khóa luận, luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, đề tài
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
- Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt bằng tiếng Việt
- Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt bằng tiếng Anh
Asia and the Pacific
Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vựcChâu Á-Thái Bình Dương
Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Organization
Tổ chức Phát triển của Liên hợp quốc
UNCTAD United Nations Conference on Trade
and Development
Hội nghị phát triển thương mại quốc tếcủa Liên hợp quốc
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Trang 3Bảng 1.3 Chuyển giao công nghệ quốc tế 52
doanh nghiệp Hàn Quốc
55
phát triển
82
1995-2009
87
Bảng 2.13 Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến tháng 7/2010 phân theo các nước
và vùng lãnh thổ
93
2005
99
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, khoa học và công nghệ không chỉ là lực lượng sản xuất trực tiếp,
mà còn là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Nghị quyết Trung ương lầnthứ 2 Khoá VIII đã nêu rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển khoahọc và công nghệ: "Cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốcsách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội Công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước phải bằng và dựa vào khoa học và công nghệ"
Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, để đổi mới và nâng cao trình độcông nghệ của từng ngành và của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đối với một nướcđang trong quá trình chuyển đổi kinh tế như Việt Nam, trong những năm tới chủ yếuphải dựa vào việc nhập các công nghệ tiên tiến từ các nước phát triển nhằm tranh thủ
và tận dụng lợi thế của nước đi sau, tiết kiệm chi phí R & D trong điều kiện đất nướccòn có nhiều khó khăn về nguồn vốn cho phát triển và có thể tiếp cận ngay đượcnhững công nghệ hiện đại, tiên tiến trên thế giới mà trong nước chưa có
Trong những năm qua, đồng thời với việc ban hành và thực hiện các chínhsách đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đến việc thu hút công nghệ
từ nước ngoài và đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ của đất nước Cùng với LuậtĐầu tư (2005) (trước đó là Luật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ban hành tháng 12năm 1987 được sửa đổi, bổ sung nhiều lần), các văn bản quy phạm pháp luật về khoahọc công nghệ và chuyển giao công nghệ cũng đã được ban hành: Luật Khoa học vàcông nghệ (2000), Luật Sở hữu trí tuệ ( 2005), Luật Chuyển giao công nghệ (2006),Luật công nghệ cao (2008) v.v…
Tuy nhiên, hoạt động chuyển giao công nghệ nói chung và chuyển giao côngnghệ từ nước ngoài vào Việt Nam nói riêng thời gian qua vẫn chưa đáp ứng được yêucầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đạihoá và hội nhập quốc tế Trình độ công nghệ trong các ngành kinh tế kỹ thuật chuyểnbiến chậm Hàm lượng công nghệ trong các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đặc biệt
là các hàng hóa xuất khẩu còn thấp Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chậm
Trang 5nghệ chưa thực sự được đẩy mạnh là do hệ thống các chính sách về chuyển giao côngnghệ và thu hút công nghệ chưa đồng bộ, còn nhiều bất cập, mức độ tác động cònhẹp và hiệu quả thực hiện chưa cao Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là cần nghiên cứumột cách hệ thống, cả lý luận lẫn thực tiễn, đánh giá thực trạng chuyển giao côngnghệ nói chung và đặc biệt chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam nóiriêng, phân tích, làm rõ nguyên nhân của các hạn chế từ khía cạnh chính sách Trên
cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh việc thu hút công nghệ từnước ngoài vào Việt Nam, góp phần thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, thu hẹp dần khoảng cách công nghệ giữa nước ta với các nướctrong khu vực trên thế giới
Luâ ̣n án “Chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam” được thực
hiện nhằm giải quyết vấn đề đặt ra này
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
2.1 Mục tiêu của Luận án
Trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý luận, đồng thời phân tích, đánh giá thực trạngchính sách thu hút công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam, phân tích nhu cầu pháttriển kinh tế - xã hội và nhu cầu đổi mới, phát triển công nghệ của các ngành, lĩnhvực, đặc biệt là các hướng công nghệ ưu tiên, Luận án đề xuất hệ thống đồng bộ cácgiải pháp chủ yếu nhằm đổi mới, hoàn thiện chính sách thu hút công nghệ từ nướcngoài vào Việt Nam Trên cơ sở đó, hình thành các chính sách đủ mạnh, có tính thựcthi cao, phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm tạo môi trường thuận lợi, thúc đẩy mạnh
mẽ hoạt động chuyển giao công nghệ, thu hút được công nghệ tiên tiến của nướcngoài vào Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2015
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
- Nghiên cứu và phát triển cơ sở lý luận liên quan đến chuyển giao công nghệ
và chính sách thu hút công nghệ từ nước ngoài
- Đánh giá thực trạng chuyển giao công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nướcngoài tại Việt Nam thời gian qua, đặc biệt từ khi thực hiện chính sách đổi mới, phân
Trang 6tích các nguyên nhân thành công và chưa thành công về mặt chính sách đối với hoạtđộng thu hút chuyển giao công nghệ thông qua các dự án đầu tư nước ngoài.
- Trên cơ sở phân tích xu thế phát triển khoa học và công nghệ, các xu hướngphát triển của các tập đoàn, các Công ty xuyên quốc gia trên thế giới, đánh giá nhucầu phát triển công nghệ của Việt Nam, kết hợp với việc tìm hiểu kinh nghiệm vềchính sách chuyển giao công nghệ của một số nước, Luận án kiến nghị hệ thống cácgiải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách thu hút chuyển giao công nghệ trongđầu tư nước ngoài tại Việt Nam và thông qua các kênh chuyển giao công nghệ khácđáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án
- Đối tượng nghiên cứu là chính sách thu hút công nghệ từ nước ngoài vàoViệt Nam
- Phạm vi nghiên cứu của Luận án tập trung vào việc phân tích các chính sáchthu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam thông qua các dự án đầu tư trực tiếpnước ngoài tại Việt Nam và các kênh khác nhau từ khi thực hiện chính sách đổi mớiđến nay
4 Tình hình nghiên cứu liên quan tới luận án
Ở nước ngoài, hầu hết các nghiên cứu chỉ đề cập tới chính sách phát triển côngnghệ và chuyển giao công nghệ, hầu như rất ít công trình chuyên nghiên cứu chínhsách thu hút công nghệ nước ngoài Đáng chú ý nhất trong số các công trình đã đượccông bố (có dịch sang Tiếng Việt) là cuốn “Phát triển công nghệ và chuyển giao côngnghệ ở Châu Á” (Nhà xuất bản Bunshindo, Nhật bản) của tác giả Lâm Trác Sử Cáctác giả chủ yếu phân tích các mô hình và chính sách phát triển công nghệ nói chungcủa một số các quốc gia Đông Á, điển hình nhất là mô hình Trung Quốc, Hàn Quốc
và Nhật Bản Công trình nghiên cứu “Technological Independence–The AsianExperence” của United Nations University, Nhật Bản chủ yếu nghiên cứu về chínhsách công nghệ các quốc gia Châu Á trong các thời kỳ các nước tiếp nhận công nghệcủa Hoa kỳ và Châu Âu Nhìn chung, các công trình đã công bố trên thế giới chủ yếutập trung nghiên cứu chính sách phát triển công nghệ các nước nhằm mục đích tăng
Trang 7trưởng, trong đó đưa ra các mô hình thành công trong chính sách công nghệ như
“Đàn nhạn bay” của Nhật Bản, …
Ở Việt Nam, có một số công trình đã công bố phải kể đến là cuốn “ Đổi mới
cơ chế quản lý Khoa học và Công nghệ ở Việt Nam” do TS Lê Đăng Doanh chủbiên Tác giả đã phân tích và kiến nghị khoa học và công nghệ ở Việt Nam cần đổimới theo hướng nào, kênh nào trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế Các tác giả cũng đặc biệt chú ý tới công tác quản lý nhà nước đối với hoạt độngkhoa học và công nghệ
Cuốn “Quan hệ giữa phát triển khoa học công nghệ với phát triển kinh tế - xãhội trong công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam” (NXB Khoa học xã hội, 1999)của tác giả Nguyễn Danh Sơn đã phân tích được mối quan hệ qua lại giữa phát triểnkhoa học công nghệ và công nghiệp hóa nền kinh tế Tác giả Nguyễn Danh Sơn cũnglàm rõ được vai trò quan trọng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong chiếnlược công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Ngoài ra, còn một số công trình đãcông bố nghiên cứu về các chính sách hỗ trợ khoa học công nghệ ở Việt Nam như tácgiả Hoàng Trọng Cừ với đề tài “Nghiên cứu vấn đề thuế trong hoạt động khoa học vàcông nghệ” (Đề tài NCKH của Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa họccông nghệ); tác giả Nghiêm Thị Minh Hòa “Đầu tư tài chính cho khoa học công nghệ
ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp” (Báo cáo tại Hội thảo khoa học “Nghiên cứu
và đào tạo sau đại học ở Việt Nam”, 2000), v.v Trong các công trình này, các tácgiả chủ yếu đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm hỗ trợ hoạt động khoa học côngnghệ ở Việt Nam, chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về chính sách thu hútcông nghệ nước ngoài vào Việt Nam Nhóm nghiên cứu đề tài cấp Bộ Thương mại doNguyễn Văn Hoàn làm chủ nhiệm với đề tài “Chính sách nhập khẩu công nghệ mới,công nghệ cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam - thựctrạng và giải pháp”, mã số 2002-78-018 Đề tài nghiệm thu năm 2002 và đã nghiêncứu và đánh giá tình hình nhập khẩu công nghệ của Việt Nam trong chiến lược côngnghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế Tuy nhiên, các tác giả đề tài này chưa phân tíchđược chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam và cũng chỉ dừng lạixem xét tình hình nhập khẩu công nghệ nói chung vào Việt Nam giai đoạn trước năm
2001 và chính sách nhập khẩu công nghệ dưới góc độ chính sách thương mại
Trang 8Với mục đích nghiên cứu thực trạng chính sách thu hút công nghệ nước ngoàivào Việt Nam trong thời gian qua đề tìm ra những mặt được và chưa được của chínhsách, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách,NCS đã chọn đề tài “Chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam” làm đềtài luận án tiến sĩ.
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của phép duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử; dựa vào những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vềhội nhập kinh tế và phát triển đất nước làm cơ sở để phân tích đánh giá hoạt độngchuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam
Đồng thời, luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như thống
kê, tổng hợp và phân tích, tiếp cận hệ thống
- Đánh giá thực trạng chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Namtrong thời gian từ sau khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay Lần đầu tiênluận án đã đánh giá sự bất cập trong chính sách thu hút công nghệ nước ngoàivào Việt Nam thông qua kênh FDI
- Đề xuất các giải pháp cấp bách và lâu dài có tính khả thi nhằm đẩy mạnh việc thuhút chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam, hoàn thiện hệ thốngchính sách phát triển công nghệ tại Việt Nam
7 Bố cục của Luận án:
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được
Trang 9Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách thu hút công nghệ
nước ngoài
Chương II: Thực trạng chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt
Nam
Chương III: Các giải pháp đổi mới chính sách thu hút công nghệ nước ngoài
vào Việt Nam trong thời gian tới
Trang 10CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH
THU HÚT CÔNG NGHỆ NƯỚC NGOÀI
1.1 Công nghệ và chuyển giao công nghệ
1.1.1 Công nghệ (Technology)
Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về công nghệ, sau đây luận án chỉ đưa
ra những cách hiểu thông dụng nhất để trên các khái niệm đó phục vụ cho quá trìnhnghiên cứu:
Theo UNIDO: “Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằngcách sử dụng những nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phươngpháp”(Trần Văn Thọ 2006, tr.5)
“Công nghệ là hệ thống kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất racác sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới” (OECD, 1968, tr.3)
“Công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hànghóa”(OECD, 1970)
“Công nghệ là hệ thống các kiến thức về một quy trình hoặc/và các kỹ thuậtchế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm hoàn chỉnh”(OECD, 1972, tr.5)
“Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào các ngành nghề thực tiễn bằng cách
sử dụng những nghiên cứu và cách xử lý có hệ thống, có phương pháp” (ESCAP,1986)
“Công nghệ là mọi loại kỹ năng, kiến thức, thiết bị, phương pháp có hệ thốngđược sử dụng trong sản xuất và dịch vụ” (PRODEC, 1982)
“Công nghệ là các giải pháp dùng để biến đổi các nguồn lực tự nhiên thànhcác nguồn lực được sản xuất có giá trị”(APCTT-Bộ Khoa học và Công nghệ, 2001)
“Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật chế biến vật liệu và
Trang 11hoặc dịch vụ công nghiệp, dịch vụ quản lý” (APCTT-Bộ Khoa học và Công nghệ,2001).
“Công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm gồm
03 yếu tố: a) Thông tin về phương pháp; b) Phương tiện, công cụ sử dụng phươngpháp để thực hiện việc chuyển hóa; c) Sự hiểu biết về phương pháp hoạt động nhưthế nào và tại sao (Ngân hàng thế giới, WB, 1985)
“Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất và như vậy nó được muabán trên thị trường như một hàng hóa, thể hiện ở những dạng sau: a) Tư liệu sản xuất,sản phẩm trung gian được mua bán trên thị trường, đặc biệt nó gắn liền với các thiết
bị đầu tư; b) Con người, thông thường là có trình độ và có trình độ cao, chuyên mônsâu với khả năng sử dụng đúng các thiết bị và làm chủ được bộ máy; c) Thông tin, dù
đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được đưa ra trên thị trường hayđược giữ bí mật như một phần của sự độc quyền (UNCTAD, 1972)
Theo Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2000, tại Chương I, Điều 1nêu rõ “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ,phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm” (Quốc hội nướcCHXHCN Việt Nam, 2000)
Qua những định nghĩa trên và hàng trăm định nghĩa khác tương tự như vậyđược các tác giả công bố trong các giai đoạn từ những năm 1960 cho tới nay, chothấy công nghệ là một khái niệm đang phát triển và có xu hướng ngày càng mở rộng,ngày càng định hình hơn Tuy nhiên, cho đến nay xuất phát từ các góc nhìn khácnhau, các hoàn cảnh và điều kiện khác nhau, các tác giả vẫn không hoàn toàn thốngnhất với nhau về định nghĩa công nghệ
Để làm rõ và đi đến thống nhất khái niệm này, luận án sẽ phân tích trên 03khía cạnh chủ yếu: 1) Về bản chất công nghệ là gì? 2) Công nghệ có đặc điểm chủyếu gì? 3) Công nghệ phục vụ cho cái gì?
Thứ nhất, cần làm rõ bản chất của công nghệ Hầu như tất cả các tác giả đềuthống nhất với nhau rằng công nghệ là các cách thức, các kiến thức, các kỹ năng, cácquy trình, các thiết bị, các công cụ, các phương tiện, các dịch vụ công nghiệp, cácdịch vụ quản lý, vv và vv… mà ta gọi chung, trong luận án này, là các phương pháp
Trang 12Nhưng không phải là các phương pháp nói chung, mà là các phương pháp được “ápdụng vào”, “được chuyển thành”, “được sử dụng” … tức là các phương pháp có mộtgiá trị thực tiễn nhất định để giải quyết một nhiệm vụ nhất định mà thực tiễn đặt ra.
Đó chính là giải pháp (Giải pháp: Phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó)(Viện Ngôn ngữ học, 2003, pp.387)
Thực chất của công nghệ chính là giải pháp thực tiễn mà con người dùng trongquá trình giải quyết một nhiệm vụ nhất định Theo Nawaz Sharif (Công nghệ - công
cụ biến đổi các nguồn lực, Viện Thông tin khoa học Trung ương, Ủy ban khoa học và
kỹ thuật Nhà nước, số 7, năm 1988), công nghệ có 04 thành phần cơ bản:
- Thành phần vật chất (Technoware, còn gọi là “Giải pháp đã được vật chấthóa”): đó là công nghệ hàm chứa trong các vật thể như: máy móc, trang thiết bị, công
cụ, kết cấu, vật liệu, nhà máy, cơ sở hạ tầng, xe cộ …
- Thành phần thông tin (Inforwave, công nghệ hàm chứa trong thông tin), như:tài liệu thiết kế, công thức, quy trình, tiêu chuẩn, định mức, cẩm nang, khái niệm, kếhoạch …
- Thành phần con người (Humanwave, công nghệ hàm chứa trong con người),như: kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, tính sáng tạo, khả năng lãnh đạo, đạo đức nghềnghiệp
- Thành phần thể chế (Orgawave- công nghệ hàm chứa trong thể chế), như: cơcấu tổ chức, cơ chế vận hành, quan hệ trách nhiệm/quyền hạn, lề lối làm việc, kỷ luật,
sự phối hợp, chế độ thưởng phạt, vv và vv …
Tất cả 04 thành phần công nghệ đó (thành phần vật chất: Technoware, thànhphần con người: Humanware, thành phần thông tin: Inforware, thành phần thể chế:Orgaware) đều bổ sung lẫn cho nhau và tác động qua lại với nhau một cách phức tạp.Không thể có sự biến đổi nào (từ nguồn lực tự nhiên thành các sản phẩm hay dịch vụđược sử dụng), mà có thể thiếu hẳn một thành phần nào đó, tức là có một giới hạn tốithiểu cho mỗi một trong 04 thành phần, và cũng như vậy, có một giới hạn tối đa chomỗi thành phần Vượt quá những giới hạn nhất định đó, công nghệ sẽ không còn làtối ưu hay thậm chí sẽ không có hiệu quả và vì vậy người ta luôn luôn đòi hỏi một hệ
Trang 13Thứ hai, cần làm rõ công nghệ có đặc điểm chủ yếu gì Đi sâu vào thuộc tính hoặcđặc điểm của công nghệ có thể thấy rằng công nghệ có nhiều đặc điểm hoặc thuộctính khác nhau Tuy nhiên, một đặc điểm nổi bật mà phần đông các tác giả đều nhấttrí là đặc điểm có hệ thống Điều đó có nghĩa là, một giải pháp công nghệ riêng lẻhoặc một tập hợp những giải pháp công nghệ hoàn chỉnh để tạo ra một sản phẩm haymột dịch vụ nào đó đều đòi hỏi phải được chỉ rõ trật tự của giải pháp đó nằm ở vị trínào trong toàn hệ thống hoặc những giải pháp đó được sắp xếp như thế nào để thành
hệ thống và có thể áp dụng ngay được mà không bị sai lầm Nếu trái lại, giải pháp đókhông còn giá trị của công nghệ
Thứ ba, mục tiêu của công nghệ là gì và phục vụ cho cái gì Khi nghiên cứunguồn gốc công nghệ, cho thấy không một tác giả nào bỏ qua vấn đề này Về cơ bản,các tác giả đều cho rằng, mục tiêu sơ cấp của công nghệ là để làm ra được những sảnphẩm, những hàng hóa, những dịch vụ có trình độ công nghệ nhất định (và càngngày, mục tiêu “dịch vụ” càng được nhiều tác giả quan tâm) Từ mục tiêu sơ cấp đó,công nghệ có rất nhiều mục tiêu thứ cấp khác nhau và nhiều khi chính vì mục tiêu thứcấp này mà công nghệ cần được cập nhật, thay đổi và phát triển, thậm chí phát triểnrất nhanh chóng
Từ những phân tích nói trên, tác giả luận án đưa ra định nghĩa một cách ngắn
gọn, đơn giản, dễ hiểu về công nghệ: Công nghệ là tập hợp các giải pháp có hệ
thống được sử dụng trong quá trình tạo ra một sản phẩm, hoàn thành một công trình hay thực hiện một dịch vụ nhất định nhằm phục vụ cho một mục tiêu xác định Các
giải pháp có hệ thống đó bao gồm 04 thành phần cơ bản (thành phần vật chất hay giảipháp được vật chất hóa, thành phần thông tin, thành phần con người, thành phần thểchế) Thông thường, để hoàn thành một mục tiêu thứ cấp (như: chế tạo một sảnphẩm, xây dựng một công trình hay thực hiện một dịch vụ) hệ thống các giải phápphải bao gồm cả 04 thành phần nói trên Nhưng trong thực tế có những mục tiêu sơcấp hoặc mục tiêu trung gian mà để thực hiện chúng không nhất thiết cả 04 thànhphần đó phải xuất hiện trong một hệ thống công nghệ cụ thể
Trong thời đại ngày nay, mỗi sản phẩm, mỗi công trình, mỗi dịch vụ đềunhằm một mục tiêu cụ thể, xác định Hàng ngày, trên thế giới có hàng triệu sản phẩm,
Trang 14hàng triệu công trình, hàng triệu dịch vụ được tạo ra, được hoàn thành, được thựchiện, chúng đều có mục tiêu cụ thể, xác định, không mục tiêu nào hoàn toàn giốngmục tiêu nào Tuy nhiên, trong cơ chế kinh tế thị trường, công nghệ, suy cho cùng,phải nhằm mục đích chủ yếu là phục vụ kinh doanh (trừ một số trường hợp đặc biệt,trong bối cảnh đặc biệt sẽ được đề cập trong một chuyên đề khác) và trong khuônkhổ của hoạt động kinh doanh thì công nghệ nào cũng phải đạt được một mục tiêuchung là :
- Giành thắng lợi trong cạnh tranh
- Tối đa hóa lợi nhuận
- Phát triển Thương hiệu
Chỉ có như vậy, công nghệ mới có thể tồn tại và phát triển để phục vụ cho cácmục tiêu khác
1.1.2 Quản lý công nghệ
Ở tầm vi mô (doanh nghiệp), quản lý công nghệ nhằm bảo đảm cho doanhnghiệp luôn luôn giành thắng lợi trong cạnh tranh, tối đa hóa được lợi nhuận, xâydựng được thương hiệu của doanh nghiệp ngày càng mạnh và luôn luôn phát triểnbền vững Quản lý công nghệ ở doanh nghiệp là hệ thống các hoạt động khả thi đểlàm cho công nghệ luôn luôn được duy trì và phát triển phù hợp với mục tiêu kinhdoanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
Nội dung của quản lý công nghệ trong doanh nghiệp bao gồm:
- Xây dựng hệ thống cập nhật thông tin công nghệ và xác lập các tài liệu để cócăn cứ quản lý;
- Thực hiện các nội dung quản lý kỹ thuật và quản lý chất lượng toàn diện(như: quản lý quy trình, quản lý tiêu chuẩn, định mức, quản lý cơ điện …);
- Kiểm kê, đánh giá công nghệ và tình hình cạnh tranh;
- Dự báo công nghệ;
- Đổi mới và phát triển công nghệ
Trang 15Ở tầm vĩ mô (quốc gia), quản lý công nghệ nhằm đảm bảo cho quốc gia cómột nền công nghệ luôn hướng tới tính cạnh tranh và hiệu quả cao đồng thời nângcao được vị thế của quốc gia trên trường quốc tế Quản lý công nghệ ở tầm vĩ mô làviệc Nhà nước thực thi những công cụ luật pháp và chính sách để làm cho sự pháttriển công nghệ của đất nước (trước hết là các doanh nghiệp, các cơ sở nghiên cứutriển khai, các trường Đại học và Cao đẳng,…) luôn luôn phù hợp với những yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ và sự phát triển đó không để lại nhữnghậu quả tiêu cực (như ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái, phá hoại cảnh quan,…).
Ở tầm quốc gia, quản lý công nghệ có những nội dung chủ yếu sau:
- Xác lập và đưa vào hoạt động một hệ thống thống kê, theo dõi công nghệ ởcấp quốc gia để thường xuyên đánh giá được trình độ công nghệ của quốc gia so vớitrình độ chung trên thế giới;
- Tạo ra một nhận thức chung trong xã hội về sự cần thiết phải phát triển trên
cơ sở công nghệ (đặc biệt là trong giới doanh nghiệp, các cơ quan quản lý Nhà nước,các cơ quan nghiên cứu, triển khai);
- Xây dựng Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và Chínhsách phát triển công nghệ quốc gia;
- Xây dựng và phát triển các cơ cấu hạ tầng của công nghệ, bao gồm: Cáctrung tâm nghiên cứu - triển khai, marketing công nghệ (thuộc Nhà nước và các thànhphần kinh tế khác nhau, đặc biệt là kinh tế tư nhân); các trung tâm đánh giá năng lực,nhu cầu công nghệ và dự báo công nghệ (ở tầm quốc gia, ngành, khu vực); các trungtâm liên kết giữa các Bên sử dụng công nghệ với các Bên có công nghệ (tư vấn, môigiới …); các trung tâm dịch vụ thông tin công nghệ phục vụ cho giám sát, đánh giá
và ra quyết định công nghệ; các cơ sở đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực làm côngtác quản lý công nghệ ở tầm vi mô và vĩ mô cho các thành phần kinh tế; các trườngĐại học và các cơ sở bồi dưỡng chuyên gia về công nghệ; ban hành các chính sáchcủa luật pháp để hướng toàn xã hội vào việc phát triển công nghệ theo những trọngtâm mà “Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ quốc gia” và “Chính sáchphát triển công nghệ quốc gia” đã vạch ra
Trang 16- Lập và đưa vào hoạt động các Quỹ để hỗ trợ và khuyến khích việc phát triểncông nghệ.
- Lập và đưa vào hoạt động Hội đồng tư vấn công nghệ quốc gia có uy tín đểđịnh kỳ đánh giá tình hình quản lý công nghệ ở tầm vĩ mô và đề xuất những biệnpháp điều chỉnh cần thiết
1.1.3 Đổi mới và phát triển công nghệ
Đổi mới công nghệ là một phần quan trọng của quá trình quản lý công nghệ,trong quá trình đổi mới công nghệ, người ta lựa chọn, thay thế một phần hoặc toàn bộnhững giải pháp (hàm chứa trong 04 thành phần: vật thể, thông tin, con người, thểchế) tập hợp trong một hệ thống đang được sử dụng bằng những biện pháp mới đểtạo ra một sản phẩm, một công trình hoặc một dịch vụ tiến bộ hơn, với tiêu hao vật
tư, năng lượng và làm ô nhiễm môi trường ít hơn; Đổi mới công nghệ cũng có nghĩa
là tạo dựng những hệ thống công nghệ hoàn toàn mới theo hướng hiện đại của thếgiới để làm ra những sản phẩm, những công trình, những dịch vụ mới thích hợp vớiyêu cầu của thời đại
Đổi mới công nghệ (đổi mới một phần hoặc toàn bộ những giải pháp đang được
áp dụng) có các nội dung chủ yếu sau:
- Đánh giá công nghệ đang sử dụng (xét khả năng công nghệ có còn làm ra sảnphẩm, công trình, dịch vụ được thị trường chấp nhận không, công nghệ còn mang lạihiệu quả không, duy trì công nghệ có ảnh hưởng đến công nghệ không, nếu không thìphải đổi mới những gì, đổi mới một phần hay toàn bộ hệ thống công nghệ)
- Nghiên cứu quy cách, mức chất lượng của sản phẩm, công trình, dịch vụ;Nghiên cứu thị trường mục tiêu của sản phẩm, công trình, dịch vụ; Nghiên cứu, làm
rõ môi trường hoạt động của công nghệ; Nghiên cứu xác định tính cạnh tranh và hiệuquả của công nghệ (trường hợp làm ra những sản phẩm, công trình, dịch vụ hoàn toànmới hoặc có những tính năng mới với giá cả mới)
- Nghiên cứu nhận dạng những đặc điểm chủ yếu của công nghệ sẽ tạo dựng(đặc biệt, làm rõ tính đồng bộ của công nghệ, tính hiện đại của công nghệ, tính thíchhợp của công nghệ, tính thân thiện môi trường của công nghệ …) và định hướng lựa
Trang 17chọn vào một vài dạng công nghệ, chủ yếu là những công nghệ còn đang sung sứctrong vòng đời của nó.
- Nghiên cứu khả thi Dự án Đổi mới công nghệ để bảo đảm chắc chắn rằng dự
án là khả thi và không có những rủi ro ngoài tầm kiểm soát, phê duyệt dự án đồngthời chuẩn bị những điều kiện để đầu tư (vốn, người quản lý dự án, các nguồn cungcấp cho dự án …)
- Thực hiện dự án: ký các Hợp đồng tư vấn, thiết kế, cung cấp thiết bị, xây lắp,đào tạo, chuyển giao công nghệ, vv và vv… quản lý Hợp đồng để bảo đảm cho dự ánhoàn thành đúng tiến độ và có chất lượng
- Vận hành và khai thác dự án
- Định kỳ đánh giá, rút kinh nghiệm về quá trình đổi mới công nghệ
Các nguồn cung cấp công nghệ cho hoạt động đổi mới công nghệ ở hầu hếtcác nước thông thường bao gồm:
- Các nguồn tại chỗ (các nguồn trong Công ty, Tập đoàn …)
- Từ người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài sinh sống vàlàm việc tại Việt Nam
- Từ các cơ sở nghiên cứu - triển khai như: các Viện, các Trung tâm nghiêncứu, các trường Đại học (thường là ở trong nước)
- Từ các doanh nghiệp trong và nhất là các doanh nghiệp ngoài nước (nếuchuyển giao từ các doanh nghiệp ngoài nước cho các doanh nghiệp trong nước, thìgọi đó là “chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam”)
1.1.4 Chuyển giao công nghệ
Chuyển giao công nghệ là mang kiến thức kỹ thuật vượt qua sự giới hạn tronghay ngoài nước từ các công ty, các trường đại học, các viện nghiên cứu, các phòng thínghiệm, các doanh nghiệp khoa học ươm tạo công nghệ,… đến những nơi có nhu cầutiếp nhận công nghệ Cho đến nay, đã có nhiều định nghĩa về chuyển giao công nghệ,luận án chỉ xin nêu một số định nghĩa như sau:
Trang 18Chuyển giao công nghệ là sự trao đổi tri thức kỹ thuật, dữ liệu, các bản vẽthiết kế, các phát minh, sáng chế, các bí quyết, các thiết bị, các quy trình sản xuất,vận hành và các kỹ năng quản lý từ một tổ chức này sang một tổ chức khác.
Chuyển giao công nghệ là việc có được công nghệ nước ngoài và là một quátrình vật chất về cơ bản, một mặt đi liền với việc đào tạo toàn diện và mặt khác là sựhiểu biết và học hỏi (ESCAP, 1986)
Chuyển giao công nghệ thường là cách gọi việc mua công nghệ mới Nóthường xảy ra do có sự tồn tại của “người mua” và “người bán” Người bán thườngđược gọi là “người giao hay bên giao công nghệ” và người mua thường được gọi là
“người nhận hay bên nhận công nghệ” của quá trình hoạt động chuyển giao côngnghệ
Ở quy mô toàn cầu, chuyển giao công nghệ thường diễn ra: giữa hai nước pháttriển; giữa hai nước đang phát triển; giữa một nước phát triển và một nước đang pháttriển
Theo quy định tại Bộ Luật dân sự năm 2005 (Chương III, Phần thứ 6), các đốitượng chuyển giao công nghệ trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm:
- Các đối tượng sở hữu công nghiệp như sáng chế, giải pháp hữu ích,kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa có hoặc không kèm theo máy móc,thiết bị mà pháp luật cho phép chuyển giao
- Các bí quyết (Know-how) hay kiến thức kỹ thuật về công nghệ dướidạng phương án công nghệ, các giải pháp kỹ thuật, quy trình công nghệ, phầnmềm máy tính, tài liệu thiết kế, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹthuật có hoặc không kèm theo máy móc, thiết bị
- Các dịch vụ kỹ thuật, đào tạo nhân viên kỹ thuật, cung cấp thông tin
về công nghệ chuyển giao
- Các giải pháp hợp lý hóa sản xuất
Như vậy, có thể rút ra những đặc trưng bản chất của chuyển giao công nghệgồm 3 điểm sau đây:
Trang 19Thứ nhất, chuyển giao công nghệ phải là một hoạt động bao gồm hai bên: Bêngiao và Bên nhận Nếu chỉ có một bên thì không thể tạo nên hoạt động CGCN vàcũng rất hiếm trường hợp (nói đúng hơn là không có trường hợp nào) có từ ba bên trởlên trong chuyển giao công nghệ và nếu có thì các bên đó cũng cấu tạo thành các Bêngiao và các Bên nhận, tức là thực chất chỉ có hai bên Tuy nhiên, ngoài khái niệmchuyển giao công nghệ, trong thực tế còn có khái niệm “chuyển dịch công nghệ” (ví
dụ trường hợp doanh nghiệp nước ngoài đưa công nghệ vào thực hiện dự án của họtại Việt Nam dưới hình thức doanh nghiệp 100% vốn của họ)
Thứ hai, trong hoạt động đó, đối tượng được Bên giao “chuyển giao” cho Bênnhận chính là các giải pháp (có thể bao gồm các giải pháp được vật thể hóa, tức làmáy móc, thiết bị hoặc không bao gồm)
Thứ ba, tại sao thường gọi là “chuyển giao công nghệ” mà không gọi là muabán công nghệ (ít nhất là trên đa số trường hợp) Vậy thì chuyển giao công nghệ cónhững đặc điểm gì để phân biệt với những trường hợp mua, bán thông thường khác
Xét một cách tổng thể ta thấy “chuyển giao công nghệ” có hai đặc điểm cơbản mà những trường hợp mua, bán thông thông thường không có, đó là:
Trong những trường hợp mua, bán thông thường, Bên bán trao hàng (sản
phẩm hoặc dịch vụ cuối cùng) cho Bên mua và Bên mua trao tiền cho Bên bán, cuộcmua, bán coi như hoàn thành Còn trong “chuyển giao công nghệ”, thì Bên giaochuyển giao cho Bên nhận một tập hợp giải pháp công nghệ để Bên nhận có thể sảnxuất một sản phẩm (chẳng hạn, chiếc xe máy Honda) giống y như của Bên giao thìcũng chỉ là bước đầu Bên giao phải bằng những kết quả nghiên cứu, triển khai,chuyển giao tiếp cho Bên nhận hàng loạt giải pháp công nghệ để trình độ công nghệcủa Bên nhận luôn luôn “tương đương” với trình độ của Bên giao trong nhiều nămsau này nữa Chỉ có như vậy, Bên nhận mới không sa vào cái “Bẫy công nghệ” củaBên giao hoặc của một bên thứ ba khác Trong quá trình chuyển giao như vậy, Bênnhận phải theo dõi chặt chẽ mọi động thái cạnh tranh của Bên giao để đòi hỏi Bêngiao làm đúng nghĩa vụ của mình Bởi vì, nghĩa vụ của Bên giao là phải giúp Bênnhận cập nhật được công nghệ, thông thường là ngang bằng với trình độ của Bêngiao trong mọi thời điểm có hiệu lực của Hợp đồng CGCN Tuy nhiên, trong từng
Trang 20thời gian lại thường có những yếu tố bất trắc mà không ai có thể quy định cụ thểtrước được (một trong những yếu tố đó là tình hình cạnh tranh: ta không biết sứccạnh tranh của các đối thủ khi nào mạnh, khi nào yếu, sức cạnh tranh đó đến từ cácđối thủ nào, thủ đoạn cạnh tranh cụ thể là gì, vv và vv…) Như vậy, hai Bên phảiphối hợp chặt chẽ để cập nhật và xử lý các tình huống sao cho có sức cạnh tranh tốtnhất Chuyển giao công nghệ phải là một quá trình lâu dài hai bên tiếp tục quan hệvới nhau, trao đổi với nhau, chuyển giao cho nhau, chứ không phải chỉ chuyển giaomột đợt là xong (vì nếu như vậy, rất có thể Bên nhận sẽ rơi vào chiếc “Bẫy côngnghệ” như trên đã nói) Về nguyên tắc, quá trình chuyển giao chỉ chấm dứt khi Bênnhận đã “tự túc được công nghệ” Bên cạnh đó, bản thân Bên nhận cũng phải nỗ lựctối đa để tiếp nhận thành công “hàng hóa” của Bên giao, thực tế, không phải Bênnhận nào cũng tiếp nhận thành công Quá trình mua, bán hàng hóa thường không cóđặc điểm này.
Trong mua, bán hàng hóa thông thường, giá cả được thỏa thuận ngay từ lúcgiao kết Hợp đồng, kể cả trường hợp mua, bán trả góp, thì giá cả và nói chung lànhững nghĩa vụ, quyền lợi của hai bên cũng đã tương đối rõ ràng Còn trong “chuyểngiao công nghệ”, người ta rất khó nói trước Hợp đồng chuyển giao công nghệ đó có giábao nhiêu, bởi vì:
Thứ nhất, quy mô sản xuất (dịch vụ) của các Bên nhận là rất khác nhau.
Trong chuyển giao công nghệ, có một nguyên tắc là, Bên nhận thu lợi càng nhiều từcông nghệ chuyển giao (cũng có nghĩa là, Bên nhận có quy mô càng lớn) thì “phíchuyển giao” phải trả cho Bên giao cũng càng lớn
Thứ hai, cho dù quy mô (công suất) sản xuất (dịch vụ) không đổi, nhưng phí
chuyển giao (mà Bên nhận phải trả cho Bên giao) là một số tiền thay đổi hàng năm(vì phí chuyển giao theo “kỳ vụ” thường tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) của giá bántịnh hoặc lợi nhuận hoặc doanh thu mà những khoản tiền này còn phụ thuộc thịtrường, cạnh tranh,… chứ không hoàn toàn phụ thuộc Bên giao hay Bên nhận nênkhông định trước được) Đó là chưa kể giá của “chuyển giao công nghệ” còn phụthuộc một phần rất lớn vào công nghệ được chuyển giao đang ở thời kỳ nào (thươngmại hóa, đang sung sức, ở đỉnh điểm, hay bắt đầu có dấu hiệu bão hòa và lỗi thời)
Trang 21Chính vì những điểm khác nhau đó, mà người ta thường gọi là “chuyển giaocông nghệ” chứ ít gọi là “mua đứt, bán đoạn” hay “mua, bán” công nghệ Lưu ý ởđây chuyển giao chứ không phải cho không, hay biếu tặng công nghệ, vì bản chất làmua bán công nghệ - một loại hàng hóa đặc biệt.
Với 03 đặc điểm nổi bật như vậy, có thể định nghĩa một cách ngắn gọn, dễ
hiểu: Chuyển giao công nghệ là hoạt động bao gồm 2 bên (Bên giao và Bên nhận), trong đó, hai bên phối hợp các hoạt động thực tiễn và/hoặc các hành vi pháp lý sao cho Bên nhận có được một năng lực công nghệ cần thiết, trong suốt thời gian cần thiết để thực hiện được mục tiêu đã xác định
Hoạt động chuyển giao công nghệ thường diễn ra dưới 02 hình thức chủ yếusau:
Chuyển giao công nghệ theo chiều ngang (Horizontal Technology Tranfer) làđưa công nghệ đang được áp dụng ở một đơn vị (doanh nghiệp) này sang áp dụng ởmột đơn vị (doanh nghiệp) khác Trong chuyển giao ngang, các hành vi Bên giao vàBên nhận, tương quan quyền lợi/nghĩa vụ giữa các bên, đều có thể xác định tương đối
rõ Rủi ro trong chuyển giao ngang rất ít xảy ra và nói chung có thể kiểm soát được,
vì công nghệ chuyển giao đã được áp dụng thành công ở Bên giao và Bên giao đã sởhữu kinh nghiệm trong quá trình vận hành
Chuyển giao công nghệ theo chiều dọc (Vertical Technology Transfer) haytriển khai công nghệ là hoạt động trong đó công nghệ không chỉ được chuyển từ đơn
vị này sang đơn vị khác, mà quan trọng hơn là, cùng với điều đó, công nghệ đượcchuyển hóa từ giai đoạn thấp hơn sang giai đoạn cao hơn trong “vòng đời” của nó(các trường hợp thường gặp từ giai đoạn thử nghiệm - trình diễn sang giai đoạn ứngdụng - thương mại hóa)
Chuyển giao công nghệ theo chiều dọc thường là chuyển giao công nghệ từ mộtđơn vị nghiên cứu, triển khai sang một đơn vị sản xuất Hình thức chuyển giao nàyđòi hỏi:
- Đơn vị sản xuất (Bên nhận, tức Doanh nghiệp) có lực lượng triển khai, vàcông nghệ triển khai bao gồm cả thiết kế tương đối mạnh, đồng thời có cơ chế tàichính cho hoạt động triển khai
Trang 22- Đơn vị nghiên cứu (Bên giao) biết cách làm việc với các doanh nghiệp đểtriển khai kết quả nghiên cứu của mình.
- Hoạt động triển khai như vậy được Nhà nước bảo hộ bằng luật pháp để Bêngiao và Bên nhận có thể chia sẻ rủi ro và “ăn chia” lợi nhuận một cách sòng phẳng,
có lợi cho cả đôi bên
Hiện nay, ở Việt Nam những điều kiện nói trên chưa có đủ, cho nên chuyểngiao công nghệ theo chiều dọc rất hiếm xảy ra và nếu có xảy ra thì cũng không theoluật điều chỉnh nên không kiểm soát và thống kê được
CGCN theo chiều dọc thường là CGCN giữa Bên giao là các cơ sở nghiên cứu
- triển khai (các Viện, Trường Đại học…) hoặc các “tổ chức CGCN” của các cơ sở
đó cho các Bên nhận có những điều kiện vật chất - kỹ thuật và nhân lực nhất định.Chuyển giao dọc có ưu điểm: 1) Công nghệ thuộc thế hệ mới chưa từng được ápdụng ở đâu; 2) Bên nhận công nghệ có khả năng độc quyền sản xuất một loại sảnphẩm do công nghệ mới tạo ra; 3) Bên nhận công nghệ có khả năng chia sẻ lợi nhuận
tương đối sòng phẳng với Bên giao Nhưng chuyển giao dọc cũng có nhược điểm là:
Bên nhận công nghệ có thể phải chia sẻ rủi ro với Bên giao trong trường hợp côngnghệ không thành công và nếu Bên nhận thiếu kinh nghiệm trong đàm phán và giaokết Hợp đồng thì Bên nhận sẽ phải gánh chịu phần lớn rủi ro
Đó là những hoạt động chuyển giao công nghệ trong những trường hợp cụ thể(chuyển giao công nghệ vi mô) Theo Phan Xuân Dũng và các cộng sự nêu trongcuốn “Chuyển giao công nghệ - thực trạng và giải pháp” năm 2004 thì, trong phạm vi
vĩ mô, chuyển giao công nghệ là sự dịch chuyển toàn bộ hay một phần công nghệ từnhóm người này sang nhóm người khác, là một lĩnh vực hoạt động nhằm đưa côngnghệ từ nơi có trình độ công nghệ cao hơn đến nơi có trình độ công nghệ thấp hơnmột cách hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của các bên đối tác Thuật ngữ “Chuyển giaocông nghệ” được coi như là những dòng lưu thông công nghệ hay quá trình phổ biếncông nghệ Thuật ngữ này chỉ sự dịch chuyển công nghệ từ một thực thể sở hữu côngnghệ (Bên giao) tới bên khác, và việc chuyển giao công nghệ này chỉ thành công khithực thể nhận công nghệ (Bên nhận) hiểu đúng cách và sử dụng có hiệu quả công
Trang 23nghệ Nếu Bên nhận công nghệ không thể hiểu và sử dụng công nghệ một cách cóhiệu quả, việc chuyển giao được coi là chưa hoàn thành.
Trung tâm các Công ty xuyên quốc gia của Liên Hiệp Quốc đã chia các hìnhthức (các kênh) chuyển giao công nghệ ra làm 07 loại, gồm:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài kiểu cổ điển (phía nước ngoài kiểm soát, điềuhành);
- Liên doanh hay là một hình thức mới của đầu tư trực tiếp;
- Mua sản phẩm mà họ muốn làm, tháo gỡ và sao chép lại;
- Mua máy móc và chuyển giao công nghệ trên thương trường;
- Chuyển giao công nghệ qua việc khuyến khích đầu tư nước ngoài
Điều cần lưu ý là, công nghệ nước ngoài sẽ không có tác dụng gì nếu khôngbám rễ vào trong nước, nghĩa là đất nước đó phải có một tiềm năng, nội lực nhất định
về KH&CN để biến công nghệ được chuyển giao thành công nghệ nội sinh (PhanXuân Dũng, 2004)
1.2 Chính sách thu hút công nghệ nước ngoài trong Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ quốc gia
1.2.1 Chính sách thu hút công nghệ và phát triển công nghệ quốc gia
Trang 24Từ chính sách được sử dụng hết sức phổ biến từ những nội dung vĩ mô nhưchính sách tiền tệ, chính sách thương mại, chính sách tài khóa,… đến tầm vi mô trongchính sách của các công ty Mỗi khi có vấn đề nổi cộm trong xã hội, công chúng lạitrông chờ vào phản ứng của chính quyền Những phản ứng đó khi định hình và thểhiện một cách chính thức được gọi dưới cái tên “chính sách” Chính sách cũng có thểhàm chứa những tính toán, định hướng dài hơi của chính phủ, mối quan tâm đến một
số nhóm đối tượng đặc biệt nào đó hay đơn thuần chỉ là sự áp đặt mang tính áp đặtcủa Nhà nước Trong phạm vi luận án, chỉ tập trung tới chính sách công không đề cậptới chính sách doanh nghiệp, thuật ngữ chính sách được sử dụng với hàm ý chínhsách công, trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ thể
Khái niệm chính sách Khi làm rõ các khái niệm chính sách cần lưu ý 3 câuhỏi được đặt ra: 1) Chính sách là gì? 2) Tại sao một số chính sách thành công trongkhi một số khác lại thất bại, tại sao có chính sách được người dân vui sướng đónnhận, một số lại gặp phải những phản đối quyết liệt, hay thờ ơ; 3) Làm thế nào đểxây dựng một chính sách thành công? Thông thường để trả lời các câu hỏi này lànhiệm vụ của môn Khoa học Chính sách (Policy Science)
Hiện cũng tồn tại nhiều định nghĩa về chính sách Một khái niệm đơn giản và
dễ nhớ nhất là của Thomas R Dye (1984): chính sách công là cái mà chính phủ lựachọn làm hay không làm hay Ngoài ra còn một số định nghĩa khác về chính sáchnhư: Chính sách là quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhómtheo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James Anderson, 2003);Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhàchính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu vàcác giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin, 1978); Chính sách công là mộtkết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết địnhkhông hành động, do các cơ quan Nhà nước hay các quan chức Nhà nước đề ra(William N Dunn, 1992); Theo Charles O Jones (1994), chính sách công là một tậphợp các yếu tố gồm: Dự định (intentions) - mong muốn của chính quyền; Mục tiêu(goals) - dự định được tuyên bố và cụ thể hóa; Đề xuất (proposals) - các cách thức đểđạt được mục tiêu; Các quyết định hay các lựa chọn; Hiệu lực (effects)
Trang 25Trong luận án này tác giả lựa chọn định nghĩa dưới đây, bởi nó phù hợp vớiđiều kiện thể chế hiện tại của việt nam và phù hợp với cách hiểu và diễn giải củanhững người tham gia hoạch định chính sách cũng như những người thực thi chínhsách.
Chính sách là những nguyên tắc, chuẩn mực hành động để hoàn thành những
nhiệm vụ trong một thời kỳ lịch sử nhất định mà một chính đảng, một nhà nước, một doanh nghiệp chế định ra và tuân thủ (cũng có thể định nghĩa:“chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt được một mục đích nhất định dựa trên đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra” (Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, 2003).
Trong hệ thống quản lý khoa học và công nghệ, ở nhiều nước trên thế giới , ở tầm vĩ mô các văn bản sau đây được hoạch định và ban hành (hoặc bởi các cơ quan Chính phủ, hoặc bởi các Hội đồng do Chính phủ thành lập )
- Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ quốc gia;
- Chính sách phát triển khoa học quốc gia;
- Chính sách phát triển công nghệ quốc gia
Thông thường, Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ quốc gia thườngđược xây dựng cho một thời gian dài (cho 15 - 20 năm) các nước phát triển (Mỹ,Nhật, Đức, Pháp, Anh, Italia, Canada) và đang phát triển hàng đầu (Trung Quốc, Ấn
Độ, Brazil, Achentina, Thổ Nhĩ Kỳ …) không nước nào không theo đuổi một chiếnlược khoa học và công nghệ nhất quán và rõ ràng chiến lược khoa học và công nghệ
đó đã góp phần làm cho các nước ấy có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế
Đối với các nước đang phát triển, xuất phát điểm cho việc xây dựng Chiến lược
là lấy kinh tế - xã hội làm mục tiêu, lấy khoa học - công nghệ làm phương tiện Cácnội dung chiến lược thường xác lập và dự báo bối cánh phát triển kinh tế - xã hội ,môi trường, khoa học và công nghệ trong nước và thế giới cho từng thời kỳ (chẳnghạn: 10 năm) Trên cở sở đó, hoạch định những mục tiêu phát triển khoa học và côngnghệ (loại công nghệ nào trong nước phải tự lực tạo ra là chính, những loại côngnghệ nào sẽ nhập khẩu là chính và những loại công nghệ nào vừa nhập khẩu, vừa tự
Trang 26tạo trong nước, vv Để đạt được mục tiêu này, các ngành khoa học nào cần tập trungphát triển, các hệ thống hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ nào cần được tăng cường, độingũ cán bộ khoa học cần đạt tới một trình độ tương xứng, vv… Chiến lược cũng xáclập những nguyên tắc, những định hướng ưu tiên cho việc phân bổ các nguồn lực vàđịnh hướng các giải pháp đảm bảo các nguồn lực được huy động và quản lý hữu hiệuphục vụ các mục tiêu phát triển
Chính sách phát triển công nghệ quốc gia (05 hoặc 10 năm) là một phần hữu
cơ không thể tách rời và được cụ thể hóa của Chiến lược phát triển khoa học và côngnghệ quốc gia Trong Chính sách phát triển công nghệ quốc gia :
(i) Các mục tiêu chiến lược được xác định thành các mục tiêu cụ thể, đo đếm đượccho từng thời kỳ;
(ii) Các nguồn lực được phân bổ cụ thể thông qua các chương trình, dự án:
(iii) Vai trò và trách nhiệm của Nhà nước, của Khu vực tư và của Cộng đồng khoahọc - công nghệ được phân định rõ ràng từ khâu huy động nguồn lực, điều phối và sửdụng nguồn lực đến khâu tổ chức thực hiện;
(iv) Các thiết chế về tổ chức được xác lập để đạt đến mục tiêu một cách hiệu quảnhất;
Với nội dung và yêu cầu như trên, theo kinh nghiệm của nhiều nước đang pháttriển, chính sách phát triển công nghệ quốc gia thường bao gồm một hệ thống đồng
bộ các chính sách:
- Chính sách thu hút công nghệ từ nước ngoài
- Chính sách phát triển công nghệ trong nước
- Chính sách phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ phục vụ pháttriển công nghệ
- Chính sách phát triển nguồn nhân lực phục vụ mục tiêu phát triển côngnghệ
- Các chính sách hỗ trợ khác tùy thuộc đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hộicủa từng quốc gia
Trang 27Như vậy, Chính sách thu hút công nghệ nước ngoài là một bộ phận cấu thành
của Chính sách phát triển công nghệ quốc gia, đó là một tập hợp đồng bộ các mục
tiêu, giải pháp chính sách, các chương trình hành động, các dự án, các thiết chế tổ chức và quản lý, vv… nhằm thu hút tối đa công nghệ nước ngoài thông qua các hình thức, các kênh khác nhau (chuyển giao công nghệ qua đầu tư trực tiếp, nhập khẩu công nghệ, thiết bị, trao đổi chuyên gia vv ) phục vụ cho các mục tiêu cụ thể phát triển công nghệ của đất nước trong từng thời kỳ
Các mục tiêu cụ thể của chính sách thu hút công nghệ nước ngoài là khuyếnkhích thu hút công nghệ thuộc các lĩnh vực ưu tiên nhằm mục tiêu tăng trưởng Cácgiải pháp và công cụ bao gồm cả các nghị định, quyết định của Chính phủ, các thông
tư hướng dẫn của các Bộ, ngành, địa phương liên quan đến hoạt động chuyển giaocông nghệ nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam Trong đó đặc biệt quan trọng là hệthống luật như Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Công nghệ cao
và Luật Thương mại, vv Ngoài ra, còn bao gồm các Hiệp định song phương và đaphương, các tập quán thương mại và thông lệ quốc tế
1.2.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách thu hút công nghệ nước ngoài
Một trong những đặc trưng nổi bật trong nền kinh tế thế giới hiện nay là ngàycàng xuất hiện nhiều dòng chảy đan xen giữa các quốc gia về các yếu tố sản xuất, baogồm vốn, công nghệ và lao động Đó là hàng trăm tỷ đô la được đầu tư ra nước ngoàimỗi năm và xu hướng ngày càng tăng lên Thế giới cũng đã chứng kiến nhiều cuộc didân lớn trong lịch sử Các làn sóng công nghệ được chuyển giao giữa các quốc gia vàkhu vực cũng ngày càng mạnh mẽ Xu thế hội nhập và toàn cầu hóa đã trở thành xuthế tất yếu, mang tính quy luật trong phát triển kinh tế, xã hội của toàn nhân loại.Những đặc trưng của xu thế này tạo nền móng cả về mặt lý luận và thực tiễn cho việchoạch định Chính sách thu hút công nghệ từ nước ngoài của các quốc gia
1.2.2.1 Các đặc trưng cơ bản của di chuyển quốc tế các nguồn lực nói chung trong giai đoạn hiện nay:
- Di chuyển đa hướng với phạm vi ngày một rộng và với tốc độ nhanh
Trang 28- Có sự đan xen và xâm nhập lẫn nhau của các dòng chảy các nguồn lựcgiữa các quốc gia.
- Các nguồn lực thường chảy từ quốc gia dồi dào sang quốc gia khan hiếmnguồn lực và tiếp tục lan toả đi khắp nơi trong nền kinh tế thế giới
- Các công ty đa quốc gia đóng vai trò trung tâm trong quá trình di chuyểncác nguồn lực trên phạm vi quốc tế Hầu hết việc đầu tư trực tiếp nướcngoài và chuyển giao công nghệ đều được thực hiện bởi các công ty đaquốc gia Các công ty mẹ thường cung cấp cho các công ty con ở nướcngoài những kinh nghiệm quản lý, công nghệ, thiết bị và tổ chức marketing(Phan Xuân Dũng, 2003)
1.2.2.2 Sự lưu chuyển các luồng vốn quốc tế trong những năm tới sẽ có những đặc điểm mới như sau:
- Đầu tư quốc tế chủ yếu tập trung vào các nước phát triển: Các nước phát
triển tiếp tục vừa là nguồn đầu tư chủ yếu ra nước ngoài, vừa là những địachỉ thu hút đại bộ phận đầu tư quốc tế Từ năm 1996 đến năm 1999, đầu tưvào các nước phát triển lần lượt là 202 tỷ USD, 276 tỷ USD, 468 tỷ USD
và 673 tỷ USD, chiếm 60%, 59%, 71% và 76,5% tỷ trọng vốn đầu tư quốc
tế Các nước đang phát triển vẫn chỉ đóng vai trò thứ yếu trong việc thu hút
và thúc đẩy luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quốc tế Tuy nhiên, xuhướng đầu tư song phương, đa chiều trở nên phổ biến, thay cho khuynhhướng đơn phương, một chiều trước đây Các lĩnh vực chịu nhiều rủi ro,được dự đoán cũng sẽ thu hút được phần lớn vốn đầu tư từ các nước đangphát triển
- Đầu tư quốc tế sẽ tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, tin học và sinh học, theo đó các ngành sản xuất áp dụng công nghệ mới sẽ
phát triển mạnh, các ngành sản xuất truyền thống sẽ bị sáp nhập, hoặc tổchức lại Nhưng điều này cũng chủ yếu xảy ra ở các nước đang phát triển
- Cùng với làn sóng toàn cầu hoá gia tăng, thị trường dịch vụ càng mở rộng,sáp nhập và mua lại các ngành tài chính, bảo hiểm, viễn thông, lưu thông
Trang 29cơ sở chế tạo truyền thống như ô tô, điện tử, dược phẩm, hoá chất càngphải dựa nhiều vào tự do dịch vụ thương mại Xu thế đó sẽ ngày càng trởnên phổ biến hơn trong những năm tiếp theo do cuộc cách mạng trong lĩnhvực tin học, việc thực hiện các thoả thuận viễn thông cơ bản, hiệp định cácsản phẩm về thông tin,
- Sự chuyển dịch của Đầu tư FDI
Do làn sóng tư hữu hoá ở Mỹ La tinh đã qua, trong khi những bất ổn về chínhtrị tại Columbia, Venezuela, Peru, đã gây tâm trạng lo lắng chung trong thời giantới Do đó, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực này có xu hướnggiảm
Khu vực Trung và Đông Âu do tình hình chính trị từng bước ổn định, kinh tếđang chuyển biến tốt, lại thêm nguồn nhân công được đào tạo ở trình độ cao, nên đầu
tư quốc tế được hút vào khu vực này ngày càng nhiều trong những năm gần đây vàtương lai hứa hẹn là một địa chỉ mới hấp dẫn đầu tư nước ngoài Phần lớn các quốcgia châu Phi khó lòng trở thành khu vực hấp dẫn đầu tư quốc tế, chỉ một số nước tạiNam Phi hoặc Bắc Phi hay một số lĩnh vực như khai thác vàng và kim cương, cóthể trở thành điểm chú ý cho đầu tư quốc tế
Châu Á vẫn là khu vực quan trọng hấp dẫn đầu tư, nhưng cơ cấu đầu tư có thểthay đổi Ấn Độ với thị trường sức lao động rẻ và lớn, với nhiều ngành sản xuất mớixuất hiện sẽ thu hút nhiều đầu tư nước ngoài Hàn Quốc do điều chỉnh cơ cấu sảnxuất và sắp xếp lại doanh nghiệp có thể thu hút đầu tư với quy mô lớn hơn Tuynhiên, theo đánh giá của Công ty tư vấn rủi ro kinh tế và chính trị (PERC), tình trạngtham nhũng và quan liêu có thể sẽ là vật cản lớn đối với nỗ lực thu hút đầu tư củaChính phủ các nước này (ESCAP, 1986)
- Xu thế tự do hoá đầu tư quốc tế ngày càng rõ nét
Theo thống kê của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), trong những năm 90, hơn 95%chính sách đầu tư của các nước được điều chỉnh theo hướng thúc đẩy tự do hóa có lợicho đầu tư quốc tế nghĩa là nới lỏng quản lý, tăng cường vai trò thị trường và gia tăngcác giải pháp khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài
Trang 30Ví dụ: Chính phủ Ấn Độ đang dần xoá bỏ chế độ quản lý ngoại hối, mở cửathị trường bảo hiểm, cho phép đối tác nước ngoài chiếm 26% vốn đầu tư trong cácliên doanh về phát thanh và truyền hình tư nhân, xoá bỏ hạn chế 49% trong các liêndoanh phát triển phần mềm, khai thác năng lượng, thậm chí có thể sở hữu 100% đểtrong 10 năm tới đầu tư nước ngoài đạt 10 tỷ đô la, tăng 3 lần so với 10 năm trước
đó Hàn Quốc sau khủng hoảng do cần vốn để khôi phục nền kinh tế đã buộc phải mởrộng phạm vi đầu tư để thu hút vốn nước ngoài Hiện ngoại trừ một số hạng mụcthuộc lĩnh vực quốc phòng và văn hoá, 99% các lĩnh vực khác đều được mở cửa đểthu hút vốn đầu tư nước ngoài Trong khi tại Trung Quốc, sự kiện Công ty viễn thôngAT&T của Mỹ cùng với Công ty Shanghai Information Investment Inc (SII) thànhlập Công ty liên doanh Shanghai Symphony Telecommunications (15/10/2000) chothấy Chính phủ nước này đã mở cửa thị trường bưu chính viễn thông để tiếp nhậnđầu tư nước ngoài sau một thời gian bảo hộ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Viện Chiếnlược phát triển, 2001)
- Đầu tư trực tiếp xuyên quốc gia thông qua sáp nhập sẽ trở thành hình thức chủ yếu trong đầu tư quốc tế.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới đầu tư trực tiếpxuyên quốc gia cũng sẽ có bước tiến tương ứng Mua lại các Doanh nghiệp thuộc sởhữu Nhà nước cũng sẽ là động lực làm tăng đầu tư quốc tế Theo thống kê củaUNCTAD, trong 20 năm gần đây, giá trị các vụ mua lại Công ty tăng 42%, năm 1999tổng giá trị các vụ mua lại lên tới 720 tỷ, tăng 37%, cao hơn nhiều so với tổng đầu tưquốc tế Hiện tại đầu tư trực tiếp có quan hệ mật thiết với chiến lược toàn cầu hoákinh doanh của các công ty xuyên quốc gia Trong thời gian trung hạn của thế kỷ 21đầu tư quốc tế do các Công ty xuyên quốc gia thúc đẩy vẫn tiếp tục phát triển
Việc mua lại trong ngành viễn thông truyền thống và sự bành trướng của cácCông ty mạnh ra toàn cầu do các Công ty xuyên quốc gia tiến hành sẽ tạo nên mộtđộng lực mới thúc đẩy đầu tư quốc tế Tốc độ lưu chuyển vốn quốc tế nhanh và thịtrường tài chính mở cửa rộng hơn, thị trường tài chính toàn thế giới ngày một hộinhập, không những tạo cơ may cho đầu tư quốc tế về tài chính nó còn bảo đảm chođầu tư quốc tế trên các lĩnh vực khác Cùng với cuộc cách mạng khoa học công nghệ,
Trang 31việc mua lại và sáp nhập các ngành sản xuất truyền thống sẽ sâu rộng hơn, ví dụtrong các ngành như sản xuất ôtô, hàng không vũ trụ, trong vòng 5 - 10 năm tới sẽtập trung vào khoảng 3 - 4 nhà sản xuất cực lớn (Viện Chiến lược và Chính sáchKH&CN, 2000).
1.2.2.3 Tính tất yếu của chuyển giao công nghệ quốc tế
Công nghệ là tài sản có giá trị của các công ty, là một loại hàng hoá Chuyểngiao công nghệ là một tất yếu khách quan trong cơ chế thị trường khi có cung, có cầuđối với công nghệ Ngày nay, thị trường công nghệ được mở rộng trên phạm vi toànthế giới
a/ Xét dưới góc độ công ty CGCN (phía cung)
CGCN quốc tế trước hết xuất phát từ chiến lược của các công ty đang nắm giữcông nghệ nhằm duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình
CGCN nhằm thực hiện chiến lược toàn cầu hoá hoạt động của các công ty.
Khi mở rộng thị trường, các công ty sẽ phải lựa chọn giữa hai chiến lược:
Sản xuất tập trung: sản xuất sản phẩm mới tại một nơi, sau đó sản xuất sang
các nước khác Chiến lược này thường thấy ở một số sản phẩm, trong một số hoạtđộng đặc biệt:
Đòi hỏi quy mô kinh tế của vốn đầu tư quá lớn;
Đòi hỏi quá trình R&D và quá trình sản xuất phải gắn liền vớinhau để đảm bảo chất lượng (ví dụ Microsoft chỉ phát triển cácphần mềm nổi tiếng của mình tại trụ sở hãng chính ở Mỹ);
Chất lượng sản phẩm phụ thuộc chủ yếu vào một vài bí quyết
“độc đáo” không thể phổ biến ra ngoài nhằm giữ bản quyền tuyệtđối (ví dụ như Coca-Cola giữ bí mật công thức chế tạo “nước cốt”của nước giải khát của mình); hoặc
Do chính sách giữ bí mật quốc gia của các Chính phủ (đối vớicông nghiệp vũ trụ, quốc phòng …)
Trang 32Kể cả khi áp dụng chiến lược sản xuất tập trung, các công ty vẫn phải CGCNcho các nhà phân phối và cho khách hàng trong các công đoạn lắp đặt, chạy thử, bảohành, bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa,… nhằm giữ uy tín cho sản phẩm của mình, đảmbảo cam kết với khách hàng, hỗ trợ tiếp thị.
Sản xuất phân tán: đặt nhiều cơ sở sản xuất ở các vị trí gần nguồn nguyên liệu
hoặc gần thị trường tiêu thụ, hoặc chia quá trình sản xuất một sản phẩm ra nhiều côngđoạn ở các quốc gia khác nhau nhằm nâng cao được lợi thế cạnh tranh về các mặtsau:
Tận dụng được nhân công rẻ ở các nước đang phát triển (tiền
lương cho cùng một vị trí công tác ở các nước phát triển so với ởmột số nước đang phát triển ở Châu Á có thể chênh lệch đến hàngtrăm lần);
Giảm được đáng kể chi phí vận tải, tồn kho, cung ứng nguyên vậtliệu;
Giảm chi phí đầu tư do chuyên môn hoá, phân công lao động quốctế;
Tích luỹ được kinh nghiệm và kỹ năng ở nhiều vị trí địa lý khácnhau;
Mở rộng thị trường, đối phó với chính sách hạn chế nhập khẩu,
của các nước có thị trường tiêu thụ;
Nắm chắc được diễn biến của nhu cầu, thị hiếu của khách hàng,tình hình cạnh tranh, … để đáp ứng ngay nhu cầu đa dạng củakhách hàng, có sách lược nhạy bén đối phó lập tức với những thayđổi của thị trường;
Chiếm lĩnh trước thị trường, gây khó khăn cho các đối thủ cạnhtranh;
Đối phó với những thay đổi về tỷ giá hối đoái (theo tính toán của
một Viện nghiên cứu của Nhật, với việc đồng Yên lên giá đạt
Trang 3390¥/1US$ thì giá một số hàng hoá sản xuất ở Nhật cao hơn 84%
so với giá tại các nước OECD);
Tránh những xung đột mậu dịch với các quốc gia khác (như xungđột Mỹ - Nhật);
Khuyếch trương phạm vi ảnh hưởng, nâng cao uy tín của sảnphẩm
Ngày nay, thế giới đang chứng kiến sự toàn cầu hoá sâu rộng hoạt động của cáccông ty, điển hình là các công ty xuyên quốc gia - TNCs (bản thân tên gọi TNC đãcho thấy sự phối hợp hoạt động “phi biên giới” Ví dụ như hãng Texas Istrument(Mỹ) sản xuất “chíp” vi mạch: sản phẩm được thiết kế ở Nice, phần mềm từ Dallas,tấm silic mỏng đúc ở hai nhà máy liên minh với nhau ở Dallas và Nhật Bản, việc cắtrời các con chíp thực hiện ở Đài Loan, sau đó đưa về lắp ráp tại Mỹ, Mehico,Australia, Singapo,… Để đạt mục tiêu cao nhất là lợi nhuận, sự phân tán hoạt động,phối hợp hoạt động trên toàn cầu của các công ty công nghệ tất yếu đi kèm với việcCGCN cho các chi nhánh, liên doanh, các nhà thầu phụ, nhà cung ứng, nhà phân phối
ở các nước đang phát triển đối với toàn bộ hoặc một số công đoạn như lắp ráp, baogói, chế tạo linh kiện phụ tùng, thiết kế mẫu mã, cải tiến sản phẩm, tiếp thị,… vàtừng bước là R & D
+ Chuyển giao công nghệ giúp các công ty thực hiện chính sách thay thế công
nghệ đã lạc hậu.
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt trên toàn cầu, chỉ những công ty liên tụcđưa ra những sản phẩm - dịch vụ mới, bằng cách liên tục cải tiến và thay đổi côngnghệ, mới có thể tồn tại và thắng trong cạnh tranh
Các công ty xuyên quốc gia TNCs từ trước đến nay vẫn theo đuổi chiến lược
“dẫn đầu về công nghệ - technology leader” bằng cách bỏ chi phí rất lớn cho R&D
Sự dẫn đầu về công nghệ cho phép duy trì lợi thế cạnh tranh ngay cả khi chênh lệch
đã giảm đi Lợi thế thể hiện ở khả năng định ra tiêu chuẩn/luật chơi trên thị trường,nâng cao uy tín, đăng ký sáng chế độc quyền, sự quen dùng của khách hàng, đượcquyền lựa chọn hệ thống phân phối, dễ dàng tiếp cận với những nguồn lực hiếm vớiđiều kiện thuận lợi, hưởng ưu đãi/tài trợ của Chính phủ …
Trang 34Khi áp dụng những công nghệ mới tại hãng chính, các công ty TNCs từ cácnước phát triển sẽ thay thế những công nghệ và thiết bị đã lạc hậu (kể cả những thiết
bị mới chưa sử dụng nhưng đã cũ về nguyên lý công nghệ) Mong muốn chuyển giaonhững công nghệ cũ sang các nước khác là tất yếu để có thể thu lợi từ những côngnghệ đáng ra phải loại bỏ (nhiều khi chi phí để duy trì một nhà máy hoạt động cầmchừng lớn hơn nhiều chi phí dỡ bỏ nó, và tất nhiên có người chịu bỏ tiền cho việctháo dỡ đem về nước thì lại càng tốt!)
Trong nhiều trường hợp, các công ty ở nước đang phát triển, bằng cách mua
những công nghệ đã lạc hậu, đang tài trợ cho hoạt động R &D của các công ty ở các nước phát triển để các công ty này sáng tạo ra những công nghệ mới, đẩy khoảng
cách về công nghệ ra càng “doãng ra” hơn nữa
+ Lợi ích tương hỗ được tạo ra cho các công ty thực hiện chuyển giao công
nghệ ra bên ngoài.
Để nâng cao lợi thế cạnh tranh, ngày nay mỗi công ty không thể ôm đồm làmmọi thứ trong một dây chuyền khép kín như trước đây Thế giới từng chứng kiến xuthế “thu nhỏ - downsizing” của các công ty để có thể tập trung vào lĩnh vực nào mình
có thế mạnh nhất Sự liên kết, liên minh chiến lược, sự phụ thuộc lẫn nhau là yếu tốthúc đẩy các công ty CGCN cho nhau để đảm bảo sự phối hợp, tiêu chuẩn hoá các bộphận cấu thành
Hơn nữa, các nước công nghiệp thừa nhận rằng, rốt cuộc họ không thể duy trìđược sự giàu có của họ, nếu đại bộ phận dân số thế giới sống trong nghèo khổ Cácvấn đề kinh tế và xã hội gây ra các vấn đề chính trị và sự mất ổn định quốc tế Thôngqua CGCN, các nước đang phát triển tăng cường phát triển kinh tế, làm cho các nướcnày với dân số đông nâng cao được sức mua hàng công nghiệp và hàng tiêu dùng từnước cung cấp công nghệ (người ta tính rằng, 3% sự gia tăng kinh tế ở các nước đangphát triển sẽ dẫn đến 1% sự gia tăng ở các nước công nghiệp phát triển)
b/ Xét dưới góc độ các công ty tiếp nhận công nghệ (phía cầu)
Các nước đang phát triển đều mong muốn thúc đẩy quá trình công nghiệp hoávới đặc điểm bao trùm là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng mở rộng khu vực
Trang 35vực công nghiệp, trước hết là khu vực công nghiệp chế tạo, trong đó những ngành
công nghiệp công nghệ cao có vai trò ngày càng quan trọng Thực hiện công nghiệp
hoá chính là đổi mới công nghệ (tự đổi mới và CGCN) nhằm chuyển hệ thống các
hoạt động kinh tế từ trạng thái năng suất thấp, hiệu quả thấp, sử dụng lao động thủcông là chính, sang một hệ thống cho năng suất cao, hiệu quả cao
Do trình độ khoa học - kỹ thuật còn thấp, ngân sách R&D hạn hẹp, do thiếu độingũ chuyên gia đồng bộ, do khả năng hạn chế của các ngành công nghiệp chế tạotrong nước, nên các nước đang phát triển trong nhiều trường hợp không đủ năng lựcsáng tạo ra công nghệ tiên tiến, hoặc không cho phép vật chất hoá đầy đủ các kết quảnghiên cứu của mình thành các hệ thống công nghệ ứng dụng vào sản xuất (chuyểngiao dọc) Trước đòi hỏi cấp bách của công cuộc phát triển kinh tế, các nước nàythường phải nhập khẩu công nghệ (chuyển giao ngang)
Những lợi ích đối với các nước đang phát triển khi nhập công nghệ là:
- Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài kèm theo CGCN;
- Tiết kiệm được chi phí lớn về nghiên cứu và triển khai (R&D);
- Tiếp cận và sử dụng được ngay những công nghệ tiên tiến hơnnhững công nghệ đang có trong nước;
- Khai thác và sử dụng hữu hiệu nguyên vật liệu địa phương;
- Tạo công ăn việc làm có trình độ cao;
- Thay thế nhập khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu nhập ngoại tệ
Có thể nói, nhập khẩu công nghệ (một cách hợp lý) là bước đi ngắn nhất đốivới các nước đang phát triển muốn vươn lên và hình thức này còn tồn tại khi mà sựchênh lệch về trình độ công nghệ, về mức sống giữa các quốc gia, các khu vực khácnhau trên thế giới còn tồn tại Tuy nhiên, thuần tuý chuyển giao ngang thường khôngbao giờ có được những công nghệ “hạng nhất” Trong điều kiện toàn cầu hóa và hộinhập quốc tế hiện nay, việc tồn tại cách biệt (khoảng cách) giữa các quốc gia về côngnghệ là tất yếu Vấn đề san bằng khoảng cách giữa nước phát triển và đang phát triểnvẫn chỉ là ước mơ của nước nghèo Để tránh ảo tưởng, tác giả luận án cho rằng cácnước đang và chậm phát triển (trong đó có Việt Nam) cần có cách tiếp cận và nhìn
Trang 36nhận thực tế hơn, đó là không phải cứ công nghệ cao, công nghệ tiên tiến của cácnước công nghiệp phát triển là Việt Nam áp dụng được và bằng mọi giá phải nhậpkhẩu Tác giả luận án ủng hộ quan điểm về công nghệ thích hợp, tức là công nghệ tuykhông hoàn toàn tiên tiến, nhưng thích hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của ViệtNam và cao hơn mặt bằng công nghệ hiện tại của Việt Nam.
1.2.2.4 Các xu hướng chuyển giao công nghệ.
Dòng công nghệ thường di chuyển từ các nước công nghiệp phát triển sangcác nước đang và chậm phát triển Đó là vì ngày nay toàn bộ quá trình phát triển khoahọc và công nghệ cơ bản tập trung chủ yếu ở các nước giàu Khoảng 95% chi phí cho
R & D của cả thế giới là bắt nguồn từ các nước phát triển Hơn nữa, các quỹ nghiêncứu chỉ được dùng để giải quyết các vấn đề kinh tế và công nghệ mà các nước giàuquan tâm theo các ưu tiên kinh tế và khả năng về nguồn lực của mình Các nước giàuchủ yếu quan tâm đến việc tạo ra các sản phẩm tinh vi, thị trường rộng lớn và cácphương pháp sản xuất theo công nghệ tiên tiến, sử dụng nhiều vốn, có kỹ năng vàtrình độ quản lý cao, tiết kiệm lao động và nguyên liệu Ngược lại các nước nghèo lạiquan tâm nhiều hơn đến các sản phẩm đơn giản, tiết kiệm vốn, sử dụng nhiều laođộng và sản xuất cho các thị trường nhỏ hơn Nhưng họ không có tài lực cũng không
có bí quyết kỹ thuật và khoa học để thực hiện các hoạt động nghiên cứu và triển khai
mà về lâu dài có thể sẽ có lợi cho họ về kinh tế Họ buộc phải nhập khẩu công nghệ
từ nước ngoài, đặc biệt từ các nước công nghiệp phát triển
- Giá cả các công nghệ tiên tiến ngày càng trở nên đắt hơn đối với các nướcđang phát triển vì những thứ mà họ có thể xuất khẩu hầu như là nguyên liệu thô, sảnphẩm sơ chế, giá trị trao đổi thấp, trong khi họ phải nhập khẩu các công nghệ đắt tiền
từ các nước công nghiệp phát triển
- Các công nghệ hàng đầu thường được chuyển giao trong các nước thuộcOECD Các công nghệ thứ cấp thì được chuyển giao sang các nước đang phát triển
Công nghệ thường được chuyển giao bằng nhiều con đường như: nhập khẩu,đầu tư trực tiếp nước ngoài, hỗ trợ qua các dự án viện trợ phát triển và hỗ trợ pháttriển chính thức Tuy nhiên, chuyển giao công nghệ theo con đường đầu tư trực tiếpnước ngoài vẫn là chủ yếu
Trang 37Một số nhà lý luận cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài về thực chất là hìnhthức kéo dài “chu kỳ tuổi thọ sản xuất”, “chu kỳ tuổi thọ công nghệ” và “nội bộ hoá
di chuyển công nghệ, kỹ thuật” Trong nền kinh tế hiện đại có một số yếu tố kỹ thuậtliên quan đến sản xuất kinh doanh đã buộc nhiều nhà sản xuất phải lựa chọn phươngthức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài như là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển củamình
Theo lý luận coi kỹ thuật, công nghệ như là hàng hoá có thể mua bán được, từ
đó mà có khuynh hướng di chuyển ra nước ngoài và kéo dài chu kỳ tuần hoàn tuổithọ của chính nó Trong “lý luận chu kỳ tuổi thọ sản xuất “, Vernon (học giả Mỹ) chorằng: mỗi sản phẩm từ nghiên cứu, phát minh đến tiêu thụ trên thị trường đều phảitrải qua các giai đoạn trưởng thành, hoàn thiện, bão hoà và suy thoái Theo Vernon,công nghệ thể hiện trên mỗi hàng hoá bao gồm 4 thời kỳ: tiếp nhận, trưởng thành,hoàn thiện và suy thoái Khi có một công nghệ mới được bắt đầu áp dụng vào sảnxuất ở nước có công nghệ sẽ làm cho sản lượng sản phẩm thuộc loại này tăng lênđáng kể, công nghệ này dần dần được tiêu chuẩn hoá, phổ cập hoá Nếu công nghệcàng hiện đại thì tốc độ tăng sản lượng càng cao, do đó thị trường trong nước càngnhanh chóng bão hoà, trong khi đó nhu cầu ở thị trường các nước khác (nhất là cácnước đang phát triển) đối với sản phẩm này còn rất lớn Trước thực tế này, nước phátminh và đang sở hữu công nghệ mới sẽ thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đểchiếm lĩnh thị trường mới cho sản phẩm, đồng thời lợi dụng được nguồn nhân công
rẻ mạt của các nước đang phát triển nhằm một mặt, đạt được tỷ suất lợi nhuận caonhất, mặt khác kéo dài thêm chu kỳ tuổi thọ công nghệ (Nhĩ Anh, 2009)
Trong xu thế phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, chu kỳ tuổithọ công nghệ không ngừng bị rút ngắn lại, do đó, đối với nước sở hữu công nghệmới, khi công nghệ đó đã đạt tới mức độ hoàn thiện phải kịp thời di chuyển sangnước ngoài hoặc khu vực đang cần tới loại công nghệ này, để nó tiếp tục phát huytác dụng nhằm kéo dài chu kỳ tuổi thọ sản phẩm Di chuyển công nghệ dưới hìnhthức đầu tư trực tiếp nước ngoài, phía cung cấp công nghệ sẽ kéo dài chu kỳ tuổi thọcông nghệ, chu kỳ tuổi thọ sản phẩm đồng thời kéo dài thời gian thu lợi nhuận cao từviệc sở hữu công nghệ Đó là một trong những điều kiện quan trọng thúc đẩy nghiêncứu công nghệ mới, tăng cường ưu thế trong cạnh tranh Đối với phía tiếp nhận công
Trang 38nghệ, mặc dù phải trả giá cho việc sử dụng công nghệ cũ, nhưng nếu so với việc tựmình nghiên cứu thì việc tiếp nhận công nghệ có ưu điểm là tốn ít thời gian để cóđược công nghệ đó bằng cách tự nghiên cứu, ít rủi ro và rút ngắn nhanh chu kỳ tuổithọ công nghệ để có thể thay thế công nghệ mới mà ít lãng phí Đây là điều kiện đểrút ngắn khoảng cách, đuổi kịp và có thể vượt các nước đi trước.
Di chuyển công nghệ là một tất yếu kinh tế, nó không diễn ra trước áp lực thaythế công nghệ mới Tồn tại trong môi trường phát triển mạnh mẽ của khoa học vàcông nghệ, chu kỳ tuổi thọ công nghệ ngắn đến mức có những công nghệ hoặc sảnphẩm tuy chưa đến giai đoạn suy thoái (thậm chí có loại chưa đến giai đoạn hoànthiện) đã bị công nghệ mới hơn đào thải Áp lực thay thế công nghệ mới đã thúc đẩyviệc chuyển giao công nghệ thế giới diễn ra cấp bách hơn
Tuy nhiên, chuyển giao cho ai, chuyển giao như thế nào, vẫn luôn là vấn đềquan tâm và được cân nhắc kỹ lưỡng của các nhà sở hữu công nghệ Phần lớn cácnhà sở hữu công nghệ muốn giữ độc quyền công nghệ, nên nó ít được đưa ra cạnhtranh tự do như các hàng hoá thông thường khác trên thị trường, mà các nhà sở hữucông nghệ thường thực hiện việc “nội bộ hoá” di chuyển công nghệ Tức là, phần lớncác nhà sở hữu công nghệ cố gắng xây dựng thị trường giao dịch công nghệ chỉ trongnội bộ công ty xuyên quốc gia Và đầu tư trực tiếp đã sử dụng ưu thế kỹ thuật, trithức, công nghệ để chuyển giao cho các xí nghiệp thuộc công ty là có lợi nhất Đầu
tư trực tiếp là con đường thuận lợi nhất để đưa công nghệ (sản phẩm) tới thị trườngnước khác (kể cả công nghệ sản xuất sản phẩm xuất khẩu thường hay bị bức tườngmậu dịch ngăn cản) Việc chuyển giao công nghệ giữa công ty mẹ với công ty concủa công ty xuyên quốc gia đảm bảo giữ được bản quyền công nghệ không bị saochép, giữ vững ưu thế công nghệ và khả năng độc quyền sản phẩm trên thị trường thếgiới
Từ những năm cuối của thập niên 1960, nhiều nước đang phát triển đã tiếnhành chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu, với đặc trưng cơ bản là thực thicác chính sách dùng hàng rào thuế quan và các chính sách có tác dụng bảo hộ sảnxuất trong nước một cách tương đối phổ biến đối với các ngành kinh tế, cũng nhưchính sách khuyến khích đối đầu tư trực tiếp nước ngoài Đây chính là cơ hội tốt để
Trang 39các công ty xuyên quốc gia thâm nhập có hiệu quả vào thị trường các nước đang pháttriển thông qua việc lập chi nhánh, thực hiện đầu tư trực tiếp ở các nước này.
Thông qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước tiếp nhận đầu tư có thểtiếp nhận được những kỹ thuật mới, những công nghệ tiên tiến, góp phần cải thiệnđáng kể cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế nóichung Đồng thời tạo ta các điều kiện kinh tế - kỹ thuật cho việc thực hiện cuộc cảibiến cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp
và dịch vụ (Trần Văn Thọ, 2006)
Một đặc điểm tương đối phổ biến ở các nước đang phát triển là sự lạc hậu vàthiếu thốn công nghệ và kỹ thuật Theo quy luật và sức ép thay thế kỹ thuật thì một kỹthuật nào đó đã đến lúc cần thay thế ở các nước phát triển nhưng nó có thể còn là hiệnđại, là phù hợp với trình độ của các nước đang phát triển Về bản chất, các nhà đầu tưtrực tiếp nước ngoài bao giờ cũng đặt vấn đề lợi nhuận cao và thu hồi vốn nhanh làmmục tiêu hàng đầu Những công nghệ kỹ thuật mà nhà đầu tư đưa vào thực hiện dự ánđầu tư có thể đã đến lúc cần thay thế ở nước họ Nhưng vì đi cùng với nó thường làmột số lượng nhất định tiền vốn phải bỏ ra, có nghĩa là công nghệ đó sẽ là yếu tố trựctiếp chi phối lợi ích của nhà đầu tư nên khi đưa công nghệ vào thực hiện dự án họ buộcphải cân nhắc, lựa chọn những công nghệ chí ít còn có khả năng phát huy hiệu quả chotới khi họ thu hồi đủ vốn và có lãi (trong một số trường hợp)
1.2.3 Tính tất yếu khách quan phải có chính sách thu hút chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam
Hiện nay, trong hệ thống các chính sách vĩ mô quản lý và phát triển khoa học
và công nghệ chúng ta mới có văn bản “Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam đến năm 2010” (Ban hành kèm theo Quyết định số 272/2003/QĐ-TTg ngày
31/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ, văn bản này gồm 04 phần: I/ Thực trạngKH&CN Việt Nam dài hơn 3 trang; II/ Bối cảnh cơ hội và thách thức đối với sự pháttriển KH&CN Việt Nam, dài 2 trang; III/ Quan điểm và mục tiêu phát triển KH&CN
đến năm 2010, dài 2,5 trang; IV/ Nhiệm vụ trọng tâm phát triển KH&CN Việt Nam
đến năm 2010, dài 5 trang, vì xác định thời gian cho chiến lược này chỉ có 07 năm làquá ngắn đối với một vấn đề chiến lược, đồng thời những vấn đề nêu ra lại quá chung
Trang 40chung nên việc quán triệt và triển khai là rất khó và cũng khó đánh giá nó đã đượctriển khai như thế nào, cơ quan nào được giao nhiệm vụ đánh giá một cách kháchquan nên tác dụng của nó còn khá hạn chế …).
Các quan điểm phát triển, các cam kết chính sách từ phía Nhà nước được thểhiện chủ yếu mang tính nguyên tắc tại các Văn kiện của Đảng, các Bộ luật liên quanđến khoa học và công nghệ (Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, LuậtChuyển giao công nghệ…) Một hệ thống chiến lược, chính sách phát triển công nghệtheo đúng nghĩa về cơ bản chưa được hình thành Các đòi hỏi sau đây của sự sinh tồn
và phát triển của đất nước, của thực tiễn cuộc sống tạo ra tính tất yếu khách quan củaviệc xây dựng và triển khai một hệ thống chính sách thu hút chuyển giao công nghệđồng bộ trong thời gian sớm nhất
1.2.3.1 Yêu cầu nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và của các doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập
Cho đến nay, tăng trưởng kinh tế ở nước ta vẫn chủ yếu là tăng trưởng “chiềurộng”, dựa vào quy mô tài sản cố định và số lao động, sử dụng tài nguyên thiên nhiên
và nguyên liệu thô hoặc gia công đơn giản là chính Tác động của những nhân tố như:đổi mới công nghệ, đổi mới máy móc, thiết bị, nâng cao trình độ công nghệ củangười lao động còn rất mờ nhạt Cụ thể, trong 112 ngành Kinh tế quốc dân, chỉ có 26ngành có đóng góp từ 1% GDP trở lên (chủ yếu là những sản phẩm nông nghiệp,thủy sản, khai khoáng, các sản phẩm công nghiệp sơ chế, các dịch vụ phục vụ tiêudùng sử dụng nhiều lao động phổ thông) Có 21 ngành đóng góp từ 0,5% đến dưới1% GDP thì chủ yếu là sản phẩm sơ chế và một số dịch vụ (chỉ có 5 ngành là: sảnxuất ô tô, xe máy, xe đạp và phụ tùng, máy móc thiết bị điện và dệt không nằm trong
số đó nhưng chủ yếu là do đầu tư nước ngoài) Vì vậy, hiệu quả kinh tế của cácngành hiện còn rất thấp, chậm được cải thiện và đang có xu hướng,… giảm dần Tỷtrọng giá trị gia tăng trung bình của các ngành/tổng sản lượng đã giảm từ khoảng45% (năm 1999) xuống còn khoảng 41% (năm 2007) Nếu tính cùng thời điểm pháttriển tương đương thì tỷ trọng này của nước ta thấp hơn của Trung Quốc (năm 1998)
và Indonexia (năm 1999) chỉ tương đương với Philippin (năm 1994) và Thái Lan(năm 1986) Bình quân một lao động trong công nghiệp chế biến của nước ta chỉ tạo