1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm tiểu thuyết của phạm quang long qua lạc giữa cõi người và cuộc cờ

124 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm Quang Long trước khi là nhà văn đã có thời gian dài làm công tác giảng dạy, công tác quản lý văn hóa ông nguyên là Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Hà Nội, ở độ tuổi hưu trí,

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

-

NGUYỄN THỊ KIM OANH

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CỦA PHẠM QUANG LONG (QUA “LẠC GIỮA CÕI NGƯỜI” VÀ “CUỘC CỜ”)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN, 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

-

NGUYỄN THỊ KIM OANH

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CỦA PHẠM QUANG LONG (QUA “LẠC GIỮA CÕI NGƯỜI” VÀ “CUỘC CỜ”)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã ngành: 822.0121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TÔN THẢO MIÊN

THÁI NGUYÊN, 2019

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung trình bày trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công

bố trong bất cứ một công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kim Oanh

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp cuối khóa, em

đã nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện và giúp đỡ tận tình của các thầy cô giảng viên, các nhà nghiên cứu khoa học, Ban lãnh đạo khoa Báo chí – Truyền thông và Văn học, Phòng Sau Đại học, Ban Giám hiệu trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phó giáo sư – Tiến sĩ Tôn Thảo Miên đã tận tình hướng dẫn em trong việc nghiên cứu, tìm hiểu và hoàn thành đề tài luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, Ban Giám đốc Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Ninh Bình, Ban Giám hiệu trường Trung học phổ thông chuyên Lương Văn Tụy tỉnh Ninh Bình đã nhiệt tình ủng hộ, chia

sẻ khó khăn, khích lệ, động viên tinh thần trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Em xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 5 năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kim Oanh

Trang 5

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN……….i

LỜI CẢM ƠN……… ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục tiêu nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Cấu trúc của luận văn 9

NỘI DUNG 10

Chương 1: “NHÀ VĂN TRẺ” PHẠM QUANG LONG VÀ CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TIỂU THUYẾT “LẠC GIỮA CÕI NGƯỜI” VÀ “CUỘC CỜ” 10

1.1 “Nhà văn trẻ” Phạm Quang Long 10

1.1.1 Đôi nét về tiểu sử 10

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác của “nhà văn trẻ” Phạm Quang Long 12

1.2 Cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết của Phạm Quang Long 16

1.2.1 Khái niệm về cảm hứng chủ đạo 16

1.2.2 Cảm hứng chủ đạo của Phạm Quang Long trong Lạc giữa cõi người và Cuộc cờ ……… 18

1.2.2.1 Cảm hứng về cái “lạc” ……….18

1.2.2.2 Cảm hứng về cái “bi”………26

1.2.2.3 Cảm hứng về cái “thực” ……… 30

Tiểu kết chương 1 37

Chương 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG “LẠC GIỮA CÕI NGƯỜI” VÀ “CUỘC CỜ” 39

2.1 Khái niệm về nhân vật văn học 39

2.2 Các kiểu nhân vật trong Lạc giữa cõi người và Cuộc cờ 40

2.2.1 Nhân vật tha hóa 41

2.2.2 Nhân vật cô đơn, lạc loài 50

2.2.3 Nhân vật bi kịch ……… 56

2.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 63

2.3.1 Miêu tả nhân vật qua những sự kiện, chi tiết 64

Trang 6

iv

2.3.2 Miêu tả nhân vật qua hành động 68

2.3.3 Miêu tả nhân vật qua diễn biến tâm lý 70

2.3.4 Miêu tả nhân vật qua cái nhìn của nhân vật khác 73

Tiểu kết chương 2 75

Chương 3: NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG “LẠC GIỮA CÕI NGƯỜI” VÀ “CUỘC CỜ” 77

3.1 Ngôn ngữ 77

3.1.1 Khái niệm về ngôn ngữ nghệ thuật 77

3.1.2 Ngôn ngữ trần thuật 78

3.1.2.1 Ngôn ngữ trần thuật mang tính chất đa thanh ………79

3.1.2.2 Ngôn ngữ trần thuật đậm chất đời thường ………82

3.1.3 Ngôn ngữ nhân vật ………….84

3.1.3.1 Ngôn ngữ đối thoại ………85

3.1.3.2 Độc thoại nội tâm ………91

3.2 Giọng điệu 95

3.2.1 Khái niệm về giọng điệu 95

3.2.2 Giọng điệu triết lý 96

3.2.2.1 Giọng điệu triết lý, hoài nghi ……… 97

3.2.2.2 Giọng điệu triết lý chính luận ……… 98

3.2.2.3 Giọng điệu triết lý phân tích ……… 101

3.2.3 Giọng điệu giễu nhại 103

3.2.4 Giọng điệu tranh biện, đối thoại 107

Tiểu kết chương 3 110

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

Trang 7

mẽ của công nghệ thông tin Điều kiện đó đã thúc đẩy sự thức tỉnh và thái độ

“nhập cuộc” thực sự của nhà văn, nhất là nhà tiểu thuyết, trong việc phản ánh

xã hội Trong thời kì đổi mới toàn diện của đất nước, dân chủ hóa là xu thế lớn của xã hội và cũng đã trở thành xu hướng bao trùm của nền văn học Việt Nam Xu hướng dân chủ hóa của thời kỳ đổi mới đã “cởi trói” cho văn học, coi trọng tự do sáng tác, khuyến khích nhà văn mạnh dạn tìm tòi sáng tạo, bám sát hiện thực đời sống xã hội, mô tả được chân thực nhất con người trong mối tổng hòa các quan hệ xã hội phong phú và phức tạp của thời hiện đại Sang đầu thế kỉ XXI, xu hướng dân chủ hóa đã ngày càng phát triển mạnh mẽ

và thấm sâu vào đời sống văn học, làm thay đổi cơ bản diện mạo văn học nước nhà Nền văn học đương đại càng ngày càng đòi hỏi nhà văn với trách nhiệm cao cả của một “người thư kí trung thành của thời đại” (H Banzac) Nhà văn thực sự phải là người có tư tưởng, có cách nhìn riêng và những khám phá, sáng tạo mới mẻ Tác phẩm văn chương vì thế là kết quả của sự nghiền ngẫm và trải nghiệm đời sống của chính người viết

Phạm Quang Long trước khi là nhà văn đã có thời gian dài làm công tác giảng dạy, công tác quản lý văn hóa (ông nguyên là Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Hà Nội), ở độ tuổi hưu trí, khi những trải nghiệm cuộc sống đã chín, tình yêu với văn chương thôi thúc, ông bắt đầu sáng tác với hai thể loại chính là kịch bản văn học và tiểu thuyết Những vở kịch của Phạm Quang Long thể hiện vốn tri thức phong phú của một người thầy đọc nhiều, nhìn rộng, nghĩ sắc, bởi nó chứa đựng nhiều suy tư về nhân tình thế thái trong

cả những vấn đề về lịch sử và hiện tại Tiêu biểu như các vở: Cao Bá Quát,

Trang 8

2

Nợ non sông, Những khoảnh khắc Hồ Chí Minh, Quỷ mặt người, Quan thanh tra Đặc biệt, trong vài năm gần đây, nhà văn Phạm Quang Long liên tục ra mắt các tiểu thuyết như: Lạc giữa cõi người (2016), Bạn bè một thuở (2017)

và Cuộc cờ (2018) Tiểu thuyết của Phạm Quang Long bộc lộ nhãn quan sắc

sảo về đời sống chính trị, xã hội đương đại, mang đến cho độc giả cái nhìn chân thực của một người trong cuộc về một phần những gì đang diễn ra hôm nay

Tiểu thuyết của Phạm Quang Long nói chung và hai cuốn Lạc giữa cõi người và Cuộc cờ nói riêng đã đem đến cho đời sống văn học nước nhà một

tiếng nói riêng của người trí thức trước những đổi thay của xã hội, của con người trong vòng xoay của cơ chế Đó là những nỗi niềm, sự băn khoăn, day dứt, là niềm đau của một người đầy tâm huyết, trách nhiệm, luôn theo đuổi và tôn thờ sự tử tế khi đứng trước sự tha hóa của không ít quan chức hôm nay Nhà văn không ngại phơi bày mặt trái và cả những bi kịch của họ; mạnh dạn nói ra sự thật và cả những khiếm khuyết của bộ máy bằng cái tâm trong sáng,

sự nhiệt thành của một người trí thức nặng lòng với thế sự Những trang viết của Phạm Quang Long mang đậm hơi thở cuộc sống đương đại từ sự kiện, nhân vật đến cả những chi tiết về mánh khóe, thủ đoạn, chiêu bài của những quan chức tha hóa Nhân vật trong tiểu thuyết của ông phần lớn bị cuốn vào vòng xoáy của cơ chế, luôn cảm thấy cô đơn, lạc loài, luôn phải đeo mặt nạ để sống Cuộc sống của họ như trong một “cuộc cờ”, mỗi cá nhân giống như một quân cờ chính trị, luôn phải toan tính, nhìn trước ngó sau, mọi đường đi nước bước đều theo sự sắp đặt sẵn của một người bề trên nào đó, nếu không tuân theo sự sắp đặt, anh có thể bị gây khó khăn, hoặc bị bật ra khỏi “hệ thống”… Mặc dù phê phán xã hội nhưng Phạm Quang Long không bôi nhọ, không chống lại chế độ Dường như nhà văn chỉ đang “bắt mạch” con bệnh ốm yếu mang tên “cơ chế” Viết với tâm thế của người “ở trong chăn mới biết chăn có rận”, điều mà ngòi bút Phạm Quang Long muốn hướng tới là tìm ra căn nguyên, cội rễ của sự tha hóa, muốn cảnh tỉnh với mọi người

Trang 9

đương đại Chọn nghiên cứu về hai cuốn tiểu thuyết Lạc giữa cõi người và Cuộc cờ, chúng tôi nhằm góp một tiếng nói khẳng định giá trị tiểu thuyết của

Phạm Quang Long trong đời sống văn học đương đại Việt Nam

2 Lịch sử vấn đề

Như trên đã nói, tác phẩm của Phạm Quang Long đã đóng góp một góc nhìn, một tiếng nói thẳng thắn, chân thực về những điều mà chính nhà văn đã từng mắt thấy tai nghe Trong tác phẩm của mình ông đã chạm tới những vấn

đề rất gai góc, thậm chí nhạy cảm của đời sống xã hội đương đại Nhà văn không ngần ngại thể hiện quan điểm, suy nghĩ riêng của mình về những vấn

đề xã hội cũng như khao khát muốn đấu tranh để bảo vệ cái đúng, cái tốt Như nhà phê bình Bùi Việt Thắng nhận xét: “Là người có kiến văn xã hội, nghề văn, sống nhiều, có tấm lòng tiết tháo của kẻ sĩ nên Phạm Quang Long đã bước vào cuộc chơi văn chương đầy tự tin, hào sảng” [55] Bước vào con đường văn chương không nhằm mục đích “lập thân”, Phạm Quang Long thoải mái sống với đam mê của mình, ông nói: “hạnh phúc bây giờ là mỗi ngày được viết và phục vụ vợ con, được gặp gỡ bạn bè để sẻ chia cả niềm vui lẫn nỗi buồn của đời người” [55] Tuy nhiên, văn của Phạm Quang Long không

ồn ào hay mơ mộng, không có những chuyện tình yêu lãng mạn, không chạy theo thị hiếu số đông độc giả đương thời Tác phẩm của ông nói chung và tiểu thuyết nói riêng hợp với những người thích nghiền ngẫm, suy tư, có sự quan tâm đến các vấn đề chính trị, xã hội Những ai thích đọc lối văn nhẹ nhàng, trơn tru, dễ dãi chắc sẽ khó đồng cảm với cách viết của ông

Trang 10

4

Hơn nữa, vì đề cập đến vấn đề chính trị, xã hội với thái độ thẳng thắn nên cho đến nay, giới nghiên cứu phê bình có lẽ khá e dè trước tác phẩm của

Phạm Quang Long Về hai cuốn sách Lạc giữa cõi người và Cuộc cờ, trên các

báo, tạp chí mới chỉ xuất hiện một số bài cảm nhận, giới thiệu sách của số ít các nhà phê bình

Tháng 5/2016 nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng đã viết bài giới thiệu sách

có tên “Tản mạn về Lạc giữa cõi người” Trong đó, tác giả bài viết đã chỉ ra

cái “tạng” của Phạm Quang Long là “Một cái nhìn trực diện vào sự thật, một cảm hứng bi kịch của sự viết, một thiện ý muốn bảo vệ cái đúng, cái đẹp, cái tốt đã khiến cho cảm hứng phê phán được soi sáng bằng sự phân tích tỉnh táo

và được điều hòa bởi cái tình đời, tình người toát lên trong từng con chữ Nói

cách khác, phong cách Phạm Quang Long trong Lạc giữa cõi người mang dấu

ấn của trí tuệ và tình cảm song hành như một sự hòa âm (cái đầu lạnh và trái tim nóng)” [55] Nhận xét của Bùi Việt Thắng đã nói lên những đặc điểm lớn

về tiểu thuyết của Phạm Quang Long trên các phương diện như cách tiếp cận hiện thực, cảm hứng chủ đạo, mục đích viết…

Tác giả Ngô Hương Sen có bài “PGS.TS Phạm Quang Long - Hà Nội từng có một quan văn hóa như thế”, đã điểm lại một số những tham mưu, quyết định táo bạo mà đúng đắn của Phạm Quang Long khi làm Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội Cái tâm của một con người hết lòng vì công việc đã đem lại cho ông những trải nghiệm nhiều cung bậc cảm xúc, đã tạo cho Phạm Quang Long vốn sống dày dặn, phong phú Ngô Hương Sen

viết:“Ký ức bộn bề của những năm tháng làm quan, quan văn hóa, những ghi

chép trong não bộ về những sự kiện, con người đã qua, những hỉ nộ ái ố, những cay đắng đến tưởng chừng không chấp nhận nổi, cả những bẽ bàng khi chạm vào góc khuất của mỗi cá nhân, mỗi số phận người may mắn thay đã thành nguồn tư liệu quý giá cho PGS.TS Phạm Quang Long, để vài năm sau

khi về hưu thầy đã hoàn thiện cuốn tiểu thuyết Lạc giữa cõi người mà nhiều

Trang 11

5

độc giả lẫn nhà phê bình cứ muốn coi đấy như tự truyện Ông không cần phải

cố sức, không cần phải rút ruột rút gan, cũng chẳng cần những thủ pháp hay

kỹ thuật kỹ xảo gì, cứ tự nhiên nhi nhiên, nhẩn nha kể, lầm rầm viết, hóm hỉnh chắp nối tường thuật các câu chuyện, tinh xảo chạm khắc nhân vật, là đã

ra một xã hội con người thời thứ gì cũng xuống cấp sinh động và thật đến

con người hèn đi, kém đi” [53] Những câu chuyện được kể lại trong các tác

phẩm văn xuôi từ Lạc giữa cõi người đến Cuộc cờ, trước hết sát sàn sạt sự

thật Tính chân thực của tác phẩm được nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng gọi là

“Thi pháp của sự chân thành” [55]

Đặc biệt, khi cuốn Lạc giữa cõi người được xuất bản, ngày 6/3/2017,

Khoa Văn học trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội đã tổ chức tọa đàm giới thiệu cuốn sách Buổi tọa đàm đã quy tụ nhiều ý kiến quý báu, tâm đắc của các nhà nghiên cứu, các nhà giáo Tác giả Trần Hinh trong

bài phát biểu “Lạc giữa cõi người - Tự truyện hay tiểu thuyết”, đã lí giải về

mặt thể loại của cuốn sách Ông đặt ra câu hỏi và tự trả lời: “Sự thật được kể trong truyện, đó là chất tự truyện, nhưng độ mở của câu chuyện lại gần với tiểu thuyết hơn Nó để lại quá nhiều day dứt, ám ảnh, rằng tại sao con người

cứ phải vật vã đớn đau “lạc giữa cõi người” như thế?” [52]

Trong phát biểu của mình tại tọa đàm, nhà giáo Nguyễn Kim Đính nói:

“Tâm thế “lạc” mà anh Long nói đến trong tác phẩm là một tâm thế hồn

nhiên, trong sáng Tôi đọc kỹ cuốn Lạc giữa cõi người của anh Long như đã từng đọc kỹ Tội ác và trừng phạt của Đôtxtôiepxki trước đây, để xem dũng

khí của nhà văn, nhà giáo này ra sao Và quả thật, trước những vô cảm, vô

Trang 12

6

học, vô văn hóa, và rất nhiều từ mạnh khác mà anh dùng, tôi thấy sự phẫn nộ của con người hồn nhiên trong sáng đó” [51] Nhận xét của Nguyễn Kim Đính đã nói tới tâm thế chủ đạo trong thâm tâm của nhân vật chính xưng “gã”

trong Lạc giữa cõi người và phần lớn những nhân vật trong Cuộc cờ Các

nhân vật thấy mình “lạc” giữa công việc, “lạc” ngay trong gia đình và trở thành những con người cô đơn, luôn thu mình trong vỏ bọc, luôn ngụy trang trong những chiếc mặt nạ

Về tác phẩm Cuộc cờ, tác giả Đăng Bảy có bài “Đối mặt với lương tri”

Trong bài viết này, tác giả khẳng định: “Thông thường, để sáng tạo nên cuốn tiểu thuyết phản ánh một cuộc sống hiện thực nào đó, nhà văn thường cần có một độ lùi thời gian nhất định Phạm Quang Long thì không chịu chờ đợi, mà song hành cùng thời buổi, mạnh bạo vạch mặt những kẻ có chức quyền nhưng thực ra là ăn tàn phá hại, đục ruỗng mọi quan hệ con người với con người Thật

khó đoán ra cái tỉnh hư cấu Nguyên Bình trong Cuộc cờ là địa phương nào

trong đời thực, nhưng nhà tiểu thuyết Phạm Quang Long tỏ ra sắc bén, cập nhật, trùng hợp với bầu không khí xã hội đương thời” [50] Nhận xét này đã cho thấy tính thời sự, tính hiện thực cũng như ý nghĩa phê phán của cuốn sách Tác giả Song Hà có bài “Hiện tượng Phạm Quang Long”, đã gọi Phạm Quang Long là người dũng cảm, có khát vọng phò chính diệt tà Tác giả đã chỉ ra: “Nhân vật trong các tác phẩm văn xuôi của Phạm Quang Long hay có cái dằn vặt nội tâm, cái đau đáu về nỗi niềm nhân cách, cái ưu thời mẫn thế dẫu cho cuối cùng thì cũng không ai trong số đó lật ngược được thế cờ đỏ đen Và đặc biệt đau đớn nhất là những người chân chính, tiết tháo, nhân ái lại

cứ như thể lạc loài giữa đồng loại vốn là đồng chí, đồng nghiệp, đồng bào của nhau Vì sao? Và vì sao? Tôi có cảm giác mỗi trang văn xuôi của Phạm

Quang Long là sự xoay trở câu hỏi Vì sao?” [51] Tác giả Song Hà đã tinh tế

khi nhận ra cái “tứ” của tiểu thuyết Phạm Quang Long: luôn đi tìm câu trả lời

cho câu hỏi Vì sao?

Trang 13

7

Nhìn chung, các tác giả đều khâm phục ngòi bút trung thực, thẳng thắn, bám sát hiện thực đương đại của Phạm Quang Long Bằng kiến thức chuyên môn dày dặn, bằng trải nghiệm cuộc sống dồi dào, bằng cái nhìn sắc sảo của người trong cuộc giữa một “cõi người” với những “cuộc cờ” gay cấn, nhà văn

đã đem đến cho độc giả những cuốn sách chất lượng, hấp dẫn Độc giả mà nhà văn hướng tới không phải là đại chúng nói chung, mà là những người có

sự quan tâm đến đời sống chính trị, xã hội, thích nghiền ngẫm, suy tư, phân tích mới có thể cảm nhận được cái “tạng” văn của Phạm Quang Long Mỗi trang viết của ông đều được chắt lọc từ hiện thực, mỗi nhân vật của ông đều ít nhiều có bóng dáng thấp thoáng ai đó ngoài đời, vì vậy, tuy không cầu kỳ, mới mẻ trong kỹ thuật viết, nhưng tiểu thuyết của Phạm Quang Long vẫn thực

sự sinh động, hấp dẫn Nhưng cũng chính vì bám rất sát hiện thực, những hiện thực nhạy cảm, gai góc, mà tiểu thuyết của Phạm Quang Long chưa được nghiên cứu xứng đáng với giá trị của mình Bởi vậy, qua luận văn này, chúng tôi muốn đi tìm tiếng nói tri âm mà Phạm Quang Long gửi gắm qua hai cuốn tiểu thuyết “Lạc giữa cõi người” và “Cuộc cờ”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Tiểu thuyết là một mảng rất giá trị trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Phạm Quang Long Tuy nhiên, chúng tôi không tham vọng tìm hiểu toàn bộ tiểu thuyết của ông, đối tượng nghiên cứu của luận văn này là một số đặc điểm tiểu thuyết Phạm Quang Long trong phạm vi khảo sát hai cuốn sách tiêu

biểu là Lạc giữa cõi người (NXB Hội nhà văn, 2016) và Cuộc cờ (NXB Lao

động, 2018) Ở luận văn này, chúng tôi quan tâm đến một số phương diện đặc sắc trong tiểu thuyết của Phạm Quang Long như cảm hứng chủ đạo, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu … từ đó khẳng định giá trị của tiểu thuyết cũng như đóng góp của Phạm Quang Long đối với nền văn học đương đại Việt Nam

4 Mục tiêu nghiên cứu

Như trên đã nói, tiểu thuyết của Phạm Quang Long có giá trị nhưng chưa được nghiên cứu đủ đầy và xứng đáng Các bài viết về tiểu thuyết của Phạm

Trang 14

8

Quang Long mới chỉ dừng lại ở dạng đơn lẻ mà thôi Việc đi sâu nghiên cứu tác phẩm của Phạm Quang Long nói chung và tiểu thuyết của nhà văn nói riêng chưa nhận được nhiều sự quan tâm Bởi vậy, chúng tôi mạnh dạn đi tìm hiểu những đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Phạm Quang Long qua hai tác

phẩm Lạc giữa cõi người và Cuộc cờ với hi vọng có thể góp một tiếng nói

vào việc khẳng định và tôn vinh những đóng góp của Phạm Quang Long ở

lĩnh vực tiểu thuyết

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu theo đặc trưng thể loại: Đây là phương

pháp chính được chúng tôi sử dụng để nghiên cứu về hai cuốn sách của Phạm Quang Long với những đặc trưng cơ bản của thể loại tiểu thuyết trên các phương diện như cảm hứng chủ đạo, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu

- Phương pháp phân tích- tổng hợp: Phương pháp này được chúng tôi

sử dụng nhằm vừa tìm hiểu, phân tích các đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Phạm Quang Long, vừa khái quát những đóng góp của nhà văn với văn học đương đại Việt Nam

- Phương pháp tiểu sử: Vì tác phẩm của Phạm Quang Long bám rất sát

hiện thực đương đại, hơn nữa điểm nhìn của nhà văn trong tác phẩm là điểm nhìn của một người từng làm công tác quản lý, của một người trong cuộc nên các yếu tố thuộc về tiểu sử của nhà văn sẽ giúp chúng tôi tìm hiểu sâu sắc hơn

về tác phẩm

6 Đóng góp của luận văn

Với luận văn này, chúng tôi mong muốn đóng góp một tiếng nói trong việc khẳng định giá trị tiểu thuyết của Phạm Quang Long trong nền văn học đương đại Việt Nam

Luận văn đi sâu tìm hiểu và chỉ ra những đặc điểm của tiểu thuyết Phạm Quang Long trên các phương diện như cảm hứng chủ đạo, nhân vật, ngôn

Trang 15

9

ngữ, giọng điệu… để thấy được những đóng góp của nhà văn ở thể loại tiểu thuyết Luận văn cũng chỉ ra được nét độc đáo trong tiểu thuyết về đề tài chính trị xã hội của nhà văn, một cây bút dám nói thẳng, nói thật, không né tránh hay e ngại trước cái xấu, cái ác đang tồn tại đâu đó trong mọi ngả đường của cuộc sống, đe dọa đến sự tồn vong của cái tử tế, cái đúng, cái tốt Qua đây chúng tôi muốn khẳng định sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng dân chủ hóa

trong sáng tác văn chương đương đại Việt Nam

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 “Nhà văn trẻ” Phạm Quang Long và cảm hứng chủ đạo

trong tiểu thuyết Lạc giữa cõi người và Cuộc cờ

Chương 2 Thế giới nhân vật trong Lạc giữa cõi người và Cuộc cờ Chương 3 Ngôn ngữ và giọng điệu trong Lạc giữa cõi người và Cuộc cờ

Trang 16

10

NỘI DUNG Chương 1

“NHÀ VĂN TRẺ” PHẠM QUANG LONG VÀ CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TIỂU THUYẾT “LẠC GIỮA CÕI NGƯỜI” VÀ “CUỘC CỜ” 1.1 “Nhà văn trẻ” Phạm Quang Long

1.1.1 Đôi nét về tiểu sử

Phạm Quang Long sinh năm 1952 tại Thái Bình trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước và cách mạng (cha và anh trai là liệt sĩ, mẹ là Mẹ Việt Nam anh hùng) Ông lớn lên trong tình yêu thương bao la của bà mẹ nông dân lam lũ, cần cù, chắt chiu cả đời vì con Rời quê lên Hà Nội, chàng trai quê hương năm tấn đam mê văn chương thi vào khoa Văn Đại học Tổng hợp Năm 1975 ông tốt nghiệp và được giữ lại làm giảng viên bộ môn Lý luận văn học Năm 1980, ông được cử sang Nga làm nghiên cứu sinh, năm 1984 trở về nước, tiếp tục tham gia giảng dạy tại khoa Văn với nhiệt huyết của một người thầy trẻ tận tâm với nghề Ông say sưa vừa nghiên cứu vừa giảng dạy, truyền tình yêu văn chương tới nhiều thế hệ sinh viên Là người có chuyên môn giỏi, lại năng nổ, nhiệt tình, có đầu óc tổ chức nên ông được giao giữ nhiều trọng trách khác nhau ở trường Đại học tổng hợp (nay là Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn) và chính quyền thành phố Hà Nội Năm 1987, ông được tín nhiệm giữ chức Phó Trưởng phòng Khoa học, từ 1992 đến 1996 ông giữ cương vị Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, từ 1996 đến 2001 là Phó Hiệu trưởng, rồi Hiệu trưởng Trường ĐHKHXH&NV Từ 2001-2005 ông làm Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Từ 2005 ông làm Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao,

Du lịch Hà Nội đến khi về hưu năm 2013

Có thể thấy, sự nghiệp chính của Phạm Quang Long là giảng dạy, nghiên cứu và quản lí Dù ở cương vị nào ông cũng là người nhiệt huyết với công việc chung, hòa hợp với mọi người, biết lắng nghe và vô cùng khiêm tốn Ông

Trang 17

11

tận tâm với công việc được giao, luôn đặt trách nhiệm, sự chí công lên hàng đầu với tất cả sự tử tế của một người thầy, có lẽ vì thế mà ông luôn được học trò yêu quý, cấp dưới tin cậy, cấp trên tín nhiệm

Pham Quang Long là người thẳng thắn, cương trực, lại mang trong mình

sự nhạy cảm, nhân hậu của người con quê lúa, vì vậy, trong cuộc sống cũng như trong công việc ông luôn chân thành Ai đã gặp ông dù chỉ một lần cũng đều bị thu hút bởi lối nói chuyện rất có duyên, vừa thẳng thắn lại rất tinh tế, vừa hiểu biết lại rất giản dị, đời thường Khi còn ở Đại học Quốc gia Hà Nội, hay Sở Văn hóa, Thể thao, Du lịch Hà Nội, nhiều người thừa nhận Phạm Quang Long là nhà quản lí có tâm và có tầm Dù không phải là “dân” văn hóa chính hiệu, nhưng sự am hiểu về văn hóa của Phạm Quang Long thì không nghiệp dư chút nào Trong nhiều việc, ông có bản lĩnh để lựa chọn hướng đi khác nhiều “cây đa cây đề” trong làng văn hóa Hà Nội để bảo vệ quan điểm của riêng mình một cách thuyết phục Ông kể, khi còn làm Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, để chuẩn bị cho triển lãm về văn hóa Hà Nội, có một số vị cao niên trong Hội đồng tư vấn cho rằng triển lãm về văn hóa Hà Nội thì nhất định phải có chiếc xe xích lô, vì xe xích lô gắn với Thủ đô một thời kì dài, thậm chí có thể coi như một biểu tượng văn hóa của đất Hà Nội Nhưng bằng sự tinh tế và am hiểu về văn hóa Hà Nội, Phạm Quang Long cho rằng hình ảnh chiếc xích lô chỉ gợi sự lam lũ, cực nhọc, chứ không mang tính biểu tượng cho tinh hoa văn hóa Hà Nội, và ông chọn chủ để “văn hóa thi thư” để triển lãm Triển lãm đã thành công lớn và nhận được nhiều lời khen Năm 2008, chuẩn bị cho đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, chính ông đã tham mưu cho lãnh đạo Hà Nội dừng dự án phim “Thái tổ Lý Công Uẩn”, một bộ phim tầm cỡ quốc gia, có cả một “Ban chỉ đạo thực hiện” với kinh phí lên tới vài trăm tỷ đồng Trong bối cảnh thiếu kịch bản xứng tầm với lịch sử, thiếu trang thiết bị, phim trường… nếu vẫn cố làm phim, hoàn toàn có thể tạo nên một “thảm họa điện ảnh” tiêu tốn cả chục triệu USD Với bản

Trang 18

12

lĩnh của một kẻ sĩ, sự lão luyện của người từng làm công tác nghiên cứu am hiểu sâu sắc đời sống văn nghệ, lương tâm, trách nhiệm của một nhà quản lí văn hóa, Phạm Quang Long đã nhìn thấy được những hệ lụy khủng khiếp nếu

cứ nhắm mắt làm phim Dự án dừng lại, những người có tâm đều thở phào nhẹ nhõm và thầm cảm ơn người đã tham mưu cho lãnh đạo thành phố Đó là hai trong rất nhiều câu chuyện thể hiện phần nào những gai góc trong công việc của một nhà quản lí văn hóa Thủ đô và bản lĩnh cũng như nhiệt tâm của Phạm Quang Long Ông không ngại va chạm, thậm chí sẵn sàng “liều mình”

vì cái chung, cái đúng Chính điều đó đã tạo nên ở Phạm Quang Long một

“chất” rất riêng: vừa bản lĩnh lại rất nhân văn

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác của “nhà văn trẻ” Phạm Quang Long

Có thể nói sáng tác không phải là sự nghiệp chính nhưng lại là đam mê chưa khi nào dứt của Phạm Quang Long Chính những năm tháng giảng dạy, nghiên cứu đã cho ông những am hiểu sâu sắc về loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu, những năm tháng làm quản lí đã cho ông vốn sống, sự từng trải đã giúp ông hiểu được chân tơ kẽ tóc của cái cơ chế mà trong đó mỗi người chỉ là một “cái đinh ốc” nhỏ Phạm Quang Long sáng tác văn chương khi tuổi đã lục tuần và trở thành “nhà văn trẻ” với sức sáng tạo dồi dào

Sở trường của Phạm Quang Long trước hết là kịch về đề tài lịch sử Ông

đã viết hàng chục vở kịch, trong đó nhiều vở đã được dàn dựng, biểu diễn trên sân khấu, có vở được nhận giải A trong Hội diễn sân khấu toàn quốc năm

2005 Năm 2014, ông xuất bản tập kịch bản văn học mang tên Nợ non sông gồm tám vở: Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nợ non sông, Những khoảnh khắc Hồ Chí Minh, Sắm vai, Người trở về, Quỷ mặt người, Quan thanh tra

Những vở kịch của Phạm Quang Long chứa đựng cái nhìn sắc sảo, chân thực

về nhân tình thế thái cả trong quá khứ lẫn hiện tại

Sáng tác đề tài lịch sử luôn là một khó khăn, thách thức với rất nhiều nhà văn, nhà viết kịch, nhà làm phim, không chỉ riêng nước ta, mà còn ở nhiều nơi

Trang 19

13

khác trên thế giới Ở Việt Nam, trong rất nhiều năm qua, ở nhiều lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, đề tài lịch sử đều nhận được sự phản hồi không mấy tích cực của chính những người làm văn chương, làm sân khấu và điện ảnh, vì không xứng tầm với lịch sử nước nhà Bước vào địa hạt văn chương về đề tài lịch sử, Phạm Quang Long có một hứng thú đặc biệt Những năm tháng làm văn hóa đã cho nhà văn điều kiện tiếp xúc với nhiều di tích, am hiểu nhiều nhân vật lịch sử Chính vì vậy, Phạm Quang Long viết kịch về đề tài lịch sử như một sự đối thoại với người xưa, từ chuyện xưa mà soi chiếu vào hôm nay, tạo nên sự gần gũi giữa quá khứ và hiện tại Đọc và xem kịch của Phạm Quang Long, ta có cảm giác, những gì liên quan đến các sự kiện lịch sử thì các nhân vật trong đó đều chỉ giống như thật chứ không hẳn là thật Phạm Quang Long đã rất tâm đắc với quan niệm của nhà văn Pháp Alxandre Dumas (cha): “Lịch sử chỉ là cái đinh để nhà văn treo bức tranh vẽ theo trí tưởng tượng của mình”; ông quan niệm: “Tác phẩm nghệ thuật theo tôi chỉ làm cho người ta hình dung về giai đoạn lịch sử ấy và hiểu được vì sao nó lại xảy ra như thế chứ không bao giờ chỉ là bản thân nó” [21, tr.316] Mỗi vở kịch của Phạm Quang Long vì thế là một bức tranh đầy sáng tạo mà nhà văn tưởng tượng, hình dung về suy nghĩ, hành động của nhân vật lịch sử, từ đó gửi gắm nhiều suy tư, trăn trở về xưa và nay

Trong kịch của Phạm Quang Long có câu chuyện về các danh nhân đất Việt như Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản và Hồ Chí Minh, nhưng tất cả các nhân vật lịch sử có thật đó đều chỉ là cái cớ để Phạm Quang Long gửi gắm cái nhìn của một người hiện đại Quan điểm của Phạm Quang Long khi viết về những nhân vật lịch sử là: “Tôi viết về họ như những con người sống trước chúng ta thôi Họ đã nổi tiếng qua nhiều chuyện có thực và không có Tôi tìm hiểu về họ và lịch sử (chính thống và không chính thống) chỉ có thể cung cấp cho tôi những kết quả của công việc họ đã làm, những lí

do họ được tôn vinh hay phê phán Tôi tìm hiểu những cách thức họ đi đến đó

và bất lực vì không đâu chỉ ra cho tôi những việc cụ thể này Tôi đành viết về

Trang 20

14

họ qua những gì mình hình dung Vậy nên nhân vật của tôi cũng là một nhân vật hư cấu, là sản phẩm của tôi, giống như nhân vật tiểu thuyết, không có gì lấy từ tiểu sử của họ cả” [51]

Phần lớn những nhân vật mà ông lựa chọn đều là những danh nhân văn hóa lớn của dân tộc Ông sáng tác về các nhân vật, sự kiện lịch sử theo suy nghĩ và trí tưởng tượng của mình Nếu nhiều tác giả khác lấy cốt là sự thật lịch sử, còn hư cấu chỉ là phụ, thì Phạm Quang Long đi theo chiều ngược lại

Trong vở kịch Cao Bá Quát, nhà văn dành hồi cuối nói về cảnh tù đày của

hiền sĩ họ Cao mà nguyên nhân là đã cố tình sửa bài cho học trò trong một kì thi quốc gia quan trọng Phạm Quang Long khai thác nhiều hơn ở nhân vật lịch sử có thật này trong các mối quan hệ với dân chúng, với học trò, thậm chí

có cả tình cảm với một bóng hồng thôn dã Sự sáng tạo đó khiến nhân vật lịch

sử gần gũi hơn, đời thường hơn với dân chúng Các vở kịch khác về Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản (mà tác giả chỉ để cái tên không rõ ràng là Phan Thượng thư), Hồ Chí Minh cũng đều khai thác theo hướng như vậy Với Nguyễn Công Trứ, Phạm Quang Long đã dựng lên một cách vô cùng sống động chân dung của một nhà Nho “ngông nghênh” và “lụy tình” – hai nét tính cách từng được lưu truyền rất nhiều trong dân gian về Uy Viễn tướng quân

Với nhân vật Phan Thanh Giản (trong vở Nợ non sông) thì dường như vì quá

yêu mến mà Phạm Quang Long có vẻ “bênh vực” vị quan Thượng thư này Cái chết của Phan Thanh Giản, trong sáng tạo của Phạm Quang Long, rốt cục chỉ là “món nợ non sông”, một thứ “oan khuất” mang tính lịch sử Như vậy,

từ những diễn giải, “sáng tạo” lại lịch sử của mình, Phạm Quang Long đã đưa người xem hiện đại đến một cái nhìn khác với cách nhìn bấy lâu nay của các

Trang 21

Những câu chuyện được kể lại trong các tiểu thuyết của Phạm Quang Long rất gần với sự thật, thậm chí mang nhiều yếu tố tự truyện Nếu trong kịch lịch sử, yếu tố hư cấu là chủ đạo, thì trong tiểu thuyết, Phạm Quang Long

đã ghi chép rất trung thành các sự việc, biến cố mà mình đã trải nghiệm, đã tận mắt chứng kiến, thậm chí lao đao, khốn khổ vì nó Viết với tâm thế của một người trong cuộc đã trải qua nhiều cay đắng của đời công chức, nhà văn không ngần ngại phơi bày những mặt trái của cơ chế, phê phán những kẻ có chức có quyền lợi dụng chức quyền để trục lợi, sẵn sàng dùng những mánh khóe, thủ đoạn để vơ vét, làm giàu cho bản thân Nhân vật trong tiểu thuyết của Phạm Quang Long hay có sự dằn vặt nội tâm, có cái đau đáu về nỗi niềm nhân cách, cái ưu thời mẫn thế dẫu cho cuối cùng thì cũng không ai trong số

đó lật ngược được “cuộc cờ” Cảm giác cô đơn, lạc loài cũng là đặc điểm dễ nhận thấy ở các nhân vật, họ cô đơn trong công việc, trong gia đình, thấy mình như kẻ lạc loài giữa cõi nhân gian Tuy nhiên, đọc tiểu thuyết của Phạm Quang Long, người đọc không hề thấy thái độ tiêu cực, mà ngược lại vẫn cảm nhận được một nguồn năng lượng tích cực, khơi dậy niềm tin vào cái tốt, cái thiện và những người tử tế

Đọc Lạc giữa cõi người, người đọc dẫu có đau xót về nhân tình thế thái

đâu đó, nhưng vẫn thấy ấm lòng vì trên tất cả là một niềm tin vào con người

Bạn bè một thuở là một xã hội nông thôn Việt Nam hiện nay thu nhỏ với

những người nông dân chân chất muốn làm giàu chính đáng cho gia đình, cho

Trang 22

16

quê hương, nhưng nhiều khi lại gặp phải trở ngại là những con “mọt dân” chỉ muốn “ngồi mát ăn bát vàng” thi nhau đục khoét của công, chèn ép dân lành

Cuộc cờ lại tái hiện rõ nhất tính chất khốc liệt của các mâu thuẫn đời

sống xã hội hiện đại khi lợi ích nhóm nhân danh những điều có vẻ to tát và công minh chính đại, nhưng thực chất là một cuộc vơ vét của những kẻ có chức quyền

Lí giải cho việc cầm bút để nói lên sự thật khi tuổi đã ngoại lục tuần, Phạm Quang Long viết: “Phải chăng lúc sắp chết, người ta mới nói ra được hết những tâm sự đã theo mình suốt cuộc đời? Lúc còn đi làm hoặc còn trẻ, còn bị nhiều ràng buộc nên chưa muốn nói, chưa thể nói?” [21, tr.25] Vì thế, cầm bút với Phạm Quang Long là để được nói ra những điều trăn trở, băn khoăn, niềm đau của một kẻ “lạc giữa cõi người” trong những “cuộc cờ” đời người

1.2 Cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết của Phạm Quang Long

1.2.1 Khái niệm về cảm hứng chủ đạo

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình

cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm Bê-lin-xki coi cảm hứng chủ đạo là điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực” và “cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm cụ thể là một hiện tượng độc đáo, không lặp lại, gắn với tình cảm của tác giả” “Về sau lí luận văn học xem cảm hứng chủ đạo là một yếu tố của bản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ tư tưởng xúc cảm ở nghệ sĩ đối với thế giới được mô tả” [16, tr 39] Như vậy, có thể thấy, cảm hứng chủ đạo là một phương diện nội dung, thể hiện cách nhìn, cách cảm, cách lí giải của nhà văn về thế giới hiện thực Tư tưởng của nhà văn sẽ chi phối cảm hứng chủ đạo của tác phẩm Cả Hê-ghen và Bê-lin-xki đều dùng khái niệm “cảm hứng” để chỉ “trạng thái hưng phấn cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả Sự chiếm lĩnh ấy

Trang 23

17

bao giờ cũng bắt nguồn từ lí tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại” [33, tr.141] Với tư cách là một trong các yếu tố quan trọng của nội dung tư tưởng, Hêghen đã đưa ra định nghĩa về cảm hứng chủ đạo như một “trung tâm điểm” của tác phẩm nghệ thuật, theo đó, “cảm hứng chủ đạo

là biểu hiện của tâm hồn người nghệ sĩ say mê thâm nhập vào bản chất của đối tượng, trở thành tương ứng với nó, gần như là xuyên suốt vào nó Theo ông, cảm hứng chủ đạo cần phải được xem như là một sản phẩm của “một tinh thần phong phú và hoàn thiện, một cá tính mà trong đó tất cả những lực lượng bản thể phổ quát đều được thực hiện” [31,tr.208]

Có thể xem cảm hứng chủ đạo là một đối tượng quan trọng khi nghiên cứu về tác giả văn học Cảm hứng chủ đạo sẽ chi phối, dẫn dắt nhà văn lựa chọn đề tài, hình thành cốt truyện, xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu… Mỗi nhà văn lại có một cảm hứng chủ đạo riêng, một niềm say

mê riêng bởi lẽ: “Viết văn là gan ruột, tâm huyết, chỉ bộc lộ những gì đã thực

sự tràn đầy trong lòng, không thể cho ra những sản phẩm của một tâm hồn bằng lặng, vô vị và miễn cưỡng Cảm hứng là một trạng thái tâm lí căng thẳng nhưng say mê khác thường Sự căng thẳng của ý chí và trí tuệ, sự dồi dào về cảm xúc, khi đã đạt đến sự hài hòa, kết tinh sẽ cháy bùng trong tư duy nghệ thuật của nhà văn, dẫn dắt họ đến những mục tiêu da diết bằng con đường gần như trực giác, bản năng” [1, tr.210] Đối với thi sĩ, cảm hứng có thể đến trong một khoảnh khắc thăng hoa của cảm xúc, nhưng với một nhà tiểu thuyết thì cảm hứng chủ đạo được hình thành nhờ quá trình tích tụ lâu dài Bởi vì “tiểu thuyết là một thể loại văn chương duy nhất luôn luôn biến đổi, do đó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén hơn sự biến chuyển của bản thân hiện thực” [7, tr.30], nó đòi hỏi nhà văn phải có quá trình nhận thức, suy tư về cuộc sống, từ đó mà có hứng thú đặc biệt với mảng hiện thực nào đó, làm nên cảm hứng sáng tạo Vốn hiểu biết dày dặn, kinh nghiệm về cuộc sống chính là tiền đề cho cảm hứng sáng tạo của nhà tiểu thuyết khi cầm bút Nội dung tư tưởng của tác phẩm văn học không bao giờ đơn thuần chỉ là sự lí giải, ghi

Trang 24

18

chép dửng dưng lạnh lùng, mà luôn gắn với tình cảm, cảm xúc mãnh liệt của nhà văn về cuộc sống

Như vậy, có thể có những cách diễn đạt khác nhau, nhưng tựu trung lại,

có thể hiểu: “cảm hứng là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư tưởng, là một ham muốn tích cực đưa đến hành động Cảm hứng trong tác phẩm trước hết là niềm say mê khẳng định chân lí, lí tưởng, phê phán, phủ định sự giả dối và mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực; là thái độ ngợi ca, đồng tình với những nhân vật chính diện, là sự lên án, tố cáo các thế lực đen tối, các hiện tượng tầm thường” [2, tr 204]

1.2.2 Cảm hứng chủ đạo của Phạm Quang Long trong Lạc giữa cõi người và Cuộc cờ

Theo những định nghĩa trên, khi tìm hiểu hai cuốn tiểu thuyết Lạc giữa cõi người và Cuộc cờ của Phạm Quang Long, chúng tôi nhận thấy, nhà văn có

niềm say mê đặc biệt với cái “lạc”, cái “bi” và cái “thực” Đây là ba nét cảm hứng chủ đạo, là những tình cảm xã hội đã được nhà văn thể hiện khi cảm nhận về đời sống

1.2.2.1 Cảm hứng về cái “lạc”

“Lạc” ở đây chính là sự lạc lõng khi con người tự cảm thấy “không thể

ăn nhập, hòa hợp với xung quanh, với toàn thể” [49, tr.535] Tâm thế lạc loài

sẽ làm nảy sinh kiểu người cô đơn Cảm hứng về con người cô đơn, lạc loài

trong văn học thế giới đã có từ lâu Có thể kể đến Jane Eyre của Charlotte

Bronte, ngay khi ra mắt vào năm 1847 đã làm chấn động văn đàn nước Anh

và nhanh chóng được yêu thích trên toàn thế giới Tác phẩm xoay quanh số phận cô đơn, nghiệt ngã của Jane Eyre, cô luôn phải chống chọi với nỗi cô đơn, tủi nhục hết ngày này qua ngày khác Điều đáng mừng là Jane Eyre không bao giờ bỏ cuộc Sự cô đơn càng khủng khiếp, Jane Eyre lại càng mạnh

mẽ, và điều đó mang tới cho cô hạnh phúc, dù hơi muộn màng Trong Rừng

Na Uy của Haruki Murakami, ngoài việc chống chọi với nỗi cô đơn, nhân vật

Trang 25

19

chính Toru Watanabe còn phải đương đầu với nhiều vấn đề khác của tuổi trẻ Nhà văn đã đẩy nỗi cô đơn lên đến tận cùng khiến nhân vật của mình phải hoặc là hành động để dập tắt nó, hoặc bị chìm xuống đáy của những đau khổ

Cũng phải kể đến Người cô độc của Christopher Isherwood, tác phẩm là câu

chuyện khá ngắn gọn về George, một giáo sư người Anh đồng tính Khi người bạn tri kỷ từng 16 năm chung sống với ông qua đời, George không còn tha thiết sống và có ý định tự sát Viết về con người cô đơn, lạc loài, không thể

không kể đến Trăm năm cô đơn của Gabriel Garcia Marquez Nhà văn đã

thành công vượt bậc khi không chỉ miêu tả nỗi cô đơn cá nhân qua các nhân vật phi thường, dị thường, quái dị mà còn khái quát được sự cô đơn của cả gia tộc, cả ngôi làng trong suốt một thời gian dài…

Ở Việt Nam, có thể thấy, khoảng mười năm đầu thời kì hậu chiến (1975 – 1985), khuynh hướng sử thi vẫn tồn tại khá rõ nét trong văn xuôi Việt Nam Nhưng từ 1986, hòa chung với không khí đổi mới toàn diện của đất nước, khuynh hướng sử thi mờ nhạt dần và đời tư - thế sự trở thành khuynh hướng chủ đạo Con người cá nhân trở thành mối quan tâm hàng đầu của người cầm bút với đầy đủ tính chất đa dạng, phức tạp trong suy nghĩ, tính cách, biểu hiện và trong nhiều tầng quan hệ Từ những thay đổi cơ bản trong quan niệm nghệ thuật về con người, các kiểu dạng nhân vật trong văn xuôi cũng phong phú đa dạng hơn, trong đó, con người cô đơn, lạc loài là một kiểu dạng nhân vật khá phổ biến: Cô đơn từ trong bản thể, cô đơn do không thể hòa nhập với cộng đồng, con người luôn cảm thấy lạc lõng trước những bi kịch của đời sống, của mối quan hệ gia đình và xã hội Có thể tìm thấy kiểu dạng nhân vật cô đơn trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Chu Lai, Thuận…

Trong hai tác phẩm Lạc giữa cõi người và Cuộc cờ, Phạm Quang Long cũng thể hiện rất đậm nét cảm hứng mà Nguyễn Kim Đính gọi là tâm thế

“lạc” Lạc giữa cõi người xoay quanh những câu chuyện của Phan Thanh

Trang 26

20

Hưng, Giám đốc sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Đông từ khi nhậm chức cho đến lúc về hưu Gần tám năm ngồi trên “ghế nóng” với biết bao câu chuyện nghề, nhà văn đã bước đầu cho độc giả hình dung ra công việc của một Giám đốc sở chuyên về văn hóa, thể thao, du lịch Đó là một công việc không hề nhàn nhã, mà lắm va chạm, khó khăn, không chỉ đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc để tham mưu cho lãnh đạo tỉnh, mà người đứng đầu còn phải có bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm và dám thay đổi Xét về mặt công việc, Giám đốc Hưng đã làm tròn vai của mình, trong suốt những năm tháng anh là người đứng mũi chịu sào, sở luôn được khen và không có sự vụ gì đáng tiếc xảy ra Nhưng xét về mặt xã hội, Hưng thấy mình lạc loài trong cái cơ chế ấy Hưng không biết quan hệ với cấp trên, nên “ngày lễ, ngày Tết, anh em trong sở khuyên gã nên đến thăm thú, tặng quà thủ trưởng, các đối tác gần gũi của cơ quan, gã cũng ít làm, hoặc nếu phải làm thì cũng với tâm trạng bất đắc dĩ” [21, tr.24]

Trong công việc “gã thấy xung quanh toàn những thái độ giữ mình, không có những người tâm giao” [21, tr.75] Với xuất thân là người thầy đứng lớp nhiều năm, Hưng nhận thấy, thật khó và thật khổ khi người ta không tìm được người tâm giao với mình trong công việc “Người tâm giao” ở đây không phải là phe cánh, lợi ích nhóm, mà là những người tri kỷ trong công việc, hiểu nhau để cùng xây dựng một cơ quan tốt Nguyên nhân của sự giữ mình là do người ta e ngại nhau, sống không thật lòng với nhau Có lẽ do chính những ràng buộc về lợi ích, quan hệ mà người ta phải giữ mình, giữ ghế, giữ bát cơm của gia đình Chính sự sợ hãi đó đã sinh ra kiểu người cô đơn trong công việc, hèn nhát, vị kỷ, làm triệt tiêu ý thức đấu tranh bảo vệ cái tốt, cái đúng Nhiều khi, ở vị trí Giám đốc, Hưng không được quyết theo ý mình, vì lợi ích của ai đó mà Hưng phải ra những quyết định không đúng với lương tâm, trách nhiệm của mình “nhiều khi tôi phải xử lý công việc không phải theo logic công việc mà bị chi phối áp lực của những logic quan hệ và

Trang 27

nó Trong nỗi cô đơn ấy, điều người ta thèm nhất là một sự thảnh thơi, thoải mái bên gia đình, bạn bè Tức là chỉ khi người ta rời xa công việc thì mới cảm thấy hạnh phúc Chính sự cô đơn trong công việc, sự lạc lõng trong giới quan chức với những logic quan hệ, logic lợi ích chằng chịt đã khiến cho Hưng nhiều phen khốn khổ, thậm chí xuýt vướng vào vòng lao lý

Một người quen với Hưng từng ghé tai gã nói nhỏ: “Bây giờ khó thế đấy ông ạ Nhiều khi biết không phải thế mà cứ phải im lặng Có người bảo với tôi, con người mình đang hèn đi phải không ông?” [21, tr.339] Sự băn khoăn của nhân vật kia cũng chính là những băn khoăn của không ít người về sự tha hóa đã và đang diễn ra đâu dó trong cuộc sống hôm nay Hóa ra, không chỉ có Hưng mà nhiều người khác cũng buộc phải sống theo cách không phải của mình “Thì ra không chỉ có mình mà cả những người khác cũng buộc phải đeo mặt nạ để sống, phải nói khác đi những gì mình nghĩ và buộc phải ngồi im khi

có những điều trái lòng mình chỉ vì muốn giữ một mối làm ăn, một sự quen biết Sự dối lòng đã khiến người ta quen dần với thói đạo đức giả, đã khiến một chuyện xấu, bất thường trở thành một sự bình thường, một nếp sống mất rồi” [21, tr.339]

Trang 28

22

Sự cô đơn, lạc loài của con người được thể hiện ngay trong nhan đề của

tác phẩm – Lạc giữa cõi người Theo tác giả, ban đầu ông phân vân định đặt

tên cho tác phẩm của mình là “Cõi người ta”, “Giữa cõi người ta” và rồi nhà văn chọn “Lạc giữa cõi người” làm nhan đề Đó là nhan đề ít nhiều đã nói lên được cảm hứng bao trùm cuốn tiểu thuyết, là tâm thế chủ đạo của nhân vật chính xưng “gã” sống giữa cõi đời mà vẫn thấy cô đơn, lạc lõng, không thể nhập hòa Đó không phải là nỗi cô đơn bản thể của con người, cũng không phải là con người của “thế hệ bỏ đi” không còn niềm tin, không còn hy vọng, sống vất vưởng, lạc lõng trong cuộc đời Mà đó là nỗi cô đơn nảy sinh từ khi Hưng lên làm Giám đốc sở Những mối quan hệ với cấp trên, với đồng nghiệp, với đối tác… đã khiến anh dần mất niềm tin vào con người, cảm thấy

xa lạ với môi trường mà mình đang công tác Trước đây, khi còn là người thầy đứng trên bục giảng, Hưng say sưa với công việc, tin vào lớp trẻ, hãnh diện với công việc của mình, hòa đồng với đồng nghiệp, với sinh viên và cảm thấy “Với gã, dạy học là chuyện ngẫu nhiên, nghề chọn gã chứ gã chẳng chọn nghề nhưng có lẽ cái phần tươi sáng nhất, những giây phút thảnh thơi, vô tư nhất là những ngày đứng trên bục giảng” [21, tr.30]

Nói lên nỗi cô đơn của một con người giàu nhiệt tâm trong công việc, lại

là người đứng đầu một cơ quan văn hóa, có nhiều mối quan hệ, phải chăng nhà văn muốn lên tiếng cảnh báo về mặt trái của cơ chế, của bộ máy mà Hưng đang phục vụ Sự lạc lõng đã khiến Hưng ít nhiều bị tha hóa, nhiều khi anh văng tục, nổi “máu chó” lên vì phẫn uất, thậm chí có lúc còn bị tăng xông vì không ai hiểu việc anh làm, mà còn cố tình gây khó khăn cho công việc của anh “Lạc giữa cõi người” vì thế là niềm đau, là sự trăn trở của một trái tim nhiều lo âu về con người trong hiện tại, nhất là với những trí thức làm quan Nhà văn tâm sự, ông viết tác phẩm này khi đã ngoài sáu mươi tuổi, độ tuổi chiêm nghiệm đã nhiều nên phán xét nhiều hơn, suy tư cũng nhiều hơn và hay triết lý hơn Sự trải nghiệm của một trí thức, của một ông thầy làm “quan văn hóa” đã cho Phạm Quang Long cái nhìn và cách cảm nhận của một người

Trang 29

23

trong cuộc Vì vậy, nỗi niềm của Hưng hiện lên trong từng trang viết chân thực và sống động vô cùng

Không chỉ xoay quanh nỗi niềm cô đơn lạc loài trong công việc như

trong Lạc giữa cõi người, tác phẩm Cuộc cờ lại phản ánh nỗi cô đơn trong nhiều bình diện cuộc sống Cuộc cờ xoay quanh câu chuyện làm ăn đổi đất

lấy hạ tầng của một số cán bộ chủ chốt của tỉnh Nguyên Bình Vì lợi ích nhóm, Thân (Chủ tịch tỉnh) và Đô (Giám đốc sở Kế hoạch Đầu tư) dưới sự hậu thuẫn của anh Hai (nhân vật có quyền lực trên Trung ương chưa bao giờ xuất hiện trực tiếp nhưng có quyền lực vô cùng lớn) đã bắt tay với Lân (doanh nghiệp tư nhân) bẻ cong Nghị quyết tỉnh đảng bộ Với danh nghĩa ưu tiên cho phát triển hạ tầng, tạo dấu ấn cho nhiệm kỳ của Bí thư Nhàn, nhóm Thân đã bày ra trò lấy ý kiến nhân dân để đẩy bảo tàng đi nơi khác, dành đất xây khu

đô thị hiện đại nhưng thực chất là bán đất lấy tiền chia nhau; lấy danh nghĩa là nạo vét đầm Tằm để làm khu sinh thái nhưng thực chất là khai thác đá quý chia nhau Chính vì phi vụ làm ăn với số tiền chia nhau mỗi người tới hàng trăm tỷ đồng nên họ phải dùng nhiều mưu mẹo, thủ đoạn, mánh khóe… để đạt được mục đích Mặc dù cùng phe cánh với nhau nhưng họ không tin nhau, chỉ hợp tác dựa trên nguyên tắc sòng phẳng Trong suy nghĩ của Đô thì “hợp tác

có điều kiện thì tin cậy cũng chỉ là tin cậy có điều kiện Nghĩa là độ tin cậy dựa vào số lượng, giá trị tài sản gắn kết họ với nhau” [23, tr.135] Trong cùng

bộ máy vận hành công việc của tỉnh nhưng giữa họ chỉ có quan hệ lạnh lùng của đồng tiền, chỉ có logic lợi ích và logic quan hệ Vì tiền mà họ có thể làm tất cả: mua chuộc những người ủng hộ, đẩy những người định ngáng đường đi nơi khác với chiêu bài luân chuyển để đào tạo, thậm chí “vào những tình huống quyết định, có khi phải thí cả xe pháo để lấy tốt mà vẫn cứ phải làm” [23, tr.371] Thứ gắn kết họ không phải là tình cảm, tình đồng chí, không phải

vì công việc chung mà là những thẻ ngân hàng với tài khoản có giá trị lớn, những viên đá quý hay những chuyến mang danh đi công tác nước ngoài nhưng thực chất là đi du lịch, mua sắm… Vì lợi ích của mình, người ta phải

Trang 30

24

sống giả tạo, phải đeo mặt nạ, phải nói những lời không thật tâm, luôn nghi

kỵ, đề phòng nhau

Điều đáng nói là con người cô đơn trong công việc đó lại gây nên những

hệ lụy cho chính gia đình mình, cho những người thân của mình Đô và cha mình không tìm thấy tiếng nói chung trong việc xây bảo tàng tỉnh Đô chỉ muốn những gì tạo ra giá trị có thể cân đong đo đếm được bằng vật chất, còn ông Đảo lại tâm huyết với văn hóa, với truyền thống cội nguồn Bằng mọi giá

Đô và Thân muốn làm dự án Thành phố Bình Minh, bề ngoài là vì sự phát triển của tỉnh nhà, nhưng thực chất kiếm chác chia nhau Bằng sự kiên trì của mình, ông Đảo muốn đấu tranh cho công trình lưu giữ những hiện vật lịch sử Cha con xung khắc với nhau, thậm chí hơn nửa năm không gặp nhau, không trò chuyện với nhau là còn bởi quan điểm sống, tính cách khác nhau Đô thực

tế, vị kỷ, lạnh lùng bao nhiêu thì ông Đảo lại nhân hậu, luôn vì người khác bấy nhiêu Ông Đảo đã hy sinh cuộc sống riêng của bản thân vì con, hết lòng

vì con, nhưng càng lớn thì Đô càng xa ông Thấy con ngày càng trượt xa đạo

lý, ông khuyên nhủ, phân tích, nhưng Đô không hề thay đổi Ông Đảo rất buồn, ông tâm sự với hai người bạn của mình: “Nó sống thực dụng, lạnh lẽo với cả tớ mà có lý luận hẳn hoi về thái độ sống ấy Nó bảo bố cần gì cứ bảo con, con sẽ lo cho bố Ngay cả chuyện khuyên tớ lấy vợ nó cũng nói thế này thì các cậu bảo có điên không cơ chứ? Nó bảo, giờ bố không cần lo gì cho con

cả Nếu bố muốn lấy vợ thì bố cứ lấy Đó là chuyện của bố chứ không phải chuyện của con Thế nên bố chả nên chờ ý kiến con làm gì Nó nói thế thì mình còn gì để nói nữa? Thế nên tớ thấy mình cô đơn ngay trong quan hệ cha

con” [23, tr.94] Nỗi cô đơn của người cha càng được tô đậm khi nhà văn đặt

nhân vật này vào cuộc chiến chống tiêu cực mà con ông lại trở thành kẻ đối lập Đô tìm mọi cách để thuyết phục cha từ bỏ vụ kiện, chị con dâu lo sợ chồng mình phải chịu trách nhiệm, phải đi tù, bản thân ông Đảo cũng giằng

xé giữa một bên là tâm huyết cả đời làm văn hóa của mình và cộng sự cũng như trách nhiệm của thế hệ mình với một bên là tình phụ tử Nỗi niềm ấy ông

Trang 31

25

không thể chia sẻ cùng ai Nỗi cô đơn vì thế đã khiến những cơn đau tim xuất hiện nhiều hơn Hình ảnh một ông cụ lọ mọ chiến đấu với những cơn đau, với những sai phạm của cán bộ trong một căn nhà cũ ở miền quê đã khiến độc giả không khỏi suy nghĩ Phải chăng, cuộc chiến chống tiêu cực trong xã hội vẫn

là những hiện tượng đơn lẻ của người đơn thương độc mã?

Người vợ của Đô là Trang- một cô giáo dạy Toán cấp ba, ngoài giờ lên lớp, sống với đám học trò, Trang luôn cảm thấy cô đơn trong chính ngôi nhà của mình, với người chồng của mình Sự nhường nhịn lâu ngày thành nhẫn nhịn, Trang chưa bao giờ được Đô tôn trọng, mọi việc trong nhà Đô đều làm theo ý mình, áp đặt và độc đoán Không bao giờ Đô chia sẻ với vợ về công việc hay về những áp lực cuộc sống Trang không biết chồng có bao nhiêu tiền, các mối quan hệ ra sao… Chị luôn cảm thấy lo sợ, một sự lo sợ mơ hồ nào đó Và quan trọng là dù kinh tế khá giả, chồng lại có chức quyền ở một sở lớn nhưng Trang lại không cảm thấy hạnh phúc: “Chồng có chức quyền, nghiêm chỉnh, con cái học hành tử tế, nhà cửa đàng hoàng nhưng sao lòng chị luôn thiếu ấm áp, trong nhà chị ít thấy tiếng cười, ngay cả khi các con chị còn

ở nhà chứ không phải giờ chúng đi xa chị mới thấy thế” [23, tr.207]

Có thể thấy, Phạm Quang Long trăn trở nhiều về cái lạc loài, cô đơn của con người đương đại, nhất là ở những người có lương tâm, trách nhiệm, muốn sống tử tế nhưng do sức ép quá lớn khiến cho con người như hèn đi, tha hóa dần đi Thế giới nhân vật cô đơn, lạc loài trong hai cuốn tiểu thuyết này gồm cả những người có tên và không tên, cả đàn ông lẫn đàn bà, người già lẫn người trẻ, cô đơn trong công việc và cô đơn trong cả gia đình Điểm chung của những nhân vật này, họ đều là những trí thức được đào tạo bài bản, có ý thức về bản thân mình, có địa vị xã hội, nghĩa là được xếp vào hàng ngũ tinh hoa của tỉnh nhưng họ vẫn không thấy thực sự hạnh phúc Điều đáng nói là nhiều người ý thức được sự cô đơn, lạc loài của mình, họ vùng vẫy để cố gắng thoát ra nhưng càng ngày càng cô đơn hơn Giám đốc Hưng đã cô đơn

Trang 32

26

đến khi về hưu Ông Đảo cô đơn đến lúc chết Trang cô đơn trong cái vỏ bọc hạnh phúc… Kết thúc ấy cho thấy cái nhìn mang tính hiện thực của Phạm Quang Long về con người hiện đại Chính áp lực cuộc sống đã làm cho họ không thể sống thực là mình, không thể hòa nhập với những biến đổi quá nhanh, quá tiêu cực của nhiều người

1.2.2.2 Cảm hứng về cái “bi”

“Bi” ở đây được hiểu là bi kịch Theo Từ điển thuật ngữ văn học, bi kịch

là “một thể của loại hình kịch, thường được coi như là đối lập với hài kịch”

Nó “phản ánh không phải bằng tự sự mà bằng hành động của nhân vật chính, mối xung đột không thể điều hoà được giữa cái thiện và cái ác, cái cao cả và cái thấp hèn, … diễn ra trong một tình huống căng thẳng mà nhân vật thường chỉ thoát ra khỏi nó bằng cái chết bi thảm gây nên những suy tư và xúc động mạnh mẽ đối với công chúng” [16, tr.18] Trong văn học hiện đại, khái niệm

bi kịch còn được hiểu theo một ý nghĩa khác Đó là trạng thái đau khổ khi con

người rơi vào mâu thuẫn không thể điều hòa giữa một bên là khát vọng chính đáng với một bên là hiện thực không cho phép con người thực hiện khát vọng

đó Ở đề tài này, khái niệm bi kịch được chúng tôi dùng ở cách hiểu thứ hai,

tức là một trạng huống tâm lí đầy mâu thuẫn, số phận đau đớn, bất hạnh của một con người cụ thể giữa cuộc sống đời thường

Trước đây, khi văn học làm nhiệm vụ công dân, giá trị mỗi cá nhân được

đo bằng thước đo của cộng đồng thì bản thể con người không được coi trọng

Vì vậy, mọi nỗi vui sướng, khổ đau của nó đều được nhìn qua lăng kính sử thi

và cảm hứng lãng mạn Từ khi văn học tìm lại được chính mình thì đời sống

cá nhân của con người trong văn học mới được thực sự coi trọng Đại văn hào L.Tônxtôi từng nói: “Nghệ thuật là kính hiển vi mà nghệ sĩ soi vào những bí

ẩn của tâm hồn mình và trình bày những bí ẩn chung cho tất cả mọi người”

(Dẫn theo Nguyễn Hải Hà, Thi pháp và tiểu thuyết L.Tônxtôi, NXB Giáo dục,

1992) Chiếc “kính hiển vi” đó không chỉ soi tỏ những vẻ đẹp, những tế bào

Trang 33

27

lành, mà còn phơi bày cả những góc khuất tối, những tế bào ung thư trong một cơ thể bề ngoài có vẻ cường tráng, giúp người đọc có thể nhận diện chân thực về đời sống

Nếu trong mắt của nhiều người, những người giữ chức vụ Giám đốc sở trở lên thường có quyền, có tiền, có nhiều bổng lộc và “thét ra lửa”, hoặc chí

ít cũng thong dong, nhà lầu xe hơi, có kẻ đưa người rước… Thì bằng cái nhìn chân thực của người từng trải qua cương vị Giám đốc một sở lớn nhiều năm của Thủ đô, Phạm Quang Long cho thấy những góc khuất tối mà nhiều người

chưa biết Giám đốc Hưng (Lạc giữa cõi người) luôn thấy cô đơn, lạc loài bởi

trong anh luôn có một mâu thuẫn không thể hóa giải Đó là mâu thuẫn giữa nhiệt tâm của một người hết lòng vì công việc, muốn sống tốt, sống thật, sống

tử tế mà thực tế không cho anh được toại nguyện Người ta cất nhắc anh từ một người thầy quen với môi trường học đường lên làm Giám đốc sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, những tưởng được mời lên làm việc thì gã được tạo mọi điều kiện tốt nhất, nhưng thực tâm, Hưng không những không được tạo điều kiện thuận lợi để làm việc, mà còn liên tục gặp rắc rối Cả thiên tiểu thuyết người đọc có thể thấy Hưng liên tục vướng vào những pha khó, phải nhúng tay vào hết mọi việc to nhỏ của sở Từ việc xử lí vi phạm trong cấp phép quảng cáo, lắp điều hòa cho phòng tiếp dân của sở, cấp phép họp báo cho cá nhân,… đến cả những việc tham gia khảo sát địa bàn xây dựng cầu đi qua Đàn Xã, thu hồi đất cho thuê trước cung Luyện Mã, tổ chức lễ kỷ niệm thành phố nghìn tuổi… Mọi việc Hưng đều phải trực tiếp xắn tay vào làm, nhưng bi kịch thay, anh không được cấp trên ủng hộ, thậm chí còn gây khó khăn: kinh phí không cấp, hồ sơ bị ngâm tới tận nửa năm, ý của Chủ tịch không giống ý của Bí thư, rồi động chạm tới lợi ích của nhóm nọ nhóm kia… Không những thế, Hưng luôn phải chịu sức ép từ cấp trên, từ báo chí Gần tám năm tại vị là ngần ấy thời gian Hưng đơn thương độc mã chiến đấu cho cái đúng, cho lẽ phải, mà nhiều khi anh cũng “trầy vẩy”, “bầm dập” Sau mỗi

Trang 34

28

lần bị dập vùi như thế, điều đáng quý là Hưng vẫn đứng dậy và bước tiếp trên con đường mình đã chọn

Khác với Hưng, Giám đốc Đô (Cuộc cờ) lại là người thực tế và cô độc từ

nhỏ Đam mê lớn nhất của Đô là kiếm tiền và muốn có thật nhiều tiền Chính đồng tiền đã biến Đô thành nô lệ và bi kịch của Đô cũng bắt nguồn từ đó Đô làm cho cha mình đau đớn, làm cho vợ không cảm thấy hạnh phúc thực sự, làm cho các con thiếu niềm tin vào hạnh phúc gia đình Bi kịch của Đô là càng nhiều tiền bao nhiêu thì anh ta lại càng rời xa gia đình của mình bấy nhiêu Thậm chí anh ta không hiểu được việc cha mình tâm huyết xây bảo tàng để làm gì: “Cả đời thầy làm trong ngành thì thầy cho nó là quan trọng nhưng người khác có nghĩ thế đâu? Những người như con có khi cả đời cũng chả vào bảo tàng lần nào cũng có sao đâu? Người ta cần sống cho hiện tại Tương lai cũng cần nhưng hiện tại vẫn quan trọng nhất Còn quá khứ, có mài

ra mà ăn được đâu thầy?” [23, tr.59] Trên ghế Giám đốc sở Kế hoạch và Đầu

tư, Đô kiếm được rất nhiều tiền, vàng, đá quý… nhưng lòng tin của những thành viên trong gia đình tỷ lệ nghịch với tài sản mà Đô có Thậm chí, Đô cũng không nhận thấy nỗi buồn, sự lo lắng mơ hồ trong tâm hồn Trang về một điều gì đó đáng sợ cứ rình rập và ụp lên gia đình bất cứ lúc nào Đô cũng không biết rằng vợ anh dù dư thừa vật chất nhưng không thấy hạnh phúc trong ngôi biệt thự sang trọng Anh cũng không ngờ rằng các con anh cũng không thấy hạnh phúc mặc dù anh chu cấp đầy đủ tiền cho chúng đi du học tận trời Tây Đô ảo tưởng rằng ai cũng như mình, có tiền là hạnh phúc, tiền nhiều là hạnh phúc nhiều Đô chỉ thấy được giá trị của đồng tiền mà không thấy được giá trị tinh thần- thứ không thể đong đếm bằng những đại lượng thông thường Bi kịch ấy, tiếc thay, một Tiến sĩ ngành ngân hàng, đi du học Đức về cũng không thấu hiểu được

Nhà văn đặc biệt chú ý khai thác khía cạnh bi kịch của nhân vật ông Đảo Là một người góa vợ trong chiến tranh, ông Đảo ở vậy nuôi đứa con duy

Trang 35

29

nhất bằng tất cả tình yêu thương và trách nhiệm của đấng sinh thành Ông không đi bước nữa cũng vì sợ con thiệt thòi Ông vun đắp cho con bằng tất cả tình thương đôn hậu của một người cha khao khát mong con mình trở thành người tử tế, tốt lành Nhưng tình yêu thương của ông được đáp lại bằng thái

độ lạnh lùng, ích kỷ, thực dụng của Đô Mâu thuẫn cha con ngày càng lớn, nhất là từ khi dự án xây bảo tàng của ông biết bao năm trời không được duyệt

và có nguy cơ không thành Ông tha thiết với những giá trị lịch sử bao nhiêu thì con ông lại phản đối kịch liệt bấy nhiêu Bi kịch của ông Đảo được đẩy lên đỉnh điểm khi ông phát hiện con ông nằm trong nhóm lợi ích đã bẻ cong Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, bắt tay với doanh nghiệp tư nhân để thâu tóm khu đất vàng và chia nhau số tiền rất lớn Trong ông có sự đấu tranh ghê gớm giữa một bên là tình phụ tử, với một bên là trách nhiệm công dân, là tâm huyết nghề nghiệp: “Có hai con người đang tranh cái trong đầu ông Một người cương quyết đòi ông phải đem tất cả những bằng chứng đã thu thập được vạch mặt bọn lừa đảo, lôi tất cả chúng nó ra ánh sáng, không trừ đứa nào Một tiếng nói khác, phản đối, tuy yếu ớt nhưng lại có sức thuyết phục cực lớn Ông đấu tranh chống tham nhũng là đúng rồi Ông vạch mặt cái đám

vô lại ấy là phải rồi Chả ai chê trách ông điều gì cả Cũng chả ai bảo ông về hưu rồi, hết việc, chỉ thích kiện cáo Nhưng kiện ai thì kiện, sao với con mình, ông không đóng cửa bảo nhau?” [23, tr.295] Có thể nói Phạm Quang Long rất bản lĩnh khi đặt vào nhân vật ông Đảo vào tình huống khắc nghiệt này Bản lĩnh công dân được thử thách và tình thương con của người cha cũng được thử thách Tuy nhiên, cách giải quyết bi kịch lại rất bế tắc: ông Đảo đã uống thuốc trợ tim quá liều để ra đi, ông đã hi sinh mạng sống của mình vì con Bởi nếu sống, ông không thể không đấu tranh, không thể ngồi nhìn những kẻ sai phạm vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật Nhưng nếu ông đấu tranh đến cùng thì con ông phải ngồi tù Sự lựa chọn của người cha đã phần nào thức tỉnh được đầu óc u mê tăm tối của Đô Người đọc chờ đợi sự thay đổi của Đô sau cái chết của cha như anh ta hứa: xin nghỉ hưu sớm hoặc

Trang 36

là hai khía cạnh bi kịch của người lãnh đạo hôm nay Muốn sống đúng với con người mình, làm việc đúng với trách nhiệm được giao, muốn trở thành một lãnh đạo tử tế thì bị đẩy ra như người đứng ngoài rìa bộ máy; còn nếu tồn tại được trong cơ chế này thì phải hi sinh, tha hóa đạo đức, nhân cách của mình, phải biết kéo bè kéo cánh, che chắn cho nhau vì lợi ích nhóm Viết về

bi kịch của những trí thức làm quan, Phạm Quang Long không chỉ phê phán, lên án một bộ phận lãnh đạo trong bộ máy chính quyền hôm nay, mà quan trọng hơn, ông đang chỉ ra những bất cập, những cái tồn tại, những “tế bào lạ” trong cơ thể mà chúng ta gọi là “cơ chế” Chính cơ chế xin cho, chính những bảo bối “ đúng quy trình”, chính những kẽ hở của pháp luật đã đẻ ra những kiểu người cơ hội như Đô, như Thân, như Lân… và chính cơ chế đã bóp nghẹt nhiệt huyết của những lãnh đạo như Hưng, đã giết chết những người nhiệt tâm như ông Đảo, đã kìm hãm sự phát triển của tỉnh và nói rộng hơn là

cả xã hội Những bi kịch ấy khiến chúng ta không khỏi day dứt Mặc dù ta chưa thể thay đổi những bất cập của cơ chế trong ngày một ngày hai, nhưng những số phận nhân vật của Phạm Quang Long đã là những bằng chứng sinh động để ta xem xét và từng bước thay đổi nếu muốn phát triển

1.2.2.3 Cảm hứng về cái “thực”

Cái “thực” ở đây được hiểu là sự thật, là những gì có thật đã và đang diễn ra trong đời sống, được nhà văn ghi chép lại và phản ánh trong tác

Trang 37

31

phẩm của mình A.Solzhenitsyn, nhà văn Nga từng đoạt giải Nobel văn học

đã từng nói đại ý rằng, nếu văn chương không phải là hơi thở của xã hội đương thời, không dám nói lên nỗi đau và sự sợ hãi của xã hội, không cảnh báo kịp những mối nguy hại đe dọa đạo đức và xã hội thì thứ văn chương đó không xứng đáng với cái tên văn chương Điều đó có nghĩa là nhà văn phải phản ánh trung thực xã hội, văn học phản ánh thực tế theo “lối đi riêng” của tác giả Tố Hữu cho rằng:“ Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học” [18, tr.115] Không một người nghệ sĩ nào có thể sáng tác mà không phản ánh hiện thực H Banzac quan niệm nhà văn là “người thư ký trung thành của thời đại”

“Tính chân thực là khái niệm chỉ phẩm chất làm nên sức hấp dẫn, thuyết phục của văn học, thể hiện ở sự phù hợp sinh động giữa sự phản ánh của văn học và đối tượng phản ánh của nó, ở sự thống nhất giữa chân lí nghệ thuật và chân lí đời sống, giữa sáng tạo nghệ thuật và quy luật tất yếu của lịch sử” [16, tr.288] Tác phẩm nào cũng có tính hiện thực, nhưng chỉ những tác phẩm xây dựng được hình tượng, phản ánh được những vấn đề mang tính

cơ bản nhất, bản chất nhất của thời đại, của xã hội, thông qua những hình tượng nghệ thuật sống động, tôn trọng những quy luật của đời sống, tôn trọng những quy luật của lịch sử, nhân vật thật sự có sức sống riêng chứ không phải là cái loa phát ngôn tư tưởng của nhà văn, thì tác phẩm đó mới được xem là có tính chân thực

Văn học thuộc về phạm trù ý thức, mỗi tác phẩm văn học là một khách thể tinh thần đặc thù, nên văn học cũng bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, văn học nhờ cuộc sống mà có, và cũng vì cuộc sống mà phát triển Không có cuộc sống, sẽ không có văn học Chính vì vậy có thể khẳng định, không một tác phẩm văn học nào không phản ánh hiện thực, tính hiện thực vì thế là một thuộc tính tất yếu của văn học Mặt khác, tác phẩm văn học không phải là bản photocopy của cuộc sống, không phải là sự sao chép nguyên si, vô hồn cuộc

Trang 38

Lạc giữa cõi người ban đầu ông định gọi là tiểu thuyết phi hư cấu, nhưng sau

đó lại thôi vì nghĩ rằng thể loại nào không quan trọng, quan trọng là mình viết

cái gì và muốn chuyển tải ý đồ nghệ thuật gì Những câu chuyện trong Lạc giữa cõi người, như nhà văn tâm sự, có những chuyện thật tới hơn chín mươi

phần trăm, đúng tới cả lời thoại, bối cảnh… Đọc tác phẩm này, người đọc ít nhiều thấy thấp thoáng hình bóng của chính tác giả Phạm Quang Long, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội một thời Bối cảnh chính trị của tỉnh Nguyên Bình chỉ là cái cớ để nhà văn đặt vào đó nhưng câu chuyện mắt thấy, tai nghe, bản thân từng trải nghiệm, thậm chí gặp tai họa Những địa danh như Đàn Xã, cung Luyện Mã, vườn hoa anh hùng trẻ tuổi, … ; những vụ việc như vụ vũ trường Mới, Lễ kỷ niệm thành phố nghìn tuổi, thánh vật sông Tùng Giang…; những con người như nghệ sỹ Trọng Đà, giáo sư Hoàng Giang … đều thấp thoáng những địa danh, sự việc, con người có thật ngoài đời, nhà văn chỉ đảo tên, đọc chệch một chút là thành sự kiện, nhân vật trong tác phẩm của mình Điều đó khiến cho tác phẩm mang màu sắc tiểu thuyết tự thuật, phi hư cấu

Câu chuyện về vũ trường New Century gây rung động xã hội năm 2007

là một ví dụ điển hình cho sự thật được nhà văn thuật lại với tư cách người trong cuộc Đi vào tác phẩm, vũ trường Mới làm đau đầu giám đốc Hưng Vì

vụ này mà sở của Hưng có hai người bị kỷ luật: Bằng và Hoành, còn bản thân Hưng thì bị bầm dập vì báo chí, bị chất vấn tối tăm mặt mũi trong kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh, thậm chí xuýt bị truy tố Hay chuyện về công ty làm đường qua Đàn Xã phát hiện hố đào ở Ô Dừa Cạn nhiều hiện vật mà các nhà khảo cổ cho rằng đó là đàn Xã Tắc Mâu thuẫn giữa phát triển và bảo tồn

Trang 39

33

được đặt ra Các nhà quản lí muốn làm đường để tránh tắc đường vốn đã rất nghiêm trọng ở khu vực này Các nhà hoạt động văn hóa lại muốn bảo tồn nguyên vẹn Giám đốc Hưng “đi giữa hai làn đạn” “Giữ lại khu vực này hoàn toàn đồng nghĩa với việc bỏ đi một con đường, bỏ đi bao nhiêu tiền của đã đầu tư mà không thể kết thúc, sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của bao người Nhưng nếu cứ tiếp tục làm đường như đã định thì nguy cơ phá hủy mất một trong những khu vực gắn với di sản vô giá của đất nước” [21, tr.346] Nhiệm

vụ của Hưng là tham mưu cho lãnh đạo tỉnh để có phương án hợp lý nhất, để vừa bảo tồn, vừa phát triển Câu chuyện này gợi nhớ đến sự kiện tháng 10-

2013, đơn vị thi công cầu vượt Ô Chợ Dừa phát hiện ở các hố thám sát làm móng cầu đã phát hiện những hiện vật từ thời Lê, thời Trần và một số thời Lý, các nhà khảo cổ đã nghi ngờ đó là những dấu hiệu của đàn Xã Tắc xưa Những tham mưu của Giám đốc sở Văn hóa Phạm Quang Long đã ít nhiều giúp Thành ủy Hà Nội đưa ra được lời giải cho bài toán bảo tồn và phát triển của thủ đô Câu chuyện “Thánh vật sông Tùng Giang” gợi nhớ đến những câu chuyện đậm màu huyền thoại liên quan đến việc nạo vét sông Tô Lịch năm

2007 mà những tờ photo bài báo “Thánh vật ở sông Tô Lịch” đăng trên tờ Bảo vệ pháp luật cuối tuần, số 16, ra ngày 21-4-2007, được chuyền tay khắp nơi, khiến dân chúng hoang mang Đi vào trong tác phẩm, câu chuyện “Thánh vật sông Tùng Giang” làm đau đầu nhà quản lý Giám đốc Hưng đã xuống tận nơi để tìm hiểu thì được biết do cách làm không khoa học, đơn vị thi công nạo vét sông làm ăn thua lỗ mấy trăm triệu, để có cớ điều chỉnh dự toán mà thực chất là xin thêm tiền bù lỗ, họ đã thêu dệt câu chuyện nhuốm màu kỳ bí để làm lung lạc chủ đầu tư Hưng đã viết một bài báo đậm màu khoa học có tên

“Chuyện lạ sông Tùng Giang- sự thật và bịa đặt” để dẹp yên dư luận…

Mỗi câu chuyện đều ghi dấu ấn những cách giải quyết của giám đốc Hưng vừa thuyết phục, trên cơ sở lợi ích chung, lại vừa đứng về lẽ phải và chân lý Ở Hưng ta thấy hình bóng của tác giả, một lãnh đạo có tâm, đầy nhiệt huyết, hết lòng vì văn hóa nhưng cũng bám sát thực tiễn phát triển của thời

Trang 40

34

đại Dựng lại những câu chuyện có thật trên chính con đường làm “quan văn hóa” của mình, Phạm Quang Long không nhằm khoe những “chiến tích” của bản thân, mà quan trọng hơn, ông cho người đọc thấy những vất vả, đau đáu của người làm văn hóa hôm nay; thấy được những khó khăn, có khi khổ sở, đau đầu của một người đứng mũi chịu sào trước lãnh đạo cấp trên, trước dư luận xã hội và trước sự đòi hỏi của nhân dân Để làm lãnh đạo được, theo Phạm Quang Long, “người làm lãnh đạo phải ở một tầm hiểu biết rộng lớn, phải có một cái tâm vì cái chung và một năng lực biết tổ chức, lãnh đạo chứ không chỉ biết có điều hành [36, tr.193] Đọc mười tám vụ, mười tám lần

“lâm trận” của giám đốc Hưng trong suốt cuốn sách, người đọc vừa thấy một hiện thực ngột ngạt của cơ chế, áp lực trước những đòi hỏi nhiều khi quá đáng từ nhiều phía, thấy khâm phục trước nhiệt tâm chưa bao giờ giảm sút của Hưng, nhưng cũng thấy thương cảm cho người lãnh đạo liên tục phải quay quắt trong vòng xoáy khắc nghiệt của bộ máy chính trị tỉnh Hải Đông

Không mang bóng dáng tự truyện như Lạc giữa cõi người, cái “thực” trong Cuộc cờ là câu chuyện đổi đất lấy hạ tầng đã khá quen thuộc trong đời

sống chính trị ở nhiều địa phương Hình bóng của những Chủ tịch tỉnh như Thân, Giám đốc như Đô hay Giám đốc doanh nghiệp như Lân có thể nói là không hiếm, người đọc có thể nhận ra ở đâu đó ngay tại địa phương mình Những dự án BT với cơ chế “đổi đất lấy hạ tầng” được coi như sáng kiến của Bà Rịa - Vũng Tàu từ nửa đầu những năm 1990 Thời điểm đó, ngân sách nhà nước tại địa phương không đủ để phát triển hạ tầng mà Nhà nước lại chỉ

có đất đai là quý Do vậy, Nhà nước hợp đồng với nhà đầu tư bỏ tiền ra xây dựng hạ tầng và thay vì trả nhà đầu tư công trình hạ tầng bằng tiền thì Nhà nước trả bằng đất đai dưới dạng “hàng đổi hàng” Khuyết tật của cơ chế đổi đất lấy hạ tầng là giá trị công trình được xác định theo dự toán của dự án đầu

tư, tính giá đất do UBND cấp tỉnh quyết định khi chưa có hạ tầng Vì vậy mà đất đai được định giá thấp Thế thì nhà nước thiệt, nhân dân thiệt, thiệt hại

Ngày đăng: 30/03/2021, 11:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thái Phan Vàng Anh (2010), “Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, Tạp chí Văn hóa Nghệ An, tháng 12/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, "Tạp chí Văn hóa Nghệ An
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Năm: 2010
2. Trương Thị Kim Anh (2017), “Đôi nét về đổi mới tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, Tạp chí Khoa học- Đại học Đồng Nai (7), tr. 94- 104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét về đổi mới tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, "Tạp chí Khoa học- Đại học Đồng Nai
Tác giả: Trương Thị Kim Anh
Năm: 2017
3. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí văn học, 4, tr.14-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
4. Lại Nguyên Ân (2003), Sống với văn học cùng thời, NXB Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với văn học cùng thời
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2003
6. M. Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đotxtoiepxki, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đotxtoiepxki
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
7. M. Bakhtin (2003), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư dịch, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2003
9. Nguyễn Thị Bình (2007), “Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975- một cái nhìn khái quát”, Tạp chí nghiên cứu văn học (2), tr.49-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975- một cái nhìn khái quát"”, Tạp chí nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2007
10. Nguyễn Thị Bình (2015), Văn xuôi Việt Nam sau 1975, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2015
11. Phan Cự Đệ (2000), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
12. Đoàn Ánh Dương (2014), Không gian văn học đương đại, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian văn học đương đại
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2014
13. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Vọng từ con chữ - tiểu luận phê bình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ - tiểu luận phê bình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
14. Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng (tuyển chọn và biên soạn) (2010), Thi pháp học ở Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng (tuyển chọn và biên soạn)
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
15. Hoàng Cẩm Giang (2015), Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI cấu trúc và khuynh hướng, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI cấu trúc và khuynh hướng
Tác giả: Hoàng Cẩm Giang
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
16. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
17. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1998), Lí luận văn học – Vấn đề và suy nghĩ, NXB GD, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học – Vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1998
18. Tố Hữu (1981), Cuộc sống cách mạng và văn học, nghệ thuật, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc sống cách mạng và văn học, nghệ thuật
Tác giả: Tố Hữu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1981
19. Cao Kim Lan (2015), Tác giả hàm ẩn trong tu từ học tiểu thuyết, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả hàm ẩn trong tu từ học tiểu thuyết
Tác giả: Cao Kim Lan
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2015
20. Tôn Phương Lan (2001), “Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kì đổi mới”, Tạp chí Văn học, (9), tr 43-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kì đổi mới”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Tôn Phương Lan
Năm: 2001
50. Đăng Bảy, Đối mặt với lương tri, Văn hóa Nghệ An, 17/4/2018 http://vanhoanghean.com.vn Link
51. Song Hà, Hiện tượng Phạm Quang Long, Báo Người Hà Nội, thứ năm, 15/3/2018, http://nguoihanoi.com.vn Link

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm