CÇn nhÊn m¹nh thªm lµ trong qu¸ tr×nh thùc hµnh, t«i lu«n cho c¸c em b¾t ®Çu bằng mẫu câu với tính từ dạng nguyên để làm nền cho các dạng thức so sánh và mỗi tính từ khi đưa ra thưc hành[r]
Trang 1đề tài sáng kiến kinh nghiệm
“Dạy các dạng thức so sánh của các Tính từ ngắn có quy tắc trong môn tiếng Anh 6”
Bố cục của đề tài
A Đặt vấn đề.
B Giải quyết vấn đề.
I Mục tiêu chung
II Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy
1 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu khái niệm về Tính từ ngắn có quy tắc
2 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu cấu tạo các dạng thức so sánh của các
Tính từ ngắn có quy tắc
3 Hướng dẫn học sinh sử dụng các dạng thức so sánh của các Tính từ
ngắn có quy tắc
4 Hướng dẫn học sinh làm một số bài tập ngữ pháp áp dụng cho các
dạng thức so sánh của các Tính từ ngắn có quy tắc
III Kết quả
IV Những hạn chế của đề tài
V Bài học kinh nghiệm và những điều kiện để áp dụng đề tài
C Kết luận và kiến nghị.
Trang 2A đặt vấn đề
Ngày nay, việc dạy và học học tiếng Anh theo phương pháp mới, phương pháp
tích cực được thực hiện triệt để trong mọi môi trường giáo dục Có thể nói, tiếng Anh
là môn học đi đầu trong việc đổi mới phương pháp.Với mục đích là giúp cho người
học có được kĩ năng giao tiếp tốt nhất và cũng để cho kết quả của các kì thi được cao
hơn Nhưng muốn làm được điều đó thì người học phải có được kiến thức ngôn ngữ
phong phú, vững vàng, chỉ có vậy họ mơi tự tin sử dụng ngôn ngữ mình đang có Ví
như họ muốn miêu tả đặc điểm của nhiều người với nhau, miêu tả nhiều vật có những
đặc điểm khác nhau: Về hình thức, khối lượng, trọng lượng và màu sắc thậm chí
cả đặc điểm về thời gian, về khoảng cách vậy làm thế nào để người học làm tốt
được điều này, có lẽ đây cũng chính là điều tôi trăn trở, rút kinh nghiệm qua nhiều
năm giảng dạy môn tiếng Anh và cũng là lí do để tôi chọn sáng kiến về việc " Dạy
các dạng thức so sánh của các Tính từ ngắn có quy tắc trong môn tiếng Anh 6 ".
Ngày nay, chúng ta đang thực hiện phương pháp dạy học theo hướng tích cực,
đòi hỏi mỗi giáo viên phải có kế hoạch chuẩn bị chu đáo cho các hoạt động học Chỉ
có thế, học sinh mới có điều kiện và cơ hội luyện tập nhiều trong suốt quá trình bài
học và có thể nắm kiến thức một cách đầy đủ, rõ ràng và chỉ có vậy các em mới tự
tin trong giao tiếp
Để đáp ứng điều này, hầu hết chúng ta, những người đứng lớp đều có ý thức
tốt trong việc vận dụng thực tiễn giảng dạy, nhưng đã có kết quả cao chưa thì đó vẫn
là một câu hỏi lớn cần được giải đáp thích đáng Rằng mỗi chúng ta phải chuẩn bị
những gì cho giờ dạy, cho từng bước lên lớp, đồng nghĩa với việc học sinh cần làm gì
trong mỗi bước dạy đó để đạt hiệu quả cao nhất đáp ứng mục tiêu bài học Có lẽ, đây
cũng là cơ sở để tôi quyết định đi tơi nghiên cứu và viết sáng kiến này Tôi cũng
không tham vọng nhiều mà chỉ mong giải quyết phần lớn những bức xúc trên, những
điều không chỉ mình tôi trăn trở
Với lí do trên, tôi chỉ giới hạn đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 6, đang
học tập với phương pháp đổi mới theo hướng tích cực đối với phân môn tiếng Anh 6
Tuy nhiên vơi hướng đi này, đề tài có thể vận dụng được cho việc dạy các dạng thức
so sánh các tính từ ở các bậc học cao hơn đặc biệt là lớp 7 và 8 Nhưng do giới hạn
của đề tài chỉ áp dụng với "Các dạng thức so sánh của các Tính từ ngắn có quy tắc",
nên tôi xin phép không đi sâu hơn ngoài phạm vi kể trên
Và một điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là sáng kiến chỉ đề cập chủ yếu đến
các giải pháp hợp lí, tối ưu, đảm bảo tính khoa học để áp dụng cho các tiết học về
các tính từ kể trên chứ không phải là tiến trình của một bài học có các tính từ đó Vì
vậy trong quá trình thực hiện đề tài, không nhất thiết phải sử dụng tất cả các kĩ thuật
trong một tiết dạy mà ta có thể lựa chọn nhiều trong số chúng sao cho phù hợp với
từng đối tượng học sinh của chúng ta
Để thực hiện tốt đề tài, tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu
như sau:
Trang 31 Điều tra:
Tôi đã điều tra chương trình tiếng Anh 6, tình hình dạy và học tiếng Anh 6 Bên
cạnh đó, tôi còn điều tra mức độ tiếp thu của học sinh khi học những bài học về các
dạng thức so sánh của các Tính từ ngắn có quy tắc Tôi đã phỏng vấn và kiểm tra lại
một số học sinh về vấn đề này, thì có tới 60% các em chưa phân biệt được rõ các
dạng thức so sánh các Tính từ ngắn có quy tắc, chưa sử dụng chúng trong giao tiếp
cũng như trong các bài tập ngữ pháp tương ứng Kể cả các em học tốt cũng không
mấy tự tin khi sử dụng những tính từ dạng này
2 Thu thập tài liệu:
Việc thu thập tài liệu cũng là một vấn đề rất quan trọng, nó liên quan đến nhiều
bước trong quá trình dạy học, đó chính là các tư liệu liên quan đến các tính từ ngắn
có quy tắc như các tranh ảnh minh hoạ, vật thật và các tư liệu ngữ pháp khác, thậm
chí phải tập vẽ để sử dụng cho một số thao tác nhanh trên lớp, chọn và lập danh sách
những học sinh có những hình dạng, kích thước phù hợp với bài dạy
3 Quan sát: Qua dự giờ thăm lớp tôi thấy rằng, nhiều đồng nghiệp chưa giúp
học sinh hiểu rõ các dạng thức so sánh của các tính từ, đặc biệt sử dụng chúng trong
các tình huống giao tiếp cũng như trong các dạng bài tập áp dụng
Xuất phát từ những trăn trở trên, tôi quyết định chọn sáng kiến "Dạy các dạng
thức so sánh của các Tính từ ngắn có quy tắc trong môn tiếng Anh 6".
B Giải quyết vấn đề.
I Mục tiêu chung .
Đề cập đến sáng kiến này, tôi chỉ có mục đích duy nhất là nâng cao chất lượng
bài học về "Các dạng thức so sánh của các tính từ ngắn có quy tắc" Tuy nhiên,
để đạt mục tiêu trên, học sinh phải hiểu rõ thế nào là tính từ ngắn có quy tắc, cấu
tạo, cách dùng và một số bài tập ngữ pháp áp dụng tương ứng
Nói đến các dạng thức so sánh của các tính từ là nói đến cả hai vấn đề từ vựng
và ngữ pháp, bởi nó cũng là một mảng ngữ pháp lớn trong các tài liệu ngữ pháp,và
được nhắc đến không chỉ ở sách giáo khoa lớp 6 mà còn có cả trong chương trình
sách lớp 7 và 8 ; nhưng nó có tính nâng cao và mở rộng hơn, lượng bài tập áp dụng
đa dạng và phong phú hơn Chính vì vậy, trong các hoạt động học tập của học sinh,
cần phải giúp các em phân biệt rõ các dạng thức so sánh của các tính từ ngắn có
quy tắc; đồng thời học sinh cũng phải nắm được mẫu câu căn bản của loại hình này
và vận dụng chúng một cách hợp lí vào các tình huống giao tiếp cũng như một số
dạng bài tập ngữ pháp tiêu biểu
Ii Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu suất giờ dạy
1/ Hướng dẫn học sinh tìm hiểu khái niệm về tính từ ngắn có quy tắc.
- Mục tiêu của phần này là giúp học sinh phân biệt được thế nào là tính từ
ngắn và có mấy loại tính từ ngắn
Trang 4- Bằng phương pháp tích hợp, tôi giúp học sinh ôn lại các tính từ đã học, trong
đó có cả tính từ ngắn và dài, quy tắc và bất quy tắc, ở đây tôi dùng kĩ thuật
NETWORKS cho học sinh thảo luận nhóm để tìm ra tất cả những tính từ mà các em
tích luỹ được từ những bài học trước, trong khoảng thời gian nhất định Sau đó chỉ
cho các em thấy sự xuất hiện các âm tiết trong các tính từ tiêu biểu mà tôi chọn ra,
đó chính là những tính từ vừa đảm bảo điều kiện ngắn, vừa đảm bảo tính quy tắc, đặc
biệt là sự phù hợp với các giáo cụ trực quan mà tôi đã chuẩn bị
Tôi chỉ cho học sinh thấy tính từ ngắn là những tính từ thường có một âm tiết
Ví dụ như: hot, cold, cheap, tall Đồng thời tôi cũng chỉ ra cho các em thấy được
một số tính từ có 2 âm tiết nhưng vẫn được coi là ngắn, đó là những tính từ kết thúc
bằng đuôi "-Y" nhưng trước đó là phụ âm Ví dụ như: easy, busy, happy, pretty
(ở đây tôi không đưa ra các trường hợp khác vì giới hạn của chương trình SGK lớp
6) Thực chất đây là phần mở rộng kiến thức, giúp học sinh hiểu thêm để áp dụng
cho những bài tập mở rộng sau này
- Eg.
Adjectives
tall
good late
- Sau khi học sinh thảo luận, đưa ra kết quả, tôi nhận xét, bổ sung và đưa ra
NETWORKS như trên và yêu cầu học sinh chỉ ra những tính từ dài và tính từ ngắn.(
ở đây học sinh có thể nhầm giưa các tính từ ngắn một âm tiết với tính từ ngắn hai âm
tiết như : happy, easy ) nhưng tôi sẽ sửa và nhấn mạnh thêm cho các em điểm này và
bổ sung thêm cho các em với những từ khác cùng loại như: pretty, busy, noisy, empty,
hungy Đồng thời nhóm luôn các tính từ ngắn( ngoại trừ tính từ "good" là một trong
số ít tính từ bất quy tắc chúng ta đã học, dạng thức so sánh của nó sẽ được tìm hiểu
trong các chương trình lớp 7 và 8 )
Các tính từ ngắn có quy tắc( có bổ sung ), cụ thể là: small, tall, cold, thin, big,
hot, late, wide, large Và tôi cũng đã sử dụng chính các tính từ này để đặt vấn đề,
dẫn dắt cho các hoạt động tiếp theo
Đây là bước chứa đựng cả tính từ ngắn, tính từ dài; cả tính từ quy tắc, bất quy
tắc do đó tôi có thể đặt nó trong phần WARM UP của tiết dạy và chính vì vậy giải
cold big
hot
Trang 5pháp này được vận dụng không chỉ cho chương trình tiếng Anh lớp 6 Đây cũng là
một ưu điểm của kĩ thuật này nói riêng và bước này nói chung
2/ Hướng dẫn học sinh tìm hiểu cấu tạo các dạng thức so sánh của các
tính từ ngắn có quy tắc
- Mục tiêu cần đạt của phần này là học sinh phải phân biệt được cấu tạo của
các dạng thức so sánh của các tính từ ngắn có quy tắc, tương ứng với bốn quy tắc của
nó, đồng thời luyện tập nó như những từ vựng thông thường
- Đồng thời học sinh cũng nắm được hai dạng thức so sánh căn bản của các
tính từ nói chung và tính từ ngắn có quy tắc nói riêng Đó là : Dạng thức so sánh hơn
và dạng thức so sánh hơn nhất
- Kĩ thuật được sử dụng chủ yếu ở đây là trực quan sinh động, phương tiện
được dùng là những bức tranh vẽ về con người, cây cối hoặc các động vật có đặc
điểm kích thước, trọng lượng khác nhau; một số loại quả có hình thức to nhỏ khác
nhau, thậm chí tôi còn phải vẽ thêm một số hình phác hoạ đơn giản mà không kiếm
được phương tiện trực quan bên ngoài, thêm vào đó tôi còn phải sắp xếp, chọn một
số em học sinh có hình dạng béo gầy, to nhỏ, cao thấp khác nhau, cho các em ngồi
gần một chỗ để tiện cho việc luyện tập, mục đích là để các em quan sát đặc điểm
một cách rõ nét, Ngoài ra tôi đã dùng các thẻ từ cho các tính từ trừu tượng( Ví dụ
như tính từ: large, long, cold, hot ) Mục đích của việc sử dụng phong phú loại hình
trực quan như vậy là vì tôi muốn tạo màu sắc, không khí và sự hấp dẫn cho bài học
Tất cả những chuẩn bị này, tôi còn sử dụng cho các bước hoạt động tiếp theo,
đặc biệt là bước 3
- ở bước này , sau khi giới thiệu tất cả các tính từ, cả ở dạng nguyên và hai
dạng so sánh một cách có chủ định theo đặc điểm của tranh, tôi đã cho học sinh
nhóm tất cả các tính từ vừa giới thiệu thành các dạng so sánh riêng biệt Để làm tốt
điều này, tôi đã cho các em thảo luận và hoàn thiện được một bảng theo 4 loại tính
từ ngắn có quy tắc trong dạng thức so sánh của chúng; tương ứng với 3 dạng thức của
tính từ: Dạng nguyên, dạng so sánh hơn và dạng so sánh hơn nhất
Theo giới hạn của đề tài, tôi cũng muốn được nhấn mạnh thêm là tất cả những
bước dạy thông thường tôi xin phép không nêu ra đây, mà tôi chỉ đề cập đến các kĩ
thuật trực quan để giới thiệu, luyện tập cũng như vận dụng các tính từ kể trên mà
thôi
-Eg
Tall : Với tính từ nay, tôi đã chuẩn bị một bức tranh có ba cây thông có kích
thước khác nhau và đặt tên A, B, C cho chúng, trong đó tôi dự kiến (A-tall, B-taller,
C-tallest) Tôi chỉ vào cây A và nói " A is tall " đương nhiên học sinh biết ngay phần
tiếng Việt của nó là " cao", thực chất không chỉ tính từ này mà tất cả các tính từ có
trong bài cũng như các tính từ tôi bổ sung thêm , các em đều đã hiểu về phần tiếng
Việt ở dạng nguyên của nó Vấn đề làm các em lạ chính là sự xuất hiện các đuôi so
sánh cấu thành các dạng thức so sánh của các tính từ mà thôi Vì vậy tôi chỉ cần đưa
Trang 6ra giáo cụ trực quan phù hợp là các em có thể dễ dàng đoán được phần tiếng Việt của
hai dạng thức so sánh tiếp theo Chính vì vậy, tôi chỉ vào cây B trong bức tranh và
nói " B is taller" học sinh sẽ nói " taller" là " cao hơn" và tương tự với tính từ "
tallest" ( cao nhất )
Tiếp theo tôi chỉ vào một em có chiều cao bình thường trong lớp và nói "Nam
is tall", chỉ em tiếp theo có chiều cao khá hơn so với em trước và nói lửng " Lâm is
" và các em sẽ nói " taller" và tương tự với từ "tallest" với em học sinh cao nhất
Như vậy các em vừa nhận biết được các dạng tính từ, đồng thời luyện tập được các
tính từ ấy Thông qua việc nghe các mẫu câu gợi mở, dẫn dắt của tôi các em phần
nào hiểu được cách dùng của chúng
Small : Với tính từ này, tôi đưa ra ba quả cam (Có dán sẵn tem cho ba quả
cam theo thứ tự lớn dần, để tiện cho bước thực hành sau: A, B, C ) có độ lớn nhỏ
khác nhau và đưa quả cam có kích thước lớn nhất lên trước lớp và nói" This orange is
small" và đưa ra quả cam có kích thước trung bình và nói" This is smaller" khi đó
học sinh sẽ thấy ngay phần tiếng việt của "smaller"(nhỏ hơn) tương tự với từ
"smallest" được nói với quả cam nhỏ nhất Tôi cũng đã sử dụng một số học sinh để
các em luyện tập từ này, cách làm tương tự với các dạng của từ "tall" nói trên, nhưng
ở đây tôi không nói hết câu mà để các em tự nói ra các tính từ phù hợp: Eg Nam is
, Lam is , Cường is the
Hot : Với từ này, tôi đã dùng ba thẻ từ có tên ba thành phố, đại diện cho ba
miền khí hậu: Hà nội, Huế, Thành Phố Hồ Chí Minh sau đó đưa ra thẻ mang tên "Hà
nội" để nói " Hà Nội is hot " , tiếp tục đưa ra thẻ về "Huế" và nói là " Huế is hotter",
tương tự tôi đã làm với từ " hottest" với thẻ còn lại Tất nhiên qua hiểu biết, các em
cũng dễ dàng nhận ra phần tiếng Việt của hai dạng thức so sánh của từ này
Large : Với từ này, tôi đã vẽ ba thửa ruộng hình vuông có diện tích khác
nhau lên bảng, ghi rõ số liệu về diện tích( Tượng trưng: 1000 m2(A), 2000 m2(B),
3000 m2(C)) vào đó và chỉ vào hình vuông có số liệu nhỏ nhất nói " It is large" và
hình có diện tích lớn hơn tôi nói " It is larger " tiếp với từ "largest"
wide : Với từ này, tôi sử dụng ba vật thật trong lớp học : Bàn học sinh , Bàn
giáo viên, bảng ( Tôi đã quan sát thấy ba vật này có diện tích bề mặt khác nhau,
trong đó Bàn học sinh hẹp nhất và Bảng rộng nhất) Tôi chỉ vào Bàn học sinh nói
"This table is wide" và chỉ vào Bàn giáo viên nói" This is wider" , còn chỉ vào Bảng
nói "This is the widest" Tất nhiên khi chỉ vào các đồ vật này, tôi đã thể hiện để các
em hiểu là tôi đang muốn chúng miêu tả bề mặt của các đồ vật đó Và bằng cách đó
học sinh dễ dàng nhận ra phần tiếng Việt của hai từ so sánh này
Big : Với từ này, tôi phóng to ba bức tranh trong sách về ba khách sạn để
dạy Tôi đã chỉ vào bức tranh có khách sạn nhỏ nhất nói" This hotel is big", bức
Trang 7tranh có khách sạn lớn hơn nói" This hotel is bigger " và bức tranh có khách sạn lớn
nhất nói " This hotel is the biggest "
Tiếp theo tôi dùng đối tượng học sinh phù hợp để các em luyện tập Tôi chỉ
vào em có hình dáng to vừa phải để nói" He is big" , em to hơn nói" he is " và em
có hình dạng to nhất tôi cũng nói " He is the " các em dễ dàng quan sát thấy và
nói ra từ ở hai chỗ trống đó là: Bigger và biggest
Easy : Với từ này, tôi chuẩn bị ba thẻ có thể hiện ba phép tính đơn giản ( Thẻ
A: 11+ 11=22, thẻ B: 11+1=12 và thẻ C: 1+1=2) Và tôi đưa ra thẻ A để nói "It is
easy" phép tính B nói " It is easier" và phép tính C thì nói" It is the easiest"
Thin : Với từ này, tôi đã vẽ ba bức tranh với ba người để trần, đều gầy ở mức
độ khác nhau và đưa ra(Có đặt tên tranh : A, B, C theo thứ tự diễn tả mức độ gầy tăng
dần, để tiện cho việc thực hành mẫu câu ở bước sau) Tôi chỉ bức tranh với hình
người vừa phải(A) nói " He is thin", hình gầy hơn(B) nói " He is thinner" và hình còn
lại(C ) nói " He is the thinnest"
Tiếp theo tôi chỉ vào một số em trong lớp có đặc điểm tương tự và cho các em
thực hành bằng cách nói tiếp vào những câu nói lửng mà tôi đưa ra: Eg Nam
is , Lâm is , Cường is the
- Sau khi tôi đã giới thiệu tất cả các tính từ trên , các em đã nhận biết và thực
hành với chúng Tôi nói: như vậy các em đã biết được hai dạng thức so sánh của
tính từ là dạng thức so sánh hơn và dạng thức so sánh hơn nhất, và yêu cầu các em
nhóm ba dạng thức này tương ứng với bốn quy tắc của chúng Để làm tốt điều này,
tôi đã chuẩn bị phiếu học tập có sẵn bảng trống và cho các em hoàn thiện qua thảo
luận nhóm như sau:
( Tôi cũng lưu ý vơi học sinh là có thể bổ sung thêm những tính từ khác đã
học, ngoài những tính từ kể trên.)
Q 1
Q 2
Q 3
( Q1: Quy tắc 1, Q2: Quy tắc 2, Q 3: Quy tắc 3, Q 4: Quy tắc 4 )
Trang 8Sau khi hoàn thiện bảng này, tôi đã nhận xét từng nhóm, chữa cho các em,
nhất là những từ các em bổ sung ở đây tôi không viết những từ được bổ sung lên
bảng với mục đích phát huy khả năng sáng tạo của các em khác trong những bước
luyện tập tiếp theo có thể có liên quan với những từ đó
Tôi cũng đã nói nhanh về các quy tắc trên: Q1 thông thường khi chia tính từ
ngắn ở dạng có quy tắc ta chỉ việc kết hợp đuôi " -er" or "-est" Q2 nếu tính từ đó kết
thúc bằng một phụ âm mà trước đó là nguyên âm( áp dụng với tính từ ngắn) thì ta
phải nhân đôi phụ âm đó trước khi thêm đuôi "-er" or "-est" Q3 nếu tính từ đó kết
thúc bằng "-e" thì ta phải bỏ "-e" trước khi thêm "-er" or "-est" Q4 nếu tính từ kết
thúc bằng "-y" mà trước đó là phụ âm thì ta phải đổi "-y" thành "-i" trước khi thêm
đuôi "-er" or "-est"
Có thể nói, đây là bước điển hình được áp dụng cho chương trình tiếng Anh
lớp 6, tuy nhiên theo hướng này, về căn bản tôi vẫn có thể vận dụng cho việc dạy các
dạng thức so sánh của các tính từ ở những cấp học cao hơn, nhưng với các tính từ bất
quy tắc và các tính từ dài thì hình thức tạo bảng có thay đổi cho phù hợp Đặc biệt tôi
muốn nhấn mạnh rằng, với giải pháp này ta nên đưa nó vào phần luyện tập của tiết
dạy
3 Hướng dẫn học sinh sử dụng các dạng thức so sánh của các tính từ
ngắn có quy tắc trong câu.
- Mục đích của phần này là học sinh phải hiểu cách dùng thông qua các mẫu
câu cũng như biết vận dụng các dạng thức so sánh của các tính từ kể trên vào các
tình huống giao tiếp
- Tôi đã chia ra hai loại mẫu câu chính cho các em vận dụng: Câu dùng các
dạng thức so sánh của các tính từ khi không có đối tượng so sánh và câu sử dụng các
dạng thức so sánh của các tính từ khi có đối tượng so sánh
- Hướng phát triển như sau:
Tôi đã đưa ra mẫu câu trước ( Mỗi mẫu câu tương ứng với một ví dụ), cho các
em đọc mẫu câu đồng thanh rồi cho một vài cá nhân đọc trước lớp Sau đó cho các
em gạch chân các dạng thức so sánh của các tính từ xuất hiện, gạch chân đặc điểm
làm nên mẫu câu đó, như từ " than " xuất hiện trong câu với dạng thức so sánh hơn,
mạo từ " the " và trạng ngữ chỉ cái chung như : of us, of them, in my class, in our
group, in Việt Nam là đặc điểm của câu có dạng thức so sánh hơn nhất
- Về phương tiện giúp các em trong quá trình thực hành cũng là các phương
tiện đã được sử dụng ở phần trên
Cần nhấn mạnh thêm là trong quá trình thực hành, tôi luôn cho các em bắt đầu
bằng mẫu câu với tính từ dạng nguyên để làm nền cho các dạng thức so sánh và mỗi
tính từ khi đưa ra thưc hành đều được nói theo hai hình thức là đồng thanh và cá nhân
trong đó đồng thanh thực hiện từng câu một theo chỉ dẫn của giáo viên , còn thực
hiện cá nhân thì các em phải tự quan sát và nói để tả cho cả ba đặc điểm của tranh,
người hoặc vật
Trang 9a/ Với mẫu câu không có đối tượng so sánh:
Với loại mẫu câu này, tôi đồng thời cho các em thực hành nói với hai dạng
mẫu câu đồng nghĩa: Một là dạng tính từ bổ nghĩa cho danh từ kết hợp vơi danh từ
tạo thành cụm danh từ Hai là dạng tính từ bổ nghĩa cho chủ ngữ , đứng độc lập làm
tân ngữ trong câu
Eg ( tall ) : Tôi vẫn sử dụng bức tranh dạy từ trên, với cách thức tương tự,
nhưng ở đây tôi viết mẫu câu lên bảng làm ví dụ:
Pic 1: This is a tall tree
Pic 2: This is a taller tree
Pic 3: This is the tallest tree
Or A is tall
B is taller
C is the tallest
Trong đó A là Pic 1, B là Pic 2 và C là Pic 3
Với các tình huống trong lớp, tôi cho ba học sinh phù hợp như trong phần
luyện từ đứng trước lớp và cho các em khác đứng lên quan sát, thực hành
Eg Nam is a tall student
Lâm is a taller student
Cương is the tallest student
Với cách thức tương tự, tôi tiếp tục cho các em thực hành với các tính từ khác
như sau:
Eg (small).
Tôi đặt cả ba quả cam lên bàn, cho các em quan sát, sau đó yêu cầu các em
cầm từng quả đưa ra và tự nhận xét đặc điểm của chúng trước lớp theo ba dạng, hai
cách:
This is a small orange
This is a smaller orange
This is the smallest orange
Or This orange is small
This orange is smaller
This orange is the smallest
Với từ này tôi cũng cho học sinh thực hành như từ " Tall", tôi cũng gọi một số
em có đặc điểm phù hợp đứng lên trước lớp cho các em khác quan sát thực hành
Eg Nam is a small student
Lâm is a smaller student
Cương is the smallest student
Trang 10Or Nam is small.
Lâm is smaller
Cương is the smallest
Eg ( Big)
Cũng với cách thức sử dụng tranh như phần dạy từ, các em quan sát và thực
hành từ này như sau:
Pic ( A): It is a big hotel
Pic (B) : It is a bigger hotel
Pic (C): It is the biggest hotel
Or A is big
B is bigger
C is the biggest
Với tình huống trực quan, tôi cho ba em có hình dáng phù hợp đứng trước lớp,
các em khác quan sát, thực hành theo mẫu
Eg Nam is a big student
Lam is a bigger student
Cường is the biggest student
Lam is bigger
Cường is the biggest
Eg (hot)
Với từ này, Tôi sử dụng ba thẻ tên của ba thành phố như đã dùng ở trên và cho
học sinh thực hành
Hình thức làm như sau: Tôi đưa thẻ ra trước lớp và nói ra tên các thành phố
trên thẻ và học sinh sẽ đồng thanh nói theo thành các câu nhận xét về đặc điểm thời
tiết nóng dần từ địa danh Hà Nội, Huế đến Thành Phố Hồ Chí Minh(HCMC) Sau đó
cho các em đứng lên thực hiện cá nhân trước lớp
Eg Hà Nội is a hot city
Huế is a hotter city
HCM is the hottest city
Huế is hotter
HCMC is the hottest
Với từ này, tôi còn chuẩn bị thêm ba thẻ thể hiện ba mốc thời gian trong một
ngày mùa hè: Lúc 7h sáng(A), 11h trưa(C) và 3h chiều(B)