khóa luận, luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, đề tài
Trang 1- -NGUYỄN QUANG HƯNG
HOµN THIÖN Tæ CHøC KÕ TO¸N CHI PHÝ S¶N XUÊT
Vµ TÝNH GI¸ THµNH S¶N PHÈM X¢Y L¾P TRONG C¸C DOANH NGHIÖP X¢Y L¾P THUéC TËP §OµN DÇU KHÝ
QUèC GIA VIÖT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Trang 2NGUYỄN QUANG HƯNG
HOµN THIÖN Tæ CHøC KÕ TO¸N CHI PHÝ S¶N XUÊT
Vµ TÝNH GI¸ THµNH S¶N PHÈM X¢Y L¾P TRONG C¸C DOANH NGHIÖP X¢Y L¾P THUéC TËP §OµN DÇU KHÝ
QUèC GIA VIÖT NAM
Chuyªn ngµnh : KÕ to¸n
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS, TS NGUYỄN TRỌNG CƠ
2 PGS, TS THỊNH VĂN VINH
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Trang 3Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Quang Hưng
Trang 4Chương 1: LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG
1.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ
1.2 CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ SẢN XUẤT
1.3 GIÁ THÀNH SẢN PHẨM VÀ PHÂN LOẠI GIÁ THÀNH SẢN
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
1.4.3 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
Trang 51.6.1 Đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp 38
1.7 KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT HOẠT ĐỘNG XÂY LẮP THEO HỆ
1.7.4 Liên quan đến việc xác định chi phí theo từng khoản mục gắn
1.8 KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH Ở MỘT
SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO
1.8.4 Bài học kinh nghiệm cho tổ chức công tác kế toán trong các
doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam 53
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP THUỘC TẬP
2.1 TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ QUỐC GIA VIỆT NAM
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia
2.1.2 Đặc điểm tổ chức hoạt động và tổ chức quản lý của các doanh
nghiệp xây lắp thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam ảnh
hưởng đến kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm 58 2.2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
Trang 6và tính giá thành sản phẩm xây lắp 67 2.2.3 Tổ chức hình thức kế toán và hệ thống sổ kế toán phản ánh chi
2.2.4 Tổ chức lập và phân tích báo cáo kế toán về chi phí và giá thành 73 2.3 NỘI DUNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP THUỘC
2.3.3 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành
2.3.4 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
77 2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
Chương 3: HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP THUỘC TẬP ĐOÀN
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ QUỐC GIA
VIỆT NAM VÀ CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP THUỘC TẬP
3.2 SỰ CẦN THIẾT VÀ YÊU CẦU HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN
CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP THUỘC TẬP ĐOÀN
Trang 7chuẩn mực kế toán Việt Nam 104 3.2.2 Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp phải đảm bảo phù
hợp với định hướng đổi mới và phát triển hệ thống doanh
3.2.3 Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp phải đảm bảo
cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin kinh tế tài chính cho
công tác quản lý kinh tế cả ở tầm vĩ mô và tầm vi mô 106 3.2.4 Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp phải đảm
bảo kết hợp chặt chẽ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị 107 3.2.5 Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp phải
3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
3.3.1 Hoàn thiện các nội dung thuộc môi trường pháp lý về kế toán
109 3.3.2 Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
3.4 HOÀN THIỆN CHỈ TIÊU QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ
3.4.1 Yêu cầu cơ bản hoàn thiện chỉ tiêu quản trị chi phí sản xuất và
3.5.1 Về phía Nhà nước và̀ Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam 143 3.5.2 Về phía các doanh nghiệp xây lắp thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc
Trang 8LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 148
Trang 9Số hiệu Tên bảng Trang
Bảng 1.1: Bảng tính giá thành sản phẩm xây lắp theo phương pháp
Bảng 1.2: Bảng tính giá thành sản phẩm xây lắp theo phương pháp
Bảng 2.1: Chi phí sản xuất xây lắp trong 3 năm từ 2009- 2011 76
Bảng 2.3: Bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương 80
Bảng 2.5: Bảng phân bổ chi phí sử dụng máy thi công 83
Bảng 2.6: Bảng tổng hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung 86
Trang 10Số hiệu Tên s ơ đ ồ Trang
Sơ đồ 1.1: Trình tự kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp
34
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp xây lắp Dầu khí 59
Sơ đồ 2.2: Tổ chức bộ máy kế toán tại các doanh nghiệp Xây lắp thuộc
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, vấn đề tiết kiệmchi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm là nhiệm vụ trọng yếu của các doanhnghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo phát triển bền vững Chiphí sản xuất và giá thành sản phẩm là một trong những chỉ tiêu kinh tế tổnghợp, phản ánh chất lượng hoạt động của doanh nghiệp
Kế toán là công cụ quan trọng trong hệ thống công cụ quản lý củadoanh nghiệp cần phải được đổi mới một cách toàn diện nhằm cung cấp thôngtin về hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ quá trình điều hành hoạt độngcho nhà quản lý Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là bộphận kế toán quan trọng của toàn bộ khối lượng công tác kế toán trong doanhnghiệp sản xuất, do đó cần được chú trọng đổi mới cả về nội dung, phươngpháp và tổ chức báo cáo chi tiết để cung cấp thông tin kịp thời, chính xác vàtrung thực cho các nhà quản lý ra các quyết định tối ưu nhằm tiết kiệm chiphí, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao lợi nhuận và khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp Đối với lĩnh vực xây lắp nói chung và xây lắp thuộc Tập đoànDầu khí quốc gia Việt Nam nói riêng, vấn đề này cũng cần được quan tâm
nghiên cứu một cách có cơ sở khoa học Vì vậy, "Hoàn thiện tổ chức kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam" được tác giả lựa
chọn làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sỹ
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu, hệ thống hóa và làm rõ thêm lý luận về tổ chức kế toánchi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp
- Khảo sát thực trạng về tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp thuộc Tập đoàn Dầukhí quốc gia Việt Nam
Trang 12- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp thuộc Tậpđoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu lý luận về tổ chức kế toán chi phí sảnxuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất và thực trạng vềvấn đề này trong các doanh nghiệp xây lắp thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc giaViệt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê nin, nghiên cứu các vấn đề trongmối quan hệ ràng buộc và lôgic; kết hợp sử dụng các phương pháp kỹ thuậtnhư so sánh, kiểm định, diễn giải, quy nạp, phương pháp thống kê, tổng hợp
để phân tích, hệ thống hóa vấn đề
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, tổng quan các vấn đề nghiên cứu, kết luận, danh mụctài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu thành 3 chương (138 trang):
Chương 1: Lý luận về tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp (48 trang)
Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp thuộc Tập đoàn Dầukhí quốc gia Việt Nam (42 trang)
Chương 3: Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp thuộc Tập đoàn Dầu khí quốcgia Việt Nam (48 trang)
Trang 13TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanhnghiệp nói chung và trong các doanh nghiệp Xây lắp nói riêng đã được nhiềugiáo trình, tài liệu, công trình khoa học, luận án tiến sỹ và luận văn thạc sỹkinh tế nghiên cứu
Trong tất cả các giáo trình kế toán doanh nghiệp, kế toán tài chính vàkế toán quản trị của các Trường Đại học, Cao đẳng đều có chương nghiên cứu
về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sản xuất nói chung và sảnphẩm xây lắp nói riêng Nội dung chủ yếu của vấn đề nghiên cứu chi phí sảnxuất trong các giáo trình là cung cấp những lý thuyết cơ bản, mang tínhnguyên tắc về nội dung chi phí sản xuất, phương pháp kế toán chi phí sản xuấtvà các phương pháp tính giá thành sản phẩm, phương pháp đánh giá sản phẩmdở dang Các kiến thức này tạo điều kiện cho những người học, ngườinghiên cứu nắm một cách cơ bản nhất những nguyên tắc để có thể vận dụngthích hợp vào công việc thực tiễn và nghiên cứu sâu thêm
Vì thế, việc nghiên cứu các giải pháp cụ thể để áp dụng vào thực tiễncho một loại hình doanh nghiệp nào đó không được đề cập đến trong các giáotrình, tài liệu này Đó cũng chính là nhiệm vụ quan trọng của những ngườilàm công tác nghiên cứu khoa học và người làm thực tiễn
Trong những năm qua, nhiều công trình khoa học các cấp, nhiều luậnán tiến sỹ, thạc sỹ kinh tế cũng đã nghiên cứu các vấn đề về chi phí sản xuấtvà tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp Mỗi công trình nghiêncứu vấn đề này trên các góc cạnh khác nhau và giải quyết được những yêucầu đòi hỏi cấp thiết trong việc bổ sung thêm hay làm sáng tỏ hơn về lý luậncũng như thực tiễn công tác kế toán chi phí và giá thành sản phẩm trong cácloại hình doanh nghiệp Đặc biệt là trong các luận án tiến sỹ, thạc sỹ đã đề
Trang 14xuất được một số giải pháp phù hợp cho công tác kế toán chi phí và tính giáthành sản phẩm trong các ngành, các doanh nghiệp cụ thể.
- Năm 1987, luận án tiến sỹ về đề tài "Hoàn thiện hạch toán chi phí sảnxuất và tính giá thành điện truyền tải ở doanh nghiệp nhà nước" của tác giảNguyễn Thị Lời, đã nghiên cứu khá logic các vần đề liên quan đến nội dungchi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm điện truyền tải trong doanh nghiệpvà đã đề xuất được một số giải pháp phù hợp cho DNNN lúc bấy giờ, khi cònthời kỳ bao cấp vẫn nặng nề
- Năm 1990, luận án tiến sỹ với đề tài "Hạch toán và phân tích chiphí sản xuất và giá thành Ngành Than" của tác giả Phạm Thị Gái đã nghiêncứu đặc điểm chi phí sản xuất của ngành Than trong điều kiện kinh doanh
đã bước đầu đổi mới, trong đó phân tích khá rõ những nhân tố ảnh hưởngđến giá thành sản phẩm than và đưa ra một số biện pháp hạ thấp chi phí sảnxuất than
- Năm 1995, tài liệu về Cải cách kế toán Việt Nam, dự án EROTAPVIET,bước đầu đã có những đổi mới căn bản về kế toán Việt Nam, khi đó đã hìnhthành các khái niệm về kế toán tài chính và kế toán quản trị, một số công trìnhnghiên cứu khoa học và luận án tiến sỹ kinh tế đã đi sâu nghiên cứu theohướng lý luận về kế toán tài chính và kế toán quản trị; phân biệt gianh giới kếtoán tài chính và kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm Từ đó, mở ramột hướng mới trong nghiên cứu những vấn đề lý luận về kế toán Việt Namthời kỳ hội nhập
- Năm 2002, một số đề tài luận án của các tác giả như Trần Văn Dung,Giang Thị Xuyến và Phạm Quang đã nghiên cứu về Tổ chức kế toán quản trịchi phí và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất Ngoài việc nghiêncứu cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm, các tácgiả đã nghiên cứu sự khác nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính nói
Trang 15chung và bộ phận kế toán chi phí và giá thành sản phẩm nói riêng, các tác giảcòn khảo sát thực tế ở một số doanh nghiệp sản xuất như Công ty 319 - Xínghiệp 11; công ty Xây dựng công trình giao thông 810; công ty Dệt Kim,Công ty Bia Hà Nội Trên cơ sở đó đã có những đánh giá khách quan về việc
tổ chức kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm ở các công ty này, từ
đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện như hoàn thiện về nội dung chi phí, vềtài khoản sử dụng và về báo cáo kế toán quản trị
- Năm 2005, luận án tiến sỹ của tác giả Lưu Đức Tuyên về Hoàn thiệncông tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xi măng trongcác doanh nghiệp nhà nước
- Đề tài của tác giả Hà Xuân Thạch "Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phísản xuất và các phương pháp tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệpCông nghiệp Việt Nam" đã nghiên cứu cụ thể về kế toán chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm đối với một ngành sản xuất Trên cơ sở đặc điểm cụthể của các doanh nghiệp mà tác giả khảo sát, kết hợp với những nghiên cứu
lý luận, tác giả đã đề xuất được những giải pháp khá phù hợp như hoàn thiệnnội dung chi phí của sản phẩm xi măng, sản phẩm công nghiệp; hoàn thiện vềphương pháp tính giá thành và phương pháp đánh giá sản phẩm dở
- Năm 2009, tác giả Lê Thị Diệu Linh với đề tài "Hoàn thiện công táckế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanhnghiệp xây dựng dân dụng" Xuất phát từ việc nghiên cứu các vấn đề lý luậnvà khảo sát thực tiễn các vấn đề liên quan đến công tác kế toán tập hợp chiphí và tính giá thành sản phẩm xây dựng dân dụng, tác giả luận án đã đề xuấtmột số giải pháp hoàn thiện về kế toán trong điều kiện khoán sản phẩm Cácgiải pháp này đã được luận giải khá rõ ràng về cơ sở khoa học của việc đưa racác định mức kinh tế, kỹ thuật phục vụ cho công tác khoán sản phẩm và tínhtoán các chi phí, giá thành trong điều kiện khoán Mặt khác, tác giả luận án
Trang 16cũng đã phân tích các điều kiện cần thiết để thực hiện các phương án khoánsản phẩm.
- Năm 2010, luận án tiến sỹ với đề tài "Tổ chức kế toán quản trị vớiviệc tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp xây lắpViệt Nam" của tác giả Hoàng Văn Tưởng Luận án đã nghiên cứu các trungtâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư,đồng thời luận án cũng đã xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị cho cáctrung tâm Tuy nhiên, việc đề xuất một cách cụ thể về nội dung chi phí củacác trung tâm này chưa được đề cập đến một cách hoàn chỉnh
- Năm 2012, tác giả Dương Thị Vân Anh với đề tài "Hoàn thiện kế toánchi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuấtthuốc nổ thuộc công ty công nghiệp hóa chất mỏ - TKV" Tác giả luận án đãhệ thống hóa các vấn đề lý luận kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm, đồng thời khẳng định vị trí, vai trò của vật liệu nổ công nghiệp đối vớinền kinh tế quốc dân, đặc biệt là đối với ngành khai thác mỏ Thành công củaluận án là đã phân tích và đề xuất được nội dung chi phí sản xuất trong cácdoanh nghiệp sản xuất thuốc nổ Điều này có tác dụng tích cực trong việckiểm soát chi phí hạ giá thành sản phẩm thuốc nổ công nghiệp Tuy nhiên,luận án chưa đề cập nhiều đến việc sử dụng hệ thống tài khoản kế toán chi tiếtphục vụ cho công tác kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm thuốc nổ
Tóm lại, qua việc nghiên cứu tổng quan các vấn đề liên quan đến kếtoán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp cho thấyhầu hết ở các doanh nghiệp thuộc các ngành, các lĩnh vực khác nhau đã cónhững sách giáo trình, tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu khoa học và luậnán tiến sỹ về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Hầu hết các côngtrình này đã nghiên cứu lý luận chung và làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận cótính đến đặc điểm đặc thù về tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh của
Trang 17các ngành, các doanh nghiệp Do đó, đã góp phần hệ thống hóa và phân tích
rõ hơn những vấn đề về lý luận như nội dung chi phí sản xuất, phương phápphân loại chi phí sản xuất, vận dụng hệ thống tài khoản tài chính và xây dựnghệ thống tài khoản kế toán quản trị, hệ thống báo cáo kế toán đối với cácdoanh nghiệp thuộc các ngành, lĩnh vực khác nhau về kế toán chi phí sản xuấtvà tính giá thành sản phẩm
Đối với ngành Dầu khí, trong đó đặc biệt là các doanh nghiệp xây lắpcần phải xác định một cách có cơ sở khoa học về nội dung chi phí sản xuất, vềphân loại chi phí sản xuất, về sử dụng tài khoản kế toán và hệ thống báo cáophù hợp với đặc điểm của ngành và doanh nghiệp Do đó, việc nghiên cứu
luận án với đề tài "Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam" sẽ kế thừa những kết quả nghiên cứu lý luận về
kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm mà các công trình có liên quan củacác tác giả đã nghiên cứu Đồng thời, tiếp tục kế thừa các phương phápnghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn để làm sáng tỏ hơn cơ sở lý luận vàvận dụng phù hợp với thực tiễn trong các doanh nghiệp Xây lắp thuộc Tậpđoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam Trên cơ sở đó luận án sẽ nghiên cứu hoànthiện những vấn đề mà các công trình luận án trước đó chưa đi sâu nghiên ứu
để góp phần hoàn thiện hơn về kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sảnphẩm trong các doanh nghiệp xây lắp nói chung và doanh nghiệp xây lắpthuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam nói riêng
Trang 18Chương 1
LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
Xây dựng, xây lắp được xếp vào ngành sản xuất vật chất, nhiệm vụquan trọng của ngành này là tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngànhcũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân Trong quá trình phát triển của đấtnước, ngành xây dựng, xây lắp cần phải đi trước một bước để tạo ra cơ sởvật chất hiện đại đáp ứng nhu cầu hội nhập ngày càng sâu của kinh tế xã hộiViệt Nam
Nghiên cứu đặc điểm cơ bản của hoạt động xây lắp ảnh hưởng đến tổchức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong cácdoanh nghiệp Xây lắp nói chung và trong các doanh nghiệp xây lắp thuộc Tậpđoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam nói riêng có ý nghĩa thiết thực trong việc tổchức hợp lý và khoa học đối với công tác kế toán nói chung và kế toán chi phísản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp này
Nhìn chung, hoạt động xây lắp có những đặc điểm riêng mang tính đặcthù về kinh tế kỹ thuật, thể hiện trên những mặt dưới đây:
Một là, hoạt động xây lắp không cố định tại một địa điểm nhất định
mà thường xuyên có sự thay đổi mỗi khi có công trình xây dựng xây lắpmới, do đó cần có những chi phí phát sinh về di chuyển nhân công, dichuyển máy móc, thiết bị, chi phí xây dựng các công trình tạm như lán trại Quá trình thi công xây lắp được thực hiện bằng nhiều phương thức khácnhau như thực hiện bằng máy móc, thiết bị, bằng thủ công hay kết hợp giữathủ công với máy móc, thiết bị, do đó phải xác định đúng đắn nội dung chi
Trang 19phí sản xuất, đồng thời tổ chức hạch toán chi phí sản xuất phải phù hợp vớitừng phương thức.
Hai là, hoạt động xây lắp chịu ảnh hưởng lớn bởi thời tiết khí hậu các
vùng miền, nơi thực hiện các công trình xây lắp, xây dựng Các yếu tố môitrường thi công ảnh hưởng đến kỹ thuật thi công, tốc độ thi công, ảnh hưởng lớnđến công tác tổ chức quản lý vật liệu Điều này làm cho một số khoản chi phíphát sinh thêm mà không thể lường trước được
Ba là, sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc có quy mô lớn,
chu kỳ sản xuất dài, tính chất phức tạp và mang tính đơn chiếc, được xâydựng theo thiết kế và dự toán riêng Giá bán của sản phẩm xây lắp thườngđược xác định trước khi xây dựng thông qua hợp động giao nhận thầu; Mỗisản phẩm đều có yêu cầu riêng biệt về tổ chức quản lý, sản xuất và thi côngphù hợp Quá trình thi công kéo dài nên việc xác định đối tượng tính giáthành sản phẩm và kỳ tình giá thành không giống các doanh nghiệp sản xuấtkhác mà phải căn cứ vào đặc điểm kỹ thuật của từng công trình/ hạng mụccông trình, phương pháp lập dự toán và phương thức thanh toán để xác định
Do kết cấu đơn chiếc nên chi phí sản xuất của từng đối tượng xây lắp có nộidung và tỷ trọng không đồng nhất như một số sản phẩm khác Vì thế, kế toáncần hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành cho từng loại sản phẩm xâylắp riêng biệt như theo từng công trình hay từng hạng mục công trình
Bốn là, sản phẩm xây lắp mang tính cố định, nơi sản xuất thi công đồng
thời là nơi tiêu thụ, sử dụng sản phẩm; các điều kiện sản xuất như máy móc,thiết bị, nhân lực thường được di động đồng bộ theo địa điểm thi công Điềunày ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý và phụ thuộc vào mức giá cả cho mỗiloại công việc trên từng địa bàn, lãnh thổ
Năm là, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất xây lắp cụ thể là các
công trình, hạng mục công trình, vì thế phải lập dự toán riêng cho từng
Trang 20công trình, hạng mục công trình hay từng giai đoạn của công trình, hạngmục công trình.
Sáu là, Chất lượng sản phẩm chưa thể đánh giá chính xác được ngay
khi sản phẩm hoàn thành bàn giao mà còn cần có thời gian bảo hành nên cũngcần có các chi phí bảo hành sản phẩm; chi phí sản xuất xây lắp phát sinh ở cả
3 khâu: khâu chuẩn bị đầu tư, khâu thi công và sau khi sản phẩm hoàn thành
Bảy là, trình độ tổ chức quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động SXKD
của các doanh nghiệp còn một số hạn chế
Các đặc điểm cơ bản trên đây đã ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức kếtoán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các doanhnghiệp xây lắp
1.2 CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.2.1 Bản chất của chi phí sản xuất
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có đầy đủ 3yếu tố, đó là đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động Trong quátrình sản xuất kinh doanh các yếu tố này kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm.Sự tiêu hao các yếu tố nói trên trong quá trình sản xuất tạo ra các chi phí tươngứng, đó là chi phí về tư liệu sản xuất, chi phí về đối tượng lao động và chi phí
về sức lao động Để đo lường các hao phí đã bỏ ra trong kỳ SXKD nhằm tổnghợp, xác định kết quả đầu ra người ta phải sử dụng thước đo tiền tệ
Các chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp gồm hai loại:
Một là, các chi phí bỏ ra để tạo nên một giá trị sử dụng cũng như thực
hiện giá trị sử dụng đó;
Hai là, các chi phí không liên quan đến việc tạo ra giá trị sử dụng.
Về lý luận, cần được làm rõ vấn đề này để xác định chính xác nội dungvà phạm vi chi phí sản xuất Điều đó đã được C.Mác khẳng định trong tác
Trang 21phẩm “Tư bản - tập 1” về sự khác biệt giữa chi phí sản xuất và chi phí chungcủa nhà Tư bản như sau: phí tổn của nhà Tư bản sản xuất ra hàng hoá và phítổn của bản thân sự sản xuất ra hàng hoá đó luôn là hai đại lượng Phí tổn Tưbản đo bằng chi phí tư bản, phí tổn thực sự để sản xuất ra hàng hoá đo bằngchi phí lao động Bởi vậy, chi phí tư bản để sản xuất ra hàng hoá và giá trị haythực chất chi phí sản xuất của nó khác nhau về số lượng [7] Như vậy, theo C.Mác, trong doanh nghiệp sẽ có chi phí doanh nghiệp và chi phí sản xuất sảnphẩm, lao vụ, dịch vụ; bản thân chúng khác nhau về phạm vi và số lượng.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, ngoài chi phí SXKD, các doanhnghiệp xây lắp còn cần thiết phải bỏ ra chi phí cho các hoạt động khác, tất cảcác chi phí đó là chi phí của doanh nghiệp Trong quản lý, doanh nghiệp cầnphải nắm được các loại chi phí này để có biện pháp quản lý tiết kiệm và nângcao hiệu quả Là công cụ quản lý hữu hiệu, kế toán cần phải hạch toán, phântích và cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời về tình hình chi phí của doanhnghiệp, gồm cả các thông tin của kế toán tài chính phục vụ cho việc lập báocáo tài chính và thông tin của kế toán quản trị phục vụ cho báo cáo quản trịdoanh nghiệp giúp cho các nhà quản trị quản lý chi phí đạt hiệu quả cao nhất
Về nội dung chi phí, các quan điểm trước đây cho rằng, “chi phí sảnxuất là toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật hoá đã chi ra để tiếnhành sản xuất kinh doanh trong một kỳ nhất định biểu hiện bằng tiền" [7].Theo các quan điểm này thì chi phí sản xuất gồm 2 bộ phận: hao phí về laođộng sống và hao phí về lao động vật hoá mà các doanh nghiệp đã chi ratrong quá trình SXKD Điều đó có nghĩa chi phí thực chất là sự chuyển dịchvốn và các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất nhằm mục đích tạo ra sảnphẩm, do đó nó chỉ bao gồm chi phí về lao động sống và lao động vật hoá.Tuy nhiên, nếu xét trên góc độ toàn xã hội thì quan điểm này chưa bao quáthết chi phí của doanh nghiệp
Trang 22Theo Chuẩn mực 01-VAS thì chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảmlợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, cáckhoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủsở hữu, không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữudoanh nghiệp [6].
Trên thực tế, trong quá trình hoạt động SXKD, ngoài chi phí về laođộng sống và lao động vật hoá các doanh nghiệp còn phải bỏ ra nhiều loại chiphí khác Các khoản chi phí này có thể là một bộ phận giá trị mới được tạo ra,cũng có thể là những khoản chi phí không phải là chi phí về lao động sống,không phải là chi phí về lao động vật hoá
Vì vậy, theo quan điểm riêng của tác giả, khi nói về chi phí và nội dungchi phí sản xuất, cần hiểu rằng, đó là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí
về lao động sống cần thiết và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra để sảnxuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định Ngoài ra chi phí sản xuất còn baogồm một số khoản chi phí mang tính chất thu nhập thuần túy của xã hội nhưbảo hiểm xã hội, lãi vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng
1.2.2 Phân loại chi phí sản xuất
Trong kỳ hoạt động SXKD, doanh nghiệp phải bỏ ra nhiều loại chi phíkhác nhau Mỗi loại chi phí có tính chất, nội dung, công dụng và yêu cầu quản
lý khác nhau Để quản lý tốt từng loại chi phí sản xuất nhằm đáp ứng yêu cầukiểm tra, giám sát đối với từng loại chi phí cụ thể thì cần thiết phải phân loạichi phí sản xuất
Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp CPSX theo từng loại, từngnhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định.Việc xác định tiêu thức phânloại CPSX hợp lý và khoa học vừa đáp ứng được yêu cầu của kế toán tập hợpchi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, vừa đáp ứng yêu cầu quản lý nhằmtiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm
Trang 23Có nhiều tiêu thức phân loại chi phí sản xuất Trong phạm vi đề tài này,nghiên cứu phân loại chi phí sản xuất trên phương diện kế toán tài chính vàtrên phương diện kế toán quản trị.
* Phân loại chi phí sản xuất theo quan điểm của kế toán tài chính
Trên phương diện kế toán tài chính, chi phí sản xuất được phân loạitheo các tiêu thức sau đây:
1.2.2.1 Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chiathành 2 loại: chi phí ban đầu và chi phí luân chuyển nội bộ
- Chi phí ban đầu: chi phí ban đầu là chi phí mà ngay từ đầu quá trìnhsản xuất doanh nghiệp phải tổ chức chuẩn bị Chi phí này phát sinh trong mốiquan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường kinh tế bên ngoài, do đó còn gọi làchi phí ngoại sinh Chi phí ban đầu được chia thành các yếu tố chi phí có nộidung kinh tế khác nhau và không thể phân chia được nữa về nội dung kinh tế,
vì vậy mỗi yếu tố được gọi là chi phí đơn nhất
- Chi phí luân chuyển nội bộ: là các khoản chi phí phát sinh trong quátrình phân công lao động trong nội bộ doanh nghiệp Các chi phí này phát sinh
do có sự kết hợp các yếu tố đầu vào sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhấtđịnh Do đó, chi phí luân chuyển nội bộ là các chi phí tổng hợp được cấu thànhbởi nhiều khoản chi phí ban đầu nên còn gọi là chi phí hỗn hợp
Cách phân loại theo tiêu thức này cho biết chi phí sản xuất đơn nhấttheo từng yếu tố, đồng thời xác định được nội dung của từng khoản chi phí,tạo điều kiện cho việc xác định phương pháp và trình tự tính giá thành sảnphẩm của doanh nghiệp
1.2.2.2 Phân loại chi phí theo hoạt động và công dụng kinh tế
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chiathành 3 mục chính sau đây:
Trang 24- Chi phí vật liệu trực tiếp: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là giá trịnguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, các loại vật liệu khác sử dụng cho sảnxuất sản phẩm, lao vụ, dịch vụ NVLTT trong xây lắp như xi măng, sắt thépcác loại, gạch các loại
- Chi phí nhân công trực tiếp: chi phí nhân công là các chi phí về tiềnlương, tiền công, các khoản trích theo lương như BHXH, KPCĐ, BHYT dùng
để sản xuất thi công sản phẩm
- Chi phí sản xuất chung: là các chi phí sản xuất chung liên quan đếnphục vụ quản lý sản xuất trong phạm vi phân xưởng, các đội sản xuất Chi phísản xuất chung bao gồm các khoản chi phí sau:
Chi phí nhân viên phân xưởng: chi phí nhân viên phân xưởng gồmcác khoản chi phí về tiền lương, các khoản phụ cấp lương và các khoản tríchtheo lương của nhân viên phân xưởng, các đội sản xuất
Chi phí vật liệu: chi phí vật liệu gồm các khoản chi về vật liệu dùngchung cho phân xưởng sản xuất, các đội sản xuất để quản lý các hoạt độngsản xuất ở phân xưởng
Chi phí dụng cụ: chi phí dụng cụ gồm chi phí về công cụ, dụng cụđược sử dụng ở phân xưởng để phục vụ sản xuất và quản lý sản xuất
Chi phí khấu hao TSCĐ: chi phí khấu hao TSCĐ gồm toàn bộ chiphí khấu hao tài sản cố định thuộc các phân xưởng sản xuất quản lý và
sử dụng
Chi phí dịch vụ mua ngoài: chi phí dịch vụ mua ngoài là các chi phí
về dịch vụ được sử dụng cho hoạt động phục vụ và quản lý sản xuất ở phânxưởng, đội sản xuất
Chi phí bằng tiền khác: chi phí bằng tiền khác là các khoản chi phíkhác bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất và quản lý sản xuất ở phânxưởng, đội sản xuất ngoài các yếu tố trên
Trang 25Mỗi doanh nghiệp có đặc điểm đặc thù nên việc chi tiết các khoản chiphí trên thành những khoản nhỏ tạo điều kiện cho công tác quản lý chi phí đạthiệu quả cao hơn.
Tiêu thức phân loại này giúp doanh nghiệp quản lý chi phí theo địnhmức, đồng thời là cơ sở tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giáthành theo khoản mục, là căn cứ để phân tích tình hình thực hiện kế hoạchchi phí và gía thành sản phẩm cũng như việc xây dựng định mức chi phí cho
kỳ sau
1.2.2.3 Phân loại chi phí theo nội dung tính chất của chi phí
Theo tiêu thức này, toàn bộ CPSX của doanh nghiệp được phân chiathành 5 yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: chi phí nguyên liệu, vật liệu là toàn bộgiá trị nguyên liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, và chi phí vật liệukhác Đây là cơ sở để các doanh nghiệp xác định được tổng giá trị nguyên vậtliêu tiêu hao trong kỳ sản xuất sản phẩm, trên cơ sở đó có kế hoạch mua vào,dự trữ phục vụ quá trình sản xuất bình thường
- Chi phí nhân công: chi phí nhân công là các chi phí về tiền lương, tiềncông, các khoản trích theo lương như BHXH, KPCĐ, BHYT.Đây là cơ sở đểcác doanh nghiệp xác định được tổng quỹ lương của doanh nghiệp, từ đó cócăn cứ xây dựng kế hoạch quỹ lương toàn doanh nghiệp
- Chi phí khấu hao TSCĐ: chi phí khấu hao TSCĐ là số tiền hao mònTSCĐ tính vào chi phí sản xuất trong kỳ Đây là cơ sở để các doanh nghiệpxác định được chiến lược đầu tư trang thiết bị, đảm bảo cơ sở vật chất cho quátrình sản xuất sản phẩm
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: chi phí dịch vụ mua ngoài là số tiền trảcho các dịch vụ mua ngoài của các đơn vị, các nhân cung cấp dịch vụ chodoanh nghiệp Đây là cơ sở để các doanh nghiệp xác định tổng số tiền dịc vụ
Trang 26liên quan đến sản xuất sản phẩm Từ đó có kế hoạch quan hệ trao đổi với cácđối tác cung cấp dịch vụ.
- Chi phí bằng tiền khác: chi phí bằng tiền khác là các khoản chi phíkhác bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh ngoài các yếutố trên
Tiêu thức phân loại này giúp các nhà quản lý nắm được tỷ trọng củatừng yếu tố chi phí trong tổng chi phí sản xuất mà doanh nghiệp đã chi ra đểsản xuất sản phẩm Đối với kế toán, đó là cơ sở tổ chức tổng hợp chi phí sảnxuất theo yếu tố, kiểm tra tình hình thực hiện dự toán CPSX, lập kế hoạchcung ứng vật tư, kế hoạch quỹ lương, kế hoạch khấu hao TSCĐ…
1.2.2.4 Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ của với các khoản mục trên báo cáo tài chính
- Trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chi phísản xuất được ghi nhận khi nó làm giảm bớt lợi ích kinh tế trong tương lai cóliên quan đến việc giảm bớt tài sản hoặc tăng nợ phải trả, đồng thời các chiphí này phải được xác định một cách đáng tin cậy
- Các chi phí sản xuất được ghi nhận trong báo cáo kết quả hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp phải tuân thủ nguyên tắc phù hợp giữa doanhthu và chi phí
- Khi lợi ích kinh tế dự kiến thu được trong nhiều kỳ kế toán có liênquan đến doanh thu và thu nhập khác được xác định một cách gián tiếp thì chiphí liên quan được ghi nhận trên cơ sở phân bổ theo hệ thống hoặc theo tỷ lệ
- Một khoản chi phí được ghi nhận ngay trên báo cáo kết quả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp khi nó không mang lại lợi ích kinh tếcho kỳ sau
Như vậy, chi phí sản xuất trong trường hợp này thể hiện là chi phí sảnphẩm Đó là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm,
Trang 27bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chiphí sản xuất chung.
* Phân loại chi phí sản xuất theo quan điểm của kế toán quản trị
Trên phương diện kế toán quản trị, chi phí sản xuất được phân loại theocác tiêu thức sau đây:
1.2.2.5 Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với khối lượng sản phấm sản xuất hoàn thành
Theo tiêu thức phân loại này, chi phí sản xuất của doanh nghiệp đượcphân chia thành các lọai sau đây: chi phí biến đổi và chi phí cố định
- Chi phí biến đổi (còn gọi là biến phí): là những chi phí khi khối lượngsản phẩm sản xuất hoàn thành thay đổi thì số tiền chi phí cũng thay đổi theochiều thuận như chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu, chi phí tiền lương trảtheo sản phẩm Sự thay đổi của từng loại chi phí tương ứng với sự thay đổicủa mức độ hoạt động nên loại chi phí này còn có thể chia thành: chi phí biếnđổi thực thụ và chi phí biến đổi cấp bậc
Chi phí biến đổi thực thụ là các khoản chi phí biến đổi có quan hệ tỷlệ thuận với khối lượng hoạt động thực hiện Khi tổng khối lượng hoạt độngtăng lên thì tổng chi phí biến đổi thực thụ cũng tăng lên theo tỷ lệ tương ứng,nhưng chi phí biến đổi tính cho một đơn vị khối lượng hoạt động thì lại hầunhư không thay đổi Thuộc khoản chi phí biến đổi thực thụ như chi phí NVLtrực tiếp, nhân công trực tiếp trả theo sản phẩm
Chi phí biến đổi cấp bậc: là những khoản chi phí chỉ thay đổi về tổngsố khi khối lượng hoạt động thay đổi lớn còn nếu khối lượng hoạt động thayđổi nhỏ thì tổng chi phí hầu như không thay đổi Thuộc loại chi phí này nhưtiền lương của bộ phận bảo dưỡng, chi phí năng lượng, nhiên liệu
- Chi phí cố định (còn gọi là định phí): là những chi phí khi khối lượngsản phẩm thay đổi thì số tiền chi phí không thay đổi nhưng tỷ lệ chi phí thì thay
Trang 28đổi theo chiều ngược lại Dựa vào mối quan hệ của chi phí cố định và khối lượnghoạt động, có thể chia chi phí cố định thành chi phí cố định tuyệt đối và chi phícố định tương đối.
Chi phí cố định tuyệt đối là các khoản chi phí mà khi khối lượng hoạtđộng thay đổi thì tổng chi này không thay đổi, còn chi phí trung bình cho mộtđơn vị khối lượng hoạt động thi thay đổi theo chièu ngược lại
Chi phí cố định tương đối là những chi phí mà tổng số thay đổi khi cósự thay đổi lớn về khối lượng hoạt động thực hiện
Ngoài ra, trong quá trình quản lý có thể căn cứ vào đặc điểm của từngloại chi phí cố định đối với hoạt động SXKD để chia chi phí thành chi phí cốđịnh bắt buộc và chi phí cố định tuỳ ý
1.2.2.6 Phân loại chi phí sản xuất theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất của doanh nghiệp được tínhtoán theo các đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất Nếu đối tượng kếtoán là loại sản phẩm thì những chi phí nào trực tiếp liên quan đến loại sảnphẩm nào đó sẽ được tập hợp trực tiếp còn những chi phí nào liên quan đếnnhiều loại sản phẩm sẽ được tập hợp lại để phân bổ cho từng loại sản phẩmtheo tiêu thức thích hợp Do đó, chi phí sản xuất được phân chia thành chi phítrực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp: là những chi phí chỉ liên quan đến một đối tượngchịu chi phí như một loại sản phẩm, công việc, lao vụ, dịch vụ cụ thể Các chiphí này được hạch toán và quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí
- Chi phí gián tiếp: là những chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịuchi phí như nhiều loại sản phẩm, công việc, lao vụ, dịch vụ Các chi phí nàykhông thể quy nạp trực tiếp cho các đối tượng mà phải tập hợp chung sau đómới phân bổ cho từng đối tượng theo tiêu thức phân bổ thích hợp
Trang 29Tiêu thức phân loại này có ý nghĩa trong kỹ thuật hạch toán và khi lựcchọn tiêu thức phân bổ để dảm bảo hạch toán đúng chi phí trực tiếp và phân
bổ chính xác chi phí liên quan đến nhiều đối tượng
1.2.2.7 Phân loại chi phí sản xuất theo khả năng kiểm soát chi phí
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất của doanh nghiệp được căn cứvào khả năng kiểm soát chi phí của doanh nghiệp để phân loại và có thể chiathành 2 loại chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được
- Chi phí kiểm soát được: chi phí kiểm soát được là những chi phí ởmột cấp quản lý nào đó kiểm soát được và có thẩm quyền ra quyết định
- Chi phí không kiểm soát được: chi phí không kiểm soát được lànhững chi phí mà ở một cấp quản lý nào đó không có thẩm quyền raquyết định
Tiêu thức phân loại này có ý nghĩa giúp những nhà quản lý ở các cấpkiểm soát chi phí chặt chẽ, có điều kiện giảm thấp chi phí và lập báo cáo chiphí, báo cáo kết quả nội bộ
1.2.2.8 Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí với báo cáo tài chính
Theo tiêu thức này, chi phí được phân loại thành chi phí sản phẩm vàchi phí thời kỳ
- Chi phí sản phẩm: là những chi phí gắn liền với việc sản xuất sảnphẩm các chi phí này tạo thành giá trị hàng tồn kho trên Bảng cân đối kếtoán Đến khi thành phẩm được bán ra thì chi phí này tạo nên chi phí về giávốn hàng bán trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Các chi phí nàythông thường liên quan đến nhiều kỳ kế toán và ảnh hưởng trực tiếp đến lợinhuận của doanh nghiệp trong nhiều kỳ
- Chi phí thời kỳ: là những chi phí phát sinh của kỳ nào thì ảnhhưởng trực tiếp đến lợi nhuận của kỳ đó và được phản ánh trên các chỉ tiêu
Trang 30trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của kỳ đó Thuộc loại chi phinày có chi phí bán hàng, chi phí nghiệm thu công trình xây lắp, chi phíquản lý doanh nghiệp.
Cách phân loại này có tác dụng đánh giá mối quan hệ của chi phí vớibáo cáo tài chính và cho những nhà quản lý thấy được rằng không phải cứphát sinh chi phí là ảnh hưởng ngay đến kết quả kinh doanh của kỳ mà chi phíphát sinh Đồng thời cách phân loại cũng cho thấy các khoản chi phí củadoanh nghiệp chi ra được phản ánh ở chỉ tiêu nào trong báo cáo tài chính, từ
đó có cái nhìn tổng quát về giá trị tài sản của doanh nghiệp và có phương ánquản lý tốt hơn
1.2.2.9 Phân loại chi phí phục vụ việc phân tích nhằm lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu
Để có phương án sản xuất kinh doanh tối ưu, ngoài việc cần nghiên cứucác cách phân loại chi phí khác nhau còn cần thiết phải nghiên cứu cách phânloại theo tiêu chuẩn trên đây Theo tiêu chuẩn phân loại này chi phí của doanhnghiệp được phân chia thành chi phí cơ hội, chi phí chênh lệch và chi phí ngầm
- Chi phí cơ hội: là loại chi phí bị mất đi khi lựa chọn phương án nàythay vì lựa chọn phương án khác Loại chi phí này không được ghi trong sổ kếtoán, song lại khá quan trọng đối với những nhà quản trị doanh nghiệp Vì thếkhi chọn phương án cần có sự phân tích so sánh để quyết định phương án màchi phí mất đi ít nhất
- Chi phí chênh lệch: là những chi phí có ở phương án này nhưng lạikhông có hoặc chỉ có một phần ở phương án khác Loại chi phí này rất quantrọng cho việc lựa chọn phương án kinh doanh vì nó được xếp vào loại chi phíthích hợp
- Chi phí ngầm: là loại chi phí đã phát sinh có ở tất cả các phương ánđược đưa ra xem xét, lựa chọn Chi phí này không phù hợp cho việc lựa chọn
Trang 31phương án kinh doanh, vì nó không xác định được sự chênh lêch giữa cácphương án.
1.3 GIÁ THÀNH SẢN PHẨM VÀ PHÂN LOẠI GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP
1.3.1 Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí sản xuất dùng để sản xuất hoànthành một khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định
Trong doanh nghiệp xây lắp, giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chiphí sản xuất dùng để sản xuất hoàn thành công trình/ hạng mục công trình haykhối lượng xây lắp
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừa
có tính khách quan, vừa có tính chủ quan và là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp,phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản trong quá trình SXKD cũng nhưhiệu quả công tác quản lý chi phí của doanh nghiệp Về bản chất, giá thànhsản phẩm và chi phí sản xuất là biểu hiện hai mặt của quá trình sản xuấtkinh doanh, đều là biểu hiện bằng tiền của những hao phí về lao động sốngcần thiết, lao động vật hoá và những hao phí khác mà doanh nghiệp phảichi ra trong quá trình SXKD Tuy nhiên, chi phí sản xuất là giới hạn chomột kỳ nhất định, không phân biệt cho loại sản phẩm nào và sản phẩm đó
đã hoàn thành hay chưa, còn giá thành sản xuất sản phẩm là tính cho mộtlượng chi phí sản xuất và một lượng kết quả sản phẩm hoàn thành nhấtđịnh Trên phương diện quá trình hoạt động để xem xét thì quá trình sảnxuất là quá trình hoạt động liên tục cần bỏ chi phí liên tục còn việc tính giáthành sản phẩm chỉ diễn ra tại một thời điểm (thường là cuối kỳ) Tại thờiđiểm này có thể một khối lượng sản phẩm chưa hoàn thành nhưng nó đãchứa đựng một lượng chi phí nhất định, đó chính là chi phí của sản phẩmlàm dở cuối kỳ trước chuyển sang (đầu kỳ này) hay cuối kỳ Do đó, giá
Trang 32thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ gồm chi phí sản xuất của kỳ trướcchuyển sang và chi phí phát sinh của kỳ này trừ đi chi phí của sản phẩmlàm dở cuối kỳ.
+
CPSX phát sinh trong kỳ
-CPSX dở dang cuối kỳTrong công tác quản lý cần xác định chức năng vốn có của giá thànhsản phẩm, đó là:
- Chức năng bù đắp chi phí: mỗi doanh nghiệp khi sản xuất kinh doanhcần phải bỏ ra một lượng hao phí nhất định, hao phí này cần được bù đắp mộtcách đầy đủ, kịp thời để đảm bảo yêu cầu tái sản xuất
- Chức năng thước đo hiệu quả SXKD: khi giá thành sản phẩm hạ trongđiều kiện giá bán sản phẩm không thay đổi, doanh nghiệp sẽ có lợi nhuận, thểhiện kết quả và hiệu quả của việc sử dụng các biện pháp kinh tế, kỹ thuật màdoanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình SXKD
- Chức năng lập giá: giá cả của sản phẩm tiêu thụ trên thị trường phảiđược xác định căn cứ vào hao phí lao động xã hội cần thiết Việc hình thànhgiá cả sản phẩm dựa vào giá thành bình quân của ngành, của địa phươngtrong điều kiện sản xuất kinh doanh bình thường Do đó, cần phải xác địnhđược những hao phí hợp lý tạo nên giá thành sản phẩm
1.3.2 Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Trong quản lý, tùy theo yêu cầu quản lý khác nhau mà người ta có thểphân chia giá thành sản phẩm theo nhiều tiêu thức khác nhau Mối tiêu thứcphân chia có ý nghĩa và mục tiêu quản lý khác nhau Trong kế toán, giá thànhsản phẩm cũng có thể được phân chia trên phương diện kế toán tài chính vàtrên phương diện kế toán quản trị
Trang 33* Phân loại giá thành sản phẩm trên góc độ kế toán tài chính
Trên phương diện kế toán tài chính, giá thành sản phẩm xây lắp đượcphân chia theo các tiêu thức sau:
1.3.2.1 Phân loại giá thành sản phẩm theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm xây lắp được phân chiathành 3 loại: giá thành dự toán, giá thành kế hoạch và giá thành thực tế
- Giá thành dự toán của sản phẩm xây lắp: là phần còn lại sau khi lấygiá trị dự toán xây lắp công trình trừ đi phần thuế và lãi định mức Giáthành dự toán sản phẩm xây lắp được tính toán trên cơ sở dựa vào khốilượng thiết kế và định mức, đơn giá dự toán mà nhà nước quy định trongtừng thời kỳ
- Giá thành kế hoạch của sản phẩm xây lắp: là giá thành sản phẩm xâylắp được tính toán trên cơ sở giá thành dự toán và các yêu cầu cụ thể của kếhoạch kinh tế quốc dân cũng như thình hình sản xuất kinh doanh cụ thể củadoanh nghiệp Loại giá thành này phải được tính trước khi bắt đầu quá trìnhsản xuất kinh doanh và phải thấp hơn giá thành dự toán với mục tiêu để doanhnghiệp dự kiến và có cơ sở cho việc phấn đấu hạ giá thành sản phẩm, đồngthời làm căn cứ để phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thànhcủa doanh nghiệp
- Giá thành thực tế của sản phẩm xây lắp: là giá thành sản phẩm đượctính toán trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế phát sinh theo khoản mụcquy định tập hợp được trong kỳ cùng với số lượng sản phẩm sản xuất hoànthành trong kỳ Giá thành sản phẩm thực tế chỉ tính được khi quá trình sảnxuất xây lắp đã kết thúc và tạo ra sản phẩm
Xuất phát từ đặc điểm công trình xây lắp thường kéo dài nên để đảmbảo cho công tác quản lý chi phí và giá thành đạt hiệu quả cao thì cần thiết
Trang 34chia giá thành thực tế xây lắp thành giá thành công tác xây lắp và giá thànhthực tế công trình/hạng mục công trình hoàn thành.
- Giá thành công tác xây lắp: là giá thành của một khối lượng công tácxây lắp đạt đến điểm dừng kỹ thuật nhất định Việc phân chia ra thành tiêu thứcnày giúp cho công tác kiểm kê, xác định kịp thời các chi phí phát sinh nhằmđiều chỉnh phù hợp cho giai đoạn sau, đồng thời giúp cho việc phát hện kịpthời những nguyên nhân khách quan và chủ quan làm tăng chi phí sản xuất để
có biện pháp ngăn ngừa và xử lý
- Giá thành thực tế công trình/ hạng mục công trình hoàn thành: là toàn
bộ chi phí bỏ ra để thi công công trình/hạng mục công trình từ khi khởi côngđến khi hoàn thành bàn giao
- Ngoài ra, trong xây dựng cơ bản người ta còn sử dụng 2 loại giá thànhkhác, đó là giá đấu thầu xây lắp và giá hợp đồng công tác xây lắp
Giá đấu thầu xây lắp (còn gọi là giá thành dự thầu công tác xây lắp):là loại giá thành dự toán xây lắp do chủ đầu tư đưa ra để cho doanh nghiệpxây lắp tham khảo, tính toán giá thành của mình
Giá hợp đồng công tác xây lắp: là giá thành dự toán công tác xây lắpghi trong hợp đồng thỏa thuận giữa chủ đầu tư và doanh nghiệp xây lắp Đâycũng là giá thành của doanh nghiệp xây lắp tham gia đấu thầu và thắng thầuđược chủ đầu tư chấp thuận Về nguyên tắc thì giá hợp đồng công tác xây lắptối đa bằng giá đấu thầu công tác xây lắp
Trong công tác xây dựng cơ bản, xây lắp, giá đấu thầu công tác xây lắpvà giá hợp đồng công tác xây lắp là một trong những yếu tố quan trọng choviệc hoàn thiện cơ chế quản lý của lĩnh vực xây dựng, xây lắp, đồng thời tạođiều kiện cho việc chủ động công tác tính giá thành sản phẩm và nâng caonăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Phân loại giá thành theo tiêu thức này giúp cho nhà quản lý doanhnghiệp có cơ sở phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, định mức giá
Trang 35thành để từ đó đề xuất phương án hạ giá thành sản phẩm và chủ động trongviệc tính giá thành sản phẩm.
1.3.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm căn cứ vào phạm vi và chi phí cấu thành
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được phân chia thành
2 loại:
- Giá thành sản xuất sản phẩm: giá thành sản xuất sản phẩm gồm cácchi phí liên quan đến quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm như chi phí nguyênvật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung tínhcho số sản phẩm đã hoàn thành Giá thành xuất xuất sản phẩm dùng để hạchtoán thành phẩm, giá vốn hàng xuất bán và tính toán mức lãi gộp trong kỳ
- Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ: giá thành toàn bộ sản phẩmtiêu thụ gồm giá thành sản xuất của số sản phẩm tiêu thụ cộng với chi phíbán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp của số sản phẩm đã tiêu thụ.Loại giá thành này là cơ sở cho việc tính lợi nhuận trước thuế thu nhậpdoanh nghiệp
Phân loại giá thành theo tiêu thức này giúp cho nhà quản lý nắm chắcđược giá thành của từng khâu công việc, từ khâu sản xuất đến khâu bàn giaocông trình và công tác quản lý để từ đó có phương án quản lý tốt từng khâusản xuất kinh doanh
* Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp trên góc độ kế toán quản trị
Trên phương diện kế toán quản trị giá thành sản phẩm xây lắp đượcphân chia thành các loại sau:
- Giá thành sản phẩm theo biến phí: là loại giá thành chỉ bao gồm chiphí biến đổi, gồm chi phí biến đổi trực tiếp và chi phí biến đổi gián tiếp cònchi phí cố định được coi như chi phí thời kỳ tập hợp được bao nhiêu sẽ kếtchuyển toàn bộ để xác định kết quả hoạt động sản xuất trong kỳ
Trang 36- Giá thành sản phẩm có phân bổ hợp lý chi phí cố định: là loại giáthành được xác định gồm hai bộ phận, đó là toàn bộ chi phí biển đổi (gồm cảchi phí biến đổi trực tiếp và chi phí biến đổi gián tiếp) và một phần chi phí cốđịnh được xác định theo công suất thiết kế định mức.
Phân loại theo tiêu thức này có tác dụng quan trọng trong công tác quảntrị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, giúp cho nhà quản lý có thông tinchi tiết và quyết định phương án sản xuất tốt nhất
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP
1.4.1 Đối tượng kế toán chi phí sản xuất
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để tập hợp chiphí sản xuất theo các phạm vi, giới hạn đó Thực chất của việc xác định đốitượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất xây lắp là xác định nơi phát sinh chiphí như phân xưởng, tổ, đội sản xuất, thi công, giai đoạn công nghệ hoặc đốitượng chịu chi phí như công trình, hạng mục công trình, đơn đặt hàng
Mỗi doanh nghiệp, tùy theo đặc điểm quy trình công nghệ và tính chấtsản phẩm để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thích hợp, có thể là:
- Từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm hoặc đơn đặt hàng;
- Từng phân xưởng, tổ đội thi công hoặc từng giai đoạn công nghệ;
- Toàn bộ quy trình sản xuất hoặc toàn doanh nghiệp
Xác định đối tượng chi phí sản xuất hợp lý và khoa học, phù hợp vớiđặc điểm quy trình công nghệ và tính chất sản phẩm sẽ tạo thuận lợi cho côngtác quản lý và tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.Trong các doanh nghiệp xây lắp do tính chất đặc thù của sản phẩm xây lắp nêmthường lực chọn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng tổ, đội, phân xưởngsản xuất, thi công, trên cơ sở sở đó, tập hợp chi phí cho từng công trình, hạngmục công trình hoặc khối lượng công tác xây lắp do tổ đội, phân xưởng sản xuất
Trang 37thi công thực hiện Việc lựa chọn đối tượng chi phí sản xuất theo cách này giúpcho nhà quản lý quản lý hiệu quả đối với từng bộ phận trong doanh nghiệp.
1.4.2 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất xây lắp
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất xây lắp là cách thức mà kế toán
sử dụng để tập hợp, phân loại các khoản chi phí sản xuất phát sinh trong kỳtheo các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định
Kế toán phải căn cứ vào đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, mở các
sổ kế toán để ghi chép các chi phí phát sinh theo đúng các đối tượng hoặc tínhtoán phân bổ các chi phí có liên quan cho đúng đối tượng đó
Hiện nay, các doanh nghiệp thường áp dụng hai phương pháp tập hợpchi phí sản xuất sau đây:
- Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp: Theo phương pháp này nhữngchi phí trực tiếp liên quan trực tiếp đến đối tượng nào thì được tính trực tiếpcho đối tượng đó Kế toán phải tổ chức công tác hạch toán một cách chi tiết,
cụ thể từ khâu lập chứng từ và ghi chép ban đầu, tổ chức vận dụng hệ thốngtài khoản kế toán, ghi sổ kế toán một cách chính xác, kịp thời theo đúng cácđối tượng tập hợp chi phí đã được xác định để đảm bảo cho việc tập hợp chiphí và tính giá thành sản phẩm chính xác;
- Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp: Theo phương pháp này,các chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí sẽđược tập hợp riêng theo địa điểm phát sinh hoặc theo nội dung chi phí Cuối
kỳ, phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí theo tiêu chuẩn phân bổ hợp lý.Vấn đề quan trọng ở đây là cần xác định được tiêu chuẩn phân bổ để đảm bảotính chính xác khi phân bổ chi phí cho từng đối tượng Thông thường có thểlựa chọn một trong các tiểu chuẩn phân bổ sau:
Chi phí nhân công trực tiếp;
Thời gian lao động trực tiếp;
Trang 38 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp;
Số giờ máy chạy
Việc phân bổ này được thực hiện theo hai bước sau:
Bước 1: xác định hệ số phân bổ chi phí::
Hệ số phân bổ chi phí được xác định theo công thức:
Hệ số
phân bổ chi phí =
Chi phí cần phân bổTổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ
Bước 2: xác định chi phí cần phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí
Sau khi xác định được hệ số phân bổ chi phí, kế toán tính số chi phíphân bổ cho từng đối tượng theo công thức:
Chi phí phân bổ
cho từng đối tượng
chịu chi phí
= Hệ số phân bổ chi phí x phân bổ cho Tiêu chuẩn
từng đối tượng
1.4.3 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.4.3.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp gồm chi phí về nguyên vật liệu chính,vật liệu phụ, nửa thành phẩm trực tiếp được sử dụng để sản xuất sản phẩm.Đối với doanh nghiệp xây lắp, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp như xi măng,sắt thép, gạch các loại thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuấtvà giá thành sản phẩm hiện vật của các doanh nghiệp
Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được phản ánh trên tài khoản
621 - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Đối với loại chi phí này, các doanhnghiệp cần phải xây dựng định mức hợp lý cho từng loại sản phẩm (côngtrình, hạng mục công trình)
Khi phát sinh chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán ghi:
Nợ TK 621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Có TK 152- Nguyên vật liệu
Trang 39Có TK 111,112,331
Cuối kỳ kết chuyển chi phí NVLTT, ghi:
Nợ TK 154- Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
- Trị giá NVL trực tiếp còn lại đầu kỳ ở các bộ phận, tổ, đội sản xuất,thi công đó là trị giá NVL trực tiếp đã xuất cho sản xuất ở kỳ trước nhưngchưa sử dụng được chuyển sang kỳ này
- Trị giá NVL trực tiếp còn lại cuối kỳ ở các bộ phận, tổ, đội sản xuấtthi công không sử dụng hết được nhập lại kho hoặc chuyến sang kỳ sau
- Trị giá phế liệu thu hồi (nếu có) là trị giá của số phế liệu thu hồi ở các
bộ phận, phân xưởng sản xuất trong kỳ, căn cứ vào số lượng phế liệu thu hồivà đơn giá phế liệu thu hồi
Như vậy, chi phí NVL trực tiếp thực tế trong kỳ được xác địnhnhư sau:
+
Trị giá NVL trực tiếp xuất dùng trong kỳ
-Trị giá
NVL trực tiếp còn cuối kỳ
-Trị giá phế liệu thu hồi
1.4.3.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp gồm các khoản chi phí về tiền luơng chính,lương phụ và các khoản phụ cấp tính theo lương phải trả cho công nhân trực
Trang 40tiếp sản xuất, thi công hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ Chi phí nhân công trựctiếp được tập hợp trực tiếp vào các đối tượng tập hợp chi phí có liên quan(từng công trình, hạng mục công trình) Trường hợp không tập hợp được trựctiếp thì cần phải tập hợp chung sau đó phân bổ cho từng đối tượng theo tiêuchuẩn hợp lý như chi phí NVLTT, tiền lương định mức, giờ công định mức,giờ công thực tế, khối lượng sản phẩm sản xuất hoàn thành
Để tập hợp và phân bổ bổ chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụngTK622 - Chi phí nhân công trực tiếp TK này được mở chi tiết theo từng đốitượng tập hợp chi phí đã xác định (công trình, hạng mục công trình)
Khi phát sinh chi phí nhân công trực tiếp, kế toán ghi:
Nợ TK 623 - Chi phí sử dụng máy thi công
Có TK 334- Phải trả người lao động
Cuối kỳ kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp, ghi:
Nợ TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Có TK 622 - Phải trả người lao động
1.4.3.3 Kế toán chi phí sử dụng máy móc thi công
Chi phí sử dụng máy thi công là toàn bộ các chi phí về vật tư, chi phínhân công sử dụng máy, khấu hao máy móc thiết bị và các chi phí khác liênquan đến việc sử dụng máy móc thi công các công trình, hạng mục công trình.Trong xây lắp, việc sản xuất, thi công có thể thực hiện bằng máy móc thiết bịhoặc bằng thủ công và kết hợp vừa máy móc vừa thủ công Đồng thời, cónhững doanh nghiệp có máy móc thiết bị thuộc sở hữu của mình nhưng cũng
có những doanh nghiệp không có máy móc thiết bị nên phải đi thuê
Các chi phí về sử dụng máy móc thi công trong kế toán được phản ánhở tài khoản 623 - Chi phí sử dụng máy móc thi công
Đối với những đơn vị đi thuê máy thi công, kế toán hạch toán như sau:
- Khi trả tiền thuê máy móc thi công, ghi: