Là những chiến sỹ trong Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung và cán bộ, chiến sỹ trong LLVT tỉnh Hải Dương nói riêng được kế thừa những truyền thống đánh giặc giữ nước hàng nghìn năm của[r]
Trang 1Bài thi tìm hiểu truyền thống
“LLVT tỉnh Hải Dương-65 năm một chặng đường”
**********************
Họ và tên: Phạm Thị Biên
Đơn vị: Trường THCS Tân Trào
Câu 1: Tỉnh đội Hải Dương (nay là Bộ chỉ huy quân sự tỉnh) được thành
lập ngày, tháng, năm nào? ở đâu? Ai là Tỉnh đội trưởng, Chính trị viên đầu tiên?
Trả lời
Trước yêu cầu của tình hình mới; ngày 19 tháng 2 năm 1947, Bộ Quốc phòng ra Thông tư số 33/TT-ĐB cho Uỷ ban kháng chiến các cấp, chỉ huy Vệ quốc
đoàn, Phòng Dân quân, Chính trị cục về việc “Tổ chức dân quân Việt Nam” Thực hiện Thông tư đó, ngày 27 tháng 3 năm 1947 Uỷ ban kháng chiến tỉnh đã giải tán
Uỷ ban Bảo vệ tỉnh, thành lập Tỉnh đội bộ và phân công đồng chí Đặng Tính - Nguyên uỷ viên Uỷ ban Bảo vệ làm Tỉnh đội trưởng, đồng chí Tô Thiện - Nguyên Tỉnh uỷ viên là Chính trị viên đầu tiên của Tỉnh đội Hải Dương
Lễ công bố quyết định thành lập Tỉnh được tổchức tại thôn Phù Tải - xã Thanh Giang - huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dương Sau khi Tỉnh đội Hải Dương ra
đời các huyện đội, xã đội lần lượt có quyết định thành lập Từ khi được thành lập dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ, Tỉnh đội đã phát huy tốt chức năng, quyền hạn chỉ huy, điều hành các hoạt động chiến đấu và xây dựng các LLVT trong tỉnh
Với những sự kiện lịch sử trên, ngày 01 tháng 1 năm 1998 Bộ Tư lệnh Quân khu 3 đã ra quyết định công nhận ngày 27 tháng 3 năm 1947 là ngày thành lập Tỉnh đội - Ngày truyền thống LLVT tỉnh Hải Dương
Câu 2: Nêu những trận đánh tiêu biểu của quân và dân tỉnh Hải Dương
trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (nêu các trận đánh điển hình đánh địch trên đường sắt, đường 5, đánh địch trên đường sông
và một số hình thực chiến thuật khác)
Trả lời:
* Một số trận đánh tiêu biểu của quân và dân tỉnh Hải Dương trong kháng chiến chống thực dân Pháp
Trên đường sắt:
1 Ngày 17 tháng 7 năm 1953, Bộ đội huyện Kim Thành tổchức đánh mìn trên đường sắt cách cầu Lai Vu 1 km, thời gian này đang là mùa nước, nước dâng
Trang 2cao trừ đường sắt không bị ngập Các chiến sỹ đã đội bèo, ngoi nước vào đặt mìn, kiên trì đợi thời cơ thuận lợi để tiêu diệt địch 10 giờ ngày 25 tháng 7 năm 1953 thì tàu địch chạy đến, các chiến sỹ đã nổ mìn làm lật đổ đoàn tàu 27 toa, trong đó có 8 toan trở đầy lính, diệt hơn 60 tên Trận đánh này làm tê liệt, gián đoạn việc vận chuyển của địch trên tuyến đường huyết mạch; đồng thời thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích trên tuyến đường sắt và đường số 5
2 Ngày 31 tháng 1 năm 1954 trận đánh ga Phạm Xá - Kim Thành tiêu diệt và làm bị thương 1017 tên, 4 toan tàu bị phá huỷ Trận đánh này đã làm tê liệt việc vận chuyển của địch trên tuyến đường huyết mạch này trong một thời gian dài
hỗ trợ đác lực cho chiến trường chính Điện Biên Phủ giành thắng lợi, đồng thời thúc
đẩy phong trào chiến tranh du kích trên tuyến đường sắt và đường số 5
Trên đường 5.
1 Đêm 21 tháng 12 năm 1946 lực lượng Cảnh vệ chiến đấu, Tự vệ thành tập kích 1 Trung đội Lê Dương ở Trường Con Gái kề trên tuyến đường 5 cũ (nay là
địa điểm Trường THCS Bạch Đằng - Đại lộ Hồ Chí Minh - phường Trần Phú - TP Hải Dương), diệt và bắt sống 1 Trung đội lính Lê Dương
Đây là trận đánh tiêu biểu trong đợt tiến công địch trên tuýen đường 5, nhằm cắt đứt liênlạc đường bộ Hà Nội - Hải Phòng theo chỉ đạo của Bộ tổng chỉ huy giao cho Chiến khu 3 Sau chiến thắng Trường Con Gái, ta tiếp tục tiến công
địch ở một số điểm thuộc thị xã Hải Dương, đã làm cho quân địch khi cơ động trên tuyến đường 5 từ Hải Phòng đi Hà Nội gặp rất nhiều khó khăn khi qua Cầu Lai Vu, Cầu Phú Lương và nhất là đoạn qua thị xã Hải Dương Trận đánh là một chiến công
đặc sắc, mở màn cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống quân Pháp xâm lược trên chiến trường Miền Bắc, gợi mở cho quân ta nhiều cách đánh sau này
2 Ngày 17 tháng 7 năm 1948, du kích xã Kim Giang (huyện Cảm Giàng) hoá trang vào quán Tú La, dùng đòn gánh, cào, cuốc bất ngờ đánh bọn gác đường, diệt 3 tên thu 1 súng Trận “Đòn gánh đánh Tây” ở quán Tú La có ý nghĩa: Ta đánh thẳng vào nơi trọng điểm, bằng nhiều lực lượng tại chỗ và vũ khí thô sơ khi không
có yêu tố bất ngờ thường xuyên vì địch luôn luôn canh phòng cẩn mật
Trên đường sông:
1 Ngày 25 tháng 3 năm 1948 Du kích tập trung của huyện Thanh Hà và
du kích xã Hợp Đức, huyện Thanh Hà đã bắn chìm 1 ca nô địch trên Sông Gùa, diệt
60 tên địch
Trang 3Với chiến công này lực lượng du kích Thanh Hà đã được nhân dân trong vùng ca ngợi:
“…Bốn anh du kích Thanh Hà Bắn ca nô đắm chan hoà máu tây”.
2 Trận phục kích gần Đò Mép (Sông Tứ Kỳ).
Tháng 4 năm 1950 một trung đội của Đại đội 77 và Du kích xã Minh Đức
đã dùng một khẩu Bazôca, một số súng bộ binh bắn vào ca nô địch; chiếc ca nô chở lương thực, đạn dược, có 20 tên lính áp tải, vừa đến đoạn sông trên ta nổ súng ca nô
địch trúng đạn chìm ngay, toàn bộ lính thiệt mạng; từ đây việc tiếp tế đường sông của địch gặp khó khăn đồng thời đã cổ vũ mạng mẽ tinh thần quân và dân trong vùng càng hăng hái đánh giặc
Trận đánh công đồn:
Ngày 03 tháng 12 năm 1953 ta tiến công đồn phương điếm (Gia Lộc)
Đây là một vị trí lớn của địch trên đường số 17, cách thị xã hải Dương 10 km Lực lượng địch đóng quân ở tiểu khu này thường xuyên từ 2 đại đội đến 1 tiểu đoàn,
được trang bị hoả lực mạnh; vị trí này còn được xây dựng nhiều lô cốt kiểu boo-ke Tham gia trận đánh này lực lượng ta gồm 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 42 phối hợp với nhân dân địa phương bí mật dấu quân Đến đêm ta dùng sức mạnh hoả lực bắn phá công sự của địch; bộ đội xung phong tiêu diệt địch làm chủ tiểu khu Phương
Điếm, diệt 82 tên, bắt 48 tên, thu nhiều vũ khí của địch
6 giờ ngày 04 tháng 12 năm 1953 địch huy động 2 tiểu đoàn ứng chiến của Liên khu Bắc xuống đánh vị trí Phương Điếm Tiểu đoàn Trần Quốc Tuấn cùng
1 tiểu đoàn của Trung đoàn 42 chặn đánh quân địch quyết liệt, diệt hơn 200 tên phá huỷ một số xe quân sự
Chiến thắng Phương Điếm khẳng định bước trưởng thành của quân dân ta, đánh dấu thời kỳ hoạt động mạnh mở đầu Đông xuân 1953-1954 trên địa bàn Hải Dương
Trận chống càn:
Trận chống càn của du kích thôn Nhân Kiệt-xã Hùng Thắng-huyện Bình Giang trong 2 ngày 06,07 tháng 2 năm 1954 đã làm thiệt hại nặng một tiểu đoàn thuộc Binh đoàn cơ động số 3 (GM3) của quân đội Pháp có máy bay, xe tăng và pháo binh yểm trợ
Với cách đánh thông minh, sáng tạo, dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân hiểm hóc, du kích thôn Nhân Kiệt phối hợp chiến đấu với một bộ
Trang 4phận của bộ đội địa phương đã bám đất, bám làng đánh thiệt hại một lực lượng lớn của địch có máy bay và pháo binh yểm trợ Trận chống càn thắng lợi đã góp phần nâng cao tinh thần chiến đấu, lòng tin vào khả năng chiến đấu của
du kích đối với quân và dân trong vùng: Động viên phong trào cho toàn dân
đánh giặc giữ làng; qua đó vùng tự do cỉa tỏnh ngày càng được mở rộng ở khu Bắc huyện Bình Giang
Hoá trang kỳ tập:
Ngày 14 tháng 8 năm 1950, 1 Trung đội của Đại đội Quốc Tuấn cùng du kích Nghĩa An (huyện Ninh Giang) gồm 30 người, trà chộn vào làm phu xây đồn Cầu Ràm; lợi dụng lúc địch ăn cơm trưa, sơ hở bất ngờ đồng loạt xung phong, dùng toàn cuốc, xẻng, gậy gộc diệt 28 tên, thu 3 Trung liên, 2 tiểu liên, 1 số súng trường, một súng ngắn; ta bị thương 1 đồng chí Đây là trận đánh táo bạo, hiệu quả và dữ
được bí mật, bất ngờ, vì lực lượng đi phu của ta đã làm cho địch cả tuần mà không
bị lộ Đây cũng là trận đánh có sự chuẩn bị công phu, có sự phối hợp giữa bộ đôi, dân quân du kích
Kết hợp “Nội công ngoại kích” với “Mật tập” xoá sổ bốt liên hiệp Pháp Tiền Tiến.
Ngày 11 tháng 8 năm 1953 Đại đội 77 cùng bộ đội huyện và du kích huyện Thanh Hà từng bước cơ động áp sát mục tiêu, khi bộc phá các hướng lần lượt nổ tung các hàng rào và lô cốt con, đã nhanh chóng dập tắt các ổ kháng cự còn lại, uy hiếp và tràn vào bắt tù binh, thu vũ khí, thu chiến lợi phẩm Cuộc chiến đấu diễn ra nhanh, chỉ khoảng 40 phút, ta đã làm chủ trận
địa, tiêu diệt, bắt và làm bị thương 104 nguỵ binh, 8 tên lính Âu Phi; thu 8 Đại liên, 10 trung liên, 75 Tiểu liên, 3 súng cối 81 ly, 130 súng trường, 4 cácbin, 3 súng ngắn Trong trận này ta bị thương 4, không có ai hy sinh Trận đánh này của Đại đội 77 có một bước tiến mới kết hợp “Nội công ngoại kích” với “Mật tập” thành công rực rỡ, thắng nhanh, bắt được nhiều lính, thu cả kho vũ khí
mà ta không ai hy sinh
* Một số trận đánh tiêu biểu của quân và dân tỉnh Hải Dương trong chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ xâm lược:
1 Trận chiến đấu bắn rơi 01 máy bay giặc Mỹ của Nữ dân quân xã Tráng Liệt huyện Bình Giang:
Ngày 31 tháng 3 năm 1968 Trung đội dân quân xã Tráng Liệt-huyện Bình Giang hành quân cơ động đến bãi giáp Sông Luộc gần bến Đò Tranh
Trang 5thuộc địa phận huyện Phụ Rực-tỉnh Thái Bình và tại đây đã bắn rơi 01 máy bay Mỹ A-6A bằng súng máy cao xạ 12,7 ly Đây là chiến công của Trung đội Nữ mà tất cả chị em đều theo đạo Thiên chúa giáo, chiến công thể hiện tinh thần “toàn dân một ý trí” không phân biệt giáo, lương cùng đồng tâm hiệp lực quyết tâm đáng thắng giặc Mỹ xâm lược Chiến công đúng vào giờ phút cuối cùng buộc đế quốc Mỹ phải tuyên bố kết thúc cuộc chiến tranh phá hoại ở Miền Bắc, tạo khí thế thi đua mới, nâng cao tinh thần chiến đấu của quân và dân tỉnh Hải Dương
2 Trận chiến đấu bắn rơi 03 máy bay Mỹ bảo vệ cầu Phú Lương:
Ngày 23 tháng 12 năm 1965 Mỹ đã sử dụng máy bay các loại đánh phá cầu Phú Lương Trước khi đánh phá chúng còn cho máy bay thả vật gây nhiễu và dựa vào các triền sông, sườn núi ở khu vực huyện Kinh Môn để tiép cận mục tiêu, thực hành công kích Với tinh thần cảnh giác cao các lực lượng Phòng không của ta đã bình tĩnh hiệp đồng bắn rơi 03 mãy bay của
địch, trong đó có 01 chiếc bị bắn rơi ngay tại chỗ Đây là trận đánh tiêu biểu diễn ra trong thời gian dài 25 phút, tính chất vô cùng ác liệt, quân Mỹ trút xuống khu cầu 80 quả bom (loại từ 200 kg đến 900 kg), có 1 quả trúng nhịp cầu thứ 2 làm đứt đôi đường xe lửa; đồng thời đây cũng là trận tiêu diệt nhiều máy bay Mỹ
3 Trận chiến đấu bắn rơi 4 máy bay giặc Mỹ bảo vệ cầu Lai Vu (lần thứ 2).
Ngày 17 tháng 11 năm 1965 đế quốc Mỹ huy động một lực lượng mạnh gồm 34 máy bay chiến đấu loại F4H, F8U, A3D đánh phá cầu Lai Vu lần thứ 2 các đơn vị Pháo phòng không, dân quân du kích các xã Đồng Lạc, Cộng Hoà, Ai Quốc huyện Nam Sách đã nêu cao tinh thần cảnh giác kịp thời
nổ súng đánh trả Không quân địch; ngay từ những phút đầu, các trận địa phòng không của ta đã nhả đạn tạo thành lưới lửa dày đặc tầm thấp, tầm cao vây chặt máy bay địch Kết quả ta đã bắn rơi 04 máy bay địch (1 chiếc rơi tại Quý Cao-Tứ Kỳ, còn 03 chiếc bốc cháy rơi tại tỉnh Thái Bình) Đây là trận chiến đấu vô cùng ác liệt kẻ địch đã sử dụng 50% lực lượng không quân tham chiến đánh vào trận địa của ta Với ta các đơn vị đã chủ động hiệp đồng chiến
đấu liên tục; phối hợp bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương có 43 chốt của dân quân du kích các xã khu vực; bay đến đâu máy bay địch cũng vấp phải lưới lửa dày đặc của bộ đội và dân quân du kích Từ chỗ quân địch chủ động, khi
Trang 6gặp lưới lửa phòng không nhiều tầng của ta, kẻ địch hoàn toàn lúng túng bị
động không thực hiện ý đồ bắn phá cầu
Câu 3: Nêu những thành tích; sự hy sinh, đóng góp to lớn của quân và
dân tỉnh Hải Dương trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc và công cuộc đổi mới?
Trả lời
Dưới sự lãnh đạo của Đảng quân và dân tỉnh ta đã phát huy truyền thống quê hương, chiến đấu kiên cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, lập nhiều chiến công thành tích xuất sắc:
* Những thành tích: Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
quốcMỹ xâm lược quân và dân tỉnh ta đã phối hợp với các đơn vị chủ lực tổ chức chiến
đấu 16.317 trận lớn, nhỏ (chống Pháp 13.681 trận, chống Mỹ 2.636 trận_; tiêu diệt 38.733 tên địch (chống Pháp); bắt sống và gọi hàng 27.805 tên (chống Pháp); thu 8.011 khẩu súng các loại, 45 khẩu pháo và hàng triệu viên đạn; phá huỷ 121 đầu máy, 912 toa
xe lửa và 762 xe quân sự, 25 ca nô, tàu chiến; tháo gỡ 534 quả bom các loại, phá 1.471 quả bom các loại; bắn rơi 83 máy bay Mỹ (13 chiếc do LLVT địa phương bắn rơi, 70 chiếc do các đơn vị bộ đội đứng chân trên địa bàn tỉnh bắn rơi)
* Sự hy sinh đóng góp:
- Số người huy động vào bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là: 323.560 người
- Những đóng góp về lương thực, thực phẩm: Trong 20 năm chống Mỹ cứu nước (1955-1975) mỗi năm huy động từ 7.000 đén 10.000 tấn lương thực, thực phẩm (Đặc biệt năm 1974 hơn 13.000 tấn) được trê ncông nhận là một trong những tỉnh đóng góp nhiều nhất cho Nhà nước về lương thực, thực phẩm
- Số thương binh và người được hưởng chính sách như thương binh của tỉnh ta trong các thời kỳ (tính đến thời điểm tháng 10 năm 2011) là: trên 21.000 người
- Số liệt sỹ của tỉnh ta qua các thời kỳ (đến nay) là gần 40.000 người
- Số bệnh binh của tỉnh ta là gần 10.000 người
Câu 4: Đồng chí (anh, chị và các bạn) cho biết đến nay (tháng 10 năm 2011)
tỉnh Hải Dương có bao nhiêu tập thể, cá nhân được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, bao nhiêu bà Mẹ dược Đảng, Nhà nước phong tặng, truy tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng và có bao nhiêu đồngchí sỹ quan trong quân đội nhân dân Việt Nam được phong quân hàm sỹ quan cấp tướng?
Trang 7Trả lời:
* Những tập thể, cá nhân được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân của tỉnh hải Dương (tính đến tháng 10 năm 2011)
- 78 tập thể bao gồm:
1 Nhân dân và LLVT nhân dân tỉnh Hải Dương
2 Nhân dân và LLVT nhân dân huyện Nam Sách
3 Nhân dân và LLVT nhân dân huyện Kinh Môn
4 Nhân dân và LLVT nhân dân huyện Kim Thành
5 Nhân dân và LLVT nhân dân huyện Thanh Miện
6 Nhân dân và LLVT nhân dân huyện Gia Lộc
7 Nhân dân và LLVT nhân dân huyện Cẩm Giàng
8 Nhân dân và LLVT nhân dân huyện Bình Giang
9 Nhân dân và LLVT nhân dân huyện Chí Linh
10 Nhân dân và LLVT nhân dân thành phố Hải Dương
11 Nhân dân và LLVT nhân dân huyện Thanh Hà
12 Nhân dân và LLVT nhân dân huyện Ninh Giang
13 Nhân dân và LLVT nhân dân huyện Tứ Kỳ
14 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Minh Tân (Nam Sách)
15 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Nam Tân (Nam Sách)
16 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Đồng Lạc (Nam Sách)
17 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Cộng Hoà (Nam Sách)
18 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Hợp Tiến (Nam Sách)
19 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Lai Vu (Kim Thành)
20 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Cộng hoà (Kim Thành)
21 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Đại Đức (Kim Thành)
22 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Kim Xuyên (Kim Thành)
23 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Duy Tân (Kinh Môn)
24 Nhân dân và LLVT nhân dân xã An Sinh (Kinh Môn)
25 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Hiệp An (Kinh Môn)
26 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Hiệp Hoà (Kinh Môn)
27 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Tân Dân (Kinh Môn)
28 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Hồng Lạc (Thanh Hà)
29 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Tiền Tiến (Thanh Hà)
Trang 830 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Quyết Thắng (Thanh Hà)
31 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Thanh Lang (Thanh Hà)
32 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Thanh Bình (Thanh Hà)
33 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Thanh Hải (Thanh Hà)
34 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Việt Hồng (Thanh Hà)
35 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Cẩm Điền (Cẩm Giàng)
36 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Tân Trường (Cẩm Giàng)
37 Nhân dân và LLVT nhân dân Thị trấn Lai Cách (Cẩm Giàng)
38 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Cẩm Sơn (Cẩm Giàng)
39 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Cẩm Đông (Cẩm Giàng)
40 Nhân dân và LLVT nhân dân Đức Chính (Cẩm Giàng
41 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Hiệp Lực (Ninh Giang)
42 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Hồng Thái (Ninh Giang)
43 Nhân dân và LLVT nhân dân xã ứng Hoè (Ninh Giang)
44 Nhân dân và LLVT nhân dân Thị trấn Ninh Giang (Ninh Giang)
45 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Kiến Quốc (Ninh Giang)
46 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Tân Quang (Ninh Giang)
47 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Chi Lăng Nam (Thanh Miện)
48 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Chi Lăng Bắc (Thanh Miện)
49 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Thanh Tùng (Thanh Miện)
50 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Thanh Giang (Thanh Miện)
51 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Thái Học (Bình Giang)
52 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Tráng Liệt (Bình Giang)
53 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Cổ Bì (Bình Giang)
54 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Long Xuyên (Bình Giang)
55 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Hùng Thắng (Bình Giang)
56 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Bình Xuyên (Bình Giang)
57 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Văn Tố (Tứ Kỳ)
58 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Minh Đức (Tứ Kỳ)
59 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Hưng Đạo (Tứ Kỳ)
60 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Quang Khải (Tứ Kỳ)
61 Nhân dân và LLVT nhân dân phường Thanh Bình (TP Hải Dương)
62 Nhân dân và LLVT nhân dân phường Ngọc Châu (TP Hải Dương)
Trang 963 Nhân dân và LLVT nhân dân xã ái Quốc (TP Hải Dương)
64 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Nam Đồng (TP Hải Dương)
65 Nhân dân và LLVT xã An Châu (TP Hải Dương)
66 Nhân dân và LLVT xã Thượng Đạt (TP Hải Dương)
67 Nhà Máy Sứ Hải Dương
68 Nhân dân và LLVT nhân dân xã An Lạc (Chí Linh)
69 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Tân Dân (Chí Linh)
70 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Lê Lợi (Chí Linh)
71 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Chí Minh (Chí Linh)
72 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Đồng Lạc (Chí Linh)
73 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Cộng Hoà (Chí Linh)
74 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Cổ Thành (Chí Linh)
75 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Toàn Thắng (Gia Lộc)
76 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Nhật Tân (Gia Lộc)
77 Nhân dân và LLVT nhân dân Thị trấn Gia Lộc (Gia Lộc)
78 Nhân dân và LLVT nhân dân xã Tân Tiến (Gia Lộc)
- 33 cá nhân bao gồm:
1 Liệt sỹ Mạc Thị Bưởi: xã Nam Tân-Nam Sách-Hải Dương
2 Đồng chí Đặng Đức Song xã Cộng Hoà - Nam Sách - Hải Dương
3 Đồng chí Lê Văn Nổ - xã Hùng Sơn - Thang Miện - Hải Dương
4 Đồng chí Bùi Đình Đột - xã Hiệp Lực - Ninh Giang - Hải Dưởng
5 Đồng chí Nguyễn Nhật Chiêu - xã Quốc Tuấn - Nam Sách - Hải Dương
6 Đồng chí Phạm Văn Cờ: xã Thống Nhất - Gia Lộc - Hải Dương
7 Đồng chí Vũ Ngọc Diệu: xã Quốc Tuấn - Nam Sách - Hải Dương
8 Đồng chí Đào Văn Quân: xã Cộng Lạc - Tứ Kỳ - Hải Dương
9 Đồng chí Cao Duy Thuần: xã Thanh Xá - Thanh Hà - Hải Dương
10 Đồng chí Nguyễn Tiến Nhự: xã Thạch Lỗi - Cẩm Giàng - Hải Dương
11 Đồng chí Hà Minh Thám: xã Vĩnh Hoà - Ninh Giang - Hải Dương
12 Đồng chí Lê Xuân Sênh: xã Duy Tân - Kinh Môn - Hải Dương
13 Đoàn Văn Phán: xã Tái Sơn - Tứ Kỳ - Hải Dương
14 Đồng chí Hoàng Đình Chiến: xã Tam Kỳ - Kim Thanh - Hải Dương
15 Đồng chí Nguyễn Văn Thoà: xã Đại Đức - Kim Thành - Hải Dương
16 Đồng chí Hoàng Minh Câu: xã Hiệp An - Kinh Môn - Hải Dương
Trang 1017 Liệt sỹ Phan Hữu Giảng: xã Lê Hồng - Thanh Miện - Hải Dương.
18 Liệt sỹ Đỗ Chu Bỉ: xã An Lâm - Nam Sách - hải Dương
19 Liệt sỹ Phạm Xuân Huân: xã Việt Hoà - Cẩm Giàng - Hải Dương
20 Liệt sỹ Nguyễn Xuân Kim: xã Lạc Long - Kinh Môn - Hải Dương
21 Liệt sỹ Đặng Quốc Chỉnh: phường Trần Hưng Đạo - TP Hải Dương
22 Liệt sỹ Cao Đăng Lành: xã Nam Hưng - Nam Sách - Hải Dương
23 Liệt sỹ Phạm Ngọc Khánh: xã Cẩm Chế - Thanh Hà - Hải Dương
24 Liệt sỹ Nguyễn Văn O: xã Duy Tân - Kinh Môn - Hải Dương
25 Liệt sỹ Lê Văn Vằn: xã Tân Trào - Thanh Miện - Hải Dương
26 Liệt sỹ Nguyễn Trọng Thường: xã Thanh Sơn - Thanh Hà - Hải Dương
27 Liệt sỹ Đặng Bá Hát: xã Thống Kênh - Gia Lộc - Hải Dương
28 Liệt sỹ Nguyễn Đức Sáu: xã Minh Tân - Gia Lộc - Hải Dương
29 Liệt sỹ Lê Gia Đỉnh: xã Hoàng Diệu - Gia Lộc - Hải Dương
30 Liệt sỹ Nguyễn Đức Tụng: xã Liên Mạc - Thanh Hà - Hải Dương
31 Liệt sỹ Nguyễn Trung Goòng: xã Hồng Phong - Nam Sách - hải Dương
32 Đồng chí Hà Văn Noạ - Ninh Giang - Hait Dương
33 Đồng chí Nguyễn Đình Viện: xã Tuấn Hưng - Kim Thành - Hải Dương
- 1.696 Mẹ được phong tặng, truy tặng danh hiệu “Mẹ Việt Nam anh hùng”
- 33 đồng chí được phong quân hàm cấp tướng gồm:
1 Đồng chí Nguyễn Văn Rinh, Thượng tướng (Văn Tố - Tứ Kỳ)
2 Đồng chí Trần Văn Nấng, Trung tướng (Văn Tố - Tứ Kỳ)
3 Đồng chí Phạm Quang Hợi, Trung Tướng (Tiên Động - Tứ Kỳ)
4 Đồng chí Đào Văn Quân, Thiếu tướng (Cộng Lạc - Tứ Kỳ)
5 Đồng chí Nguyễn Đức Thận, Thiếu tướng (Đại Đồng - Tứ Kỳ)
6 Đồng chí Nguyễn Công Tranh, Trung tướng (Văn Tố - Tứ Kỳ)
7 Đồng chí Nguyễn Thế Trị, Thượng tướng (Kim Lương - Kim Thành)
8 Đồng chí Nguyên Tiến Long, Trung tướng (Đại Đức - Kim Thành)
9 Đồng chí Nguyễn Văn Thanh, Thiếu tướng (Phúc Thành - Kim Thành)
10 Đồng chí Phạm Ngọc Minh, Thiếu tướng (Kim Xuyên - Kim Thành)
11 Đồng chí Nguyễn Quốc Tuấn, Trung Tướng (Cẩm La - Thanh Hà)
12 Đồng chí Nguyễn Năng Nguyễn, Trung tướng (Tân An - Thanh Hà)
13 Đồng chí Lê Minh Cược, Trung tướng (Quyết Thắng - Thanh Hà)
14 Đồng chí Mạc Đình Vịnh, Thiếu tướng (Cẩm Chế - Thanh Hà)