khóa luận, luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, đề tài
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI -
TRẦN KIỀU HUẾ
ĐẶC ĐIỂM CÁC YẾU TỐ HÁN - NHẬT
TRONG TIẾNG NHẬT (CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Hà Nội - năm 2013
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI -
TRẦN KIỀU HUẾ
ĐẶC ĐIỂM CÁC YẾU TỐ HÁN - NHẬT
TRONG TIẾNG NHẬT (CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học ứng dụng
Mã số: 62.22.01.05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS NGUYỄN VĂN KHANG
Trang 3Hà Nội - năm 2013
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những tư liệu và số liệu trong luận án là trung thực do tôi thực hiện Đề tài nghiên cứu và các kết luận chưa được ai công bố.
Tác giả luận án
Trang 5MỤC LỤC
M Ở ĐẦ 1 U
CH ƯƠ NG 1: C S L LU N Ơ Ở Í Ậ 11
CH ƯƠ NG 2: ĐẶ Đ Ể C I M NG ÂM C A CÁC Y U T HÁN - NH T Ữ Ủ Ế Ố Ậ 40
(CÓ ĐỐ I CHI U V I CÁC Y U T HÁN - VI T) Ế Ớ Ế Ố Ệ 40
CH ƯƠ NG 3: ĐẶ Đ Ể C I M HÌNH THÁI - C U TRÚC Ấ 65
C A CÁC Y U T HÁN - NH T Ủ Ế Ố Ậ 65
(CÓ ĐỐ I CHI U V I CÁC Y U T HÁN - VI T) Ế Ớ Ế Ố Ệ 65
CH ƯƠ NG 4: ĐẶ Đ Ể C I M NG NGH A C A CÁC Y U T HÁN - NH T Ữ Ĩ Ủ Ế Ố Ậ 96
(CÓ ĐỐ I CHI U V I CÁC Y U T HÁN - VI T) Ế Ớ Ế Ố Ệ 96
K T LU N Ế Ậ 124
DANH M C CÔNG TRÌNH KHOA H C Ụ Ọ 128
TÀI LI U THAM KH O Ệ Ả 129
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
M Ở ĐẦ 1 U
CH ƯƠ NG 1: C S L LU N Ơ Ở Í Ậ 11
CH ƯƠ NG 2: ĐẶ Đ Ể C I M NG ÂM C A CÁC Y U T HÁN - NH T Ữ Ủ Ế Ố Ậ 40
(CÓ ĐỐ I CHI U V I CÁC Y U T HÁN - VI T) Ế Ớ Ế Ố Ệ 40
CH ƯƠ NG 3: ĐẶ Đ Ể C I M HÌNH THÁI - C U TRÚC Ấ 65
C A CÁC Y U T HÁN - NH T Ủ Ế Ố Ậ 65
(CÓ ĐỐ I CHI U V I CÁC Y U T HÁN - VI T) Ế Ớ Ế Ố Ệ 65
CH ƯƠ NG 4: ĐẶ Đ Ể C I M NG NGH A C A CÁC Y U T HÁN - NH T Ữ Ĩ Ủ Ế Ố Ậ 96
(CÓ ĐỐ I CHI U V I CÁC Y U T HÁN - VI T) Ế Ớ Ế Ố Ệ 96
K T LU N Ế Ậ 124
DANH M C CÔNG TRÌNH KHOA H C Ụ Ọ 128
TÀI LI U THAM KH O Ệ Ả 129
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chữ Hán nói riêng, các yếu tố Hán nói chung, có lịch sử lâu dài nằm trong lịch
sử phát triển của tiếng Nhật Có nhiều ý kiến cho rằng chữ Hán và các yếu tố Hánđược truyền vào Nhật Bản từ khoảng thế kỉ thứ IV đến thế kỉ thứ V Chữ Hán đượcngười Nhật sử dụng làm chữ viết từ rất lâu nên đã trở nên quen thuộc, ăn sâu vàotiềm thức người Nhật, khiến nhiều người Nhật không còn coi đó là yếu tố vay mượn.Hơn nữa, người Nhật có thể sử dụng các yếu tố Hán tạo ra hàng loạt từ mới nhằmbiểu đạt các khái niệm mới xuất hiện không ngừng trong vốn từ vựng vốn có củamình Trải qua quá trình tồn tại và phát triển như vậy, các yếu tố Hán đã trở thànhmột phần quan trọng, không thể thiếu trong tiếng Nhật, trong cuộc sống hàng ngàycũng như trên tất cả các lĩnh vực khác như văn hoá, giáo dục, khoa học kĩ thuật, …của Nhật Bản Chữ Hán không chiếm vị trí duy nhất và độc tôn như trong tiếng Hán
vì trong tiếng Nhật, bên cạnh chữ Hán, còn sử dụng hệ thống chữ viết kana Tuynhiên, không thể phủ nhận được vai trò quan trọng của yếu tố Hán đối với tiếng Nhật
về mặt chữ viết và từ vựng Mặt khác, trong tiếng Nhật, các yếu tố Hán có những đặcthù riêng, được đồng hóa ở các bình diện ngữ âm, hình thái - cấu trúc và ngữ nghĩa
Trong tiếng Nhật, các từ Hán chiếm 47,5% Kết quả điều tra Các từ ngữ được
sử dụng trên báo chí hiện đại trên 90 loại báo phát hành trong một năm do Viện
Nghiên cứu chữ quốc ngữ Nhật Bản tiến hành về cho thấy, mặc dù xét theo số lầnxuất hiện thì từ Hán (chiếm 41,3%) thấp hơn từ Nhật (53,9%), nhưng xét về số lượng
từ Hán được sử dụng chiếm 47,5% nhiều hơn các từ Nhật (chỉ có 36,7%) Cũng theo
kết quả điều tra của Viện này về Thực trạng văn nói của tầng lớp trí thức Nhật Bản,
số lượng từ Hán được sử dụng trong văn nói là 40%, mặc dù thấp hơn so với từ Nhật(46,9%) nhưng vẫn được coi là chiếm tỉ lệ cao trong lượng từ được sử dụng trongvăn nói của tầng lớp trí thức Nhật Bản [126]
Trang 9Cùng với Nhật Bản và Hàn Quốc, Việt Nam được xếp vào các nước nằm trongkhu vực văn hoá chữ Hán (漢字文化圏) Mặc dù tiếng Việt hiện đại không sử dụngchữ Hán làm chữ viết nhưng cũng giống như tiếng Nhật, trong tiếng Việt sử dụng
một lượng lớn các từ Hán - Việt, những từ này tạo thành một lớp từ quan trọng trong
hệ thống từ vựng tiếng Việt Tuy nhiên, tiếng Nhật và tiếng Việt là hai ngôn ngữ khác
nhau về loại hình nên bên cạnh những điểm giống nhau, các yếu tố Hán - Nhật và các yếu tố Hán - Việt còn có nhiều điểm khác nhau
Cho đến nay những công trình nghiên cứu đối chiếu giữa tiếng Nhật và tiếngViệt không có nhiều và cũng chưa có nhiều các công trình nghiên cứu đối chiếu cụthể về lớp từ này trong hai ngôn ngữ Với số lượng còn hạn chế các công trình nghiên
cứu đối chiếu ngôn ngữ Nhật - Việt nói chung, đối chiếu Hán - Nhật và Hán - Việt
nói riêng, có thể nói các công trình nghiên cứu này chưa thực sự đi sâu vào nghiên
cứu đối chiếu một cách hệ thống các yếu tố Hán - Nhật trong tiếng Nhật và các yếu tố Hán - Việt trong tiếng Việt trên các bình diện ngữ âm, hình thái - cấu trúc và ngữ
nghĩa Từ thực tế này, nảy sinh nhu cầu cần phải có nhiều công trình nghiên cứu sâurộng hơn để tạo nên cái nhìn toàn diện hơn, chi tiết hơn về vấn đề này
Với những lí do trên, chúng tôi chọn yếu tố Hán - Nhật trong tiếng Nhật và đốichiếu với yếu tố Hán - Việt trong tiếng Việt làm đối tượng nghiên cứu của luận án
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Các yếu tố Hán được truyền bá từ Trung Hoa vào Nhật Bản qua bán đảo TriềuTiên từ thời xa xưa, vào khoảng thế kỉ thứ IV và thứ V Trước khi được dùng làmchữ viết của tiếng Nhật, chữ Hán chỉ được coi là chữ viết của một thứ tiếng nướcngoài, là tượng trưng cho nền văn hóa Trung Hoa Ban đầu, ở Nhật Bản, chữ Hánđược coi trọng trong việc học nhằm tìm hiểu về nền văn hóa - văn minh Trung Hoa
Do thời kì này triều đình Nhật Bản chủ trương coi trọng chữ Hán nên các quan niệm
về âm vị, từ vựng và văn bản tiếng Nhật bị gò bó, áp đặt theo chữ Hán [132]
Trang 10Nghiên cứu chữ Hán thời cổ đại (từ TK IV - 794) và trung đại (khoảng năm
1000 - 1334) rất coi trọng chữ Hán của tiếng Hán và chỉ tập trung vào việc giới thiệu
các công trình nghiên cứu chữ Hán của Trung Hoa Đầu thời kì này, do rất ít cơ hội tiếpxúc trực tiếp với phát âm của người Hán nên người Nhật biết về âm vị tiếng Hán chủ yếuthông qua sách vở tiếng Hán Thời kì này, triều đình Nhật Bản chú trọng việc học chữHán và văn học Trung Hoa nên rất phát triển các nghiên cứu về chữ viết, âm đọc vànghĩa của chữ Hán để đọc và hiểu văn Hán; xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu cáchđọc Nhật (Kundoku) đối với các văn bản chữ Hán Chẳng hạn, từ điển 新訳華厳経音義
私記 Tân dịch Hoa nghiêm kinh âm nghĩa tư kí (tạm dịch “Ghi âm - nghĩa bản dịch mới Hoa nghiêm kinh”) là từ điển âm - nghĩa chữ Hán cổ nhất Nhật Bản, được cho là
biên soạn từ cuối thời thượng cổ (khoảng những năm 710~794), ghi lại một số âm
Nhật trong bảng chữ viết Manyoogana và các chữ Hán dựa trên từ điển Tân dịch
Hoa nghiêm kinh âm - nghĩa của một nhà sư đời Đường [132]
Nghiên cứu chữ Hán trong giai đoạn từ thượng cổ đến trung cổ đều là sự đối
chiếu các sách về âm nghĩa chữ Hán của Trung Hoa Các từ điển âm - nghĩa này chủ
yếu về cách dùng của chữ Hán và các cụm từ chữ Hán theo ngữ cảnh, không phải làcác nghiên cứu chữ Hán độc lập với ngữ cảnh Hơn nữa, vào thời đó, với mục đíchchính là hiểu đúng kinh Phật nên các nghiên cứu thời kì này chủ yếu là giới thiệu các
từ điển âm - nghĩa của Trung Hoa.
Từ cuối thời trung cổ đến đầu thời kì trung đại (1334 - 1945), nghiên cứu chữ
Hán ở Nhật Bản cũng có những điểm mới đáng chú ý Bên cạnh việc giới thiệu cácnghiên cứu về chữ Hán của Trung Hoa các thời kì trước đó, các học giả Nhật Bảncũng đã bước đầu đề cập đến các vấn đề về chữ Hán theo quan điểm của người Nhật.Mặt khác, do sự truyền bá của Nho học vào Nhật Bản và sự lan rộng của đạo Thiền
đã tạo cơ hội cho người Nhật tiếp xúc trực tiếp với âm Hán của các nhà sư Trung Hoanên việc nghiên cứu chữ Hán được mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác
Trang 11Sang thời kì cận đại (từ năm 1945), nghiên cứu chữ Hán không chỉ dừng lại ởviệc lí giải chính xác các công trình nghiên cứu chữ Hán Trung Hoa; mà các học giả
đã cố gắng nghiên cứu, nắm bắt tình hình sử dụng chữ Hán ở Nhật Bản, quan sát chữHán một cách khách quan theo quan điểm độc lập của người Nhật Có thể nói xuhướng nghiên cứu này là đặc điểm nổi bật trong các nghiên cứu chữ Hán ở thời kìnày Quan điểm nghiên cứu tương đối độc lập đã thoát ra khỏi quan điểm nghiên cứu
bị gò bó chữ Hán, đã có sự tách biệt rõ ràng giữa từ và chữ viết [132] Các nghiên
cứu về chữ Hán triều Thanh (tiêu biểu là công trình Thuyết văn giải tự của Đoan
Ngọc Tài (段玉栽) và các từ điển chữ Hán được biên soạn theo lệnh hoàng đế nhàThanh, ) có ảnh hưởng không nhỏ đến các công trình nghiên cứu chữ Hán ở NhậtBản thời kì này Nhưng phải đến giai đoạn từ nửa sau thời kì cận đại, các công trìnhmới thể hiện các hướng nghiên cứu mới do chịu ảnh hưởng rõ rệt từ các nghiên cứucủa Trung Hoa và được coi là nền tảng, bước đệm cho nghiên cứu chữ Hán trong cácthời kì sau Mặc dù chủ yếu vẫn là các công trình tập trung vào nghiên cứu chữ Hántrong tiếng Hán nhưng đã có sự tách biệt giữa nghiên cứu chữ Hán ở Trung Hoa vànghiên cứu chữ Hán được sử dụng ở Nhật Bản; chẳng hạn, các công trình nghiên cứu
về bảng âm - chữ Manyoogana Tuy nhiên, các nghiên cứu thời kì này chỉ tập trungnghiên cứu riêng biệt từng chữ Hán, việc nhìn nhận tổng thể chữ Hán một cách hệthống và các cơ sở lí luận của nghiên cứu chữ Hán chưa thực sự được đặt ra một cáchđầy đủ [132]
Nghiên cứu chữ Hán của Nhật Bản thời kì hiện đại được phát triển ra nhiềulĩnh vực mới hơn (đã có các công trình nghiên cứu về cách đọc theo âm Nhật của chữHán, về các từ đọc theo âm Hán ) Tuy nhiên, các nghiên cứu thời kì này cũngkhông có nhiều thay đổi so với thời kì trước Theo Maeda [132], nghiên cứu chữ Hánchính là làm rõ những đặc điểm cũng như vai trò của chữ Hán, do đó việc nghiên cứunên triển khai theo ba hướng: tư duy nhận thức chữ Hán, quan niệm về chữ Hán vàHán tự học Tác giả này cho rằng đến tận những năm 1980, trong các nghiên cứu vềHán tự học và chữ viết tiếng Nhật, chữ Hán vẫn chưa thực sự được xem xét một cáchtoàn diện
Trang 12Trong giai đoạn sau, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu chữ Hán và từHán trong tiếng Nhật với tư cách là một bộ phận quan trọng trong tiếng Nhật trên
các bình diện ngữ âm, hình thái - cấu trúc, ngữ nghĩa và tình hình sử dụng từ Hán
- Nhật trong tiếng Nhật Các công trình chủ yếu nghiên cứu về lịch sử ngữ âm của
âm Hán - Nhật như日本漢字音の研究Nghiên cứu âm Hán - Nhật (高松, 1982), 日本漢字音の歴史 Lịch sử âm Hán - Nhật (沼本, 1988); các nghiên cứu về lịch sử, vai trò
và hoạt động của các yếu tố Hán trong tiếng Nhật như 明治期における漢字の役割
Vai trò chữ Hán ở thời Minh Trị (森岡, 1983), 語種と造語力 Các lớp từ theo nguồn gốc và khả năng tạo từ (野村, 1984), 漢字講座3: 漢字と日本語 Chuyên khảo 3 về Hán tự: Hán tự và tiếng Nhật (佐藤, 1987), 日本漢語の歴史 Lịch sử từ Hán - Nhật
(陳原, 1991), 造語法と造語力Phương pháp tạo từ và khả năng tạo từ (野村, 1992),
vựng thuộc trường “thân thể - chủ thể của các hoạt động của con người” nhìn từ các loại từ theo nguồn gốc - Nghiên cứu lớp từ cơ bản trong tiếng Nhật hiện đại 2 (玉村,2003); các công trình nghiên cứu yếu tố mượn Hán trên phương diện văn hóa như 漢
và đất nước (村田, Cラマール, 2005),
Ngoài ra, có các công trình nghiên cứu đối chiếu từ Hán - Nhật với từ Hán trong tiếng Hán hoặc giữa từ Hán - Nhật với từ Hán - Hàn, ví dụ ここが違う日本語
giữa từ vựng tiếng Nhật và từ vựng tiếng Hán - về những điểm khác biệt của yếu tố
tạo từ quan sát được trong thực tế giảng dạy tiếng Nhật (三喜, 2000), 日韓「基幹語
chiếu Nhật - Hàn “từ vựng cơ bản” - tập trung vào cách tập hợp từ và phân tích cấu trúc về phạm vi ngữ nghĩa của tập hợp từ này (金直洙, 2004), ベトナム語母語話者
基づく分析 Kiến thức về từ Hán - Việt phát huy hiệu quả như thế nào trong việc học
Trang 13tiếng Nhật đối với người Việt Nam (Matsuda Makiko, Thân Thị Kim Tuyến, Ngô
Minh Thuỷ, …, 2008),
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Về các công trình nghiên cứu có liên quan ở Việt Nam, cho đến nay đã cónhiều công trình nghiên cứu về hiện tượng vay mượn từ ngữ nói chung, đặc biệt làcác công trình nghiên cứu về từ mượn Hán trong tiếng Việt vốn có bề dày trong lịch
sử nghiên cứu ở Việt Nam Trước hết, phải kể đến Tiếng Việt, chữ Việt trên quá trình tiếp xúc với tiếng Hán, chữ Hán (Nguyễn Tài Cẩn, 1981), Nghĩa gốc và nghĩa dùng của một số từ Hán Việt (Quang Đạm, 1981), Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á (Phan Ngọc, Phạm Đức Dương, 1983), Bước đầu tìm hiểu đặc điểm du nhập của các yếu tố Hán Việt (Nguyễn Văn Khang, 1986), Từ Hán Việt nhìn từ góc độ tiếp xúc ngôn ngữ văn hóa (Đặng Đức Siêu, 1989), Cách nhận diện và phân biệt từ thuần Việt với từ Hán Việt (Nguyễn Đức Tồn, 2001), Bên cạnh đó, Từ ngoại lai trong tiếng Việt
(Nguyễn Văn Khang, 2007) giới thiệu và đưa ra các lí thuyết về tiếp xúc ngôn ngữ và
hệ quả là hiện tượng vay mượn từ ngữ và các phương thức vay mượn từ vựng; trong
đó nhấn mạnh đến “các nhân tố ngôn ngữ - xã hội” như những tác nhân ảnh hưởng
lớn đến lớp từ vay mượn về mặt hình thức, ngữ nghĩa, cách sử dụng trong “ngôn ngữ
đi vay” nói chung và hiện tượng vay mượn từ Hán trong tiếng Việt nói riêng Líthuyết và các kết quả khảo sát trong nghiên cứu này góp phần làm sáng tỏ hiện tượngvay mượn từ Hán trong tiếng Việt, cũng là cơ sở lí luận của luận án khi nghiên cứu
hiện tượng vay mượn yếu tố Hán trong tiếng Nhật và liên hệ với yếu tố Hán - Việt
trong tiếng Việt
Ở Việt Nam, về nghiên cứu tiếng Nhật và nghiên cứu đối chiếu song ngữ NhậtViệt, cho đến nay, tuy có số lượng không nhiều nhưng có thể nói các vấn đề đượcnghiên cứu, khảo sát về tiếng Nhật là những vấn đề tương đối cơ bản, từ các vấn đềmang tính khái quát đến các vấn đề cụ thể trên các bình diện từ vựng, ngữ âm, ngữpháp và ngữ dụng
Điển hình là các công trình Về đơn vị âm tiết của tiếng Nhật (Nguyễn Thị Việt Thanh, 1998), Mấy nét khái quát về vốn từ tiếng Nhật hiện đại - nguồn gốc - đặc
Trang 14điểm cấu tạo (Nguyễn Thị Bích Hà, 1997), Sổ tay động từ phức tiếng Nhật (Trần Thị Chung Toàn, 2004) Bên cạnh đó, Sự hình thành và phát triển của lớp từ ngoại lai trong tiếng Nhật (Nguyễn Thị Việt Thanh, 1998) và Từ ngoại lai trong tiếng Nhật hiện đại (Trần Thị Chung Toàn, 2006) cũng đề cập đến hiện tượng vay mượn và giới
thiệu một cách khái quát hệ thống từ ngoại lai trong tiếng Nhật nói chung, từ Hán Nhật nói riêng
-Về nghiên cứu đối chiếu, ở Việt Nam cũng đã xuất hiện nhiều công trình nghiên
cứu đối chiếu song ngữ Hán Việt, Hán Nhật và Hán Hàn Tiêu biểu là Về nhóm từ xưng hô thân tộc trong tiếng Nhật và tiếng Việt (Hoàng Anh Thi, 1999), Các phương thức biểu thị hướng của hành động trong tiếng Việt và tiếng Nhật (Trần Thị Chung Toàn, 2004), Khảo sát từ ngoại lai tiếng Anh trong tiếng Nhật (có liên hệ với tiếng Việt) (Trần Kiều Huế,
2007, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ), Thành ngữ và thành ngữ học tiếng Nhật (Ngô Minh
Thủy, 2012) Đặc biệt, hiện tại, có các công trình nghiên cứu liên quan đến từ Hán - Nhật
như Khảo sát lớp từ Hán - Nhật thông dụng (có đối chiếu với Hán Việt) (Trần Sơn, 1995,
Luận án phó tiến sĩ ngữ văn), Đối chiếu các âm tiết Hán Việt, Hán Hàn với các âm tiết Hán, trong Chữ quốc ngữ và sự phát triển chức năng xã hội của tiếng Việt (Hoàng Trọng
Phiến, 1997), Đặc điểm thành ngữ Hán - Nhật trong tiếng Nhật (có liên hệ với tiếng Việt)
(Nguyễn Tô Chung, 2012)
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu, khảo sát và đối chiếu
một cách cụ thể, có hệ thống các yếu tố Hán Nhật trong tiếng Nhật và yếu tố Hán Việt trong tiếng Việt trên các bình diện ngữ âm, hình thái - cấu trúc và ngữ nghĩa.
-3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1 Mục đích của luận án
Thông qua nghiên cứu, khảo sát các yếu tố Hán - Nhật và tiến hành đối chiếu với các yếu tố Hán - Việt trên các bình diện ngữ âm, hình thái - cấu trúc và ngữ
nghĩa, chúng tôi hi vọng sẽ có thể làm rõ được một số nội dung sau:
- Các đặc điểm về ngữ âm, hình thái - cấu trúc và ngữ nghĩa của các yếu tố
Hán - Nhật; những điểm tương đồng và dị biệt giữa yếu tố Hán - Nhật và yếu tố Hán
- Việt trên các bình diện trên
Trang 15- Góp phần vào nghiên cứu tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Hán với các ngôn
ngữ Nam Á như tiếng Việt, tiếng Nhật, tiếng Triều Tiên
3.2 Nhiệm vụ của luận án
Để đạt được những mục đích của luận án, chúng tôi đặt ra những nhiệm vụ cụthể như sau:
- Hệ thống hoá những lí thuyết cơ bản về hiện tượng vay mượn từ vựng nói
chung, về hiện tượng vay mượn yếu tố Hán trong tiếng Nhật nói riêng nhằm xâydựng cơ sở lí luận của luận án
- Nghiên cứu những đặc điểm chung về ngữ âm, hình thái - cấu trúc và ngữ
nghĩa của các yếu tố Hán - Nhật
- Những đặc điểm ngữ âm cụ thể trong cách đọc Hán - Nhật của 2098 yếu tố
Hán - Nhật
+ Nêu một số nhận xét về sự tương đồng, khác biệt với cách đọc Hán - Việt,
sự tương ứng về ngữ âm giữa các yếu tố Hán - Nhật và yếu tố Hán - Việt.
- Nêu những đặc điểm hình thái cụ thể của các yếu tố Hán - Nhật (khả năng
độc lập, phụ thuộc, vừa độc lập vừa phụ thuộc; khả năng tạo từ), xác định từ loại,
phạm vi nghĩa của các yếu tố Hán - Nhật độc lập (từ Hán - Nhật đơn tự).
+ Lập danh sách các yếu tố Hán - Nhật được sử dụng độc lập với tư cách là từ
trong tiếng Nhật
+ Nêu một số nhận xét về đặc điểm hoạt động của lớp từ Hán - Nhật đơn tự có đối chiếu với lớp từ Hán - Việt đơn tiết
- Đối chiếu với các yếu tố Hán - Việt để làm rõ những điểm tương đồng và
khác biệt của các yếu tố Hán - Nhật và yếu tố Hán - Việt.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các yếu tố Hán - Nhật trong tiếng Nhật
(dưới đây, gọi là yếu tố Hán - Nhật) và các yếu tố Hán - Việt trong tiếng Việt (dưới
đây, gọi là yếu tố Hán - Việt) Luận án chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu, khảo sát đặc
điểm của 2098 yếu tố Hán - Nhật trong Bảng Hán tự thường dụng (1998) của tiếng
Nhật, trong đó, tập trung nghiên cứu, khảo sát nhóm yếu tố Hán - Nhật có khả năng
độc lập trở thành từ
Trang 16Luận án khảo sát các đặc điểm của 2098 yếu tố Hán - Nhật được hệ thống
trong Bảng Hán tự thường dụng (1998) của tiếng Nhật trên ba bình diện ngữ âm,
hình thái - cấu trúc, ngữ nghĩa; sử dụng các ngữ liệu trong hai từ điển tiếng Nhật là 例解新国語辞典Từ điển quốc ngữ mới - có ví dụ giải thích (Nxb Sanshodo, 1997) và 広
辞苑 Quảng từ điển (Nxb Iwanami, 1998) Luận án chủ yếu dựa vào “Từ điển yếu tố Hán - Việt thông dụng” (Nxb Khoa học xã hội, 1991) khi tiến hành khảo sát đối chiếu
với các yếu tố Hán - Việt
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu như: phương pháp diễn
dịch - qui nạp, phương pháp đối chiếu, thủ pháp phân tích định tính, định lượng và một số thao tác trong phương pháp thống kê nhằm xác định, khảo sát các yếu tố Hán - Nhật
được sử dụng như các yếu tố độc lập (từ) và yếu tố tạo từ (hình vị tạo từ), xác định
các đặc điểm về ngữ âm, hình thái - cấu trúc và ngữ nghĩa của các yếu tố này và liên
hệ với các yếu tố Hán - Việt trong tiếng Việt.
6 Ý nghĩa của luận án
6.1 Ý nghĩa lí luận
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ về lí thuyết tiếp xúc ngônngữ và hiện tượng vay mượn từ vựng nói chung, cũng như sự tiếp xúc ngôn ngữ giữatiếng Hán với các ngôn ngữ của một số nước trong khu vực chịu ảnh hưởng của ngônngữ văn hóa Hán và hiện tượng vay mượn các yếu tố Hán trong tiếng Nhật và tiếngViệt nói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp một cách có hệ thống
những đặc điểm cơ bản của các yếu tố Hán - Nhật, những điểm giống và khác nhau giữa yếu tố Hán - Nhật và yếu tố Hán - Việt cho những người học tập, giảng dạy, sử
dụng hoặc nghiên cứu tiếng Nhật Kết quả nghiên cứu này cũng góp phần cho công
việc giảng dạy - học tập tiếng Việt đối với người Nhật; trong công tác đối dịch Nhật
Việt, Việt Nhật và công tác biên soạn từ điển song ngữ Nhật Việt
Trang 17Ngoài ra, chúng tôi hi vọng luận án có thể có những điểm mang tính gợi mởthêm những hướng đi khác cho các nghiên cứu tiếp sau.
7 Cấu trúc của luận án
Luận án được chia thành 4 chương (ngoài phần Mở đầu, Tài liệu tham khảo Kết luận và Phụ lục)
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Đặc điểm ngữ âm của các yếu tố Hán - Nhật (có đối chiếu với các
yếu tố Hán - Việt)
Chương 3: Đặc điểm hình thái - cấu trúc của các yếu tố Hán - Nhật (có đối
chiếu với các yếu tố Hán - Việt)
Chương 4: Đặc điểm ngữ nghĩa của các yếu tố Hán - Nhật (có đối chiếu với
các yếu tố Hán - Việt)
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
Những vấn đề lí thuyết liên quan đến luận án được trình bày theo hai nội dunglớn: 1) Một số vấn đề chung về vay mượn từ vựng; 2) Khái quát về hiện tượng vaymượn yếu tố Hán trong tiếng Nhật làm cơ sở để khảo sát các chương tiếp theo về đặcđiểm của các yếu tố Hán - Nhật trong tiếng Nhật (có đối chiếu với tiếng Việt)
1.1 Một số vấn đề chung về vay mượn từ vựng
1.1.1 Hiện tượng vay mượn từ vựng
Nhu cầu giao lưu giữa những người nói các ngôn ngữ khác nhau đã khiến chomột số yếu tố của ngôn ngữ này xuất hiện trong ngôn ngữ kia và ngược lại Để dunhập được vào trong một ngôn ngữ khác, những yếu tố này phải chịu sự chi phối củacác qui tắc trong hệ thống ngôn ngữ đó Hiện tượng vay mượn từ vựng như thế “diễn
ra khác nhau giữa các ngôn ngữ khác nhau giữa các thời kì và khác nhau trong bảnthân một ngôn ngữ” [25, tr.10]
Vay mượn từ vựng được coi là hiện tượng phổ biến của mọi ngôn ngữ, là mộttrong những phương thức quan trọng để bổ sung vốn từ vựng của một ngôn ngữ, là
hiện tượng của ngôn ngữ học xã hội và hiện tượng ngôn ngữ - văn hóa [25, tr.10].
Trong mỗi hệ thống ngôn ngữ, ngoài việc áp dụng các phương thức cấu tạo từ
để tạo từ mới thì việc vay mượn từ vựng là phương thức rất quan trọng và hữu íchtrong việc biểu đạt các hiện tượng, khái niệm mới xuất hiện, đặc biệt trong thời đạitoàn cầu hóa, “bùng nổ thông tin” như hiện nay
Các yếu tố vay mượn được đưa vào ngôn ngữ vay mượn với tư cách là cácyếu tố cấu tạo từ, từ, các cụm từ, hoặc có thể là mô hình cấu tạo từ Ví dụ, tiếng Nhật
đã tiếp nhận từ tiếng Hán và tiếng Anh các phụ tố, từ, cụm từ, mô hình cấu tạo từ nhưsau:
- Các phụ tố của tiếng Hán: 未 vị (ví dụ: 未完成 “chưa hoàn thành”), 不 bất (ví
dụ: 不安定 “không ổn định”), 無 vô (ví dụ: 無作法 “không phép tắc”), 非 phi (ví dụ:
非課税 “không đánh thuế”), ~的 đích (ví dụ: 近代的 “mang tính hiện đại”), ~語
ngữ (ví dụ: 日本語 “tiếng Nhật”), ~人 nhân (ví dụ: 日本人 “người Nhật”, ベトナム
人 “người Việt Nam”), …; các phụ tố của tiếng Anh: マルチ (multi~) đa (ví dụ: マル
Trang 19チメディア “đa phương tiện”), アンチ (anti~) phản (ví dụ: アンチ主流は “phe chốngđối”), …
- Các từ của tiếng Hán: 偉大 vĩ đại, 学術 học thuật, 工業 công nghiệp, 現代
hiện đại,… ; các từ của tiếng Anh: メディア (media: phương tiện thông tin), バス
(bus: xe buýt), テレホン (telephone: điện thoại), ガス (gas: ga), ソファ (sofa: ghế sopha), ホテル (hotel: khách sạn), …
chính, 愛別離苦 ái biệt li khổ , 一望千里 nhất vọng thiên lí.
Những đơn vị từ vựng này không những bổ sung các khái niệm mới còn thiếutrong hệ thống ngôn ngữ vay mượn, mà còn “có khả năng biến đổi cấu trúc trongthành phần từ vựng, lập lại trật tự ngữ nghĩa mới” [25, tr.15] Trong một ngôn ngữbất kì, nếu thiếu đơn vị từ vựng để biểu đạt một đối tượng hay một khái niệm mớixuất hiện thì có thể vay mượn đơn vị tương ứng có trong một ngôn ngữ khác
Ngoài ra, còn có hiện tượng các ngôn ngữ vẫn vay mượn những đơn vị từ ngữvốn đã có từ mang nghĩa tương đương trong hệ thống từ vựng của mình để tạo thànhcác nhóm từ đồng nghĩa Ví dụ, trong tiếng Nhật có rất nhiều các nhóm từ đồng nghĩa;
ví dụ: 子供 (trẻ em)/キッズ (kids)/チャイルド (child), あやまち (lỗi)/ミス (miss), 幸
せ (hạnh phúc)/ 幸福/ハッピ (happy), 女 (phụ nữ, nữ)/ 婦人/ガール (girl)/レディー
(lady), … Các từ vay mượn có từ Nhật tương đương thường được sử dụng với phạm
vi hẹp hơn so với ngôn ngữ nguồn (thậm chí nhiều trường hợp khác hẳn với nghĩagốc), hoặc được sử dụng với nghĩa hẹp hơn so với từ Nhật mang nghĩa tương đương.Hiện tượng này có thể coi là “sự phân hóa về ngữ nghĩa của từ vay mượn và những
từ đồng nghĩa sẵn có trong ngôn ngữ đi vay”, tạo nên những nét đặc thù có giá trị khubiệt từng yếu tố trong nhóm từ đồng nghĩa; đó chính là sắc thái biểu cảm của các từ
Tương tự, trong tiếng Việt, bên cạnh từ “chết”, từ “hi sinh” “được dùng để chỉ
khái niệm “chết” trong một phạm vi hẹp hơn - “chết vì nghĩa vụ, vì lí tưởng cao đẹp”
[25, tr.25]
Là “một hiện tượng ngôn ngữ học xã hội”, hiện tượng vay mượn luôn chịu tác
động của các nhân tố ngôn ngữ - xã hội Có thể thấy rõ điều này khi quan sát các từ
vay mượn trong tiếng Nhật, bao gồm các từ Hán và các từ ngoại lai có nguồn gốc
Trang 20châu Âu Từ thời trung cổ đến trung đại, tiếng Nhật đã du nhập các từ ngoại lai chủyếu qua con đường ngoại giao đi sứ Trung Quốc, học đạo Thiền, đạo Phật (thời trungcổ) của các nhà sư Nhật Bản nên các từ vay mượn thời kì này chủ yếu là các từ Hán
có liên quan đến văn hóa Trung Hoa, đạo Thiền và đạo Phật (các từ dùng trong kinhPhật, hoặc các từ chỉ vật dụng trong chùa)
Thời kì sau (794 - 1192), do có sự tiếp xúc với các giáo sĩ truyền giáo và
thuyền buôn Bồ Đào Nha nên thời kì này, tiếng Nhật chủ yếu du nhập các từ chỉ tênsản phẩm, hàng hóa từ tiếng Bồ Đào Nha; du nhập thông qua tiếng Bồ Đào Nha vàtiếng Tây Ban Nha các từ chỉ địa danh nước ngoài hoặc các từ thuộc ngôn ngữ khác.Tuy nhiên, do chính sách bài ngoại chỉ coi trọng Hà Lan của triều đình Mạc Phủ nêntiếng Hà Lan được coi là ngoại ngữ chủ yếu, là cầu nối để người Nhật tiếp thu mạnh
mẽ nền văn minh châu Âu nên thời kì này việc vay mượn chủ yếu là từ tiếng Hà Lan
[128] Thời kì cận - hiện đại, tiếng Nhật tiếp nhận gián tiếp các khái niệm mới, các từ
mới có nguồn gốc châu Âu qua cách phỏng dịch sang từ Hán Có thể nói sau một thờigian dài “đóng cửa” thì đây là thời kì nước Nhật “mở cửa” tiếp nhận mạnh mẽ nềnvăn minh từ nước ngoài Điều đó thể hiện qua việc bổ sung một lượng lớn các từ
được phỏng dịch bằng từ Hán - Nhật Lớp từ mượn thời kì này chủ yếu thuộc các lĩnh
vực tư tưởng, giáo dục, kinh tế, khoa học,
Hiện tại, các từ mượn trong tiếng Nhật đang ngày càng trở nên phong phú, đadạng hơn do sự giao lưu quốc tế và sự tiếp xúc với nước ngoài không chỉ dừng lại ởnhững lĩnh vực này, mà còn phát triển sâu rộng đến nhiều mặt của đời sống hàng ngày
Đặc biệt, do xu hướng toàn cầu hóa mạnh mẽ, kéo theo sự phổ cập của tiếngAnh như ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất trên thế giới, thì lớp từ mượn có nguồngốc châu Âu và chủ yếu là tiếng Anh được du nhập vào tiếng Nhật một cách trực tiếp(không qua phỏng dịch bằng từ Hán) Tuy nhiên, điều này cũng làm nảy sinh một vấn
đề hiện đang rất được chú ý, đó là sự du nhập ồ ạt và lạm dụng các từ ngoại lai trongtiếng Nhật thời kì hiện đại Vì vậy, có thể nói “các từ vay mượn là các kí hiệu ngôn
ngữ - xã hội” vì một mặt, chúng phản ánh những biến động xảy ra trong xã hội của
ngôn ngữ đi vay; mặt khác, thể hiện những quan niệm khác nhau về cách vay mượn
từ vựng [25]
Trang 21Lớp từ vay mượn phụ thuộc vào hàng loạt các nhân tố ngôn ngữ - xã hội và
được xử lí theo nhiều cách khác nhau nên chúng tồn tại và hoạt động dưới các dạngkhác nhau Ví dụ, trong tiếng Nhật, các từ コップ [koppu] (cốc), ゴム [gomu] (caosu), ガラス [garasu](cốc thủy tinh) được mượn vào thời trung đại từ tiếng Hà Lannên có cách phát âm theo cách phát âm của tiếng Hà Lan; nhưng đến sau này, các từnày được mượn từ tiếng Anh nên được đọc theo cách phát âm tiếng Anh là カップ
[kappu], ガム[gamu], グラス[gurasu] Tuy nhiên, do mục đích sử dụng các thời kìkhác nhau và xảy ra sự phân bố lại nghĩa cũng như phạm vi sử dụng giữa các đơn vịđồng nghĩa nên các từ du nhập sau này được mở rộng hơn hoặc có sự khu biệt vềphạm vi nghĩa so với các từ được đưa vào từ trước Chẳng hạn, từ コップ, ゴム, ガラ
ス được sử dụng để biểu thị nghĩa “cốc, tách, chén sứ”, “cao su”, “thủy tinh (chấtliệu)/ cửa kính” trong khi đó từ カップchỉ “cốc (cao)”, ガムchỉ “kẹo cao su”, グラス
chỉ “ly thủy tinh”
Bên cạnh đó, theo Nguyễn Văn Khang, nhân tố quan trọng tác động đến lớp từ
vay mượn đó là “tác động của chính trị” - “chính sách ngôn ngữ đối với việc tiếp
nhận từ ngữ nước ngoài” [25] Điều này cũng đúng với các từ vay mượn trong tiếngNhật Như ở trên đã trình bày, vào thời trung cổ và trung đại, do các triều đại NhậtBản coi trọng vị trí của Trung Hoa trong chính sách ngoại giao, đặc biệt là chính sáchmuốn tiếp thu các thành tựu về tư tưởng, chính trị, văn hóa của nước lớn nên tiếngHán và các yếu tố Hán được tiếp nhận một cách mạnh mẽ Đến thời kì của chế độMạc Phủ, do chính sách bế quan không thông thương với các nước châu Âu và chủtrương bài trừ Thiên chúa giáo nên các từ mượn chủ yếu là các từ trong tiếng Hà Lan[128] Thời kì tiếp sau, do ảnh hưởng của sự cải cách mạnh mẽ thời Minh Trị, lớp từmượn của tiếng Nhật trở nên đa sắc màu và xuất hiện với số lượng lớn hơn các thời
kì trước
Mặt khác, khi nói về các con đường du nhập của lớp từ vay mượn, còn có kháiniệm “mượn của mượn” hoặc “hình tá pháp” Khái niệm này đúng với trường hợpcác từ phỏng dịch từ Hán trong tiếng Nhật Đây là các từ có nguồn gốc châu Âu, khi
du nhập vào tiếng Nhật được dịch bằng các từ Hán - Nhật và được ghi lại bằng văn tự
Hán Có nhiều trường hợp tiếng Hán mượn lại các từ phỏng dịch này của tiếng Nhật
Trang 22nguyên chữ Hán [25, tr.19] Các từ ngữ được tạo ra bằng cách dịch sang tiếng Nhật
và viết bằng chữ Hán như vậy tồn tại rất nhiều trong tiếng Nhật, được gọi là từ Hán
-Nhật tạo Ví dụ: 哲学 triết học (philosophy), 卓球 bóng bàn (ping-pon), 電気計算機
máy tính điện tử (computer), 空 気 調 節 装 置 máy điều hòa không khí (air
conditioner),
Trong hệ thống từ vựng tiếng Nhật có các từ Anh - Nhật tạo và từ Hán - Nhật
tạo Trong đó, có những từ tuy được mượn từ tiếng Anh nhưng được dùng với nghĩa
khác hoặc hẹp hơn nghĩa gốc; hoặc có nhiều từ được tạo ra bằng cách ghép các yếu tốmượn từ tiếng Anh Trong số các từ thuộc hai lớp từ này có nhiều từ quay trở lạingôn ngữ nguồn, hoặc được phổ biến rộng rãi trong nhiều ngôn ngữ khác Có nhiều
từ được “xuất khẩu” đi kèm với sản phẩm có giá trị về mặt tri thức, tinh thần, nghệthuật hay vật chất, ví dụ: カラオケ (karaoke), オフィス・レディー (office lady: nữnhân viên văn phòng), サイド・ブレーキ (side brake: phanh tay) Đặc biệt, ngườiNhật sử dụng âm Hán để tạo từ mới hoặc dịch các khái niệm mới du nhập từ nướcngoài Ví dụ: [tetsugaku] triết học, [keezai] kinh tế, [shakai] xã hội, [renai] luyến ái
(“tình yêu”), [78]
Khía cạnh ngôn ngữ học xã hội của hiện tượng vay mượn từ vựng còn thể
hiện ở con đường du nhập thông qua cá nhân song ngữ hoặc từng xã hội đa ngữ với các cá nhân đa ngữ Có thể hiểu là ban đầu từ vay mượn “được hình thành bởi một
người nào đó, về sau “được chấp nhận và đưa vào sử dụng” và có thể cả quá trìnhnhư vậy “được lặp lại mãi” [25, tr.20] Từ vay mượn trước hết được đưa ra cộngđồng bởi cá nhân với tất cả những yếu tố chủ quan của bản thân liên quan đến trình
độ ngôn ngữ, lập trường, tâm lí, được chấp nhận và đưa vào sử dụng theo cácnguyên tắc của hệ thống ngôn ngữ đó Trong quá trình sử dụng, những từ mượn nhưvậy sẽ được cố định bởi một hoặc một vài trong số các biến thể đó, nhưng nói chung,
có xu hướng các biến thể được chọn có cách phát âm gần sát với cách phát âm của từ
đó trong ngôn ngữ nguồn
1.1.2 Khái niệm vay mượn từ vựng
1.1.2.1 Một số vấn đề về tiếp xúc ngôn ngữ đối với vay mượn từ vựng
Nói đến vay mượn từ vựng thì không thể không nhắc đến tiếp xúc ngôn ngữ.
Đây là hiện tượng ngôn ngữ phổ biến trong đời sống xã hội giao tiếp của con người
Trang 23và tiếp xúc ngôn ngữ xảy ra khi có hiện tượng song ngữ/ đa ngữ dưới tác động của
các nhân tố ngôn ngữ - xã hội [25, tr.29]
Xét về bản chất, tiếp xúc ngôn ngữ được bắt đầu từ việc học thêm một ngônngữ khác Như vậy khi học ngôn ngữ khác, trong bản thân một cá nhân đã bắt đầuhình thành quá trình tiếp xúc giữa hai (hoặc hơn hai) ngôn ngữ Việc học một ngônngữ khác này mới chỉ là điều kiện cần để tiếp xúc ngôn ngữ diễn ra Do đó, để tiếp
xúc ngôn ngữ xảy ra còn cần phải được mở rộng ra toàn xã hội – đó chính là sự khuếch tán ngôn ngữ [25, tr.29].
Ví dụ, thời kì đầu khi sách vở của Trung Hoa được đưa vào Nhật Bản cùngvới chữ Hán thì chỉ có giới tăng lữ và quí tộc học tiếng Hán và chữ Hán để đọc sách
vở và kinh Phật Sau đó, do chính sách ngoại giao của triều đình Nhật Bản, sự phổbiến của Phật giáo và các tư tưởng triết học Trung Hoa cổ đại (qua con đường sáchvở) đã tạo cơ hội cho nhiều người dân Nhật Bản tiếp xúc với nền văn minh TrungHoa nên tiếng Hán và chữ Hán phổ biến hơn đến tận các tầng lớp khác trong xã hộiNhật Bản thời đó [128]
Tiếp xúc trong tiếp xúc ngôn ngữ được Nguyễn Văn Khang đề cập đến với hai
khía cạnh: thứ nhất, là sự tiếp xúc ở mặt cấu trúc – là “mối quan hệ tương tác”, “sựtác động lẫn nhau giữa hai hoặc hơn hai ngôn ngữ trong bộ óc của một người” (làmnảy sinh ảnh hưởng về mặt cấu trúc, tạo ra sự vay mượn, “thẩm thấu” các thành phần,phương thức, thay đổi các qui tắc, hệ thống và cấu trúc, có thể làm nảy sinh một ngônngữ mới); thứ hai, là “sự tiếp xúc ở mặt ứng dụng”, gây “hiện tượng đa ngữ” khi sửdụng đồng thời hoặc thay thế [25, tr.30]
Tiếp xúc ngôn ngữ có “tính định hướng” được thể hiện ở “hướng tác động”,
‘hướng ảnh hưởng” giữa các ngôn ngữ Tính định hướng này phụ thuộc rất nhiều vàocác nhân tố như: tính mục đích của việc học tập, tần số ứng dụng, mức độ thuần thục,bối cảnh ngôn ngữ, bối cảnh văn hóa, … [25, tr.30] Trong quá trình tiếp xúc, cónhiều khi một ngôn ngữ trở nên có “quyền lực” và có xu hướng xảy ra tác động mộtchiều từ ngôn ngữ “quyền lực” đó đến ngôn ngữ còn lại Có thể nói, điều này rất phùhợp khi nói về trường hợp tiếng Hán thời kì đầu tiếp xúc với tiếng Nhật, lúc đó tiếngNhật còn chưa có chữ viết
Tiếp xúc ngôn ngữ có thể xảy ra bằng các con đường tiếp xúc khác nhau, trựctiếp hoặc gián tiếp và có thể qui về ba kiểu tiếp xúc [25, tr.32] Đó là:
Trang 24- Tiếp xúc do ảnh hưởng của khẩu ngữ bởi có sự tiếp xúc giữa các cộng đồng
nói các ngôn ngữ khác nhau
- Tiếp xúc do ảnh hưởng của sách vở
- Tiếp xúc do ảnh hưởng của cả khẩu ngữ và sách vở
Trong đó, điều kiện để tiếp xúc xảy ra theo cách thứ nhất là phải có sự tiếpxúc trực tiếp giữa các dân tộc sử dụng các ngôn ngữ khác nhau làm nảy sinh ảnhhưởng giữa các ngôn ngữ, trong đó ngôn ngữ chịu ảnh hưởng mạnh hơn là ngôn ngữkhông có chữ viết
Dịch thuật cũng được cho là một trong những kiểu tiếp xúc do ảnh hưởng sách
vở, bắt buộc các ngôn ngữ đó phải có chữ viết Điều kiện để tiếp xúc theo con đườngnày xảy ra bao gồm tất cả các điều kiện của hai trường hợp còn lại
1.1.2.2 Về thuật ngữ “từ vay mượn”
Các đơn vị từ vựng du nhập vào các ngôn ngữ do hiện tượng vay mượn được gọi
là “từ vay mượn” Xuất phát từ các quan điểm khác nhau và cách dùng từ trong cácngôn ngữ khác nhau, nên có nhiều thuật ngữ được sử dụng để chỉ lớp từ này Trong tiếngAnh có một số thuật ngữ được dùng như sau: “loan” (tiếng Việt tương đương: “từmượn”, “từ ngoại lai”), “loan word” (“từ ngoại lai”), “loan translation/ calque” (“phỏng
dịch, dịch, can-ke ngữ nghĩa”), “loan blends” (“từ hỗn hợp ngoại lai”), “borrowed/
borrowing word” (“từ mượn”, “từ vay mượn”), “hybrid word” (“từ hỗn chủng”), “alienword” và “foreign word” (“từ nước ngoài”),
Trong tiếng Nhật, thuật ngữ 借用語 (“từ mượn”) được dùng để chỉ chung các
từ có nguồn gốc nước ngoài nhưng đã được Nhật hóa về hình thức (ngữ âm, chữ
viết), hình thái – cấu trúc và ngữ nghĩa Lớp từ này được chia thành hai nhóm là từ ngoại lai (có nguồn gốc từ các ngôn ngữ châu Âu, chủ yếu là tiếng Anh) và từ Hán.
Về tên gọi của hai nhóm từ này, có nhiều ý kiến khác nhau và chủ yếu theo hai quanđiểm sau Quan điểm thứ nhất, thống nhất với cách phân loại trên, tách các từ cónguồn gốc từ tiếng Hán và các từ có nguồn gốc từ các ngôn ngữ châu Âu thành hailớp từ riêng biệt với lí do các từ Hán có bề dày lịch sử hơn so với các từ có nguồngốc từ các ngôn ngữ châu Âu mới du nhập vào tiếng Nhật Các ý kiến theo quan điểmthứ hai cho rằng, cả hai lớp từ trên đều là các từ du nhập từ các tiếng nước ngoài nêncần phải coi là từ ngoại lai, và chia thành hai loại: các từ đến từ các ngôn ngữ châu
Trang 25Âu và các từ du nhập từ các ngôn ngữ phương Đông Trong đó, các từ du nhập từngôn ngữ châu Âu (chủ yếu là tiếng Anh) được gọi là 洋語 (“từ Âu”), và các từ du
nhập từ tiếng Hán được đọc theo âm Hán - Nhật được gọi 漢語 (“từ Hán”) [77] Tuy
nhiên, cách gọi 洋語 (“từ Âu”) ít phổ biến, mà thường được sử dụng bằng các thuật
ngữ khác là 外来語 (“từ ngoại lai”) giống với quan điểm thứ nhất, hoặc được gọi là
từ katakana khi muốn nhấn mạnh về hình thức biểu hiện (chữ viết) riêng biệt của loại
từ này trong tiếng Nhật Trái lại, cách gọi từ Hán - Nhật (tiếng Nhật gọi là 漢語) trởnên thông dụng, trở thành tên gọi chung cho tất cả các đơn vị từ vựng tiếng Nhậtđược viết bằng chữ Hán và được đọc bằng âm Hán - Nhật; đây cũng là thuật ngữchúng tôi sử dụng trong luận án để chỉ lớp từ này
- Về ngữ âm:
- Mượn nguyên cách phát âm nước ngoài: thực chất chỉ là giữ nguyên cách
viết (con chữ) Hầu hết các từ mượn kiểu này đều được phát âm không giống nhưphát âm trong ngôn ngữ gốc vì đã được điều chỉnh để gần với cách phát âm trongngôn ngữ đi vay Ví dụ, trong cách vay mượn của tiếng Việt, một số từ tiếng Anh tuygiữ nguyên dạng chữ viết nhưng đã được phát âm khác so với cách phát âm trongngôn ngữ gốc (khác phần nguyên âm, hoặc các phụ âm cuối thường bị lược bỏ) đểgần giống với cách phát âm các phụ âm cuối của tiếng Việt) như “chat”, “gameonline”, “file”, “fax”, “mail”, …
- Phỏng âm: là cách tạo phát âm mới cho các từ ngữ vay mượn dựa trên phát
âm trong ngôn ngữ gốc trên nguyên tắc tối đa gần phát âm gốc Chẳng hạn, khi tiếpnhận các từ tiếng Anh, trong tiếng Nhật thường xảy ra hiện tượng “âm tiết hóa” hoặc
“đa tiết hóa” Ví dụ, “shock” (“sốc”) trong tiếng Nhật được phát âm thành [shok-ku],
“hot” (“nóng”) được phát âm là [hot-to] Phương thức vay mượn này được gọi là
Trang 26“phiên âm” Tuy nhiên, đối với tiếng Nhật thì đây còn là phương thức “chuyển tự”,
do tiếng Nhật không cùng hệ văn tự với tiếng Anh nên bộ chữ Katakana được sửdụng để viết những từ tiếng Anh (hoặc các từ mượn từ các ngôn ngữ khác) Ví dụ,
“shock” trong tiếng Nhật có chữ viết là ショック, “hot” có chữ viết là ホット Ngoài
ra, trong phương thức “phỏng âm” còn dựa trên sự kết hợp giữa âm và nghĩa, đặcbiệt, trong cách vay mượn từ ngữ từ tiếng Hán Kiểu mượn này còn để lại trong một
số từ chỉ tên nước trong tiếng Nhật, ví dụ: Đức (独), Pháp (仏), Ấn Độ (印),
- Thay đổi hoàn toàn vỏ ngữ âm: là cách mượn theo kiểu dịch nghĩa, hay còn gọi là
can - ke ngữ nghĩa [25, tr.51] Trong tiếng Nhật, đây là cách mượn phổ biến đối với các từ
có nguồn gốc châu Âu một cách gián tiếp qua hình thức phỏng dịch bằng từ Hán Ví dụ:
電子計算機(computer máy tính điện tử), 卓球(pingpon bóng bàn), 電話 (telephone điện thoại), 経済 (economy kinh tế), 社会 (society xã hội)
- Về hình thái - cấu trúc:
- Giữ nguyên hình thái cấu trúc (thường xảy ra giữa các ngôn ngữ thuộc cùng
loại hình hoặc có sự giống nhau về mô hình cấu tạo từ) Chẳng hạn, trong tiếng Nhật
có các từ Hán - Nhật có một chữ Hán (dưới đây, gọi là từ Hán - Nhật đơn tự) hoặc mô
hình phụ - chính Ví dụ, 瓶 bình (“cái bình”), 棒 bổng (“gậy, que, hình cột”), 分 phân
(“phân/ phận”), 茶 trà (“trà, chè”), 度 độ (“độ, lần”), 駅 dịch (“ga”), Mô hình phụ
-chính, trong đó yếu tố phụ đứng trước mang nghĩa hạn định hoặc chỉ thuộc tính của
yếu tố đứng sau (ví dụ: 難問 nan vấn “câu hỏi khó”, 朝食 triều thực “bữa sáng”, 広義
quảng nghĩa “nghĩa rộng”, 美人 mĩ nhân “mĩ nhân/người đẹp”, )
Các từ Hán - Việt du nhập vào tiếng Việt nhờ cách đọc Hán - Việt là các từ
đơn tiết Ví dụ, bút (筆), đạo (道), đông (冬), băng (氷)
- Về ngữ nghĩa:
- Mượn toàn bộ nội dung ngữ nghĩa: thường là các thuật ngữ chuyên môn Ví
dụ: ブレーキ phanh xe (break), ミラー (mirror) gương xe, 血液 huyết dịch “máu”, カ
ルテ(Karte)/診療簿 chẩn liệu bộ/bạ “bệnh án”,
- Mượn một số nghĩa: đối với các từ tiếng Anh, thông thường, tiếng Nhật chỉ
Trang 27mới này [72, tr.73] Ví dụ: “rice” (tiếng Anh: 1/ gạo 2/ cơm) trong tiếng Nhật là ライ
スchỉ được dùng với nghĩa thứ hai (“cơm”), “boy” (tiếng Anh, 1/ thanh niên, bé trai.2/ nam bồi bàn 3/ con trai [188]), trong tiếng Nhật là ボーイvà chủ yếu được dùngvới nghĩa thứ hai
- Mượn nghĩa nhưng có thay đổi ở mức độ nhất định về nghĩa: ví dụ, tiếng Nhật
mượn từ “my home” nhưng sử dụng với nghĩa “chỉ những gì thuộc về sở hữu riêng của một cá nhân”, “black” trong tiếng Anh chỉ màu đen nói chung, nhưng trong tiếng Nhật
từ “ブラック” (black) chỉ được dùng với nghĩa “cà phê đen không sữa”.
1.2 Khái quát về từ mượn Hán trong tiếng Nhật
1.2.1 Các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến tiếp xúc Hán Nhật
Cũng giống như Triều Tiên, cùng là một trong các nước thuộc nhóm các nước
sử dụng ngôn ngữ chắp dính và chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa nói chung
và văn hóa chữ Hán nói riêng, Nhật Bản đã tiếp nhận nhiều yếu tố ngôn ngữ - văn hóacủa Trung Hoa Quá trình tiếp xúc Hán Nhật xảy ra trong các thời kì của lịch sử hìnhthành và phát triển của tiếng Nhật và chịu tác động của sự biến động về chính trị - xãhội
Về lịch sử phát triển của tiếng Nhật, có nhiều quan điểm khác nhau khi phân
kì lịch sử tiếng Nhật Theo cách phân chia thông thường thì có thể chia lịch sử pháttriển tiếng Nhật thành 6 thời kì, đó là các thời kì từ thời Nara trở về trước, thời Heian,Kamakura, Muromachi, Eđo và từ thời Meiji trở đi) [69] Ngoài ra, có tài liệu cònchia lịch sử tiếng Nhật thành năm thời kì: thượng cổ, trung cổ, trung đại, cận đại, cận
- hiện đại (Bảng 1.1) Các cách phân kì nêu trên chỉ là sự tương đối, vì khó có thể kết
luận lịch sử phát triển của ngôn ngữ đồng nhất hoàn toàn với lịch sử chính trị - xã
hội Tuy nhiên, những biến động về chính trị - xã hội của Nhật Bản đã tác động khôngnhỏ đến tiếng Nhật
Có thể trình bày khái quát lịch sử tiếng Nhật theo như sơ đồ Phân kì lịch sử tiếng Nhật được trình bày đối chiếu với cách phân kì lịch sử phát triển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Tài Cẩn [16] như trong Bảng 1.1 dưới đây
Trang 28Tiếng Nhật (tiếng Việt) Giai đoạn Tiếng Việt
Thời Asuka-hakuho Thượng
cổ
- 1 ngôn ngữ: tiếng Nhật
- 1 văn tự: chữ Hán
- Vay mượn từ Hán
Proto Việt (khoảng TK 8, 9)
- 2 ngôn ngữ: tiếng Hán (khẩu ngữ của lãnh đạo) và tiếng Việt.
- 1 văn tự: chữ Hán.
Thời Nara
Thời Tiền Heian
Trung cổ
- 1 ngôn ngữ: tiếng Nhật.
- 2 văn tự: chữ Hán, chữ Nhật (katakana &
hiragana).
- Phổ cập từ Hán.
tiền cổ (TK 10,11, 12)
- 2 ngôn ngữ: tiếng Việt (khẩu ngữ của lãnh đạo) và văn ngôn Hán.
- 1 văn tự: chữ Hán Thời Insei
Thời Kamakura
Trung đại
-1 ngôn ngữ: tiếng Nhật
- Chữ Hán được phổ biến rộng rãi (xuất hiện
từ Hán hai chữ biểu thị một khái niệm).
- Xuất hiện loại chữ Romaji để ghi tiếng Nhật.
- Du nhập các từ Hán
âm Đường (nhà sư).
Tiếng Việt cổ (TK 13, 14,
15, 16)
- 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và văn ngôn Hán
- 2 văn tự: chữ Hán và chữ Nôm
Thời kì Nam Bắc triều
Thời Muromachi
Tiếng Việt trung đại (TK
17, 18 và nửa đầu TK 19)
- 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và văn ngôn Hán
- 3 văn tự: chữ Hán chữ Nôm và chữ quốc ngữ.
Thời Azuchi-Momoyama Tiếng Việt cậnđại (thời gian
Pháp thuộc)
- 3 ngôn ngữ: tiếng Pháp, tiếng Việt và văn ngôn Hán
- 4 văn tự: Pháp, chữ Hán chữ Nôm và chữ quốc ngữ
Thời Tiền Edo
Cận đại - Xu hướng coi trọng chữ Hán (từ Hán được
phổ cập đi sâu vào đời sống)
Tiếng Việt hiện nay (từ năm 1945 trở đi)
.
- 1 ngôn ngữ.
- 1 văn tự: chữ quốc ngữ
Thời Hậu Edo
Thời Tiền Minh Trị
hiện đại
Cận 1 ngôn ngữ: tiếng Nhật.
- văn tự: dùng kết hợp
3 loại chữ viết
Chính phủ Nhật qui định chính thức bảng Hán tự thường dụng và bảng chữ kana sử dụng trong tiếng Nhật
- Số lượng từ Hán tạo mới (từ dịch) tăng mạnh
Thời Hậu Minh Trị
Thời Taisei
Thời Tiền Showa
Thời Hậu Showa
Thời Heisei
1.2.1.1 Thời thượng cổ (khoảng năm 200- 794)
Theo Nomura Masaaki, vào khoảng thời gian từ thế kỉ thứ V đến thứ VI, chữHán, từ Hán và Phật giáo được những nhà kĩ thuật chữ viết của bán đảo Triều Tiên
Trang 29Nhật Bản [128] Trong Nihonshoki cũng ghi là “Luận ngữ”, “Thiên tự văn” đã đượcmang vào Nhật Bản từ khoảng năm 285, nên cho rằng chữ Hán bắt đầu được đưa vàoNhật Bản vào khoảng thời gian từ thế kỉ thứ IV đến thế kỉ thứ V Thời kì này, chữHán đã được những người Nhật từ Trung Hoa trở về và những người thuộc tầng lớptrí thức Nhật Bản (quí tộc, tăng lữ, học giả) sử dụng trong văn viết vì tiếng Nhật chưa
có chữ viết [33]
Người Nhật đọc chữ Hán và văn Hán bằng âm Hán theo cách phát âm củangười Trung Hoa; đây là cách phát âm đã được đồng hóa khi du nhập vào Nhật Bản(trong tiếng Nhật, gọi là “jion”) [135] Đồng thời, chữ Hán cũng được dịch sang tiếng
Nhật và được đọc bằng chính các từ Nhật dịch nghĩa tương đương Từ Nhật là các từ
có cách đọc Nhật (trong tiếng Nhật gọi là “kundoku”) Ví dụ, từ Hán 秋 thu được dịchsang từ Nhật tương đương là “aki” (“mùa thu”) nên từ 秋 có thêm cách đọc Nhật[aki] bên cạnh cách đọc Hán - Nhật [shuu] Sau đó, chữ Hán 秋được sử dụng để làmchữ viết của từ “aki”
Quá trình đọc - dịch - mượn chữ viết như vậy đã hình thành một sợi dây liên
hệ giữa tiếng Nhật và chữ Hán về mặt nghĩa, chữ viết và âm Điều này thúc đẩy xuhướng cố định hóa một cách có hệ thống cách đọc các từ Hán theo âm Nhật Nhưvậy, các từ Nhật sẵn có trong tiếng Nhật mang nghĩa tương đương được dùng để dịchnghĩa các yếu tố Hán và chính các âm của các từ Nhật này được dùng làm âm đọcNhật cho chính những yếu tố Hán đó Tiếp đó, cũng chính chữ viết của các từ Hánnày được sử dụng để viết các từ Nhật mang nghĩa tương đương
Âm của từ Nhật tương đương được dùng là âm Nhật của các từ Hán du nhậpvào tiếng Nhật; trong tiếng Nhật, cách đọc Nhật như vậy của các từ Hán được gọi là
“jikun” Như vậy, có nghĩa là từ mượn Hán có cách đọc theo âm Hán đã được đồng
hóa, tức là âm Hán - Nhật (trong tiếng Nhật là “jion”) và cách đọc Nhật, tức là âm Nhật (trong tiếng Nhật là “jikun”) Theo cách mượn âm Nhật để đọc các từ Hán, thời
gian đầu, trong tiếng Nhật xuất hiện hiện tượng cùng một từ Hán có nhiều cách đọctheo âm Nhật khác nhau Ví dụ, từ Hán 包có hai từ Nhật tương đương là [tsutsumu]
Trang 30và [kurumu] (đây là hai từ gần nghĩa, có nghĩa “gói, bọc”) nên cũng có hai cách đọcNhật là [tsutsumu] và[kurumu] Tuy nhiên, sau này, cách đọc các từ Hán dần dần được
cố định nên đã loại bỏ xu hướng dùng nhiều từ Nhật làm cách đọc cho cùng một từHán Như vậy, có thể thấy, từ Hán hoàn toàn có thể được dịch hoặc được đọc bằng
vỏ âm thanh của các từ Nhật mang nghĩa tương đương
Sơ đồ Quá trình đọc - dịch - mượn chữ Hán
Tiếng Hán vốn có lịch sử phát triển lâu đời với một lượng từ vựng rất lớnđược tạo ra bởi các yếu tố Hán Trong đó, mỗi một yếu tố diễn đạt một nghĩa nhấtđịnh, tạo nên sự khu biệt tinh tế về nghĩa giữa các từ với nhau Khác với tiếng Hán,tiếng Nhật có lượng từ vựng ít, trong đó có rất nhiều từ Nhật (chủ yếu là động từ)biểu thị các đối tượng một cách trừu tượng, không rõ ràng Do đó, không thể có sựtương ứng chính xác giữa từ Hán với từ Nhật tương đương; đặc biệt, trong các trườnghợp từ Nhật được dùng để dịch nghĩa các từ Hán gần nghĩa Do đó có nhiều trườnghợp các từ trong nhóm từ Hán gần nghĩa được chuyển dịch tương đương với cùngmột từ Nhật; tức là, nhiều từ Hán gần nghĩa được đọc bằng cùng một âm Nhật hoặcchữ viết của nhiều từ Hán được sử dụng để ghi một từ Nhật Ví dụ, [ageru] đượcdùng để đọc các từ Hán gần nghĩa 挙cử, 上thượng, 揚dương; [tsuku] được dùng để
đọc các từ Hán 突 đột, 付 phụ, 就 tựu, 着 chước, 衝 xung, 点 điểm.
Theo Okutsu Keiichiro, các yếu tố Hán được đưa vào trong tiếng Nhật giaiđoạn thượng cổ cũng bắt đầu bị thay đổi, đó là việc người Nhật đã sử dụng chữ viếtcủa các yếu tố Hán để ghi tiếng Nhật Ban đầu, đây là cách dùng âm Hán - Nhật vàchữ viết của các yếu tố Hán để biểu thị âm của các từ Nhật khi chép lại các bài thơNhật trong tuyển tập thơ 万葉集 [Manyooshuu] (Vạn diệp tập) Các yếu tố Hán xuất
Chữ Hán
Âm Hán - Nhật
Từ Nhật tương đương
(jikun)
Từ Nhật tương đương (được ghi lại bằng chữ) Hán
Cách đọc Hán - Nhật
(jion)
Cách đọc Nhật (jikun)
Trang 31hiện trong tập thơ này chỉ đơn thuần là chữ viết biểu âm cho các từ Nhật, hoàn toànkhông có sự tương ứng về nghĩa với các từ Nhật và được gọi là chữ “manyoo” Ví
dụ, [hana] (“bông hoa”) được viết bằng chữ Hán 波 [ha] 奈 [na], [hito] (“người”)được viết bằng chữ 必 [hi] 登 [to], Như vậy, cách sử dụng yếu tố Hán như thế nàykhông liên quan đến nghĩa mà chỉ dùng cách đọc Hán - Nhật của chúng để ghi lại âmcủa các từ Nhật
Mặt khác, do có sự giao lưu với Trung Hoa trên nhiều bình diện nên trong tiếngNhật, không chỉ dừng lại ở việc vay mượn các yếu tố Hán như thời kì trước đó mà lúcnày đã bắt đầu có sự vay mượn ở cấp độ từ, đó là việc mượn nguyên khối các từ Hán
chữ katakana Bộ chữ katakana bao gồm các chữ được tạo ra bằng cách giản lược các
nét của chữ Hán Ví dụ, イ [i] được giản lược từ chữ Hán 伊, テ [te] được giản lược từchữ Hán 天, カ [ka] được giản lược từ chữ加 Tiếp theo bộ chữ katakana là sự ra đờicủa bộ chữ hiragana được tạo ra dựa vào kiểu viết thảo của chữ Hán
Vào thời kì này, triều đình Nhật Bản chủ trương tôn sùng đạo Phật như làquốc giáo [35, tr.80] Do đó, từ Hán (chủ yếu là các từ dùng trong Phật giáo) trở nênphổ cập ở Nhật Bản Ví dụ: [neNzu] (念珠niệm châu “tràng hạt”),
Vào đầu thế kỉ thứ 9, giới quí tộc trong triều đình Nhật Bản chịu nhiều ảnhhưởng của văn học Trung Hoa và việc học tiếng Hán được triều đình khuyến khíchnên việc học tiếng Hán và văn học Trung Hoa trở nên thịnh hành trong giới quí tộc vàquan chức cao cấp Thời kì này, “Nhật Bản chưa có nền văn học riêng của mình” [34,tr.189], trừ một tuyển tập thơ duy nhất là 万葉集 [MaNyooshuu] (Vạn diệp tập) được
Trang 32hoàn thành năm 750 bằng tiếng Nhật và một số truyện dân gian nhưng lại dùng chữHán để ghi lại âm Việc học tiếng Hán đã được đưa vào trong hệ thống giáo dục củaNhật Bản qua chỉ dụ năm 702 Cho đến tận khi tập thơ 古今集[KokiNshuu] (Cổ kim tập) ra đời năm 922, thì suốt trong thời gian hàng trăm năm đó, văn học Nhật Bản
“chỉ có thơ Trung Hoa chiếm vị trí độc tôn” Ngôn ngữ Nhật Bản trong giai đoạn nàychưa đủ phong phú để diễn đạt được hết những khái niệm trừu tượng, do đó “chưathoát li được tiếng Hán Những thuật ngữ của Khổng giáo và Phật giáo có tác dụngmạnh mẽ tới tư duy và hành động của con người ([34, tr.192]
Tiếng Nhật đã phải trải qua cuộc đấu tranh lâu dài với tiếng Hán - một “đốithủ” đầy quyền lực (có lịch sử phát triển lâu đời hơn, là ngôn ngữ có chữ viết của dântộc có trình độ văn hóa cao hơn) và đã đạt được những thành tựu đáng kể trong thế kỉ
IX Trong những tác phẩm văn chương của Nhật Bản thời kì này, tiếng Nhật đãkhẳng định được sức mạnh của mình Tuy nhiên, tiếng Hán, hay đúng hơn là sự phatrộn giữa tiếng Hán với tiếng Nhật vẫn giữ vai trò chủ đạo, vẫn tiếp tục được dùngtrong việc học hành và có ảnh hưởng lớn đến đời sống, trí tuệ ở Nhật Bản
1.2.1.3 Thời kì trung đại (1192 – 1603)
Các nhà sư Nhật Bản học đạo thiền ở Trung Hoa đã mang về Nhật các từ Hánđọc theo âm Đường Ví dụ, 行燈 [aNdoN] hành đăng (“đèn lồng”), 椅子 [isu] kỉ tử
(“ghế”), 饅頭 [maNju:] (“bánh bao”) Đây cũng là thời kì tiếng Nhật bắt đầu được
các giáo sĩ truyền đạo thiên chúa dùng chữ Romaji (chữ Latin) để ghi lại.
1.2.1.4 Thời kì cận đại (1603- 1868)
Giai đoạn này nổi lên khuynh hướng coi trọng chữ Hán nên chữ Hán đượcnhiều người sử dụng Khuynh hướng này làm xuất hiện tình trạng dùng sai chữ Hán (vídụ: 恥 sỉ→耻) Chính quyền Mạc Phủ chủ trương chính sách bế quan tỏa cảng để giữ
đất nước ổn định (giống cách cai trị theo đạo Khổng của triều đình Trung Hoa), triệt đểbài ngoại (chủ yếu là đạo Giato và phương Tây) nên các thuyền buôn “vào các hải cảngNhật không mang hàng của phương Tây mà mang hàng của các nước châu Á, nhất là
Trang 33hưởng đến sự phát triển của tiếng Nhật Chính vì áp dụng chính sách cai trị đất nướctheo đạo Khổng nên đối với chính quyền Mạc Phủ “việc quan trọng nhất trong chínhsách văn hóa là chấn hưng việc học đạo Khổng” [35, tr.329] Trong bối cảnh như vậy,chữ Hán được phổ biến sâu rộng vào đời sống sinh hoạt của người Nhật hơn thời kìtrước
Thời kì này, việc dùng chữ Hán để viết các yếu tố ngữ pháp của tiếng Nhật (vídụ: trợ từ, dạng thức biến đổi ngữ pháp của động từ, ) nảy sinh nhiều vấn đề nênngười Nhật bắt đầu dùng các văn bản có các yếu tố tiếng Nhật được viết bằng chữkana xen lẫn với chữ Hán
1.2.1.5 Thời kì cận – hiện đại (1868 – nay)
Đầu thời kì này, người Nhật vẫn sử dụng chữ viết và âm đọc Hán - Nhật của
các yếu tố Hán để ghi các từ vay mượn có nguồn gốc từ tiếng châu Âu, hoặc để ghicác địa danh, tên người nước ngoài Ví dụ: từ “club” ( “câu lạc bộ”) trong tiếng Nhậtđược phát âm là [kurabu] và được viết bằng ba chữ Hán 俱楽部 biểu thị ba âm tiết của
từ này, “France” (Pháp) được phát âm là [furaNsu] và được viết bằng các chữ Hán 仏
蘭西
Yếu tố Hán bắt đầu được đưa ra bàn luận nhiều với các vấn đề như giới hạn số
lượng chữ, cách sử dụng trong tiếng Nhật Cũng trong thời kì này, “Bảng Hán tự đương dụng” được công bố năm 1946, tiếp theo, Bảng Hán tự thường dụng được
công bố năm 1981, qui định các chữ Hán được sử dụng phổ biến trong tiếng Nhật
Đối với Việt Nam, tiếp xúc Hán Việt bắt đầu diễn ra vào khoảng đầu côngnguyên, được chia thành hai giai đoạn chính (giai đoạn trước và sau thế kỉ X), dẫnđến việc du nhập các từ Hán vào tiếng Việt “chịu tác động của hàng loạt các nhân tố
xã hội - ngôn ngữ” [25, tr.63] Giai đoạn trước thế kỉ X (suốt thời kì Bắc thuộc), ở Việt Nam diễn ra trạng thái song ngữ - “song thể ngữ xã hội bất bình đẳng”: tiếng
Hán là ngôn ngữ cao, có chữ viết; tiếng Việt là ngôn ngữ thấp, chỉ là ngôn ngữ củangười dân trong giao tiếp hàng ngày Đây là thời kì tiếng Hán và chữ Hán được chínhquyền đô hộ phổ biến phục vụ cho chính sách “đồng hóa người Việt thành ngườiHán” Có thể thấy rằng, đây là cách vay mượn có sự cưỡng ép từ chính quyền đô hộ
Trang 34với chính sách đồng hóa theo hai mặt phát triển và kìm hãm Hệ quả là tiếng Hán vàchữ Hán tuy được phổ biến cho người Việt nhưng chỉ giới hạn trong tầng lớp nhấtđịnh; do đó, thời kì này các từ mượn Hán “xuất hiện rời rạc và lẻ tẻ” [25, tr.67, 69].Thời kì này, tổ chức hành chính, các phong tục tập quán, chế độ khoa cử, của ViệtNam đều theo Trung Hoa Do đó, khác với Nhật Bản (chữ Hán dùng để đọc các tácphẩm, sách vở của Trung Hoa), ở Việt Nam, chữ Hán được dùng trong trường học,chùa chiền, sáng tác văn học và tiếng Hán được dùng trong giao tiếp (khẩu ngữ) nêndần dần chữ Hán và tiếng Hán đi vào đời sống người Việt [25, tr.66, 67] Giai đoạnsau thế kỉ 10 là thời kì Việt Nam giành được độc lập, tự chủ nên các triều đại phongkiến Việt Nam đã tiếp thu có ý thức “từ cách tổ chức hành chính, kinh tế, văn hóa, tưtưởng xây dựng đất nước” Sự tiếp xúc ngôn ngữ đã không còn sự ràng buộc, cưỡng
ép Do ưu thế về cách đọc Hán - Việt (có hệ thống) nên các từ Hán có thể nhập vàotiếng Việt bằng cả con đường sách vở và khẩu ngữ [25, tr.71]
Việt Nam và Trung Hoa gần nhau về mặt địa lí nên có những thuận lợi nhấtđịnh trong giao lưu, tiếp xúc (trực tiếp và gián tiếp) giữa hai dân tộc, dẫn đến hiệntượng “song dụng cả hai ngôn ngữ theo cách chuyển mã hay trộn mã”, làm xuất hiệncác từ mượn Hán qua con đường khẩu ngữ Các từ mượn Hán đã xuất hiện trong tiếngViệt “theo suốt chiều dài lịch sử của mối quan hệ Việt Trung” nên có thể du nhập lẻ tẻhoặc ồ ạt, hoặc có thời điểm có xu hướng nghiêng về nhóm/trường từ vựng - ngữ nghĩanhất định Bên cạnh đó, do có quan hệ thông thương giữa hai nước nên các từ ngữthuộc lĩnh vực kinh tế, thương mại cũng được du nhập vào Việt Nam với số lượngtương đối lớn [25, tr.64]
1.2.2 Các nhân tố ngôn ngữ ảnh hưởng đến tiếp xúc Hán Nhật
Khi xét các nhân tố ngôn ngữ ảnh hưởng đến tiếp xúc Hán Việt, Nguyễn VănKhang [25] đặc biệt chú trọng hai nhân tố: đặc điểm loại hình học của hai ngôn ngữ vàvai trò của chữ Hán Trong luận án này, chúng tôi trình bày về đặc điểm loại hình họccủa hai ngôn ngữ và vai trò của yếu tố Hán đối với tiếng Nhật như là hai nhân tố ngônngữ quan trọng ảnh hưởng đến tiếp xúc Hán Nhật
1.2.2.1 Đặc điểm loại hình học của tiếng Nhật và khái quát về đặc điểm đồng hóa
của yếu tố Hán trong tiếng Nhật
Trang 35Tiếng Nhật là ngôn ngữ chắp dính: có cấu trúc âm tiết mở, phách tính, không
có thanh điệu, ý nghĩa ngữ pháp được thể hiện bằng hệ thống các trợ từ và trợ động
từ (biểu thị chức năng ngữ pháp và phương thức biến hình của động từ, tính từ), mô
hình từ phụ - chính, vị ngữ ở cuối câu theo trật tự chủ ngữ - bổ ngữ - vị ngữ
Trái lại, tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập: âm tiết tính, có thanhđiệu, chủ yếu là âm tiết đóng, ý nghĩa ngữ pháp được thể hiện bằng phương thức trật
tự từ (trật tự từ trong câu là chủ ngữ - vị ngữ - bổ ngữ) giống như tiếng Hán Trong tiếng Việt, bên cạnh mô hình từ chủ đạo thuần Việt chính - phụ, có sử dụng mô hình
từ ghép phụ - chính của tiếng Hán đối với phép thế các yếu tố trong từ ghép Sự
tương đồng về đặc điểm loại hình học với tiếng Hán tạo điều kiện thuận lợi cho cácyếu tố trong tiếng Hán du nhập vào tiếng Việt [25, tr.79]
b Khái quát về đặc điểm đồng hóa của yếu tố Hán trong tiếng Nhật
Trong tiếng Hán, yếu tố Hán vừa biểu ý vừa biểu từ do từng yếu tố đều cónghĩa; từ đơn tiết chiếm số lượng lớn nên có nhiều từ đơn tiết đồng âm Do đó, đốivới một ngôn ngữ có cấu trúc âm tiết đơn giản như tiếng Nhật thì phát âm của tiếngHán trở nên quá phức tạp để có thể thể hiện được tất cả các từ đơn tiết trong tiếngHán Vì vậy, hiện tượng đồng âm trong các yếu tố Hán - Nhật là rất phổ biến Kếtquả khảo sát cho thấy, 2264 yếu tố Hán - Nhật được thể hiện bằng 285 âm Hán -
Nhật, trong khi đó âm Hán -Việt tương ứng là 1381 âm (Phụ lục 2)
- Về ngữ âm:
Trước hết có thể nêu khái quát về các yếu tố Hán - Nhật với hai đặc trưng cơ bản sau:
Đặc trưng thứ nhất: Các yếu tố Hán - Nhật được phát âm với số lượng phách
ít hơn so với các yếu tố Nhật và ngoại lai có nguồn gốc châu Âu Âm của một yếu tố
Hán - Nhật chỉ có độ dài là một hoặc hai mora - vốn được coi là hình thức từ không
ổn định [69, tr.50] Ví dụ:
- Các yếu tố Hán - Nhật có một mora: 家 gia/花 hoa/過 quá được phát âm là
[ka], 左 tả/砂 sa được phát âm là [sa],
- Các yếu tố Hán - Nhật có hai mora: 要yếu/葉diệp/用dụng được phát âm là
[yoo], 点điểm/天thiên/展triển được phát âm là [ten],
Trang 36Đặc trưng thứ hai: Bản thân cách đọc Hán - Nhật chịu sự chi phối của hệ
thống qui tắc ngữ âm tiếng Nhật và có những qui tắc riêng nên hạn chế về kiểu loại
và số lượng âm tiết, dẫn đến tình trạng có nhiều yếu tố đồng âm
Cách đọc Hán - Nhật chịu ảnh hưởng của các con đường và thời kì du nhậpvào Nhật Bản khác nhau nên cùng một chữ Hán có thể có những cách đọc khác nhau
Đó là các cách đọc theo âm Ngô, âm Hán, âm Đường
Âm Ngô là âm của chữ Hán được đưa vào Nhật Bản khoảng thế kỉ thứ V, VI.Đây là thời kì Nhật Bản có mối bang giao chặt chẽ với Nam Triều (trung tâm là vùng
hạ lưu sông Dương Tử) vốn rất thịnh vượng “Ngô” là cách nói chỉ vùng hạ lưu sôngDương Tử (khoảng những năm 229~280 trước công nguyên, thủ đô là Nam Kinh)chịu sự thống trị của nước Ngô thời thời Tam Quốc Âm Ngô được sử dụng trong các
từ ngữ được đưa vào đời sống của người Nhật Bản từ rất xa xưa và các từ Hán đượcđưa vào Nhật Bản qua kinh Phật
Âm Hán được các sứ giả người Nhật Bản đi sứ sang triều nhà Đường vànhững người sang kinh đô Trường An học đưa về Nhật Bản muộn hơn (khoảng từ thế
kỉ thứ VII đến thế kỉ thứ IX) và là âm chữ Hán của vùng phương bắc Trung Hoa thờiĐường Cách gọi âm chữ Hán của thời Đường là “âm Hán” thường bị hiểu nhầm là
“âm Đường” Vào thời kì này ở Nhật Bản, khái niệm “Hán” được sử dụng để chỉTrung Hoa, và “âm Hán” được dùng để chỉ âm đọc các chữ Hán của Trung Hoa ỞNhật Bản thời đó, do âm Hán được cho là cách đọc đúng nên thuật ngữ “âm Hán”được sử dụng nhiều trong việc phát âm các từ Hán
Âm Đường là cách phát âm ở Trung Hoa được các nhà sư phái Thiền tôn, cácthương nhân thời Tống (Nam Tống, 1127~1279), thời Nguyên (1279~1368), thờiMinh (1368~1662) mang vào Nhật Bản vào cùng thời gian này tương ứng với thờiKamakura (1192~1333), thời Muromachi (1336~1573) của Nhật Bản Những âm nàyđược gọi là “âm Đường”, hoặc “âm Tống”, hoặc “âm Tống Đường” – do ở Nhật Bảngọi Trung Hoa là “Đường”, và “âm Tống” là chỉ cách phát âm chữ Hán vào thờiTống Và người ta cho rằng vì khoảng thời gian này cũng là khoảng thời gian ở
Trung Hoa hình thành và bắt đầu phổ cập một ngôn ngữ - được coi là cơ sở cho tiếng
Trang 37Bắc Kinh ngày nay nên âm Đường rất giống với phát âm của tiếng Bắc Kinh ngàynay [160].
Ngày nay, trong tiếng Nhật, hầu hết các từ Hán được đọc bằng âm Hán Đó làcác âm được du nhập vào Nhật Bản từ trước đây qua con đường sách vở vì các sáchchữ Hán hoặc sách vở Nho giáo phần nhiều cũng đều sử dụng âm Hán Ví dụ: 期間
[kikaN] kì gian (“thời hạn”), 金 [kiN] kim (“vàng”), 銀 [giN] ngân (“bạc”)
Những từ Hán - Nhật được phát âm theo âm Đường còn lại rất ít, chủ yếuđược sử dụng trong các từ chỉ vật dụng, món ăn và trong các từ ngữ có liên quan đếnđạo Thiền Ví dụ: 椅子[isu] (“ghế”), 饂飩 [udoN] (“mì udon”), 饅頭 [maNjuu] bánh bao), 行脚 [aNgya] (“tu hành”),
Ngoài ra, do trong quá trình sử dụng ở Nhật Bản, các âm Ngô, âm Hán thayđổi nên trong cách đọc On của các từ Hán - Nhật tồn tại những âm không chính xác,những âm này được phổ biến rộng rãi và được gọi là “quán dụng âm” (âm quendùng) Ví dụ, 物:もつ (âm quen dùng), もち (âm Ngô), ぶつ (âm Hán),
Trong luận án, chúng tôi không tách biệt và gọi chung cách đọc các yếu tốHán - Nhật theo âm Hán trong tiếng Nhật là âm Hán - Nhật
Trong tiếng Nhật hiện đại, cấu tạo âm vị trong cách đọc Hán - Nhật đơn giảnnên hiện tượng đồng âm xảy ra rất phổ biến trong các từ Hán - Nhật Chẳng hạn, có 31
từ khác nhau có cùng âm [kikoo], ví dụ như các từ 機構 cơ cấu, 気候 khí hậu, 寄稿 kí cảo, 寄航 kí hàng, 寄港 kí cảng, 機工 cơ công, 貴校 quý hiệu, 貴行 quý hành, [188]
Trong tiếng Nhật, một yếu tố Hán được sử dụng cả âm (âm Hán - Nhật) vànghĩa khi là thành tố cấu tạo các từ Hán - Nhật đa tự, hoặc có thể được sử dụng độclập như một từ Hán - Nhật đơn tự, hoặc có thể được sử dụng như từ Nhật (lúc nàyđược đọc theo âm Nhật và có sử dụng chữ hiragana để ghi thêm các âm tiết hoặc đuôibiến đổi hình thái của từ đó nếu cần thiết)
Trong tiếng Nhật, cách đọc Hán - Nhật và cách đọc Nhật cùng được sử dụng
để đọc các yếu tố Hán, đây là một đặc điểm của yếu tố Hán - Nhật khác với yếu tốHán trong tiếng Hán [135, tr.166] Do đó, một yếu tố Hán - Nhật thường có từ hai
Trang 38cách đọc trở lên, bao gồm âm Hán - Nhật (theo âm Ngô, âm Hán, âm Đường) và âmNhật Tuy nhiên, yếu tố Hán trong trường hợp có cách đọc Nhật thực chất chỉ đóngvai trò là chữ viết biểu nghĩa cho các từ Nhật mang nghĩa tương đương và không phải
là đối tượng nghiên cứu của luận án
Kết quả khảo sát cho thấy, trong 2098 chữ Hán Nhật (trong Bảng Hán tự thường dụng) có 1.242 yếu tố Hán có cả âm Hán - Nhật và âm Nhật, 703 yếu tố Hán
chỉ có âm Hán - Nhật, chỉ có 37 yếu tố chỉ có âm Nhật
Ngay trong bản thân tiếng Hán đã có nhiều từ đa nghĩa, nên khi du nhập vào tiếngNhật, một yếu tố Hán có thể được chuyển tương ứng sang nhiều từ Nhật khác nhau Do
đó, một yếu tố Hán trong tiếng Nhật có nhiều cách đọc Nhật Theo kết quả khảo sát khác,
trong 1945 yếu tố Hán của Bảng Hán tự thường dụng, có 649 yếu tố có một cách đọc Hán
- Nhật, 29 yếu tố chỉ có một cách đọc Nhật Như vậy, có 35% (678chữ) yếu tố Hán có mộtcách đọc, 65% là yếu tố Hán có từ hai cách đọc trở lên [157]
Đối với tiếng Việt, nhờ đặc điểm âm tiết tính, có thanh điệu nên các từ Hánđồng hóa một cách dễ dàng về mặt ngữ âm Sự trùng nhau giữa chữ viết và âm đọc(một âm tiết) là điều kiện thuận lợi cho các yếu tố Hán và văn tự Hán du nhập vàotiếng Việt và khiến các từ Hán dễ dàng “thoát khỏi vỏ ngữ âm của mình mà nhập vàotiếng Việt bằng một vỏ ngữ âm khác nhưng chữ viết (chữ Hán) không thay đổi Ví
dụ: tí, tử có cùng một chữ Hán 子; bối, bội là cùng một chữ Hán 背” [25, tr.81-82].Trong tiếng Việt, các yếu tố Hán cũng được du nhập thông qua nhiều con đường khácnhau và từ nhiều phương ngữ trong tiếng Hán nên một yếu tố cũng có thể có nhiều cáchđọc khác nhau
- Về hình thái - cấu trúc:
Về phương thức cấu tạo từ, ban đầu, người Nhật chịu ảnh hưởng của sách vở,các tác phẩm văn học, văn bản hành chính đương thời của Trung Hoa Họ áp dụngngữ pháp tiếng Hán vào trong văn viết nên phương thức tạo từ (phương thức ghép)theo trật tự ngữ pháp tiếng Hán có ảnh hưởng lớn và trở thành một trong nhữngphương thức tạo từ cơ bản trong tiếng Nhật Mặt khác, trước kia người Nhật đã lấychữ Hán làm chữ viết để ghi lại tiếng Nhật, tức là dùng âm (âm Hán - Nhật) và chữ
Trang 39viết của yếu tố Hán nên đã mượn nguyên rất nhiều các từ ghép Hán, sau đó dùng môhình từ của các từ đó để tạo từ mới Chính vì vậy, các từ Hán có thể dễ dàng du nhậpvào hệ thống từ vựng của tiếng Nhật Không chỉ mượn từ nguyên khối mà ngườiNhật còn mượn cả các yếu tố tạo từ cũng như phương thức tạo từ để tạo ra một lượng
lớn các từ Hán (được gọi là các từ Hán - Nhật tạo) Theo Nomura Masaaki, trật tự
kết hợp về mặt ý nghĩa của các từ Hán - Nhật còn lưu giữ nhiều ảnh hưởng của tiếngHán (tiếng Hán cổ đại) [135]
Ngoài ra, thao tác thay thế một yếu tố Hán trong vai trò là thành tố của từ đểtạo thành các từ có cùng chung một thành tố đã tạo ra các lớp từ có quan hệ nghĩa nào
đó (gần nghĩa, trái nghĩa) vô cùng phong phú
Trong tiếng Nhật, bên cạnh việc sử dụng yếu tố Hán làm chữ viết, còn sử dụng cácyếu tố Hán trên phương diện tạo từ theo âm và nghĩa với tư cách là các yếu tố tạo từ đã
được Nhật hóa, dưới đây gọi là yếu tố tạo từ Hán - Nhật Đây là điểm hoàn toàn giống với
việc sử dụng các yếu tố Hán - Việt để tạo từ trong tiếng Việt
Các từ Hán - Nhật không chỉ đơn thuần là sự kết hợp các yếu tố Hán có cùngmột kiểu đọc, mà còn là các kết hợp các yếu tố Hán có các cách đọc khác nhau như[âm Hán + âm Ngô], hoặc [âm Ngô + âm Hán] Chẳng hạn, có nhiều từ được viết bằngcùng một chữ Hán, nhưng để biểu thị sự khác nhau về ý nghĩa nên cùng một yếu tốHán nhưng ở từ này được đọc theo âm Ngô, ở từ khác được đọc theo âm Hán
Trong tiếng Nhật, danh từ không biến đổi hình thái nên các yếu tố Hán hoặccác từ mượn Hán có hình thức giống như các danh từ, các chức năng ngữ pháp đượcbiểu thị bằng các trợ từ và các trợ động từ, trong đó có một số các phụ tố được sửdụng để chuyển đổi từ loại tùy theo chức năng ngữ pháp trong các trường hợp cụ thểcủa yếu tố hoặc của từ đó Do đó, các từ mượn Hán vẫn có thể xâm nhập vào hệthống từ vựng tiếng Nhật và hoạt động như các từ Nhật khác Chẳng hạn, trong岩波国語辞典 (Từ điển quốc ngữ Ishinami) có 2/3 tính từ có phụ tố hình thái “~な” là từHán [142] Ngoài ra, có một số ít là phó từ hoặc các phụ tố
Trang 40Đối với tiếng Việt, sự tương đồng về mặt loại hình với tiếng Hán (đặc điểm
âm tiết tính, có thanh điệu, phương thức ngữ pháp được biểu hiện ngoài từ và dùngphương thức trật tự từ) là điều kiện thuận lợi cho sự du nhập của các từ Hán vào tiếngViệt Đặc biệt, phương thức ghép tạo từ đã tạo thuận lợi cho các từ ghép mượn Hán,giống như các đơn vị đơn tiết, có tiềm năng du nhập vào tiếng Việt và sự thuận tiệncho việc đồng hóa về cấu trúc (thay yếu tố, đổi trật tự các yếu tố)
- Về ngữ nghĩa:
Nghĩa của yếu tố Hán - Nhật trong tiếng Nhật và yếu tố Hán trong tiếng Háncũng có nhiều trường hợp không có sự đồng nhất, thậm chí là rất khác nhau Ví dụ: 栓
[seN] thuyên (“then, chốt cài, nắp chai”), trong tiếng Nhật cũng là danh từ Hán - Nhật
đơn tự nhưng chỉ dùng nghĩa “nắp chai”; 本 [hoN] bản trong tiếng Nhật là trợ số từ để
chỉ “vật hình trụ dài”, 奥 [oo] áo trong tiếng Hán có nghĩa “sâu xa, khó hiểu, xó nhà”,
trong tiếng Nhật được sử dụng kết hợp với phụ tố [~saN] trở thành từ dùng để gọi “vợcủa người khác” một cách trang trọng, lịch sự
Trong tiếng Việt, theo Nguyễn Văn Khang [25, tr.149], phổ biến hơn cả làhiện tượng hầu hết các từ Hán - Việt (đặc biệt là các từ đơn tiết) đều có từ Việt mang
nghĩa tương đương được ghi trong Tam thiên tự giải âm Đây là lí do dẫn đến hiện
tượng xung đột đồng nghĩa với các hệ quả: giữ nguyên nghĩa và không thay đổicương vị ngữ pháp, giữ nguyên nghĩa nhưng thay đổi quan hệ ngữ pháp, thay đổinghĩa nhưng không thay đổi cương vị ngữ pháp, thay đổi nghĩa và thay đổi cương vịngữ pháp Tuy nhiên, có một điều đáng lưu ý là một yếu tố Hán có thể có nhiều cáchđọc khác nhau, nhưng nghĩa là bất biến, không thay đổi và luôn gắn liền với từng yếu
tố [25, tr.82]
1.2.2.2 Vai trò của các yếu tố Hán - Nhật trong tiếng Nhật
Giai đoạn đầu tiếp xúc với tiếng Hán, tiếng Nhật chưa có chữ viết nên chữHán có vai trò rất lớn, được sử dụng để làm chữ viết của tiếng Nhật Chữ Hán và yếu
tố Hán là phương tiện vô cùng quan trọng trong việc đọc và viết; tác động sâu sắcđến tư duy, tâm hồn người Nhật Du nhập vào Nhật Bản, được người Nhật sử dụng