khóa luận, luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, đề tài
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội,
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
1 GS.TS Nguyễn Văn Khang
2 PGS.TS Nguyễn Thị Lương
Phản biện 1: GS.TSKH Lý Toàn Thắng
Phản biện 2: GS.TS Lê Quang Thiêm
Phản biện 3: GS.TS Nguyễn Thiện Giáp
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại: Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
vào hồi…… giờ…… phút, ngày…… tháng…… năm 2013
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
- Thư viện Viện Ngôn ngữ học
Trang 3NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Bài báo khoa học:
1 Câu hỏi trong thơ trữ tình, t/c Ngôn ngữ, số 10 2002, tr 59 – 67 (đồng
tác giả)
2 Đại từ nghi vấn “Ai” với việc biểu thị hành vi hỏi trong ca dao tỏ tình
của người Việt, t/c Khoa học, số 2 2008, ĐH Sư Phạm Hà Nội, tr 53 - 59.
3 Thử thiết kế bộ giáo trình dạy tiếng Việt mới cho người nước ngoài, t/c
Ngôn ngữ 12/2009, tr 56 - 66 (đồng tác giả)
4 Một số vấn đề về hành vi khen và giới, t/c Ngôn ngữ & đời sống, số
1+2/2011, tr 43- 47
5 Tiếp nhận lời khen của những người nổi tiếng qua hình thức giao lưu
trực tuyến từ góc độ giới, t/c Ngôn ngữ, số 5/2012, tr 66 - 76.
6 Yếu tố giới trong lời khen tại các chương trình giao lưu trực tuyến giữa
người hâm mộ và nghệ sĩ, t/c Ngôn ngữ & đời sống, số 1+2/2013, tr.77 –
84 (* t/c Ngôn ngữ & đời sống, số 3/2013 đã đăng đính chính thay giới
tính bằng giới)
7 Chiến lược giao tiếp xưng hô trong giao lưu trực tuyến giữa người hâm
mộ với nghệ sĩ từ góc độ giới (qua hành vi khen và hồi đáp khen), Hội thảo
ngữ học toàn quốc, do Hội Ngôn ngữ học Việt Nam phối hợp với TrườngĐại học Ngoại ngữ, Đại học Huế tổ chức ngày 26.4.2013
Đề tài:
8 Tiếng Việt cho người nước ngoài (trình độ A), dự án Coursware, World
Bank & ĐHSPHN, 2005 – 2007 (tham gia)
9 Xây dựng đề cương bài giảng tiếng Việt cho người nước ngoài trên cơ
sở khảo sát một số giáo trình hiện có ở Hà Nội, đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Trường 2008 - 2009, ĐHSPHN (chủ nhiệm)
10 Lỗi ngữ pháp của người nước ngoài khi học tiếng Việt và cách khắc phục,
đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường 2009 - 2010, ĐHSPHN (tham gia)
11 Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt hiện nay qua hành
vi khen, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường 2011 – 2012, ĐHSPHN
(chủ nhiệm)
Trang 4MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Trong đời sống hằng ngày của con người, khen cùng với chê làm
thành một trong những cặp phổ biến về ứng xử giao tiếp Đối với khen,điều quan trọng là hiệu quả của chúng trong mối tương tác giữa ngườikhen và người tiếp nhận lời khen: từ phía người khen, đó là khen ai, khen
ở đâu, khen lúc nào, khen cái gì và khen như thế nào; từ phía người đượckhen, đó là thái độ tiếp nhận và cách tiếp nhận lời khen Tất cả sự tươngtác ấy được biểu thị chủ yếu bằng ngôn từ Từ góc độ ngôn ngữ học xãhội, hành vi khen được nghiên cứu theo quan hệ tương tác giao tiếp có sựphân tầng về xã hội Theo hướng này, với tư cách là biến thể, khen và tiếpnhận lời khen được xem xét dưới tác động của các biến xã hội như tuổi,giới, nghề nghiệp, thu nhập, địa vị, học vấn, của người khen và ngườitiếp nhận lời khen
1.2 Giới theo cách nhìn của ngôn ngữ học xã hội là một trong những
biến xã hội quan trọng tác động vào hoạt động giao tiếp của con người.Theo đó, giới tác động vào hành vi khen và tiếp nhận lời khen Tuy nhiên,cho đến nay, mặc dù hành vi khen được nghiên cứu nhiều, nhưng ở ViệtNam lại chưa có một đề tài, luận án nào nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống
về tác động của nhân tố giới đối với hành vi khen và tiếp nhận lời khen
trong tiếng Việt Đây là lí do để chúng tôi lựa chọn vấn đề Đặc điểm ngôn
ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt qua hành vi khen và cách tiếp nhận lời khen làm đề tài luận án
2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HÀNH VI KHEN
VÀ TIẾP NHẬN LỜI KHEN TỪ GÓC ĐỘ GIỚI
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Cho đến nay, một trong những thành công lớn nhất của ngôn ngữ học xãhội ở phương Tây là nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới (cònđược gọi là phương ngữ giới/giới tính) Theo đó, hành vi khen và tiếp nhậnlời khen là một trong những nội dung rất được quan tâm Có thể tóm tắt
kết quả nghiên cứu về nội dung này như sau: 1) Thứ nhất, về mức độ sử
dụng hành vi khen của mỗi giới Trong tương quan so sánh tần suất sử dụng
lời khen giữa hai giới, phụ nữ có xu hướng thực hiện hành vi khen nhiềuhơn nam giới và khen nhiều đối với người cùng giới (phụ nữ khác); nhữngkhác biệt trong hành vi khen giữa nam và nữ xuất phát từ mục đích sử
dụng lời khen khác nhau; 2) Thứ hai, về chủ đề khen của mỗi giới Về mặt
lí thuyết chủ đề có thể khen là một phạm vi vô hạn Tuy nhiên, trong thực
tế, phần lớn các lời khen chỉ tập trung vào một số chủ đề quen thuộc như:
vẻ bề ngoài, khả năng, công việc, vật sở hữu hay một vài khía cạnh về
Trang 5nhân cách; 3) Thứ ba, về cách khen của mỗi giới Có sự khác biệt rõ rệt về
giới trong việc lựa chọn và sử dụng cấu trúc khen giữa hai giới, trong đóchú ý tới tần số xuất hiện cao (lặp đi lặp lại) của một số tính từ và động từ
Đáng chú ý là, tại Trung Quốc có luận án tiến sĩ của Lại Canh Sơn (Lai Gengshan) bằng tiếng Anh và được xuất bản thành sách: "Aprroaching
Gender in Chinese Compliments" (Nghiên cứu giới tính trong lời khen ở tiếng
Hán; 2007) Luận án đã khảo sát những khác biệt về sử dụng lời khen củanam giới và nữ giới ở ba cộng đồng là trường học, làng xã và công nhân (tuynhiên, với ba cộng đồng này, tác giả cũng chỉ nghiên cứu trường hợp)
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1) Ở Việt Nam cho đến nay có rất ít công trình nghiên cứu đề cập đến
vấn đề giới trong hành vi khen và tiếp nhận lời khen Đáng chú ý là hai luận
án tiến sĩ: Nguyễn Quang (1999) về “Một số khác biệt giao tiếp lời nói
Việt- Mỹ trong cách thức khen và tiếp nhận lời khen” và Trần Kim Hằng
(2011) về “Văn hóa ứng xử của người Việt và người Anh: những cặp thoại
phổ biến(khen và hồi đáp khen)” Điểm giống nhau của hai công trình này
là, coi giới là một trong các biến xã hội tác động đến hànhvi khen và đặtgiới trong mối quan hệ với các biến khác như tuổi, nghề nghiệp, địa vị xãhội,… để khảo sát Tuy nhiên, do chỉ là một nội dung nhỏ trong nhiều nộidung lớn, nhất là lại nhằm đối chiếu với tiếng Anh nên các nhận xét đưa ramới chỉ dừng lại ở nhận định chung chung nghiêng về xã hội học, trongkhi đó, các nội dung quan trọng mang tính ngôn ngữ học như các biểu thứckhen, các biểu thức tiếp nhận lời khen, thì chưa được đề cập đến
2) Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Lan Anh (2005) “Lời khen và cách
thức tiếp nhận lời khen với giới tính trong giao tiếp tiếng Việt” đã tiến
hành khảo sát “100 cộng tác viên thuộc những thành phần xã hội khácnhau về nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác và khu vực địa lí”, từ đó đưa ramột số nhận xét về chủ đề khen, cách khen của mỗi giới Tuy nhiên, doluận văn hướng chủ yếu vào lịch sự, mà bản chất của hành động khen làlịch sự, nên những nhận xét cũng mới chỉ dừng lại ở “đặc tính chung”
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN ÁN
Mục đích: Thông qua việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ giới ở hành
vi khen và tiếp nhận lời khen trong tiếng Việt, luận án góp phần vào minhchứng cho lí thuyết của ngữ dụng học về hành vi ngôn ngữ, lí thuyết củangôn ngữ học xã hội về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới, đồng thời gópphần vào nghiên cứu đặc điểm của giao tiếp tiếng Việt nói chung, từ góc
độ giới nói riêng
Nhiệm vụ: 1) Giới thiệu, hệ thống hóa một số nội dung cơ bản về lí
thuyết giao tiếp ngôn ngữ liên quan đến ngữ dụng học (như lí thuyết hành
Trang 6vi ngôn ngữ) và liên quan đến ngôn ngữ học xã hội (như mối quan hệ giữa
ngôn ngữ và giới); 2) Đưa ra một cái nhìn tổng thể về hành vi khen trong
giao tiếp ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng bằng cách phân tích,khảo sát và chỉ ra các đặc điểm ngôn ngữ giới của hành vi khen và tiếp nhận
lời khen trong giao tiếp tiếng Việt; 3) Khảo sát, nghiên cứu hai trường hợp
cụ thể: a) Khảo sát đặc điểm ngôn ngữ giới ở hành vi khen và cách tiếpnhận lời khen của người hâm mộ với nghệ sĩ; b) Khảo sát đặc điểm ngônngữ giới ở hành vi khen và cách tiếp nhận lời khen về hình thức bên ngoàicủa của con người
4 PHƯƠNG PHÁP VÀ THỦ PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện luận án này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp và thủpháp sau: 1) Phương pháp và thủ pháp của ngôn ngữ học xã hội phỏng vấnsâu, nhập thân vào vai giao tiếp, quan sát và điều tra bằng anket; 2) Cáchnghiên cứu trường hợp; 3) Các phương pháp và thủ pháp khác như phântích diễn ngôn, quy nạp, diễn dịch, thống kê, miêu tả, phân tích hệ thống
5 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu, khảo sát của luận án này là hành vi khen, tiếpnhận lời khen được biểu hiện bằng ngôn từ (bằng lời) Các biểu hiện bằng
cử chỉ (phi lời) như bắt tay, mỉm cười, ra dấu hiệu, nháy mắt, tạm gác lại,không được xem xét đến trong luận án này Tư liệu mà chúng tôi thu thậpchủ yếu theo bằng hai nguồn là giao tiếp nói và giao tiếp viết Nguồn tưliệu của luận án là các cuộc giao tiếp hiện nay
6 Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN
Về mặt lí luận, luận án muốn góp phần vào nghiên cứu những vấn đề
về giao tiếp ngôn ngữ nói chung và giao tiếp tiếng Việt nói riêng dướitác động của các nhân tố xã hội - ngôn ngữ Tách nhân tố giới ra thànhmột biến xã hội để nghiên cứu về khen và hồi đáp khen, luận án gópphần vào nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới, một hướngnghiên cứu liên ngành hay đa ngành của ngôn ngữ học hiện đại
Về mặt thực tiễn, luận án góp phần vào nghiên cứu giao tiếp tiếng Việt
dưới tác động của nhân tố giới Thông qua hành vi khen và tiếp nhận lờikhen có thể thấy được những biến đổi về lối ứng xử văn hóa - ngôn ngữcủa người Việt cũng như những thay đổi trong cách nhìn nhận về giới củangười Việt
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dungchính của luận án được cấu trúc thành 4 chương: Chương 1 Cơ sở lí thuyết;Chương 2 Đặc điểm hành vi khen và tiếp nhận lời khen trong tiếng Việt từgóc độ giới; Chương 3 Đặc điểm hành vi khen và tiếp nhận lời khen trong
Trang 7tiếng Việt từ góc độ giới: trường hợp người hâm mộ đối với nghệ sĩ;Chương 4 Đặc điểm hành vi khen và tiếp nhận lời khen trong tiếng Việt từgóc độ giới: trường hợp đối với hình thức bên ngoài của con người.
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN1.1 VẤN ĐỀ GIỚI TRONG NGÔN NGỮ
1.1.1 Xung quanh thuật ngữ “giới tính” và “giới”
1.1.1.1 Từ “giới tính”, “giới” trong đời sống xã hội
Xung quanh hai thuật ngữ “giới tính”, “giới” và mối quan hệ giữa chúng
hiện có những quan niệm khác nhau
1.1.1.2 Giới với tư cách là một thuật ngữ chuyên ngành
Vào cuối những năm 60 của thế kỉ XX, ở các nước nói tiếng Anh xuất
hiện một ngành khoa học về gender (giới), sau đó lan toả sang các quốc
gia khác Ở Việt Nam, ngành khoa học này bắt đầu được chú ý vào những
năm 80 của thế kỉ XX Khác với giới tính, giới không phải là cái mà con
người sinh ra là đã có, không phải cái mà con người sở hữu mà là cái màcon người phải hành động, xử sự trong các hoạt động xã hội và chịu ảnhhưởng rất lớn từ quá trình giáo dục cũng như tự giáo dục
1.1.1.3 Thuật ngữ “giới tính”, “giới ” trong Ngôn ngữ học xã hội
Ngôn ngữ học xã hội sử dụng các thuật ngữ: sex, sexism, gender,
gender and sex, sex and gender Tương ứng với chúng, tiếng Việt sử dụng giới tính, giới Để thống nhất cách gọi, luận án này sử dụng thuật ngữ giới.
1.1.2 Giới với tư cách là biến xã hội trong nghiên cứu ngôn ngữ
1.1.2.1 Những nội dung nghiên cứu ngôn ngữ từ góc độ giới
Với cách nhìn trong xã hội có bao nhiêu nhóm xã hội thì tương ứng vớichúng là bấy nhiêu phương ngữ xã hội (sociatal dialect), giới là một biến
xã hội (variable) quan trọng đối với nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội vàđược gọi là “phương ngữ giới” với hai nội dung lớn: 1) Những đặc điểm
về giới được thể hiện trong ngôn ngữ; 2) Vai trò của ngôn ngữ đối với việcchống kì thị về giới, nhằm tạo ra sự bình đẳng giới
1.1.2.2 Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới
1) R.Lakoff là người đi tiên phong và đặt nền móng cho nghiên cứu
mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới đã tập trung nghiên cứu hai vấn đề
trên: Thứ nhất, nghiên cứu ngôn ngữ để nói về mỗi giới và ngôn ngữ mà
mỗi giới sử dụng, trong đó chú trọng tới phong cách ngôn ngữ giới nữ,Lakoff đã đề xuất một nhóm những đặc trưng nổi bật về ngữ âm, từ vựng,ngữ nghĩa và phong cách diễn đạt để nhận diện ngôn ngữ của phụ nữ;
Trang 8Thứ hai, nghiên cứu sự kì thị được thể hiện trong ngôn ngữ, từ đó mong muốn
góp phần vào phong trào nữ quyền (sự bình đẳng nam nữ)
2) Các nghiên cứu tiếp theo đã vận dụng, phát triển những luận điểm
cơ bản về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới của R.Lakoff vào nghiêncứu ở từng ngôn ngữ cụ thể gắn với đặc điểm văn hóa dân tộc của ngônngữ đó
1.2 HÀNH VI KHEN VÀ TIẾP NHẬN LỜI KHEN
1.2.1 Một số vấn đề về hành vi ngôn ngữ
1.2.1.1 Khái niệm “hành vi ngôn ngữ”
Hành vi ngôn ngữ (speech act; còn gọi là: hành động ngôn ngữ, hànhđộng ngôn từ, hành động nói, ) được hiểu là hành vi được thực hiện bằngphương tiện ngôn ngữ Theo J Austin (1962) khi sử dụng ngôn ngữ đểgiao tiếp cũng là đồng thời thực hiện 3 hành vi: hành vi tạo lời (locutionaryact), hành vi mượn lời (perlocutionary act) và hành vi tại lời(illoccutionary act) Ngữ dụng học chú trọng tới hành vi ở lời, theo đó, J.Austin đã chia hành vi ngôn ngữ thành 5 nhóm gồm: phán xử, hành xử, camkết, trình bày, ứng xử Trên cơ sở chỉ ra những hạn chế trong cách phânloại của J.Austin, J.Searle đã tiến hành xây dựng một bộ tiêu chí dựa trên
12 điểm khác biệt giữa các hành vi ngôn ngữ để phân loại hành vi ngônngữ
1.2.1.2 Hành vi ngôn ngữ ở lời gián tiếp
Trong giao tiếp ngôn ngữ, có một thực tế là người giao tiếp sử dụng bềmặt hành vi ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả cho một hành vi ở lời khác,
đó là hiện tượng sử dụng hành vi ngôn ngữ theo lối gián tiếp “Một hành vi
ở lời được thực hiện gián tiếp thông qua sự thực hiện một hành vi ở lờikhác sẽ được gọi là hành vi gián tiếp” [ Searle, Gordon & Lakoff]
1.2.2 Hành vi khen
1.2.2.1 Khái niệm “khen”
Khen là hành vi phổ quát của nhân loại, theo đó, hành vi ngôn ngữkhen cũng là một trong những hành vi phổ quát cho mọi ngôn ngữ TheoHolmes, khen là hành vi ngôn ngữ thể hiện một cách rõ ràng hay ngầm ẩn
sự đánh giá cao đối với ai đó về tính cách, tài sản, kĩ năng,… mà cả người
nói lẫn người nghe đều công nhận mặt tích cực đó Xếp khen (praise)thuộc một trong 37 nhóm (nhóm 16/37), Weirzbicka cho rằng, lời khen là
sự kết hợp của những đánh giá tích cực, những cảm xúc thú vị, tình cảmngầm chứa và mong muốn làm người khác hài lòng Tuy nhiên, vì là “một
kĩ năng ngôn ngữ xã hội phức tạp” ( Homles) nên thực tế cho thấy, nhiều khihành vi khen có một “góc tối” và có cũng tiềm ẩn nguy cơ trở thành hành vi
đe dọa thể diện
Trang 91.2.2.2 Mục đích, chức năng của hành vi khen
Hành vi khen có thể có những mục đích, chức năng ngôn ngữ khácnhau Chẳng hạn, Herbert, Wolson, Holmes, Manes, đều cho rằng, lờikhen trong tiếng Anh Mĩ chủ yếu nhằm mục đích thiết lập và tăng cườngmối quan hệ giữa người trao (khen) và người nhận (được khen) TheoWolfson và Manes, bằng cách thực hiện hành vi khen, người khen đã thểhiện sự nhất trí và ngưỡng mộ đối với người được khen và tạo ra sự hòahợp giữa những người tham gia hội thoại Theo Brown và Levinson, hành
vi khen có thể được nhìn nhận như một chiến lược lịch sự Hành vi khencũng được sử dụng một cách thường xuyên với mục đích giảm bớt sự phêbình
1.2.2.3 Chủ đề khen và sự thể hiện bằng ngôn từ
Về lí thuyết, có thể thấy, cái gì cũng có thể khen được, tuy nhiên, trên vềthực tế thì lại tùy thuộc vào mỗi dân tộc Chẳng hạn, theo Levine, người
Mĩ thường khen về ngoại hình, cá tính, thành viên trong gia đình, khảnăng, vật sở hữu, thức ăn và các bữa ăn Theo Holmes, đa số các lời khenđều đề cập đến ngoại hình, khả năng hay kĩ năng, vật sở hữu, một vài yếu
tố liên quan đến cá tính hay sự thân thiện Theo kết quả nghiên cứu củanhóm tác giả của Trường Đại học Minnesota , chủ đề khen có thể gồm 3loại chính là: hình thức bề ngoài, cách thể hiện, khả năng, kĩ năng và cátính (ít phổ biến nhất)
1.2.3 Hành vi tiếp nhận lời khen
1.2.3.1 Khái niệm “tiếp nhận lời khen”
Tiếp nhận lời khen (hồi đáp khen) là hành động phản ứng lại đối vớihành vi khen của một người nào đó trong quá trình giao tiếp Cách tiếpnhận lời khen thường là: bằng lời, bằng các yếu tố phi lời (còn gọi là ngônngữ cử chỉ) hoặc kết hợp cả hai, hoặc có thể là “khoảng trống” (im lặng),
Từ góc độ tương tác hội thoại, Pomerantz và các tác giả khác cho rằng, hành
vi tiếp nhận lời khen một mặt phụ thuộc vào hành vi khen, mặt khác phụthuộc vào các nhân tố văn hoá xã hội cũng như cách tổ chức ngôn từ tiếpnhận lời khen ở mỗi ngôn ngữ
1.2.3.2 Mục đích, chức năng của hành vi tiếp nhận lời khen
Hành vi tiếp nhận lời khen nhằm những mục đích như: thể hiện niềm vui,niềm tự hào, sự khẳng định đối với kết quả đã đạt được (như nội dungkhen); củng cố duy trì sự đoàn kết giữa những người tham thoại; tỏ ra quantâm, ngưỡng mộ, thán phục; biểu thị sự lễ phép, lịch sự; tỏ ý khiêm tốn,biết ơn; mở đường cho việc nhờ cậy; thể hiện sự bất bình; che giấu cảm
xúc
Trang 101.2.3.3 Biểu hiện của hành vi tiếp nhận lời khen
Theo Pomerantz, nguyên lí của hành vi hồi đáp khen là làm sao vừa đồng
ý với người nói vừa tránh được tự khen mình Theo đó, người hồi đápthường tổ chức ngôn từ theo cách tán thành hạ giảm (scaled downagreetments) hoặc khen lại
1.3 CÁCH TIẾP CẬN CỦA LUẬN ÁN
Luận án này tập trung nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống yếu
tố giới trong hành vi khen và tiếp nhận lời khen của người Việt với cáchtiếp cận như sau: 1) Khen là một hành vi ngôn ngữ nhằm tôn vinh thể diện,chú ý và tập trung vào lợi ích, nhu cầu, mong muốn, thiện chí của ngườinghe; 2) Khen là một hành vi tương tác thể hiện mối quan hệ liên nhân(trực diện hoặc không trực diện); 3) Với tính hai mặt (cả lịch sự tích cực
và tiêu cực) trong giao tiếp, hành vi khen thực sự được coi là một hành vikhá nhạy cảm và cũng không kém phần phức tạp; 4) Hành vi khen đượcxem như chất xúc tác được dùng để sáng tạo và duy trì sự hòa hợp xã hội;5) Có thể coi hành vi khen và tiếp nhận lời khen như một tấm gương phảnchiếu các giá trị văn hóa; 6) Thực hiện hành vi khen phù hợp và nhận diệnđược hành vi khen một cách chính xác là một khía cạnh trong khả nănggiao tiếp, nhất là giữa các nền văn hóa khác nhau; 7) Hành vi khen và giới
có sự tương tác với nhau Sự tương tác này thể hiện ở mục đích khen, chủ
đề khen, cách khen, việc giải thích hành vi khen cũng như việc tiếp nhậnlời khen, được thể hiện bằng ngôn từ trong lời khen
2.1.1.1 Về từ “khen” trong tiếng Việt
Từ “khen” trong tiếng Việt: 1) ở góc độ cấu trúc, khen là một động từ miêu tả sự đánh giá tốt; 2) ở góc độ ngữ dụng học, khen là một động từ ngữ vi với hành động ngôn trung có bản chất lịch sự; 3) khen có đối tượng
khen rất rộng
2.1.1.2 Khen với các khái niệm liên quan
1) Đồng nghĩa với khen, tiếng Việt có các từ như khen ngợi, ca ngợi,
tán dương, tán thưởng, khen thưởng, ngưỡng mộ, Trong lời khen của
người Việt, có thể thấy, không chỉ có đánh giá tốt đúng với sự thật (khen
thật lòng) mà còn có thể có cả yếu tố khen quá với sự thật hoặc không
đúng sự thật (khen quá lời); có thể chỉ là mục đích đồng tình và đề cao
Trang 11(tán dương, tán thưởng) nhưng cũng có thể là sự tâng bốc, nịnh bợ (khen
nịnh) Vì thế, khen còn có mối quan hệ với nịnh, nịnh bợ, tâng bốc, ; Trái
nghĩa với “khen”, tức là ẩn đằng sau bề mặt ngôn từ khen là hàm ý chê Trong hàm ý chê, có thể đó là chê nhằm nhắc nhở (khen với ý chê khéo),
có thể là chê với ý chế giếu, giễu cợt, mỉa mai, châm chọc (khen đểu)
2.1.2 Mục đích, chức năng của hành vi khen trong tiếng Việt từ góc
độ giới
1) Thể hiện sự đồng tình, ủng hộ, thán phục; 2) Mang tính xã giao đểduy trì mối quan hệ hoặc thay thế nghi thức gặp mặt, chia tay, cám ơn, xinlỗi, hoặc là lời mở thoại, kết thoại, duy trì cuộc thoại; 3) Làm dịu cáchành vi đe dọa thể diện; 4) Đe dọa thể diện của người khác (chê, giễu cợt,nói mỉa)
2.1.3 Chủ đề khen trong tiếng Việt từ góc độ giới
1/Trong lời khen nam dành cho nam, nội dung thường hướng về vật sởhữu, sức khỏe, năng lực thực hiện công việc; 2/Trong lời khen nữ dành cho
nữ, nội dung thường hướng về ngoại hình, trang phục, cuộc sống gia đình vàngười thân; 3/Trong lời khen nam dành cho nữ, nội dung thường hướng vềtrang phục, tính cách, cách ứng xử và khả năng giao tiếp khéo léo; 4/Tronglời khen nữ dành cho nam, nội dung thường hướng về năng lực thực hiệncông việc, tính cách nam tính như quyết đoán, hào hiệp, nhanh nhạy, phóngkhoáng
2.1.4 Mức độ khen giữa các giới
Với thang độ đánh giá 5 bậc gồm “rất hay khen”, “hay khen”, “bìnhthường”, “ít khi khen”, kết quả điều tra cho thấy, không có sự chệnh lệchquá lớn về tần số khen giữa nam và nữ, chỉ có một chút chênh lệch ở mức
độ “rất hay khen” (so sánh: nam là 11%, nữ là 7%) và mức “bình thường”(so sánh: nam là 51%, nữ là 53%)
2.1.5 Cấu trúc lời khen trong tiếng Việt từ góc độ giới
2.1.5.1 Lời khen trực tiếp và lời khen gián tiếp từ góc độ giới
Trước hết, những lời khen có chứa động từ khen, khen ngợi, biểu dương, tuyên dương,…thường chỉ dùng trong giao tiếp chính thức mang
tính quyền lực nên thường không có sự phân biệt về giới Riêng động từ
ngưỡng mộ được nam giới sử dụng hiều hơn.
Thứ hai, khi khen người Việt sử dụng cả lời khen trực tiếp và lời khen
gián tiếp Khi khen người cùng giới, nam sử dụng lời khen trực tiếp (92%)nhiều hơn hẳn nữ (52%); ngược lại, nữ sử dụng khen gián tiếp (52%)nhiều hơn hẳn nam (8%); Khi khen người khác giới, nam có xu hướng sửdụng lời khen gián tiếp (48%) nhiều hơn so với khen trực tiếp là (42%)
Trang 12Thứ ba, khi khen trực tiếp, người Việt cả nam và nữ thường sử dụng 3
cấu trúc sau: a) Một câu hoàn chỉnh; b) Một cấu trúc khen có động từ, tính
từ hoặc vừa động từ và tính từ tích cực; c) Một cấu trúc so sánh Nhìn từ góc
độ giới, có thể thấy, nam và nữ đều sử dụng cả ba mô hình lời khen này,nhưng mô hình (b) và (c) được hai giới sử dụng nhiều hơn so với mô hình(a) Trong hai mô hình (b) và (c) thì nam ưa sử dụng mô hình (b) hơn nữ,còn nữ ưa sử dụng mô hình (c) hơn nam
Thứ tư, khi khen gián tiếp, nội dung lời khen được hàm ẩn trong cách tổ
chức ngôn từ đa dạng như cách nói ẩn dụ, dưới dạng câu hỏi, lời khuyên bảo,động viên, nói ngược lại, giả định, mong muốn, yêu cầu, đề nghị, thông báo,
cảm ơn, v.v Ví dụ:“Ai bằng anh ấy được!”, “như người mẫu”(khen về hình thức) ; “như ca sĩ” (khen về khả năng hát); “đúng là con nhà nòi” (khen về
trí thông minh, tài giỏi)
2.1.5.2 Ngôn từ quen dùng trong lời khen từ góc độ giới
1) Do đối tượng khen là đa dạng nên ngôn từ dùng để tổ chức cấu trúc lờikhen tiếng Việt cũng theo đó mà đa dạng Đáng chú ý là: a/ Sử dụng một số
động từ chỉ hành động của ngũ quan như thấy, trông, nhìn, ngắm (trông chị
dạo này trẻ hẳn ra); b) Sử dụng tất cả tính từ đánh giá ở thang độ dương như tốt, hay, xinh, đẹp, giỏi, ; c) Sử dụng tất cả các từ chỉ mức độ như hơi, tương đối, rất, lắm, quá, cực, cực kì, ; d) Sử dụng các thán từ như ôi chao, trời, trời ơi/ôi, ôi trời, chà, ; các tiểu từ tính thái như nhỉ, đấy, thật, mà, ; các
trợ từ nhấn mạnh như đúng là, chính (ai đó),
2) Đối với các từ chỉ mức độ, nhìn ở mặt bằng chung, tần số sử dụngcủa nam nhiều hơn nữ (nam: 58%, nữ: 42%); đối với các thán từ bộc lộ
“sự ngạc nhiên thú vị”, trong lời khen nữ giới sử dụng với mức độ vượt
trội; đối với các tiểu từ tính thái ở cuối lời khen như nhỉ, đấy, thật, mà và các trợ từ nhấn mạnh đúng là, chính (ai đó), hai giới cùng sử dụng với tần số sử dụng tương đương nhau
2.2 ĐẶC ĐIỂM HÀNH VI TIẾP NHẬN LỜI KHEN TRONG TIẾNG
VIỆT TỪ GÓC ĐỘ GIỚI
2.2.1 Khái niệm “tiếp nhận lời khen” trong tiếng Việt
Ở hành vi hồi đáp khen, người Việt phải cân nhắc nhiều mặt, nhiều chiều,trong đó làm sao vừa thể hiện bản thân hài lòng với điều mình được khen, mặtkhác vẫn thể hiện được sự khiêm tốn và không làm tổn thương đến thể diệncủa người khen mình Vì thế, hành vi hồi đáp khen, cùng với ngôn từ, tức làbằng lời là giọng điệu, cử chỉ, điệu bộ; cũng có khi chỉ là cử chỉ, điệu bộ, thậmchí một sự im lặng cũng đủ để phản hồi hành vi khen Tuy nhiên, ở đây vìchưa có điều kiện xem xét toàn diện nên chúng tôi tạm gác lại vấn đề ngônđiệu và cử chỉ điệu bộ
Trang 132.2.2 Mức độ tiếp nhận lời khen giữa các giới trong tiếng việt
Thứ nhất, mức độ nhận được lời khen giữa các giới trong quan hệ
thân hữu (bạn bè): ở nam giới, có tới trên một nửa (60%) không thường
xuyên nhận được lời khen từ bạn cùng giới; trong khi đó, nữ giới chỉ lànon nửa (48%); Lời khen mà nam thường xuyên nhận được từ nữ là 49%,còn lời khen mà nữ thường xuyên nhận từ nam là 52%
Thứ hai, mức độ nhận lời khen giữa các giới trong quan hệ quyền lực
(trường hợp giáo viên và học sinh): về cùng giới, nam sinh thường xuyên
nhận lời khen từ thầy giáo là 20%, nữ sinh nhận lời khen từ cô giáo cũng là23%; về khác giới, nữ sinh thường xuyên nhận lời khen từ thầy giáo là 19
%; nam sinh thường xuyên nhận lời khen từ cô giáo là 23%,
Thứ ba, mức độ tiếp nhận lời khen giữa các giới trong quan hệ gia
đình:
a Mức độ nhận được lời khen của con trai, con gái từ bố mẹ : Mức độ
chênh lệch về nhận lời khen giữa các giới không đáng kể, chỉ đáng chú ý làcon trai nhận được lời khen nhiều hơn một chút (67%), còn lại đều trongkhoảng 60% Người mẹ dành lời khen cho con trai nhiều hơn tất cả cũng
có thể là một đặc điểm tâm lí về giới, về nếp nghĩ nối nghiệp tổ tiên củaphụ nữ Việt Nam
b Mức độ nhận được lời khen của em trai, em gái từ anh chị : Mức độ
“không thường xuyên nhận được lời khen” vẫn là chủ yếu (em trai từ anh là62%, em gái từ chị là 55%; em gái từ anh là 53%, em trai từ chị là 53%)
c Mức độ nhận lời khen giữa vợ và chồng: Mức độ người chồng nhận lời
khen của người vợ ở mức độ “không thường xuyên” là 65% và có tới 10%người chồng hầu như không nhận được lời khen của vợ Trong khi đó, người
vợ có tới 78% nhận được lời khen từ chồng và được chia đều cho “thườngxuyên” (40%) và “không thường xuyên” (38%)
2.2.3 Cấu trúc tiếp nhận lời khen trong tiếng Việt từ góc độ giới
2.2.3.1 Những cấu trúc tiếp nhận lời khen quen dùng trong tiếng Việt
Những cấu trúc hồi đáp khen phổ biến trong tiếng Việt là: 1) sử dụng từ
“cảm ơn/cám ơn”; 2) khẳng định nội dung khen hoặc nâng mức độ khen; 3)
khen lại người vừa khen mình; 4) chia sẻ thông tin về nội dung được khen;5) hỏi lại về nội dung khen; 6) bộc lộ cảm xúc; 7) phủ nhận lời khen; 8)giảm bớt mức độ khen; 10) im lặng; 9) nói lảng sang chuyện khác
2.2.3.2 Những cấu trúc tiếp nhận lời khen quen dùng trong tiếng Việt
từ góc độ giới
a Cách tiếp nhận lời khen trong quan hệ bằng hữu (bạn bè): Đối với
người cùng giới, cả hai giới đều ưa dùng cấu trúc hồi đáp “khen lại người
vừa khen mình”(nam - nam : 17.1%, nữ - nữ : 17.9%); Đối với người