; “Kripke: Names, Necessity and Identity” [174] và
“Reference without Refenrents” [181] Kết quả nghiên cứu của các chuyên khảo này
giúp lí giải hình thành tên gọi và sự cần thiết của việc đặt tên, trong đó, địa danh là một lớp tên gọi tiêu biểu, phổ biến trong mọi ngôn ngữ
Ở cấp độ chuẩn hóa quốc gia và chuẩn hóa quốc tế địa danh, việc nghiên cứu địa danh còn thu hút các tổ chức quốc tế có uy tín trên thế giới như UNESCO với hội
thảo “African ethnonyms and toponyms” [186]; tổ chức United Nations bàn về việc chuẩn hóa địa danh trong “Manual for the national standardization of geographical
names” [187] Cơ sở pháp lí của những quy định chuẩn hóa quốc tế này sẽ là tiền đề
cho việc chuẩn hóa địa danh quốc gia trong từng ngôn ngữ và dân tộc khác nhau
Gần đây, có nhiều bài báo nghiên cứu về địa danh trên tạp chí quốc tế chuyên ngành, điều này càng chứng tỏ ngành địa danh học đang ngày một phát triển và có tính ứng dụng thực tiễn cao Đó là các nghiên cứu về ý nghĩa của địa danh trong
“What is a Name? Reflections on Onomastics” của William Bright [164]; về vấn đề
Trang 14kế hoạch hóa ngôn ngữ và địa danh trong “Language Planning and Placenaming in
Australia” của Flavia Hodges [173]; về chức năng và vấn đề chính trị của địa danh
trên bản đồ trong các bài viết “Some Considerrations on the Function of Place
Names on Maps” của Peter Jordan [175], “The Political problem of Bi- and Multilingual Maritime Names in Maps” của Naftali Kadmon [177], “Motivations for Naming: The Development of a Toponymic Typology for Australian Placenames” của
Jan Tent and David Blair [183] Hiện nay, ở Mỹ có cả tạp chí “Name” thuộc Hiệp hội
nghiên cứu tên gọi Mỹ, xuất bản định kỳ mỗi tháng một số chuyên đề về danh xưng
học và địa danh trên thế giới
Một trong những công trình nghiên cứu có tính chuyên sâu về địa danh học
được giới nghiên cứu đặc biệt chú ý là: Toponymy - the Lore, Laws and Language of
Geographical Names [176] của nhà nghiên cứu Naftali Kadmon Đây là một chuyên
luận có tầm ảnh hưởng đến hầu hết các nghiên cứu về địa danh học thế giới hiện nay bởi giá trị của nó cả trên phương diện lý thuyết (địa danh) lẫn tính ứng dụng cao trong thực tiễn Nội dung chuyên luận xoay quanh 5 vấn đề chính: (1) Một số chủ đề dẫn luận địa danh học (Some introductory topics); (2) Tên gọi địa lí (địa danh) như một hiện tượng văn hóa (Geographical name as a cultural phenomenon); 3) Quá trình biến đổi của địa danh (Transformation of geographical names); 4) Vấn đề chuẩn hóa địa danh (Standardization and its agents); 5) Địa danh trên bản đồ và cơ sở dữ liệu số (Toponyms in map and digital databases)
Có thể nói, địa danh học đang là một hướng nghiên cứu được nhiều nhà ngôn ngữ học, nhân học, địa lí học trên thế giới quan tâm Những công trình nghiên cứu địa danh trên thế giới nói trên đã vạch ra một khung lý thuyết tương đối khái quát, từ cách phân loại đến việc miêu tả các lớp địa danh, phương thức định danh Đây là những lưu ý hết sức quan trọng đối với chúng tôi trước khi bắt tay vào nghiên cứu địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế
2.2 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
2.2.1 Nghiên cứu địa danh từ cách tiếp cận địa lí - lịch sử - văn hoá
Trang 15Các công trình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam xưa chủ yếu là địa chí lịch sử
và văn hoá, tiêu biểu như: “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi; “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sĩ Liên; “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú; “Gia định
thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức Đáng kể nhất là hai công trình sau: “Tên làng
xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ An trở ra)” [111] đã tập hợp
10.994 địa danh; và “Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc Kỳ” [64] với danh
mục địa danh làng xã bằng 2 ngôn ngữ Việt và Hán
Sang thế kỷ XX, việc nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn địa lí - lịch sử - văn hoá tiếp tục có nhiều đóng góp cho ngành địa danh học ở Việt Nam như Đào Duy
Anh [2], Nguyễn Quang Ân [3], Nguyễn Văn Âu [4] Đặc biệt, “Một số vấn đề về địa
danh Việt Nam” [4] của Nguyễn Văn Âu đã hệ thống hoá địa danh Việt Nam theo
loại, kiểu, dạng và vùng địa danh tương đối rõ ràng và chi tiết
Một số chuyên khảo đi vào nghiên cứu từng khía cạnh, từng lớp địa danh ở từng vùng địa lí lịch sử nhất định Chẳng hạn, các nghiên của Thái Hoàng, Ngô Đức Thọ trong [55], [124] Nhiều từ điển về địa danh được xuất bản, trong đó đáng chú ý hơn cả là từ điển địa danh do nhóm tác giả biên soạn phục vụ du lịch văn hóa như
“Sổ tay địa danh du lịch các tỉnh Trung Trung Bộ” [42], “Sổ tay địa danh Việt Nam” [158], “Từ điển địa danh văn hóa và thắng cảnh Việt Nam” [160] Qua các từ điển
này, người đọc có thêm những thông tin chỉ dẫn hữu ích về địa danh, đặc biệt là các thông tin về lịch sử, văn hoá cũng như lí do, nguồn gốc và ý nghĩa gắn liền với sự ra đời mỗi địa danh
2.2.2 Nghiên cứu địa danh từ cách tiếp cận ngôn ngữ học
Phải bắt đầu từ những thập kỷ 60 của thế kỷ XX, các vấn đề về địa danh và lí luận về địa danh học mới được quan tâm một cách đích thực, phản ánh đúng bản chất
một phân môn của ngôn ngữ học Bài viết “Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông
Nam Á qua một vài tên sông” [17] của tác giả Hoàng Thị Châu được xem là công
trình đầu tiên, đánh dấu một cột mốc quan trọng cho việc nghiên cứu địa danh từ góc nhìn ngôn ngữ học Bằng phương pháp ngôn ngữ học lịch sử, tác giả đã cung cấp
Trang 16những thông tin cần thiết liên quan đến nguồn gốc và quá trình hình thành địa danh ở khu vực Đông Nam Á nói chung, địa danh tiếng Việt nói riêng.
Cho đến nay, đã có khá nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học về địa danh trên các vùng địa lí khác nhau Đó là những công trình của Lê Trung Hoa [46], của Nguyễn Kiên Trường [144], của Từ Thu Mai [80], của Trần Văn Dũng [29]
và của Phan Xuân Đạm [33] Đây là những công trình nghiên cứu có những đóng góp quan trọng, góp phần xác lập khuynh hướng nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn ngôn ngữ học
Nhằm góp phần tạo nên sự đa dạng về khuynh hướng, phương pháp nghiên cứu địa danh, Trần Trí Dõi lại nghiên cứu địa danh theo hướng so sánh - lịch sử, giúp
lí giải nguồn gốc và ý nghĩa của một số địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ khác trong tiếng Việt Những nhận định hết sức thú vị về nguồn gốc, ý nghĩa của địa danh được tác giả thể hiện qua các nghiên cứu tiêu biểu trong [24], [25], [26], [28]
Cũng từ góc độ ngôn ngữ học, nhiều bài viết về địa danh được công bố đã bổ sung lí luận và tư liệu địa danh trên nhiều vùng phương ngữ - văn hóa khác nhau, đáng chú ý là các khảo tả về “yếu tố Kẻ ở Bình Trị Thiên” của Võ Xuân Trang [139],
“hệ thống tên làng” của Huyền Nam [83], “địa danh Đà Nẵng” của Hoàng Tất Thắng [114] và “địa danh Thái Nguyên” của Nguyễn Đức Tồn [135]
Nhìn một cách tổng thể, bức tranh địa danh học Việt Nam lâu nay chủ yếu dành nhiều sự quan tâm nghiên cứu về địa danh tiếng Việt (thuần Việt và Hán Việt), còn việc tìm hiểu các địa danh gốc DTTS như một đối tượng riêng, độc lập hiện vẫn còn là một khoảng trống Nhằm bổ khuyết cho sự thiên lệch nói trên, ít năm gần đây, một số bài viết đi vào khảo tả về ngữ nghĩa và nguồn gốc các địa danh gốc DTTS, bước đầu đưa lại một số kết quả đáng ghi nhận Đó là những bài viết của Lê Trung Hoa về địa danh gốc Khơ me, địa danh gốc Chăm trong tiếng Việt [49]; của Nguyễn Văn Hiệu về địa danh gốc Hán trong vùng địa danh dân tộc Mông-Dao [56], [57], [58], [59] Hay địa danh gốc Thái và tên riêng tiếng Kơ-ho của Tạ Văn Thông [127], [128]; về địa danh Tày-Nùng của Vương Toàn [130] và [131]; về nguồn gốc một số địa danh gốc Thái và Tày-Nùng của Phạm Đức Dương [22]
Trang 17Tuy nhiên, cách tiếp cận địa danh gốc DTTS trong các nghiên cứu nói trên đều xuất phát từ cách tiếp cận một chiều thông qua địa danh ghi bằng chữ Quốc ngữ, chứ chưa xuất phát từ cách viết địa danh bằng chữ/tiếng DTTS bản địa để tìm hiểu cấu trúc, ngữ nghĩa và lí do định danh, từ đó truy nguyên nguồn gốc và ý nghĩa của chúng Do vậy, kết quả nghiên cứu của một số luận án, luận văn [80], [144], [33], [29] có đề cập đến địa danh gốc DTTS trên địa bàn nghiên cứu nhưng chưa được giải quyết một cách thỏa đáng.
Có thể nói, việc nghiên cứu địa danh gốc ngôn ngữ DTTS ở Việt Nam lâu nay vẫn là một hướng đi còn ít được khai phá Vì vậy, những nghiên cứu về địa danh gốc DTTS nói trên có thể xem là những công trình gợi mở cho chúng tôi nhiều ý tưởng thú vị trước khi bắt tay vào nghiên cứu địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế
2.3.Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế là mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi đã từng được nhiều triều đại phong kiến chọn làm kinh đô một thời Đây cũng là lý do mà mảnh đất này được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu địa danh ở Thừa Thiên Huế mới chỉ dừng lại ở một vài khảo sát sơ sài trong một số sách địa chí
xưa như “Ô châu cận lục” của Dương Văn An [1]; “Phủ biên tạp lục” của Lê Quí Đôn [36]; “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn [95].
Léopold Cadiere, một học giả người Pháp chủ bút tập san “Những người bạn
Cô đô” đã có tập khảo cứu “Kinh thành Huế: địa danh” [11], nhưng chỉ mô tả các địa
danh Hán Việt trong nội thành Còn cuốn “Địa danh thành phố Huế” [110] của Trần
Thanh Tâm và Huỳnh Đình Kết chỉ thiên về mô tả sơ qua địa danh thuần Việt và Hán Việt theo phương pháp điền dã dân tộc học chứ chưa đề cập đến phương diện ngôn
ngữ học của địa danh Năm 1969, Richart L.Watson trong bài “Pacoh names” [191]
cũng chỉ mới lược thuật một vài truyền thống đặt tên của người Pa-cô
Các công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê danh mục địa danh được đặt qua các thời kỳ, chứ chưa nghiên cứu địa danh một cách công phu
cả từ góc độ văn hóa - lịch sử lẫn từ góc độ ngôn ngữ học
Trang 18Gần đây, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thanh Hải [43] đã bước đầu thống kê, miêu tả một cách khá hệ thống địa danh làng xã ở Thừa Thiên Huế Tuy nhiên, do chủ yếu thu thập và miêu tả địa danh Hán Việt và thuần Việt nên công trình cũng chưa nghiên cứu các địa danh gốc ngôn ngữ DTTS trên địa bàn.
Có thể nói, ngoài các công bố bước đầu của chúng tôi về địa danh gốc ngôn ngữ DTTS Cơ-tu, Tà-ôi, Pa-cô [99], [100], [101], [102], [103], [104], [105], hiện chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về địa danh ở Thừa Thiên Huế nói chung, đặc biệt là chưa ai đặt vấn đề địa danh gốc ngôn ngữ DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế từ góc độ ngôn ngữ học như đề tài luận án
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN ÁN
3.2 Nhiệm vụ
Đểthực hiện mục đích trên, luận án có 4 nhiệm vụ cần được giải quyết:
- Trình bày cơ sở lí luận về địa danh học và tổng quan nghiên cứu địa danh, vấn đề địa danh, địa bàn nghiên cứu, phương pháp, cách tiếp cận đặc điểm ngôn ngữ
- văn hóa các địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế
- Miêu tả đặc điểm cấu trúc các địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế trên các phương diện: mô hình phức thể địa danh, các đặc điểm ngữ pháp, nguồn gốc của yếu tố tổng loại và yếu tố loại biệt
- Miêu tả đặc điểm định danh các địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế: phương thức định danh, đặc điểm ngữ nghĩa và giá trị phản ánh hiện thực của địa danh; đặc trưng văn hóa thể hiện qua hệ thống các yếu tố tổng loại
và yếu tố loại biệt của phức thể địa danh
Trang 19- Từ các kết quả nghiên cứu trên, luận án cũng chỉ ra thực trạng viết/ghi địa danh gốc DTTS ở Thừa Thiên Huế trong tiếng Việt, từ đó đề nghị phương án phiên chuyển các địa danh này sang tiếng Việt.
4 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
4.1.Luận án khảo sát và nghiên cứu hệ thống địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế trên các phương diện chính: a) Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc của các yếu tố tạo thành địa danh; b) Nghiên cứu đặc điểm ý nghĩa, phương thức định danh và đặc trưng văn hóa của địa danh thông qua các yếu tố ngôn ngữ tạo địa danh và giá trị phản ánh hiện thực của chúng; c) Qua việc nghiên cứu, luận án đặt vấn đề chuẩn hóa địa danh gốc DTTS trong văn bản tiếng Việt hiện nay, đề xuất cách phiên chuyển địa danh gốc DTTS sang tiếng Việt, tiến tới thống nhất cách ghi/viết các địa danh trong văn bản tiếng Việt
4.2 Xác định rõ đối tượng và các nội dung nghiên cứu cụ thể, luận án tiến hành khảo sát, thu thập địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế trong giới hạn và phạm vi nghiên cứu sau:
- Về đối tượng khảo sát, luận án chỉ nghiên cứu các địa danh có nguồn gốc
ngôn ngữ DTTS trên hai lớp địa danh thu thập được sau đây:
+ Lớp địa danh gốc ngôn ngữ DTTS nhưng được Quốc ngữ hóa trên bản đồ (trung ương và địa phương) hoặc được ghi/viết bằng chữ Quốc ngữ dưới nhiều hình thức khác nhau, trong nhiều loại hình văn bản tiếng Việt khác nhau
+ Lớp địa danh gốc ngôn ngữ DTTS nhưng được người Việt gọi và sử dụng trong giao tiếp hàng ngày nhưng chưa được Quốc ngữ hóa chính thức trên bản đồ hay trong văn bản tiếng Việt
Những số liệu về địa danh Hán Việt và địa danh thuần Việt ở Thừa Thiên Huế
mà chúng tôi thu thập và sử dụng trong luận án chỉ có tính chất minh họa (trong những trường hợp cần thiết) để miêu tả địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS trong
đề tài
- Về không gian địa lí, do sự phân bố dân cư khá tách biệt giữa đồng bằng và
miền núi, nên cư dân nói ngôn ngữ DTTS ở khu vực Tây Thừa Thiên Huế chủ yếu
Trang 20sống tập trung tại hai huyện miền núi Nam Đông và A Lưới Đây là cư dân nói các ngôn ngữ (Cơ-tu, Tà-ôi, Pa-cô, Bru-Vân Kiều) thuộc tiểu chi Katuic Vì vậy, cứ liệu địa danh khảo sát của luận án chủ yếu là các địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS thuộc nhóm Katuic, chi Môn-Khmer, ngữ hệ Nam Á.
Những địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS ở Thừa Thiên Huế nhưng nằm ngoài địa bàn nghiên cứu nói trên cũng không thuộc đối tượng nghiên cứu của đề tài Trong một vài trường hợp, luận án sử dụng những địa danh này như những thí dụ có tính chất liên hệ, so sánh với đối tượng miêu tả của luận án
5 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
5.1 Về ý nghĩa khoa học
- Luận án là một trong những hướng nghiên cứu đầu tiên tiếp cận một cách hệ thống cả về lý thuyết lẫn thực tiễn về địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS ở Thừa Thiên Huế từ góc độ ngôn ngữ học bằng phương pháp và thủ pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành Theo đó, luận án tìm hiểu các địa danh cả về mặt cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc, quá trình biến đổi lẫn vấn đề vay mượn, phiên chuyển địa danh dân tộc - Việt trên văn bản tiếng Việt hiện nay Luận án cũng góp phần chỉ ra những mối liên quan mật thiết giữa địa danh với hệ thống ngữ âm, từ vựng và sự giao thoa, tiếp xúc ngôn ngữ giữa các DTTS trên địa bàn Thừa Thiên Huế
- Từ góc độ ngôn ngữ - văn hóa, luận án góp phần tìm hiểu các đặc trưng văn hóa các DTTS bản địa qua ngữ nghĩa và phương thức định danh của địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế Hệ thống địa danh tập hợp, thông qua vốn từ vựng gọi tên địa danh, sẽ là nguồn tài liệu quí giá cho các nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ của vùng đất và con người xứ Huế, đặc biệt ngôn ngữ và văn hóa các DTTS trong lịch sử và hiện nay
5.2 Về ý nghĩa thực tiễn
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu hệ thống địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS trên địa bàn Tây Thừa Thiên Huế, do vậy, có ý nghĩa thực tiễn hết sức quan trọng trên các phương diện:
Trang 21- Giúp đồng bào các DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế hiểu rõ các đặc trưng văn hóa và ngôn ngữ mẹ đẻ của mình thông qua việc tìm hiểu địa danh, từ đó rèn luyện ý thức giữ gìn, phát huy văn hóa, ngôn ngữ và tiếng nói của dân tộc mình trong sự giao lưu và tiếp xúc với tiếng Việt, ngôn ngữ quốc gia.
- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là tiền đề quan trọng cho các công trình nghiên cứu về địa danh học có tính ứng dụng trong thực tiễn: biên soạn từ điển bách khoa địa danh Thừa Thiên Huế, từ điển từ nguyên địa danh Thừa Thiên Huế, lập mới
và bổ sung danh mục các địa danh gốc DTTS trên bản đồ phục vụ cho hoạt động du lịch, chính trị và quân sự của tỉnh nhà Luận án còn góp phần vào công tác thống nhất cách phiên chuyển địa danh gốc DTTS sang tiếng Việt, tiến tới chuẩn hóa cách viết tên riêng DTTS trong văn bản tiếng Việt
6 TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Nguồn tư liệu của luận án
Nguồn tư liệu địa danh trong luận án là nguồn tư liệu được thu thập hai chiều: vừa thu thập những đơn vị địa danh được ghi bằng chữ Quốc ngữ, vừa thu thập các đơn vị địa danh được ghi bằng chữ DTTS Công việc này được tiến hành theo trình
Tương ứng với hai thao tác thu thập tư liệu nói trên là hai nguồn tư liệu quan
có được trong luận án là:
6.1.1 Tư liệu thành văn
Tư liệu thành văn được tập hợp từ các nguồn quan trọng sau:
(1) Danh mục địa danh khảo sát qua hệ thống bản đồ được soạn thảo vào các thời kỳ với nhiều tỉ lệ khác nhau Đặc biệt, chúng tôi chú ý tới cách ghi địa danh trên
Trang 22bản đồ quân sự Đây là nguồn cứ liệu góp phần lí giải cách ghi khác nhau về địa danh gốc DTTS, qua đó đặt vấn đề chuẩn hóa chính tả địa danh và chỉ ra quy luật phiên chuyển địa danh gốc DTTS trong văn bản tiếng Việt Nguồn bản đồ được sư tập trong luận án gồm các loại sau:
+ Bản đồ Quân sự do Cục bản đồ Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam in năm 1982 Tỉ lệ: 1:100.000 (chế bản dựa theo bản đồ in năm 1967)
+ Bản đồ Quân sự do Cục bản đồ Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam in năm 2007 Tỉ lệ: 1:100.000 (chủ yếu dựa trên số liệu bản đồ in năm 1967, bổ sung và chỉnh sửa)
+ Bản đồ địa lí tỉnh Thừa Thiên Huế Tỉ lệ: 1:125 000, in năm 2009; Bản đồ hành chính tỉnh Thừa Thiên Huế, Bản đồ huyện A Lưới, Bản đồ huyện Nam Đông
(2) Danh mục địa danh được thu thập từ các loại hình văn bản khác nhau trong tiếng Việt Trong đó, nguồn tư liệu địa danh được thu thập từ danh mục các đơn vị hành chính các cấp ban hành là quan trọng, đây là nguồn tư liệu thành văn chính thống, phần lớn được dùng cố định, lâu dài; còn danh mục địa danh thu thập trong các tài liệu văn bản khác như sách, báo, địa chí, từ điển, công báo… thường xuyên có những thay đổi, tồn tại nhiều cách viết khác nhau không thống nhất
6.1.2 Tư liệu điền dã
Nguồn thông tin tư liệu về địa danh được điều tra điền dã tại hai huyện A Lưới và Nam Đông là nguồn thông tin tư liệu hết sức quan trọng để hoàn thành luận
án Trước khi bắt tay vào nghiên cứu luận án, số lượng địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS được thể hiện trên bản đồ và trong các loại hình văn bản tiếng Việt, qua khảo sát của chúng tôi, là rất tùy tiện và thiếu nhất quán Trước thực trạng nói trên, chúng tôi cho rằng, chỉ có phương pháp điều tra điền dã, bám sát địa bàn nghiên cứu
để thu thập thông tin dưới nhiều hình thức khác nhau về địa danh mới có thể lí giải được nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS một cách hiệu quả nhất Mỗi loại tư liệu đều cho chúng ta những chỉ dẫn về địa danh ở những thời điểm khác nhau, giúp tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa, quá trình hình thành, biến đổi
và nguyên nhân làm sai lệch địa danh gốc DTTS trong văn bản tiếng Việt
Trang 236.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương phương miêu tả
Phương pháp chủ đạo của luận án là phương pháp miêu tả Trên cơ sở của tư liệu điền dã, chúng tôi áp dụng các thủ pháp luận giải bên trong: thủ pháp phân loại,
hệ thống hóa tư liệu (phân địa danh thành các nhóm khác nhau), thủ pháp đối lập để chỉ ra các đặc điểm về hình thái, ngữ nghĩa của các kiểu loại địa danh, thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp khi miêu tả cấu trúc và ý nghĩa các thành tố trong địa danh
Mặt khác, chúng tôi tiến hành các thủ pháp luận giải bên ngoài như: ngôn ngữ học xã hội, tâm lí học, văn hóa - tộc người phân tích các sự kiện, hiện tượng ngôn ngữ trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ với những gì ngoài ngôn ngữ để xem xét các khía cạnh về đặc điểm cấu tạo, sắc thái biểu cảm, các nhân tố chi phối cách gọi tên địa danh trong các ngôn ngữ khác nhau trên bình diện đồng đại
6.1.2 Phương pháp ngôn ngữ học điền dã
Bằng phương pháp nghiên cứu điền dã tại địa bàn nghiên cứu, luận án đã thu thập được hệ thống tư liệu địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS theo các nhóm: nhóm các yếu tố tổng loại chỉ địa danh, các nhóm địa danh xét theo nguồn gốc ngôn ngữ, các nhóm địa danh xét theo đối tượng phản ánh… Công việc điều tra điền dã được tiến hành theo các bước: điều tra theo mẫu phiếu cho trước; gặp gỡ, phỏng vấn những cộng tác viên là cán bộ văn hóa các cấp huyện, xã, thôn; các già làng trưởng bản; các cán bộ lão thành cách mạng và các trí thức người DTTS sống trên địa bàn nghiên cứu; ghi âm các địa danh ngôn ngữ DTTS do người dân tộc trực tiếp đọc
Các cuộc nghiên cứu điền dã này không chỉ giúp cho người viết thu thập và thống kê được số lượng địa danh một cách đầy đủ hơn mà còn giúp lí giải nguồn gốc ngôn ngữ đặt địa danh cũng như lí do định danh gắn với các đặc trưng văn hóa tộc người, một nhiệm vụ tối quan trọng khi nghiên cứu địa danh
Bên cạnh sử dụng phương pháp nghiên cứu điền dã để thu thập thêm tư liệu trên hiện trường và phương pháp miêu tả, trong quá trình viết chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp, thủ pháp chung của các ngành khoa học khác, như: Phương pháp quy nạp, diễn dịch, mô hình hóa, thủ pháp thống kê… để làm rõ hơn các đặc điểm của địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ DTTS ở địa bàn nghiên cứu
Trang 24Trong một chừng mực nhất định, phương pháp so sánh cũng được áp dụng để chỉ ra những chuyển biến về âm thanh, ngữ nghĩa và lí do ban đầu của địa danh qua
sự tiếp xúc ngôn ngữ và văn hóa trên địa bàn
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và các phần Phụ lục, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án được cấu trúc trong 4 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết về địa danh học và vấn đề địa danh, địa bàn ở Tây
Thừa Thiên Huế Chương này cung cấp cơ sở lí thuyết về địa danh học và những
thông tin về địa danh, địa bàn nghiên cứu mà đề tài vận dụng và giải quyết trong luận án
Chương 2: Đặc điểm cấu trúc địa danh gốc dân tộc thiểu số ở Tây Thừa
Thiên Huế Chương này đi vào nghiên cứu đặc điểm cấu tạo và định danh của địa
danh gốc dân tộc thiểu số, miêu tả địa danh về phương diện cấu trúc định danh qua
mô hình phức thể địa danh, cấu trúc của yếu tố tổng loại và yếu tố loại biệt, các quy luật chuyển hóa và hoạt động của yếu tố tổng loại
Chương 3: Đặc điểm định danh, ngữ nghĩa và đặc trưng văn hóa của địa
danh gốc dân tộc thiểu số ở Tây Thừa Thiên Huế Chương này tìm hiểu địa danh về
phương diện định danh, ngữ nghĩa và văn hóa của địa danh gốc dân tộc thiểu số, qua
đó, chỉ ra đặc điểm ngữ nghĩa và phương thức định danh của địa danh và các đặc trưng văn hóa tộc người được ký thác qua địa danh
Chương 4: Vấn đề chuẩn hóa chính tả địa danh gốc dân tộc thiểu số trong
văn bản tiếng Việt Chương này đặt vấn đề chuẩn hóa chính tả địa danh gốc dân tộc
thiểu số trong văn bản tiếng Việt là việc làm cần thiết, qua đó, đề xuất giải pháp phiên chuyển địa danh gốc dân tộc thiểu số trong văn bản tiếng Việt hiện nay
Trang 25Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH HỌC
VÀ VẤN ĐỀ ĐỊA DANH, ĐỊA BÀN Ở TÂY THỪA THIÊN HUẾ
1.1 DẪN NHẬP
Địa danh học là một lĩnh vực được nghiên cứu từ lâu trên thế giới, đặc biệt ở Nga, Trung Quốc, các nước Anh - Mỹ Lí thuyết về địa danh học tập trung giải quyết các vấn đề về nguồn gốc, ý nghĩa của tên gọi, các phương thức tiêu biểu, thường gặp được dùng để định danh, gọi tên các đối tượng địa lí xác định trên bề mặt trái đất; việc phân loại, chia nhóm địa danh theo các tiêu chí nguồn gốc ngữ nguyên, đối tượng phản ánh và các tiêu chí ngôn ngữ học khác
Ở Việt Nam, địa danh học được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Nghiên cứu địa danh là hướng nghiên cứu liên ngành văn hóa - ngôn ngữ học, nhân học ngôn ngữ, địa lí - ngôn ngữ học và xã hội- ngôn ngữ học Địa danh học vừa được giảng dạy ở khoa ngôn ngữ học, vừa được giảng dạy ở khoa văn hóa học, địa lí học Để tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa của tên gọi, cũng như các phương diện văn hóa của địa danh cần đến những tri thức và phương pháp liên ngành nói trên Người nghiên cứu vừa phải có tri thức ngôn ngữ học vững chắc, đặc biệt danh xưng học; vừa phải am tường lịch sử, văn hóa và địa lí của vùng đất chứa địa danh
Việc trình bày cơ sở lý thuyết về địa danh học là cần thiết để chỉ ra những nghiên cứu trước đây đã làm được và những vấn đề còn bỏ trống, chưa được đề cập,
từ đó xác định hướng nghiên cứu của đề tài, đặc biệt nghiên cứu địa danh gốc DTTS
ở Việt Nam
Thừa Thiên Huế là một tỉnh đa dân tộc, đa ngôn ngữ Những tri thức về địa lí, văn hóa, tộc người sẽ là những chứng cứ quan trọng chỉ ra quá trình tiếp xúc, giao thoa văn hóa ngôn ngữ giữa các dân tộc trên địa bàn qua hệ thống địa danh
Trong chương này, chúng tôi tập trung vào hai nội dung chính: (1) Trình bày
cơ sở lý thuyết về địa danh và (2) Vấn đề địa bàn, địa danh ở Tây Thừa Thiên Huế
Trang 261.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH HỌC
1.2.1 Khái niệm địa danh
Mỗi vùng đất, mỗi miền quê đều gắn với một tên gọi riêng, cụ thể Những tên gọi này tồn tại trong vốn từ vựng của các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới Những tên gọi địa lí ấy được biểu thị bằng thuật ngữ quốc tế “toponym”, được dịch sang tiếng Việt là “địa danh” hay “tên riêng chỉ đối tượng địa lí” Phân ngành chuyên nghiên cứu về nguồn gốc, ý nghĩa và quá trình biến đổi của địa danh gọi là địa danh
học (Toponymy) Theo Kadmon, “thuật ngữ “toponymy” có nguồn gốc từ các từ ngữ
Hi Lạp: “topos” (name: tên gọi) và “onyma”, hay “onoma” (place: nơi chốn)” Địa danh học là ngành học có liên quan đến mọi khía cạnh, phương diện của địa danh, hoặc là thuần túy về mặt khoa học lí thuyết, hoặc là mang tính thực hành và ứng dụng [176, tr.3].
Khái niệm địa danh tuy đã có nhiều người đề cập tới nhưng cho đến nay vẫn còn thiếu sự thống nhất, mặc dù mọi người đều hiểu địa danh là tên gọi đối tượng địa
lý hay cụ thể hơn là tên đất (một cách chiết tự) như là chấp nhận một điều hiển nhiên
Trong thực tế, địa danh không chỉ là tên gọi của các đối tượng địa lí gắn với vùng đất
cụ thể mà là tên gọi của tất cả các đối tượng địa lí tồn tại trên trái đất Nó có thể là tên gọi của các đối tượng: địa hình tự nhiên, địa lí cư trú hay là công trình do con người xây dựng, tạo lập nên Do vậy, là đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học, khái niệm địa danh cần phải được hiểu ở mức độ rộng hơn, khái quát hơn
Địa danh là lớp từ ngữ nằm trong từ vựng của một ngôn ngữ, được dùng để đặt tên, gọi tên các đối tượng địa lí Vì vậy, nó hoạt động và chịu sự tác động, sự chi
phối của quy luật ngôn ngữ nói chung A.V Superanskaja trong cuốn “Địa danh là gì” đã coi “tên gọi các địa điểm được biểu thị bằng những từ riêng Đó là các tên gọi
địa lý, địa danh hay toponoma” [108, tr.1], và chỉ rõ: “Những địa điểm, mục tiêu địa
lí đó là những vật thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ những vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ nhất (những ngôi nhà, vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên gọi Khác với những vật thể thông thường, những mục tiêu địa lí có hai loại tên: Tên chung để xếp chúng vào
hệ thống cả khái niệm nào đó (núi, sông, thành phố, làng mạc) và tên riêng biệt của từng vật thể” [108, tr.13]
Trang 27Như vậy, địa danh là những từ ngữ biểu thị tên gọi các địa điểm, mục tiêu địa
lí có vị trí xác định trên bề mặt trái đất Theo đó, địa danh phải được nhận diện như là một tổ hợp mang tính cấu trúc gồm hai thành tố: thành tố chung (yếu tố tổng loại), tức các từ ngữ chỉ khái niệm địa lí và thành tố riêng (yếu tố loại biệt), tức yếu tố tên riêng được dùng để gọi tên địa danh
Theo S.A Gardiner, địa danh (place names) là “một từ hoặc cụm từ được
nhận ra thông qua sự biểu thị hoặc nhắm tới biểu thị một vật hay các sự vật mà nó chỉ ra bởi âm thanh phân biệt với nó, mà không hề quan tâm đến bất kỳ ý nghĩa nào
mà nó có gắn với hình thức âm thanh ban đầu, hoặc nhận biết được nó thông qua sự liên kết với vật hay các vật đã nói” [170, tr 43] Quan điểm của Gardiner đã kế thừa
quan điểm triết học của Mill về tên riêng (Mill’s conception of proper names), xem
địa danh như một nhãn mác vô nghĩa (meaningless marks) Địa danh chỉ là dán cái
“nhãn” lên một sự vật nào đó, chứ không mang một ý nghĩa nào về âm thanh biểu thị
sự vật đó
Fellmann, tác giả chuyên luận “Human Geography: Landscape of human
activities”, ở phần “Language on the Landscape: Toponym”, đã quan niệm: “Địa danh, tức là ngôn ngữ đặt trên đất, cũng là bản ghi của các cư dân trong quá khứ, những người duy trì các tên gọi đó, có lúc thay đổi hay làm sai đi, như là các nhắc nhở về sự tồn tại và qua đi của họ” [38] Quan niệm về địa danh như vậy vừa chỉ ra
chức năng định danh, chức năng chỉ xuất của địa danh, vừa gợi dẫn đến chức năng phản ánh hiện thực, chức năng bảo tồn văn hóa cộng đồng của địa danh
Naftali Kadmon trong “Toponymy - the Lore, Laws and Language of
Geographical Names” cho rằng, trong thực tế nghiên cứu, một số tác giả có sự phân
biệt khác nhau giữa bốn khái niệm: Địa danh (toponym), tên địa hình (topographic name), tên địa lí (a geographical name), tên nơi chốn (place name) Ông viết: “địa
danh, còn gọi là tên địa hình (topographic name), là tên riêng được dùng để chỉ nét đặc trưng về mặt địa hình, hoặc là trên trái đất (on Earth) hoặc là trên các thiên thể (heavenly body) như mặt trăng, các hành tinh khác hay một trong những vệ tinh của nó” [176, tr.13] Còn tên địa lí (a geographical name), nói một cách nghiêm ngặt, là
Trang 28một địa danh dùng để chỉ nét đặc trưng về mặt địa hình, địa vật trên trái đất; tên chỉ
nơi chốn (place name) là một thuật ngữ khác được một vài tác giả sử dụng để chỉ
riêng các địa điểm dân cư như thành phố, thị xã, làng mạc, thôn xóm và trang trại Theo ông, điều này thật sự không cần thiết vì các tên gọi nói trên có thể hoán đổi cho nhau để chỉ ra bất kì một nét đặc trưng nào của địa danh ở khắp nơi trên trái đất
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu địa danh học tiếp cận địa danh theo hai khuynh hướng chính là nghiên cứu địa danh theo góc độ địa - văn hoá và nghiên cứu địa danh theo góc độ ngôn ngữ học
Từ cách tiếp cận địa danh theo góc độ địa - văn hoá, Nguyễn Văn Âu quan
niệm: “Địa danh là tên địa lý các địa phương; địa danh học (toponymie) là một môn
khoa học chuyên nghiên cứu về tên địa lý các địa phương” [4, tr.5] Định nghĩa đã
nêu được những nét khái quát nhất về địa danh Tuy nhiên, theo chúng tôi, quan niệm
về địa danh như vậy quá chung chung và đơn giản, chưa nêu bật được bản chất và chức năng của địa danh
Với cách tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra
những cách hiểu không thống nhất về địa danh Lê Trung Hoa coi: “Địa danh là
những từ hoặc ngữ, được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều Trước địa danh có thể đặt một danh từ chung chỉ tiểu loại địa danh đó” [49,
tr.18] Nguyễn Kiên Trường thì cho rằng: “Địa danh là tên chỉ các đối tượng địa lý
tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” [144, tr.16] Trần Văn
Dũng định nghĩa: “Địa danh là tên gọi những đối tượng địa lý tự nhiên và địa lý do
con người kiến tạo” [29, tr.15] Phan Xuân Đạm cũng đã đưa ra cách hiểu của mình
về địa danh: “Địa danh là lớp từ ngữ đặc biệt được định ra để đánh dấu vị trí, xác
lập tên gọi các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn” [33, tr 12] Các cách định
nghĩa trên đều nêu bật được nét đặc trưng cơ bản của địa danh tuy vẫn còn một vài điểm không thống nhất trong cách lí giải địa danh
Về cấu tạo, địa danh có thể là từ hoặc cụm từ Do vậy, chúng ta phải lưu ý đến những đặc trưng ngôn ngữ học của chúng Mặc dù nằm trong những loại hình khác nhau nhưng các địa danh bao giờ cũng xuất hiện trong thực tế với những cá thể độc
Trang 29lập Có thể nói: địa danh là những kí hiệu ngôn ngữ đặc biệt được tạo thành từ một hệ thống kí hiệuđã có để định danh cho một đối tượng cụ thể, xác định.
Để tránh sa vào bàn luận chi tiết hoặc tạo thêm tính phức tạp của vấn đề, trong luận án này, tiếp thu từ những định nghĩa về địa danh đã được nêu ở trên, chúng tôi
quan niệm: Địa danh chính là những từ, cụm từ được sử dụng để gọi tên các đối
tượng, không gian địa lí, các đặc trưng địa hình, địa vật nào đó Địa danh có tác dụng khu biệt, định vị chính những đối tượng, không gian địa lí, những đặc trưng địa hình, địa vật được gọi tên đó với những đối tượng, không gian địa lí, những đặc trưng địa hình địa vật khác trong môi trường xung quanh.
1.2.2.Vấn đề xác định chức năng của địa danh
Chức năng của địa danh thường được các tác giả trình bày dựa vào cách hiểu như thế nào là địa danh Do đó, ở các nhà nghiên cứu khác nhau, các chức năng của địa danh cũng được đề cập không giống nhau Sở dĩ họ gọi tên các chức năng của địa danh không thống nhất là vì mục đích và phương pháp tiếp cận địa danh của họ không giống nhau Nguyễn Kiên Trường [144] cho địa danh có bốn chức năng rất cơ bản: định danh, cá thể hoá đối tượng, phản ánh hiện thực, làm công cụ giao tiếp Phan Xuân Đạm [33] cho rằng địa danh có 2 chức năng: chức năng xã hội và chức năng biểu hiện đặc điểm văn hoá ngôn ngữ của cộng đồng Lê Trung Hoa [46] và [49] lại cho rằng, địa danh có 4 chức năng: chức năng định danh sự vật, chức năng cá thể hoá đối tượng, chức năng phản ánh và chức năng bảo tồn
Có hai vấn đề cần được làm sáng tỏ khi bàn về chức năng của địa danh: Thứ
nhất, địa danh là lớp từ ngữ đặc biệt được định ra để đánh dấu vị trí, xác lập tên gọi
các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn Như vậy, địa danh, trước hết, là các từ và/hoặc ngữ nên nó sẽ mang những chức năng cơ bản như các chức năng của các từ chung trong ngôn ngữ; Thứ hai, lớp từ ngữ tạo nên địa danh để gọi tên các đối tượng
địa lí tự nhiên và nhân văn đó có những đặc điểm khác biệt so với lớp danh từ chung thông thường Vì vậy, địa danh là một trong những kiểu định danh mang tính đặc thù của tên riêng nên cũng có những chức năng đặc thù mà chỉ có tên riêng mới biểu thị Trong luận án này, chúng tôi cho rằng địa danh mang những chức năng quan trọng sau:
Trang 301.2.2.1.Chức năng cá thể hoá đối tượng
Xét về mặt chức năng, một địa danh cũng chính là một tên riêng, do đó, ngay từ
buổi đầu, cái tên riêng này đã có tác dụng đánh dấu, cá thể hóa đối tượng mà nó gọi tên
với những cái xung quanh, lân cận với nó Về chức năng cá thể hoá đối tượng,
Superanskaja cho rằng “Ý nghĩa và chức năng đầu tiên, cũng là ý nghĩa và chức năng cơ
bản nhất, quan trọng nhất của các địa danh - đó là ấn định một vị trí, một địa điểm trên
bề mặt trái đất” [108, tr.1], và chức năng chính của địa danh đó là “phân biệt các đối tượng địa lí Chức năng đó thực hiện tốt như nhau kể cả ở địa danh mà ta biết rõ nguồn gốc, cũng như ở các địa danh mà ý nghĩa của gốc từ đã bị xoá nhoà” [108, tr.82].
1.2.2.2.Chức năng định danh sự vật
Chức năng định danh của địa danh thể hiện ở chỗ nếu thừa nhận ngôn ngữ là
một hệ thống các đơn vị định danh thì cũng như từ, hoặc cụm từ, địa danh “cũng là
những đơn vị định danh Chúng làm thành một tiểu hệ thống riêng biệt và nằm trong
hệ thống các đơn vị định danh ấy” [115, tr.10] Chức năng định danh sự vật là chức
năng quan trọng của tên riêng và địa danh Tên riêng chẳng qua chỉ là một dấu hiệu biểu hiện tính người trước thế giới tự nhiên kỳ bí mà thôi Mất đi những tên riêng, mất đi những địa danh là con người đã mất đi những gì được gọi là dấu hiệu khu biệt giữa những thực thể trong thế giới với nhau, mất đi cả cái khung định vị, khung quy chiếu quan trọng trong môi trường sống của mình
1.2.2.3 Chức năng phản ánh hiện thực
Chức năng phản ánh hiện thực của địa danh thể hiện rõ qua đặc điểm: mỗi địa
danh ra đời trong một hoàn cảnh xã hội và lịch sử nhất định, cụ thể Vì vậy, “địa
danh với tư cách là di sản ngôn ngữ đặc biệt của thời đại mình” [108, tr.9] Nó cũng
giữ trong mình những tư liệu thông tin về văn hoá tinh thần của những người tạo ra
nó (là từ được sử dụng làm cơ sở cho việc đặt tên, lí do đặt tên, mối liên hệ của nó với chức năng văn hoá - lịch sử của đối tượng đã dùng nó để gọi tên)
1.2.2.4 Chức năng bảo tồn văn hóa
Khi thu hút vào mình những thành tố mới, mang tính thời sự đối với mỗi thời kì,
các “địa danh dường như đã “đóng hộp” bảo quản chúng để lưu giữ cho một thời gian
lâu dài Có những từ mà địa danh được cấu tạo ra từ chúng từ lâu đã bị quên lãng,
Trang 31không còn được sử dụng và chỉ còn được giữ lại trong thành phần của địa danh Việc làm sáng tỏ những từ này có ý nghĩa lớn đối với lịch sử ngôn ngữ” [108, tr.86] Và có lẽ,
“mỗi tên gọi, dù ta cảm thấy nó đơn giản và buồn chán đến đâu, cũng là một nhân chứng của những sự kiện đã trôi qua, nó phản ánh nếp sinh hoạt, phong tục tập quán, công việc làm ăn và thế giới quan của tổ tiên chúng ta” [108, tr.108] Đó cũng chính là
những biểu hiện chức năng bảo tồn văn hóa của địa danh Thật có lí khi cho rằng “các
địa danh gắn bó với đời sống văn hoá bằng hằng trăm sợi chỉ vô hình, vì thế mỗi một địa danh đều có thể được coi như một di tích văn hoá của thời đại mình” [108; tr.118].
Như vậy, trong 4 chức năng kể trên, hai chức năng đầu được xem là chức
năng bản chất, gắn với thuộc tính ngôn ngữ của địa danh; còn hai chức năng sau có thể xem là chức năng bổ sung, gắn với thuộc tính văn hoá của địa danh Tính chất
quan trọng của chức năng cá thể hóa đối tượng và chức năng định danh của địa danh
thể hiện ở chỗ: “đối với dân chúng, những người đã tạo ra địa danh và sử dụng
chúng, tên gọi không phản ánh lịch sử, mà dùng để làm dấu phân biệt các đối tượng
Vì thế, đối với cư dân bản địa, ý nghĩa duy nhất của địa danh là ý nghĩa định danh, chứ không phải ý nghĩa lịch sử” [108, tr 82.]; và “ngôn ngữ có chức năng thứ nhất
là chức năng giao tiếp Nhưng khi nó được dùng để đặt tên, chức năng giao tiếp bị thay thế bằng chức năng phân biệt, chức năng đánh dấu, chức năng định danh Lúc này, địa danh chỉ còn giá trị đánh dấu dẫn tới tình trạng ý nghĩa ban đầu vốn có trong ngôn ngữ của cư dân chủ thể mất đi và đồng thời chức năng ngữ pháp trong ngôn ngữ mà nó phát sinh cũng mất đi” [24, tr.31] Do vậy, chức năng quan trọng
nhất của địa danh vẫn là chức năng cá thể hoá đối tượng Vì rằng, “giao tiếp không
thể thực hiện được nếu có yếu tố nào đó được xem là “vô nghĩa”, nhưng vẫn thực hiện được nếu địa danh “vô nghĩa”, chỉ cần biết rằng làng này chứ không phải làng kia” [144, tr.1].
1.2.3.Vấn đề phân loại địa danh
Như đã nói ở trên, vấn đề địa danh đã được quan tâm từ rất sớm nhưng trước đây, các nhà nghiên cứu chủ yếu làm công việc miêu tả đối tượng địa lý Do chưa có đầy đủ về cơ sở lý thuyết cũng như chưa có một phương pháp nghiên cứu thích hợp
Trang 32nên việc tìm hiểu địa danh đôi khi sa vào lối phân tích từ nguyên học dân gian, dẫn
đến sự sai lạc trong nghiên cứu Cho đến nay, các nhà địa danh học vẫn chưa có được
mô hình phân loại khái quát tối ưu nào để có thể dùng chung, phổ biến cho mọi công trình nghiên cứu với những cách tiếp cận, những quan điểm nghiên cứu khác nhau
mà người ta thường chỉ quan tâm đến một loại đối tượng cụ thể theo hướng khai thác của từng cá nhân Vì vậy, việc hệ thống lại các cách phân loại đã có, giúp định hướng cho người nghiên cứu địa danh có cái nhìn hệ thống về cách phân loại địa danh một cách hiệu quả nhất
Từ thế kỷ XIX trở đi, trên cơ sở ra đời của địa danh học, người ta mới chú trọng đến yếu tố ngôn ngữ và xem ngôn ngữ là phương tiện chủ yếu để nghiên cứu địa danh Có thể nhận thấy, sự phân loại địa danh bao giờ cũng phụ thuộc vào mục đích và phương pháp tiếp cận của các nhà nghiên cứu Do vậy, các nhà địa danh học khác nhau thường dành sự ưu tiên cho sự nghiên cứu của mình không giống nhau trong cách tiếp cận và phân loại địa danh Theo Lê Trung Hoa [49] và Nguyễn Kiên Trường [144], địa danh học phương Tây và Xô Viết trước đây phân loại địa danh theo hai tiêu chí: a) Nguồn gốc ngữ nguyên cấu thành địa danh; b) Đối tượng mà địa danh phản ánh
A.Dauzat trong “La toponymie Francaise” phân địa danh theo bốn nhóm ngữ
nguyên: 1) Vấn đề cơ sở tiền Ấn - Âu; 2) Các danh từ tiền Latin về nước trong Thủy danh học; 3) Các từ nguyên Gôloa - La Mã; 4) Địa danh học Gôloa - La Mã của vùng
Auvergne và Velay Ch.Rostaing trong “Les noms des lieux” lại lấy tiêu chí của sự
kết hợp giữa nguồn gốc ngôn ngữ và đối tượng địa lý để phân loại địa danh thành 11 loại khác nhau [49, tr.11]
Với mức độ sâu và rõ ràng hơn, A.V.Superanskaja đã chia địa danh thành 8 loại: Điểm dân cư (oiconim), địa điểm phi dân cư (micro toponim), tên gọi sông (ghiđronim), tên gọi núi (oronim), tên đường phố (hođonim), tên mạng lưới giao thông (đromonim), tên quảng trường (agoronim), tên các công trình bên trong thành phố (urbanonim) [108; tr.3]
Trang 33Trong quá trình nghiên cứu, các nhà địa danh học ở Việt Nam đã đưa ra những tiêu chí phân loại địa danh khác nhau Theo Nguyễn Văn Âu [4], Đặng Xuân Bảng,
trong “Sử học bị khảo”- phần “Địa lý khảo hạ”, đã trình bày địa danh Việt Nam theo
diên cách (sự biến đổi cũ - mới) Cách trình bày này giúp ta tìm hiểu được nguồn gốc của địa danh Về sau, Nguyễn Văn Âu đã dựa trên những đặc tính cơ bản về địa lí và
xã hội để đưa ra cách phân loại địa danh theo loại địa danh, kiểu địa danh và dạng địa
danh Theo đó, địa danh Việt Nam được tác giả phân thành 2 loại địa danh (địa danh
tự nhiên và địa danh kinh tế-xã hội), 7 kiểu địa danh (thuỷ danh, sơn danh, lâm danh, làng xã, huyện thị, tỉnh, thành phố và quốc gia) và 12 dạng địa danh khác nhau (sông
ngòi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng rú, truông -trảng, làng-xã, huyện-quận, thị trấn, tỉnh, thành phố, quốc gia) Mỗi dạng lại có thể phân chia thành các á dạng (tức tên
các đối tượng cụ thể) Theo các nhà nghiên cứu, cách phân chia này “đã loại bỏ hai
mảng địa danh lớn là tên các vùng lãnh thổ và tên các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều như tên cầu, tên đường” [49, tr.15] Có thể thấy rằng, cách
phân loại địa danh của Nguyễn Văn Âu “là không dựa vào các tiêu chí ngôn ngữ học
mà chỉ dựa vào đặc điểm địa lí - xã hội Vì vậy, kết quả phân loại ở đây thiếu lôgic, không tuân theo một trật tự có tính chất khái quát để nghiên cứu địa danh dưới góc
độ ngôn ngữ học” [80, tr.23].
Tác giả Lê Trung Hoa [46], [49] dựa vào đối tượng và căn cứ vào tiêu chí
tự nhiên - không tự nhiên để chia địa danh thành hai loại lớn Đó là địa danh tự nhiên và địa danh không tự nhiên Địa danh tự nhiên là địa danh gọi tên các đối
tượng địa hình thiên nhiên còn địa danh không tự nhiên là địa danh gọi tên các đối tượng nhân tạo Loại địa danh không tự nhiên bao gồm địa danh gọi tên các công trình xây dựng, địa danh gọi tên các đơn vị hành chính và địa danh gọi tên vùng
Mặt khác, căn cứ vào nguồn gốc ngôn ngữ, tác giả này đã phân loại địa danh thành hai nhóm lớn là địa danh thuần Việt và địa danh không thuần Việt Có thể
nói, Lê Trung Hoa là người có ý thức trình bày các vấn đề địa danh đặt trong khung cảnh của ngôn ngữ học, hướng đến tính hệ thống, tính lý thuyết sớm hơn cả
so với các tác giả khác
Trang 34Nguyễn Kiên Trường [144] vận dụng hai tiêu chí mà Lê Trung Hoa [46] đã áp
dụng và bổ sung thêm tiêu chí chức năng giao tiếp của địa danh Dựa vào thuộc tính
đối tượng, tác giả chia địa danh Hải Phòng thành 2 nhóm: a) Nhóm địa danh chỉ đối
tượng địa lý tự nhiên; b) Nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn Dựa vào ngữ
nguyên, tác giả chia địa danh Hải Phòng thành 7 nhóm: 1) Địa danh có nguồn gốc
Hán-Việt; 2) Địa danh có nguồn gốc thuần Việt; 3) Địa danh có nguồn gốc từ tiếng Pháp; 4) Địa danh có nguồn gốc từ phương ngữ Quảng Đông; 5) Địa danh có nguồn gốc khác như Tày-Thái, Việt-Mường, Môn-Khmer, Chăm, Mã Lai; 6) Địa danh có
nguồn gốc hỗn hợp; 7) Địa danh chưa xác định được nguồn gốc Dựa vào chức năng
giao tiếp, tác giả chia địa danh ra 4 loại: 1) Loại địa danh có tên gọi chính thức do
nhà nước đặt và có trong các văn bản hành chính; 2) Loại địa danh theo cách gọi dân gian (tên quen gọi trong dân gian); 3) Loại (địa danh) tên cũ, tên cổ; 4) Loại (địa danh) tên khác [144, tr45-50]
Phan Xuân Đạm [33, tr.103-109] vừa tiếp thu những ý kiến các tác giả đi trước, vừa khắc phục được những chỗ bất ổn trong bảng phân loại địa danh, đã phân chia địa
danh theo thành tố chung và phân thành các trường từ vựng - ngữ nghĩa Theo tiêu chí tự
nhiên và không tự nhiên, tác giả chia địa danh Nghệ An ra thành 2 loại lớn, 5 kiểu loại nhỏ
và 91 dạng Và xét theo ngữ nghĩa, ông cũng đã quy loại hệ thống địa danh ở Nghệ An
thành 6 trường từ vựng ngữ nghĩa (Trường từ vựng - ngữ nghĩa các địa danh về núi non sông nước; trường từ vựng - ngữ nghĩa các địa danh về đồng ruộng; trường từ vựng - ngữ nghĩa các địa danh về công trình xây dựng; trường từ vựng - ngữ nghĩa các địa danh về đường phố; trường từ vựng - ngữ nghĩa các địa danh về các đơn vị dân cư; trường từ vựng
- ngữ nghĩa các địa danh gắn với đời sống văn hoá tinh thần)
Rõ ràng, tuy rất khó khăn nhưng việc phân loại theo ngữ nguyên là cần thiết Chỉ làm như vậy, chúng ta mới có thêm nhiều cứ liệu về địa danh, qua đó chứng minh được nhiều vấn đề từ nguồn gốc tộc người đến ngôn ngữ - văn hoá Hơn nữa, một trong những nội dung cơ bản của địa danh học là nghiên cứu nguồn gốc của địa danh Do vậy, nếu bám sát cách phân loại này, kết quả nghiên cứu có được sẽ giúp ta thấy rõ đặc điểm cấu tạo của địa danh, cũng như lí do định danh, sự thay đổi, chuyển hoá và ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh
Trang 35Để phân loại “Địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Tây Thừa
Thiên Huế”, chúng tôi vận dụng cả hai tiêu chí: tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên và
tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ các địa danh Đây là cách phân loại phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài luận án Hơn nữa, việc quy nhóm địa danh theo ý nghĩa cũng là tiêu chí được chúng tôi áp dụng để tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa các địa danh ngôn ngữ DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế với những điều chỉnh cần thiết sao cho phù hợp với thực tế địa bàn nghiên cứu Kết quả phân loại địa danh được chúng tôi trình bày rõ ràng và chi tiết ở chương 2 của luận án
1.2.4.Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học
1.2.4.1.Quan hệ giữa địa danh học với ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp học
Nghiên cứu về vị trí của địa danh học trong mối quan hệ với các chuyên ngành ngôn ngữ học khác, các nhà nghiên cứu đi trước đã vạch ra được mô hình có tính chất thống nhất Đối với ngôn ngữ học, địa danh học cũng đóng góp nhiều tư liệu quý, nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ Địa danh học vừa là “thành tố” vừa là “đối tác'” của ngôn ngữ học
Được hình thành từ các chất liệu ngôn ngữ gồm vỏ âm thanh, có nội dung, ý nghĩa được xác định bởi quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố cấu tạo (trong những trường hợp gồm nhiều yếu tố), nên địa danh mang đầy đủ đặc tính ngôn ngữ; cũng vì vậy, địa danh học có quan hệ với ngữ âm học, từ vựng học và ngữ pháp học Nhưng địa danh thường gắn với một địa bàn cụ thể nên cũng là đối tượng của phương ngữ
học Tuy nhiên, “địa danh học thuộc hẳn về từ vựng học” [144, tr.20] Về vấn đề này,
nhà địa danh học người Nga Superanskaja [108] đã chỉ ra rằng:
Vị trí đặc biệt của danh từ riêng trong ngôn ngữ có thể ví với các vị trí tách biệt của các hành tinh trên quỹ đạo của mình Nếu từ vựng được coi là mặt trời mà các hành tinh khác quay xung quanh nó, thì mỗi hình thái từ vựng riêng (các địa danh, tên người, thuật ngữ khoa học, các danh mục khác)
có thể coi là những vệ tinh riêng kèm theo của vốn từ vựng chung Ở đây, mỗi loại hình thái đều nằm trong một quỹ đạo riêng của mình và vì thế không đụng chạm đến các hình thái khác [108, tr.2]
Trang 36Nhận xét này cũng đã chỉ rõ mối quan hệ của địa danh với vốn từ chung trong
hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ
1.2.4.2.Vị trí của địa danh học trong ngành danh xưng học
Trong từ vựng học có một phân ngành nhỏ là danh xưng học (onomastics),
chuyên nghiên cứu về các qui luật, phương thức định danh nói chung Trong thực tế
nghiên cứu, việc xếp địa danh trong bảng phân loại các tên riêng trong môn danh
xưng học ở những tác giả khác nhau đôi lúc cũng chưa có chỗ thống nhất
Phạm Tất Thắng [115, tr 20] xếp địa danh nằm vị trí thứ 8 trong 13 loại tên riêng Về sau, trong công trình [110], tác giả phân tên riêng thành 11 loại, trong đó địa danh không tách thành một loại tên riêng độc lập, còn tên riêng chỉ thánh thần (thần danh) không tách thành một tiểu loại riêng trong bảng phân loại này
Sir Alan Gardiner [170, tr.43-54] đã xếp địa danh là một trong 7 loại tên riêng
sau: 1) Tên gọi các thiên thể (Cesletial bodies), 2) Địa danh (Place names), 3) Nhân
danh (Personal names), 4) Tên gọi động vật, nhà cửa, tàu thuyền (Ships, houses,
animals), 5) Tên gọi các loài chim, thực vật có nguồn gốc La Tinh và tiếng Anh (English and Latin names of birds, plants), 6) Tên các tháng và các ngày trong tuần,
ngày lễ (Month names and days of week, Feast days) và 7) Các tên gọi có tính hoang đường thần thoại và hư cấu (Mythological and fiction names).
John M Anderson cho rằng địa danh thuộc vào một trong 8 loại tên gọi trong
ngôn ngữ học: Nhân danh (Personal names), Địa danh (Place names), tên gia đình,
dòng họ (Family names), Tộc danh (Ethnic names), Thương hiệu (Corporate names)
và Tên các loài vật (Generic names), Tên gọi bằng cách ghép số (numeral based names) và Tên gọi bằng các cụm từ (Names based phrases) [162, tr.295].
Như vậy, địa danh học là một bộ phận của danh xưng học, thuộc từ vựng học Bản thân địa danh học cũng được chia làm các tiểu ngành nhỏ hơn như sơn danh học, thuỷ danh học, phương danh học và phố danh học Có thể minh hoạ vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học theo sơ đồ sau đây:
Trang 37Sơ đồ 1.1:Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học
1.2.5 Mối quan hệ giữa địa danh học với các ngành khoa học khác
Là sản phẩm của quá trình nhận thức và định danh, địa danh còn chịu tác động của các yếu tố ngoài ngôn ngữ: Đặc điểm tộc người, lịch sử, chính trị thời đại, tâm lý
xã hội Cùng với tác động của quy luật ngôn ngữ, các yếu tố ngoài ngôn ngữ đã tạo nên đặc điểm văn hóa của địa danh Những thông tin qua địa danh cung cấp cho ta nhiều tài liệu quý về dân tộc, lịch sử, văn hóa, địa lý, kinh tế, xã hội
Đối với nhân học, hệ thống địa danh là chứng nhân đáng tin cậy của quá trình
hình thành một cộng đồng, nơi cư trú của một tộc người nào đấy Căn cứ vào thời gian xuất hiện của địa danh, ta có thể biết được thời điểm định cư, địa bàn sinh sống của một cộng đồng
Đối với sử học, hệ thống địa danh đều ít nhiều ghi dấu ấn qua những sự kiện,
những biến động lịch sử trên địa bàn Đồng thời qua lịch sử, ta có thể dễ dàng xác định được nguồn gốc ngữ nguyên và các phương thức định danh Có thể nói, việc nghiên cứu địa danh cần hỗ trợ của những khoa học ngoài ngôn ngữ học, trong đó lịch sử đóng vai trò quan trọng hơn cả
Với địa lý học, qua địa danh, chúng ta biết được cảnh quan thiên nhiên, đặc
điểm địa hình của địa bàn Địa danh giúp ta tìm kiếm một con sông, ngọn núi, đặc điểm sinh thái, giúp hiểu được điều kiện, môi trường cuộc sống của người xưa
Với văn hóa học, các đặc điểm chính trị - xã hội, đặc điểm tâm lý, tôn giáo, về
chính sách, sự quản lý hành chính, trong việc phân vùng lãnh thổ, điều chỉnh địa giới
Trang 38của chính quyền nhà nước qua các thời kỳ, trong xu hướng đặt tên mới, thay tên cũ, đều được phản ánh qua địa danh Đồng thời, những vấn đề của văn hóa học giúp địa danh học xác định được các phương thức định danh, các lớp địa danh, sự biến đổi của địa danh và nguyên nhân của chúng Các mối quan hệ nêu trên được thể hiện bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa địa danh học với các ngành khoa học khác
Như vậy, có thể nhận xét rằng, địa danh học có quan hệ mật thiết với nhiều ngành khoa học ngoài ngôn ngữ Nhưng ngôn ngữ học mới là một ngành khoa học có liên quan trực tiếp chặt chẽ, có tác động qua lại đặc biệt đối với địa danh học Lưu ý sau đây của Superanskaja [108] luôn nhắc nhở cho các nhà địa danh học cẩn trọng hơn trong việc xác định đối tượng và phương pháp nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn ngôn ngữ học:
Địa danh học - đó là một chuyên ngành của ngành ngôn ngữ học, nghiên cứu về lịch sử hình thành, thay đổi và chức năng của các tên gọi địa lí Thành tố lịch sử trong địa danh học là bắt buộc Nhưng đây không phải là lịch sử của một quốc gia và một dân tộc, mà là lịch sử ngôn ngữ Thành tố địa lí cũng không xa lạ với ngành địa danh học Nhưng đây cũng là môn địa lí ngôn ngữ học đặc biệt, nghiên cứu sự “phân bố” của các từ riêng lẻ và thậm chí cả những sắc thái riêng một số từ trên khắp bề mặt trái đất, nghiên cứu “hành trình du lịch” của một số từ,
“sự xâm nhập” của chúng sang lĩnh vực khác [108, tr.4]
1.2.6 Các hướng tiếp cận địa danh từ góc độ ngôn ngữ học
Mục đích nghiên cứu địa danh học hiện nay là khảo sát địa danh của từng vùng, miền để khái quát lên những đặc điểm của địa danh Việt Nam một cách có hệ thống về đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa, phương thức định danh và đặc trưng văn hóa
Trang 39Sau đó đối chiếu với địa danh của các nước khác nhằm làm nổi bật những đặc điểm
cơ bản của địa danh ở Việt Nam trong sự phát triển riêng và sự giao thoa ảnh hưởng chung với các dân tộc, các quốc gia có quan hệ Có nhiều hướng tiếp cận địa danh hiện nay Từ góc độ ngôn ngữ học, có thể chỉ ra các hướng tiếp cận địa danh thường được áp dụng ở Việt Nam là:
-Tìm hiểu phương thức định danh, những đặc điểm cấu tạo của địa danh và ý nghĩa của chúng theo hướng đồng đại
- Tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa, sự biến đổi địa danh, sự vay mượn tiếp xúc ngôn ngữ trong cách đặt tên theo hướng lịch đại
- Tiếp cận địa danh dưới góc độ ngôn ngữ - văn hóa: Nghĩa là xem xét địa danh phản ánh những đặc điểm của văn hóa như thế nào và văn hóa được phản ánh qua địa danh ra sao thể hiện qua các yếu tố tổng loại và yếu tố loại biệt trong mô hình phức thể địa danh
- Đặt vấn đề nghiên cứu về chuẩn hóa địa danh trong văn bản tiếng Việt, đề ra phương án viết/ghi địa danh thống nhất phục vụ công tác lập bản đồ và chuẩn hóa tên riêng tiếng Viết trên các phương tiện thông tin đại chúng
Nghiên cứu địa danh nhằm chỉ ra các đặc điểm: cấu tạo, ý nghĩa, phương thức định danh, nguồn gốc ban đầu của địa danh, các đặc trưng văn hóa địa danh và vấn
đề chuẩn hóa địa danh trong môi trường xã hội đa ngữ là hướng tiếp cận địa danh được chúng tôi triển khai trong luận án khi nghiên cứu địa danh gốc DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế Đó cũng là cách tiếp cận liên ngành về địa danh đang được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước áp dụng phổ biến hiện nay
1.3 VỀ ĐỊA BÀN, ĐỊA DANH TÂY THỪA THIÊN HUẾ
1.3.1 Giới thiệu chung về Thừa Thiên Huế
1.3.1.1.Về địa lí
Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm ở duyên hải miền Trung Việt Nam bao gồm phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông Phía bắc, Thừa Thiên Huế giáp tỉnh Quảng Trị; phía nam giáp tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng; phía tây, giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; phía đông, tiếp giáp với biển Đông
Trang 40Thừa Thiên Huế có bờ biển dài 120 km, có đường sắt xuyên Việt, có 81 km biên giới với Lào, tọa lạc trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc - Nam, trục hành lang Đông - Tây nối Thái Lan - Lào - Việt Nam theo đường 9 Vị trí địa lý như trên
đã tạo điều kiện thuận lợi cho Thừa Thiên Huế phát triển mở rộng giao lưu kinh tế - văn hóa - xã hội với cả nước và quốc tế
1.3.1.2.Về lịch sử
Vùng đất Thừa Thiên Huế ngày nay thuộc 2 Châu Ô, Lý mà vua Chămpa (Chế Mân) cắt dâng cho Đại Việt vào năm 1307 để cưới công chúa Huyền Trân Thừa Thiên Huế, thời nhà Trần thuộc Trấn Thuận Hóa; thời Minh thuộc, thuộc phủ Thuận Hoá; thời Lê Lợi đổi thành lộ Thuận Hoá; thời vua Lê Thánh Tông, thuộc xứ Thuận Hóa Tên gọi và địa giới hành chính tỉnh Thừa Thiên Huế thay đổi qua thời kỳ khác nhau và ổn định từ sau năm 1989 đến nay Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2010, về mặt hành chính, tỉnh Thừa Thiên Huế có 152 đơn vị hành chính, bao gồm một thành phố loại I trực thuộc tỉnh (Huế) và 7 huyện (Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Phú Lộc, Nam Đông, A Lưới), với 112 xã, 32 phường, 1 thị
xã, 7 thị trấn huyện lị
Huế là một vùng đất địa linh nhân kiệt Nơi đây đã được chọn làm kinh đô của Đàng Trong (năm 1558), rồi kinh đô của triều đại Tây Sơn (1788 - 1802) và của vương triều Nguyễn (1802 - 1945) Suốt 4 thế kỉ, Thừa Thiên Huế đã từng là trung
tâm chính trị, văn hóa của nhà nước phong kiến Việt Nam Theo dặm dài lịch sử,
Thừa Thiên Huế đã hình thành nên vùng văn hoá giàu bản sắc, hội tụ tinh hoa của các dòng văn hoá người Việt cổ thời sơ sử; phức hệ văn hoá Đông Sơn, Sa Huỳnh, Đồng Nai; văn hoá Đại Việt trong sự giao lưu và tiếp xúc với văn hoá Chăm; nguồn văn hoá DTTS của cư dân bản địa nói ngôn ngữ nhóm Katuic, chi Môn-Khmer, ngữ hệ Nam Á, định cư trên dãy Bắc Trường Sơn
Thừa Thiên Huế là tỉnh có truyền thống Cách mạng trong 2 cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Nhiều đồng chí người DTTS đã cống hiến hết mình cho tổ quốc, góp phần vào công cuộc giải phóng đất nước của cả dân tộc như Hồ Vai, Kan Lịch,…; Nhiều đồng bào DTTS tự nguyện mang họ Hồ để quyết tâm theo Đảng, Bác
Hồ phục vụ Cách mạng