1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý VKD trong điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước việt nam

208 581 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Vkd Trong Điều Hành Chính Sách Tiền Tệ Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
Trường học Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
Chuyên ngành Quản Lý Vốn Khả Dụng
Thể loại Luận Án
Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 4,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khóa luận, luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, đề tài

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vốn khả dụng là vốn sẵn sàng để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của TCTD Vốn này để đáp ứng yêu cầu dự trữ bắt buộc của NHTƯ và phần dư thừa để thực hiện các nghĩa vụ thanh toán với khách hàng, với Ngân sách Nhà nước, giao dịch với đối tác, trả nợ cho NHTƯ Các TCTD sẽ duy trì vốn khả dụng dưới hai hình thức: tại quỹ của TCTD và gửi tại NHTƯ Phần vốn khả dụng dư thừa là phần có

tính lỏng cao nhất, TCTD sẽ quyết định tỷ trọng phần tiền giữ tại TCTD hay NHTƯ

dựa theo nhu cầu thanh toán từng thời điểm Như vậy, phần vốn khả dụng giữ tại NHTƯ bao gồm: tiền gửi DTBB và một phần dự trữ dư thừa để đáp ứng nhu cầu thanh toán của TCTD NHTƯ quản lý phần VKD nằm tại NHTƯ thông qua việc thiết lập hệ thống khuôn khổ, xây dựng quy tắc sử dụng các biện pháp can thiệp, chi phối khối lượng giao dịch VKD trên thị trường tiền tệ để điều chỉnh trạng thái VKD trên TTLNH, chi phối tới hành vi điều chỉnh cân bằng giữa phần VKD gửi tại NHTƯ với phần tại quỹ của TCTD để đảm bảo hoạt động bình thường của mình, từ

đó tác động tới lãi suất thị trường nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của Chính sách tiền tệ

Để thực hiện quản lý VKD, NHTƯ cần dự báo trạng thái VKD trên thị trường, xác định khối lượng cần can thiệp và đưa ra các biện pháp điều chỉnh trạng thái VKD trên thị trường để đạt được mục tiêu điều hành CSTT Tùy từng quốc gia, với đặc điểm về thể chế chính trị, mức độ phát triển của nền kinh tế cũng như tính hiệu lực trong điều hành chính sách tiền tệ của NHTƯ mà mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố cấu thành nên cung cầu VKD tại NHTƯ cũng như mức độ dự báo và kiểm soát từng nhân tố cấu thành VKD của NHTƯ cũng có sự khác nhau

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang dần hoàn thiện công tác quản lý VKD như: hoàn chỉnh phương pháp dự báo, bổ sung nguồn thông tin báo cáo phục vụ công tác dự báo, cải thiện tính đồng bộ của hệ thống biện pháp can thiệp,… Mặc dù

có nhiều sự cố gắng, kết quả dự báo dần chính xác hơn, các công cụ được sử dụng linh hoạt, tạo ra các biến động phù hợp với yêu cầu của thị trường và đạt mục tiêu

Trang 2

của NHNN hơn nhưng kết quả quản lý VKD của NHNN còn gặp nhiều hạn chế, trạng thái VKD của thị trường không biến động tích cực sau can thiệp của NHNN, lãi suất chỉ đạo không định hướng được mức lãi suất của thị trường, các hoạt động điều hành của NHNN đi sau thị trường, thị trường không quan tâm tới các động thái điều hành từ NHNN Nguyên nhân làm ảnh hưởng tới kết quả quản lí VKD của NHNN Việt Nam là tính thiếu đồng bộ của hệ thống thông tin báo cáo, kĩ thuật dự báo còn mang tính ngắn hạn, khả năng dự báo và quản lí VKD hạn chế, sự phối kết hợp giữa các chính sách vĩ mô chưa thống nhất…dẫn đến sự bị động của NHNN trong việc điều chỉnh trạng thái VKD để đạt được mục tiêu của CSTT

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nêu, luận án đã lựa chọn đề tài nghiên cứu là:

"Quản lý VKD trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam" để đóng góp đầy đủ hơn các luận cứ khoa học của công tác quản lý VKD,

thực tiễn thực hiện tại NHNN VN và từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý VKD nhằm đáp ứng yêu cầu về hiệu quả điều hành CSTT

2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Quản lí vốn khả dụng trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương là đề tài khái quát về nhiều mảng nội dung, bao hàm việc làm rõ khái niệm về vốn khả dụng, trên phương diện của NHTM và trên phương diện NHTƯ, từ đó làm sáng tỏ việc NHTƯ quản lí VKD, dự báo cung cầu vốn khả dụng trên thị trường, đo lường sự biến động trong quan hệ cung cầu để đưa ra các biện pháp can thiệp, điều chỉnh mối quan hệ đó và đạt được mục tiêu điều hành của NHTƯ thông qua sự biến động các điều kiện trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng

Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến từng nội dung liên quan đến đề tài về về Chính sách tiền tệ (các công cụ của Chính sách tiền tệ, mục tiêu của Chính sách tiền tệ…), thị trường tiền tệ tuy nhiên các tài liệu liên quan trực tiếp đến mảng quản lí VKD của NHTƯ trong điều hành CSTT được công bố trên thế giới chưa nhiều Các tác giả đại diện cho những nghiên cứu về vấn đề này có: Ulrich Bindseil (2000), Falko Fecht, Kjell G Nyborg, J’org Rocholl (2007), Simon

T Gray (2008), Mohamed Afzal Norat (2008) Ngoài ra, các tổ chức như Quỹ tiền tệ

Trang 3

quốc tế (IMF), Ngân hàng trung ương Châu Âu và Cục dự trữ liên bang Mỹ cũng có một số bài nghiên cứu liên quan đến đề tài

Tác giả Ulrich Bindseil của NHTƯ Châu Âu năm 2000 có bài nghiên cứu: Lí thuyết và thực tế tại Khu vực đồng Euro Trong đó, tác giả giải thích ngắn gọn khái

niệm về quản lí VKD của NHTƯ, đặc biệt tập trung vào mối quan hệ giữa lượng vốn khả dụng tại NHTƯ, lãi suất qua đêm và các vấn đề liên quan tới hiệu ứng thông báo của thị trường Tác giả đã giải thích một số thuật ngữ liên quan tới quản lí VKD từ đó liên hệ với thực tế quản lí VKD trong khu vực đồng Euro trong thời gian 15 tháng kể từ khi bắt đầu sử dụng đồng tiền chung, sử dụng mô hình phân tích hồi quy đơn giản để giải thích sự ảnh hưởng của trạng thái VKD tới EONIA

Năm 2007, Falko Fecht, Kjell G Nyborg, J’org Rocholl khi nghiên cứu về

Quản lí VKD và những ảnh hưởng tới lãi suất qua đêm: Bằng chứng từ NH Đức đã

nghiên cứu về dữ liệu biến động lãi suất liên ngân hàng qua đêm (EONIA) trong khu vực đồng tiền chung Châu Âu và phân tích sự khác biệt hành vi của ngân hàng Đức so với các NHTƯ thành viên khác khi dự báo có sự thay đổi giá cho việc nắm giữ dự trữ Vào đầu của kì duy trì, khi EONIA thường là cao hơn mức trung bình, các tác giả quan sát các ngân hàng Đức giảm lượng dự trữ bình quân thấp hơn mức dự trữ bắt buộc phải duy trì để thúc đẩy bán vốn ra thị trường Vì vậy, ngược lại với các NHTƯ thành viên khác, giai đoạn sau của kì duy trì, ngân hàng Đức phải lấp đầy các yêu cầu dự trữ của do đó được hưởng lợi từ mô hình chung trong EONIA Điểm quan trọng nhất của nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ngày cuối cùng của tháng có ảnh hưởng tới EONIA và gây thiếu hụt VKD tạm thời trên TT LNH, đây chính là một gợi ý quan trọng trong quản lí VKD liên quan đến thời điểm can thiệp thị trường

Simon T Gray là tác giả có nhiều nghiên cứu về NHTƯ và công tác quản lí

VKD của NHTƯ Trong nghiên cứu về Dự báo vốn khả dụng (2008), tác giả giải

thích sự cần thiết của dự báo VKD thông qua sử dụng BCĐ TT để thực hiện điều hành CSTT Khi NHTƯ dự báo được khả năng biến động của Cung, Cầu VKD thông qua phần dự trữ của NHTM gửi tại NHTƯ thì có thể điều chỉnh Cung VKD

để cho phù hợp với Cầu VKD thông qua sử dụng các biện pháp như: nghiệp vụ Thị

Trang 4

trường mở để bơm hay hút VKD từ hệ thống NH hay cho phép các NH sử dụng các phương tiện thường xuyên để vay hoặc gửi Các biện pháp can thiệp nhằm quản lí VKD và điều hành CSTT sẽ tạo ra hiệu ứng thông báo tới nền kinh tế cũng như tới

hệ thống NH NHTƯ cần biết về bối cảnh thực hiện hoạt động, số dư hiện có của các NHTM là bao nhiêu so với mức cầu vốn khả dụng và nó sẽ thay đổi thế nào trong ngắn hạn Tác giả đúc rút ra sự cần thiết của việc NHTƯ phải đánh giá chính xác bối cảnh hiện tại và có sự dự báo tốt trong tương lai Ngoài ra, NHTƯ trong quá trình quản lí VKD cũng cần lưu tâm đến những thông tin liên quan đến các khoản mục trên BCĐ TT Hầu hết các NHTƯ quản lí VKD đều để tránh sự thiếu hụt hay dư thừa VKD tác động tới hệ thống thanh toán, đến trạng thái vốn ngắn hạn hay làm tỷ giá biến động Trong nghiên cứu này, Simon T Gray tập trung tới vấn đề liên quan tới

dự báo dựa trên BCĐ tiền tệ của NHTƯ và nhấn mạnh tới việc dự báo VKD với vai trò là 1 khoản mục trên BCĐ của NHTƯ và được NHTƯ sử dụng để quản lí dự trữ của NHTM nằm tại NHTƯ, phần VKD có tính lỏng và quyền lực cao nhất

Năm 2011, Simon T Gray tiếp tục có nghiên cứu về nội dung mắt xích trong chuỗi nghiệp vụ liên quan đến công tác quản lí VKD, đó là Số dư tại NHTƯ và Dự trữ bắt buộc (Central Bank Balances and Reserve Requirements) Tác giả thể hiện đồng nhất với nhiều quan điểm từ trước đến nay rằng hầu hết các NHTƯ trên thế giới đều yêu cầu TCTD thực hiện giữ dự trữ bắt buộc dưới hình thức số dư tiền gửi tại NHTƯ Tuy nhiên, vai trò của DTBB đã được thay đổi nhiều qua thời gian, kể

cả từ lí thuyết và thực tiễn đều chỉ ra rằng cần phải xem xét kĩ càng vai trò của DTBB Theo ông, ba mục đích chính cho dự trữ yêu cầu bảo đảm an toàn, tiền tệ, kiểm soát tiền tệ và quản lý VKD Dự trữ bắt buộc là một phần nằm trong lượng dự phòng trung bình, là phần đệm hỗ trợ hiệu quả cho các ngân hàng thương mại quản

lý thanh khoản ngắn hạn Đặc biệt chức năng này có thể đặc biệt hữu ích khi NHTƯ khó dự báo chính xác tất cả các luồng trên bảng cân đối kế toán của mình Simon T Gray đánh giá rất cao chức năng quản lí VKD của dự trữ bắt buộc và coi trọng tầm ảnh hưởng của DTBB tới hiệu quả quản lí VKD của NHTƯ Cuối cùng, bài báo

Trang 5

minh họa thực tiễn hiện tại bằng cách sử dụng năm 2010 IMF khảo sát của 121 ngân hàng trung ương

Mohamed Afzal Norat năm 2008 có nghiên cứu về Dự báo tiền giấy phát hành Đây là công việc quan trọng trong việc đảm bảo rằng nó cung cấp cho nhu cầu của hệ thống ngân hàng tiền ngân hàng trung ương Tiền giấy (hoặc tiền trong lưu thông) là thành phần lớn nhất và đối với một số NHTƯ đây là biến quan trọng nhất của các dự báo VKD của hệ thống NH Dự báo chính xác nhu cầu sử dụng tiền giấy là điều cần thiết trong việc đảm bảo một dự báo VKD chính xác và ảnh hưởng tới hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ Tác giả M.A Norat đề cập các vấn đề và phác thảo một mô hình chuỗi thời gian để đánh giá công tác dự báo tiền giấy (tiền mặt trong lưu thông) của một số NHTƯ các nước, bao gồm cả NHTƯ Anh và ECB

Về các nghiên cứu tại Việt Nam, các đề tài nghiên cứu liên quan đến Chính sách tiền tệ, các công cụ của Chính sách tiền tệ, kênh truyền tải tác động của Chính sách tiền tệ đã được quan tâm nghiên cứu nhiều, tuy nhiên, liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lí VKD trong điều hành Chính sách tiền tệ của NHTƯ thì hiện chỉ

có “Hoàn thiện phương pháp dự báo vốn khả dụng nhằm nâng cao năng lực điều tiết thị trường tiền tệ của NHNN” của PTĐ NHNN Việt Nam Nguyễn Đồng Tiến

chủ trì hoàn thành năm 2006 Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã hệ thống hoá một số vấn đề tổng quan mang tính chất cơ sở lý luận về quản lý và dự báo vốn khả dụng: Khái niệm vốn khả dụng, vai trò của dự báo vốn khả dụng, nội dung công tác quản lý vốn khả dụng, ; Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý và phương pháp dự báo vốn khả dụng của một số nước trên thế giới Có thể nói đây là nghiên cứu đầu tiên

đề cập tới đề tài này tại Việt Nam Ngoài ra, nhóm tác giả có sự phân tích, đánh giá thực tiễn công tác quản lí và dự báo vốn khả dụng của NHNN VN, đánh giá những mặt được và chưa được trong quá trình thực hiện quản lý, dự báo vốn khả dụng, từ

đó đề xuất giải pháp hoàn thiện phương pháp dự báo vốn khả dụng nhằm nâng cao chất lượng dự báo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về hiệu quả điều hành CSTT của NHNN Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng Về cơ bản,

đề tài đã giải quyết tương đối triệt để những nội dung liên quan tới mục đích của

Trang 6

NHNN trong việc hoàn thiện phương pháp dự báo và công tác dự báo VKD để hướng tới điều tiết hiệu quả TTTT của Việt Nam

Có thể nói, tất cả những nghiên cứu trên là nguồn kiến thức nền tảng vô cùng quý giá để gợi ý nghiên cứu cho Luận án Vì vậy, trên cơ sở những nghiên cứu của quốc tế và Việt Nam, luận án lựa chọn tập trung vào hệ thống hóa lí luận liên quan tới công tác quản lí VKD của NHTƯ, đồng thời nghiên cứu việc thực hiện công tác này tại NHNN Việt Nam nhằm tăng cường hiệu quả điều hành CSTT

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Làm rõ lí luận liên quan tới công tác quản lý VKD: Khái niệm về VKD, cung cầu VKD, nội dung công tác quản lý VKD, phương pháp dự báo VKD…Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý và dự báo VKD của một số nước trên thế giới, rút ra bài học kinh nghiệm với Việt Nam

- Phân tích thực trạng công tác quản lý và dự báo VKD của NHNN VN trong điều hành Chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam

- Đề xuất giải pháp nhằm giải quyết những vấn đế nảy sinh trong quản lí vốn khả dụng của NHNN Việt Nam, hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác quản lý

VKD nhằm góp phần nâng cao hiệu lực Chính sách tiền tệ của NHNN VN

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu lí luận cơ bản về vốn khả

dụng trên phương diện quản lí của NHTƯ, thực trạng việc quản lí VKD để điều hành CSTT của NHNN VN theo phương pháp dự báo từ bảng cân đối tiền tệ của NHTƯ và

đề xuất giải pháp quản lí VKD trong điều hành CSTT của NHNN Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Để nghiên cứu thực trạng của Việt Nam, luận án nghiên

cứu trên phương diện quản lí của NHTƯ, sử dụng số liệu trên Bảng cân đối tiền tệ của NHNN là chủ yếu và thực hiện phân tích trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2012

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu suy luận, phân tích hệ thống, phân tích đối chiếu, so sánh, khảo sát, thống kê, kết hợp lí luận và thực tiễn; Phân tích

Trang 7

định tính kết hợp định lượng về tác động của các nhân tố đến sự tăng, giảm cung cầu VKD, kết hợp so sánh đối chiếu với kinh nghiệm điều hành quản lý VKD của một số nước để tìm hướng quản lý phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam

Đồng thời, để phân tích định tính và nghiên cứu định lượng về trạng thái VKD và sự biến động của các nhân tố cấu thành nên Cung, Cầu VKD, Luận án sử dụng mô hình hồi quy đơn nhằm đo lường các quan hệ tuyến tính giữa yếu tố cấu thành với Cung, cầu VKD trên cơ sở số liệu từ các nguồn số liệu trong Thống kê tài chính quốc tế (IFS - IMF), của Ngân hàng Nhà nước và các NHTM Việt Nam

6 Những đóng góp chính của Luận án

Luận án là công trình nghiên cứu khoa hoc chuyên sâu và hoàn chỉnh đầu tiên về Quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Những đóng góp chính của Luận án bao gồm:

- Xây dựng và tổng quát cơ sở lí luận về vốn khả dụng, dự báo và quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương dựa vào các nghiên cứu lí thuyết và thực tiễn của các nhà kinh tế học trên thế giới

- Nghiên cứu kinh nghiệm về nội dung quản lí VKD, đặc biệt chú trọng tới phương pháp dự báo VKD và các biện pháp can thiệp để điều chỉnh cung cầu VKD

để đạt được mục tiêu điều tiết thị trường của NHTƯ một số quốc gia phát triển và đang phát triển trên thế giới, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam

- Phân tích, đánh giá một cách hệ thống và khoa học thực trạng hoạt động quản lí VKD của NHNN Việt Nam thời gian qua, tìm ra những nguyên nhân cơ bản giải thích cho những hạn chế trong việc phát huy hiệu quả quản lí VKD để điều chỉnh trạng thái thị trường và đạt được mục tiêu điều tiết của NHNN Việt Nam

- Đưa ra gợi ý cho NHNN Việt Nam việc sử dụng mô hình hồi quy đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố cấu thành tới cung cầu VKD, từ đó tìm ra biện pháp phù hợp và hữu hiệu nhất để can thiệp thị trường cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam từng thời kì

- Trên cơ cở kết quả nghiên cứu của mình, Luận án đưa ra hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lí VKD trong điều hành Chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam

Trang 8

7 Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án được chia thành 3 chương:

- Chương 1: Lí luận chung về quản lý vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương

- Chương 2: Thực trạng quản lý vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Trang 9

CHƯƠNG 1

LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG

ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

1.1 KHÁI QUÁT V Ề VỐN KHẢ DỤNG VÀ QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

1.1.1 Vốn khả dụng

1.1.1.1 Khái niệm

Theo định nghĩa giản đơn, vốn khả dụng được hiểu là vốn có khả năng sử

dụng Cụ thể hơn, vốn khả dụng là nguồn vốn sẵn sàng để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính như: rút tiền mặt của khách hàng, nhu cầu thanh toán, đáp ứng các cam kết cho vay với khách hàng, nộp thuế cho Ngân sách, trả nợ NHTƯ…của TCTD

Dưới góc độ hệ thống ngân hàng: Vốn khả dụng là tiềm lực vốn của một tổ chức tài chính, là VKD nằm tại TCTD VKD của TCTD được chia làm hai phần:

Dự trữ bắt buộc và dự trữ dư thừa Dự trữ dư thừa là phần dự trữ sơ cấp, có tính lỏng cao nhất, có thể sử dụng đáp ứng các yêu cầu về vốn của TCTD ở mọi thời điểm Vì vậy, phần VKD này được dự trữ: (i) Một phần để tại TCTD dưới dạng Ngân quỹ, đáp ứng nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng, nhu cầu thanh toán, đáp ứng nghĩa vụ cho vay, các cam kết khác VKD này duy trì với mục đích là đáp ứng nhu cầu thanh toán tức thì hay đảm bảo thanh khoản - là khả năng đáp ứng tức thời nhu cầu rút tiền của khách hàng tại bất cứ thời điểm nào với mức chi phí thấp nhất; (ii) Một phần gửi tại NHTƯ dưới dạng tiền gửi DTBB, tiền gửi thanh toán và tiền gửi khác

Trên phương diện quản lý của NHTƯ: VKD gửi tại NHTƯ – chính là số tiền

dự trữ mà TCTD gửi vào NHTƯ của quốc gia Nó bao gồm: tiền gửi DTBB, tiền gửi

thanh toán, v.v là phần vốn các TCTD phải giữ lại theo quy định và một phần dự trữ

dư thừa được các TCTD gửi tại NHTƯ để đáp ứng nhu cầu thanh toán qua NHTƯ Phần dư thừa này có tính lỏng cao nhất, có mối quan hệ chặt chẽ với phần VKD nằm

Trang 10

tại TCTD và nhạy cảm với sự biến động về lãi suất trên thị trường Vì vậy quản lí VKD của NHTƯ chính là NHTƯ sử dụng các biện pháp can thiệp để điều chỉnh phần VKD này, từ đó tác động đến phần VKD nằm tại TCTD, đồng thời chi phối tới hành

vi mua hay bán vốn trên TT LNH, tác động tới mức lãi suất LNH, từ đó thông qua cơ chế truyền tải lãi suất để điều chỉnh trạng thái cung cầu trên các bộ phận khác của TTTC và đạt mục tiêu điều hành CSTT

Phần VKD nằm tại NHTƯ là một thước đo về mức độ dư thừa hay thiếu hụt VKD của các TCTD Mức VKD của một ngân hàng càng lớn đồng nghĩa với việc lượng tiền dư thừa ngân hàng có thể cung cấp trên thị trường LNH là nhiều Thông qua việc rút bớt hay bơm thêm VKD, NHTƯ có thể tác động tới chênh lệch cung - cầu về dự trữ của ngân hàng, từ đó khiến ngân hàng phải điều chỉnh hành vi của mình trên thị trường liên ngân hàng Lãi suất liên ngân hàng vì thế có thể được điều chỉnh theo ý của NHTƯ

Mối quan hệ giữa phần VKD nằm tại TCTD và tại NHTƯ là vô cùng mật thiết với nhau Khi trạng thái VKD nằm tại TCTD dư thừa hay thiếu hụt sẽ tác động nhanh chóng tới trạng thái VKD của TCTD đó tại NHTƯ và ngược lại Cụ thể hơn, khi VKD tại quỹ dư thừa so với nhu cầu sử dụng vốn, nếu để tiếp tục tại quỹ, TCTD

sẽ bị mất chi phí cơ hội, vì vậy, phần dư thừa này được đẩy lên thành số dư tiền gửi tại NHTƯ, làm cung VKD tại NHTƯ tăng lên và TCTD có thể sử dụng giao dịch trên TTLNH nhằm giảm chi phí cơ hội của việc giữ tiền thông qua việc bán vốn tại mức lãi suất mong muốn Ngược lại, khi trạng thái này thiếu hụt, TCTD thực hiện: hoặc rút tiền từ NHTƯ lập tức hay vay trên TTLNH và làm số dư VKD tại NHTƯ biến đổi Ngược lại, để thực hiện CSTT, NHTƯ có thể tiến hành chủ động điều chỉnh trạng thái VKD thông qua bơm hay hút VKD trên TTLNH, dẫn đến số dư VKD trên tài khoản tiền gửi tăng lên hay giảm xuống, làm thay đổi trạng thái vốn của các TCTD tham gia giao dịch trên thị trường theo hướng thặng dư hay thâm hụt và các TCTD đó sẽ điều chỉnh lượng vốn cung cho nền kinh tế của mình, tác động tới mức lãi suất cho vay, từ đó tác động sâu rộng tới các chỉ tiêu vĩ mô của nền kinh tế

Dù được hiểu trên phương diện hệ thống TCTD hay từ phương diện quản lí thì

Trang 11

VKD cũng đều được NHTƯ quan tâm, vì nó ảnh hưởng tới hệ thống tiền tệ quốc gia và

sự ổn định tài chính Khi VKD biến động đều sẽ tác động đến sự cân bằng cung cầu VKD trên TT LNH và truyền tải tác động đến các bộ phận TTTC khác và tới nền kinh

tế Vì vậy, quản lý VKD là một hoạt động vô cùng quan trọng của NHTƯ Trong phạm

vi nghiên cứu của đề tài, Luận án sử dụng quan điểm VKD từ phương diện quản lí của NHTƯ, làm rõ nội hàm của cầu và cung VKD tại NHTƯ và NHTƯ hoạt động quản lí phần VKD để góp phần nâng cao hiệu quả điều hành CSTT

VKD của TCTD tại NHTƯ bắt nguồn từ hai nhân tố chính: Nhân tố tự định và chính sách Nhân tố tự định là nhân tố biến động nằm ngoài sự kiểm soát của NHTƯ,

bị tác động bởi hành vi công chúng (như Tiền mặt ngoài lưu thông) hay hoạt động của tổ chức (như cho vay hay tiền gửi của chính phủ)…và nhân tố chính sách là nhân

tố bị ảnh hưởng bởi Chính sách của NHTƯ Tùy phương diện xem xét là Cung VKD hay Cầu VKD tại NHTƯ mà nhân tố tự định và chính sách sẽ khác nhau

1.1.1.2 Cầu và cung vốn khả dụng tại Ngân hàng trung ương

Cầu vốn khả dụng tại Ngân hàng trung ương

Cầu VKD được hiểu là tập hợp các nhu cầu cần đáp ứng để thực hiện các nghĩa vụ về tài chính của TCTD đó với các đối tác, bao gồm NHTƯ, ngân sách nhà nước, các TCTD khác và đặc biệt là khách hàng của TCTD

Cầu VKD được hình thành từ hai bộ phận: cầu VKD tự định và cầu chính sách Hay theo bản chất của thì cầu VKD tự định chính là cầu dự trữ dư thừa nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của TCTD và cầu VKD chính sách là cầu xuất phát từ yêu cầu dự trữ bắt buộc của NHTƯ

(i) Cầu VKD tự định: Là những nhu cầu thanh toán cần đáp ứng xuất phát

từ những yếu tố nội tại trong hoạt động của TCTD và nằm ngoài sự kiểm soát trực tiếp từ NHTƯ, bao gồm:

- Nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng: Khi khách hàng gửi tiền vào TCTD với mục đích tiết kiệm, thanh toán thì tương ứng với dòng tiền gửi vào là nhu cầu rút tiền ra ở một thời điểm được xác định trước hoặc không được xác định trước Việc chuẩn bị đáp ứng việc rút tiền của khách hàng trở thành một bộ phận cầu VKD

Trang 12

của TCTD phải tính toán để luôn sẵn sàng đáp ứng khi phát sinh nhu cầu từ khách hàng Bộ phận tiền mặt tại quỹ của TCTD sẽ đáp ứng trước tiên cho nhu cầu này, nếu không đủ sẽ rút từ NHTƯ và tăng cầu VKD tại NHTƯ

- Nhu cầu thanh toán chuyển khoản của khách hàng: với KH duy trì số dư nhằm mục đích thanh toán thì TCTD có nghĩa vụ duy trì số dư để đáp ứng nhu cầu của KH Đối với cả hệ thống TCTD thì nhu cầu thanh toán của khách hàng không còn là bộ phận cấu thành Cầu VKD do nhu cầu thanh toán của khách hàng không làm tăng mà chỉ làm dịch chuyển nhu cầu sử dụng tiền của TCTD này sang TCTD khác

- Nhu cầu nộp thuế với Ngân sách: trong quá trình hoạt động kinh doanh, việc đóng góp nghĩa vụ thuế với Ngân sách phát sinh ra nhu cầu VKD của TCTD và

kế hoạch được

- Nhu cầu thực hiện các cam kết với khách hàng: cho vay, tài trợ…Nhu cầu này TCTD có thể nắm được kế hoạch thực hiện

- Thực hiện các giao dịch ngoại hối với NHTƯ: đây là yếu tố tự định xuất

phát từ nhu cầu của TCTD, nhưng việc quyết định có thực hiện giao dịch hay không lại phụ thuộc vào NHTƯ khi xem xét mụa tiêu của CSTT

Để đáp ứng các nhu cầu trên, các TCTD duy trì VKD của mình dưới dạng: Tiền mặt tại quỹ, các tài sản có tính lỏng cao và một phần vốn gửi tại NHTƯ Vì vậy, nhu cầu duy trì số dư trên tài khoản thanh toán tại NHTƯ cũng là cầu VKD TCTD cần duy trì một lượng VKD để đáp ứng nghĩa vụ tài chính của mình tại NHTƯ Tiền gửi này thường không được trả lãi và TCTD được sử dụng hoàn toàn theo nhu cầu của mình Trong trường hợp quốc gia sử dụng công cụ DTBB, theo lượng dự phòng trung bình hay chế độ tự nguyện dự trữ theo hợp đồng thì đều duy trì cả hai loại tiền gửi thanh toán và DTBB chung trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại NHTƯ với điều kiện số dư tối thiểu bình quân cả kì phải đủ mức DTBB quy định và hàng ngày đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán để giảm thiểu gánh nặng chi phí

cơ hội cho khoản mục dự trữ [11] Điều đó đồng nghĩa với việc rất khó khăn để xác định lượng tiền gửi thanh toán có đủ hay vượt quá nhu cầu dự trữ và NHTƯ dự báo VKD cần nắm được thông tin về lượng DTBB phải thực hiện Trên phương diện

Trang 13

quản lí của NHTƯ, cầu VKD tự định này chính là phần dự trữ dư thừa, là phần vốn vượt ngoài mong muốn của TCTD để đáp ứng nhu cầu thanh toán được duy trì NHTƯ TCTD phải luôn duy trì số dư dương vì lí do phòng ngừa rủi ro và nếu không duy trì đủ số dư để đảm bảo khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán họ có thể

bị phạt với mức bằng mức lãi suất thị trường [44],[55],[76]

(ii) Cầu VKD chính sách: là yêu cầu thực hiện của NHTƯ mà các TCTD phải để một khoản gọi là tiền gửi dự trữ bắt buộc

DTBB là khoản tiền mà các TCTD phải thực hiện theo quy định của NHTƯ trong từng thời kì, dựa vào tỉ lệ DTBB và số dư tiền gửi mà tổ chức đó huy động Đây chính là phần cầu mà các TCTD phải thực hiện theo yêu cầu của NHTƯ và xuất phát từ mục tiêu của CSTT, vì vậy phần cầu về DTBB được gọi là cầu VKD chính sách

Theo công thức giản đơn:

Số tiền DTBB = Tỉ lệ DTBB x Số dư tiền gửi huy động bình quân theo kì

Vì vậy, cầu VKD chính sách do hai nhân tố cấu thành chính: (i) Tỷ lệ DTBB do NHTƯ quy định; (ii) Số dư tiền gửi mà TCTD huy động tính bình quân theo kì Ngoài ra thì phương pháp quản lí DTBB cũng là một nhân tố ảnh hưởng mạnh tới việc xác định cầu VKD của TCTD tại NHTƯ

- Tỉ lệ DTBB do NHTƯ quy định: NHTƯ quy định tỉ lệ DTBB phụ thuộc vào

mục tiêu của CSTT trong từng thời kì, tính ổn định của các loại tiền gửi, tính chất

và quy mô hoạt động của TCTD, chi phí huy động vốn của từng loại tiền mà tỉ lệ này được xác định cao hay thấp Khi NHTƯ quy định tăng tỉ lệ DTBB có nghĩa các TCTD phải tăng nghĩa vụ thực hiện DTBB, làm cầu VKD chính sách tăng lên và ngược lại

- Số dư tiền gửi huy động bình quân theo kì: Là cơ sở để tính toán số tiền

TCTD phải duy trì Số dư tiền gửi vào TCTD tăng sẽ làm tăng cầu VKD chính sách Theo nguyên lí, hàng ngày TCTD căn cứ vào lượng tiền huy động, tương ứng với tỉ

lệ DTBB quy định với từng loại tiền gửi phải thực hiện DTBB để tính toán và thực hiện DTBB Nếu NHTƯ quản lí DTBB trên cơ sở số dư tiền gửi huy động hàng ngày

Trang 14

sẽ rất khó khăn cho NHTƯ trong dự báo VKD Tuy nhiên, hiện nay DTBB được quy định theo kì, số dư tiền gửi tính toán bình quân dựa theo số dư cuối ngày của các loại tiền gửi chia cho số ngày trong kì Vì vậy, việc xác định cầu VKD chính sách cũng được tính theo kì quy định, chia hai kì: kì xác định và kì duy trì Kì xác định là quãng thời gian theo dõi và tính toán lượng tiền gửi huy động bình quân để tính số tiền phải thực hiện DTBB Kì duy trì là quãng thời gian để TCTD thực hiện DTBB theo mức

đã tính toán trong kì xác định.Việc quản lí theo kì giúp NHTƯ thuận tiện hơn trong việc xác định cầu VKD chính sách

- Phương pháp quản lí DTBB: Việc quản lý DTBB bình quân theo kì được

quản lý theo ba phương pháp: Nối tiếp; Trùng một phần và Trùng hoàn toàn

Phương pháp nối tiếp: Kì duy trì bắt đầu khi kì xác định kết thúc Phương pháp

này cho phép đối tượng chấp hành DTBB nắm được số tiền phải thực hiện ngay từ ngày đầu tiên khi bắt đầu kì duy trì

Phương pháp trùng một phần: Kì duy trì bắt đầu vào một nửa thời gian khi kì xác định bắt đầu Phương pháp này thì đối tượng chấp hành chỉ có thông tin của nửa kì xác định khi kì duy trì bắt đầu

Phương pháp trùng hoàn toàn: Kì duy trì và kì xác định bắt đầu gần như cùng lúc, thông thường chúng lệch nhau từ 2 đến 3 ngày để thuận tiện cho việc tổng hợp và thực hiện thủ tục hành chính TCTD phải chủ động duy trì DTBB trong tương quan với

số tiền huy động trong mỗi ngày từ đầu kì duy trì

Chính việc quyết định lựa chọn phương pháp quản lý DTBB sẽ ảnh hưởng tới kết quả dự báo DTBB của NHTƯ Phương pháp nối tiếp và trùng một phần thuận tiện hơn cho quá trình dự báo vì nó đã cung cấp chính xác hoặc số liệu của một nửa thời gian thực hiện dự báo Phương pháp trùng hoàn toàn gây khó khăn cho

dự báo nhất do cuối kì xác định cũng gần với cuối kì duy trì, vì vậy, NHTƯ không thể có số liệu sẵn có về số dư tiền gửi bình quân phải DTBB

(iii) Mối quan hệ giữa cầu VKD tự định và cầu VKD chính sách: có mối

quan hệ khăng khít với nhau thông qua số dư cuối ngày trên tài khoản tiền gửi thanh toán Trong đó cầu VKD chính sách phụ thuộc vào DTBB, là nhân tố mang tính thể

Trang 15

chế và không thay đổi hàng ngày Phần còn lại trên tài khoản tiền gửi tại NHTƯ nhằm đáp ứng nhu cầu VKD tự định Sẽ xảy ra trường hợp vào bất kỳ ngày nào, một ngân hàng có thể để số dư của nó tại NHTƯ ở mức 0 (hoặc thấp hơn mức quy định) kể cả ngày đó là ngày cuối cùng của kì duy trì Một TCTD có thể kết thúc kì duy trì với số dư thấp hơn quy định, tuy nhiên, đó không phải là sự lựa chọn “miễn phí” - nó phải chấp nhận mức lãi suất phạt Khi thực hiện quản lý VKD, NHTƯ thường có giả định rằng các TCTD thực hiện đủ DTBB theo yêu cầu

Về cơ bản trên thế giới tồn tại hai quan điểm: Sử dụng và không sử dụng công cụ DTBB trong điều hành CSTT Với các nước sử dụng công cụ DTBB thì cầu VKD bao gồm: cầu VKD tự định và cầu VKD chính sách Còn với các quốc gia không yêu cầu DTBB thì cầu VKD của TCTD tại NHTƯ chỉ còn phụ thuộc vào cầu VKD tự định

Cung VKD tại NHTƯ

Cung vốn khả dụng là số tiền các TCTD sẵn sàng sử dụng để đáp ứng nghĩa

vụ tài chính của mình với các bên liên quan như: khách hàng, ngân sách, với các TCTD khác hay với NHTƯ

Về cơ bản, nguồn cung VKD của TCTD được hình thành từ hai nguồn chính: (i) nguồn vốn huy động từ nền kinh tế; (ii) nguồn cung ứng thêm từ NHTƯ qua các kênh: mua ngoại tệ, cho Ngân sách vay, cho các TCTD vay và một số khoản khác Khi xem xét cung VKD tại NHTƯ, luận án tập trung nghiên cứu phần cung VKD xuất phát từ sự thay đổi của các yếu tố trên bảng cân đối tiền tệ của NHTƯ [7]

Từ các đặc trưng về cầu VKD tại NHTƯ, nhiệm vụ của NHTƯ là phải thực hiện điều chỉnh cung VKD cho phù hợp với cầu để đạt được tỉ lệ lãi suất đã định hay mục tiêu định lượng Để điều chỉnh cung, NHTƯ cần thực hiện: Điều chỉnh trạng thái VKD của hệ thống nhằm cân bằng cung cầu VKD đồng thời tăng cường ảnh hưởng tới các thành viên tham gia thị trường thông qua hiệu ứng thông báo để điều chỉnh VKD và tác động lên lãi suất

- Các yếu tố cung tự định bao gồm:

+ Tài sản có ngoại tệ ròng: là phần tài sản chênh lệch còn lại giữa Tài sản có

Trang 16

ngoại tệ sau khi trừ đi Tài sản nợ ngoại tệ Yếu tố này có quan hệ thuận chiều trong mối tương quan với trạng thái VKD Vì vậy cần xác định chính xác trạng thái ròng

ở từng thời điểm, tạo cơ sở khoa học cho việc can thiệp thị trường của NHTƯ Khoản mục này được sử dụng để đánh giá, phân tích các quan hệ tài chính của NHTƯ với khu vực người không cư trú, là căn cứ để xác định dự trữ ngoại hối của Nhà nước sau khi đã loại bỏ các khoản NHTW nợ nước ngoài và các khoản NHTW

nợ các khu vực thể chế khác trong nước bằng ngoại tệ Cần nắm vững cấu thành của từng chi tiết trong khoản mục TSC ngoại tệ và TSN ngoại tệ:

Tài sản Có ngoại tệ bao gồm: Các tài sản có dự trữ (vàng tiền tệ và ngoại tệ)

do NHTW nắm giữ, đáp ứng yêu cầu sẵn sàng được sử dụng cho mục đích cán cân thanh toán quốc tế; TSC ngoại tệ bao gồm: Các công cụ tài chính bằng nội tệ hoặc ngoại tệ được sử dụng để giao dịch với những người không cư trú (Tiền gửi tại các

tổ chức quốc tế, các ngân hàng nước ngoài, ;- Chứng khoán của các tổ chức, của chính phủ, của ngân hàng nước ngoài do NHTW nắm giữ; Cổ phần tại các tổ chức, ngân hàng nước ngoài; Cho vay hoặc ứng trước đối với người không cư trú; Góp vốn cổ phần tại IMF, tiền gửi tại IMF )

Chỉ tiêu tài sản có ngoại tệ là căn cứ để xác định dự trữ ngoại hối Nhà nước

do NHTW nắm giữ Phân loại chi tiết chỉ tiêu này sẽ giúp nhận biết cấu thành của

dự trữ ngoại hối Nhà nước, qua đó giúp cho việc quản lý dự trữ ngoại hối và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia và là cơ sở xác định Cung vốn khả dụng nội tệ tương ứng với lượng ngoại tệ chảy vào

Tài sản Nợ ngoại tệ: được thể hiện qua các luồng giao dịch tài chính giữa

NHTW với những người không cư trú Đó là các khoản nợ của NHTW đối với những người không cư trú, bao gồm: (i) Tiền gửi của Chính phủ nước ngoài, NHTW và các ngân hàng nước ngoài, các tổ chức tài chính quốc tế và các tổ chức nước ngoài khác; (ii) Tiền gửi của các tổ chức và cá nhân không cư trú (bao gồm cả tiền gửi của kiều bào sinh sống tại nước ngoài ); (iii) Các chứng khoán và các giấy

tờ có giá khác do NHTW phát hành cho các tổ chức và cá nhân không cư trú; (iv) Các khoản vay nước ngoài, kể cả các khoản tiền còn thiếu phát sinh khi NHTW

Trang 17

không đủ khả năng cấp ngoại tệ để thanh toán với nước ngoài; (v) Các khoản nợ khác đối với những người không cư trú

Tài sản nợ ngoại tệ thể hiện dòng ngoại tệ chảy ra khỏi biên giới trong một khoảng thời gian Trong bảng cân đối rút gọn của NHTƯ sẽ thể hiện phần chênh lệnh trạng thái giá trị ngoại tệ ròng còn lại tại khoản mục Tài sản Có ngoại tệ ròng, nếu khoản mục này dương, thể hiện sự tăng lên của trạng thái ngoại tệ chảy vào lãnh thổ làm tăng dự trữ ngoại hối quốc gia, đồng thời NHTƯ can thiệp tăng Cung VKD nội tệ tương ứng với giá trị lượng ngoại tệ mua vào và ngược lại

+ Cho vay chính phủ ròng: Thể hiện mối tương quan giữa trạng thái Cho Chính

phủ vay với lượng tiền gửi của Chính phủ tại NHTƯ Hiểu được khoản mục này có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lí và dự báo được Cung VKD thông qua kênh phát hành này

Số liệu về Cho vay Chính phủ có ý nghĩa trong việc phân tích mối liên hệ giữa

thống kê tiền tệ, ngân hàng với thống kê tài chính Chính phủ (giữa phần tài trợ của ngân hàng đối với NSNN).Thể hiện các giao dịch tài chính của NHTW với Chính phủ (khu vực thể chế Nhà nước), hay các khoản nợ của Chính phủ đối với NHTW, bao gồm: Tín phiếu, trái phiếu Kho bạc Nhà nước do NHTW nắm giữ; Các khoản Chính phủ còn nợ NHTW như: tạm ứng cho ngân sách để bù đắp thiếu hụt tạm thời quĩ ngân sách, ; Số vốn NHTW thay mặt Chính phủ ký vay ngân hàng nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế và được chuyển cho Kho bạc Nhà nước quản lý

Tiền gửi của Chính phủ:Chỉ tiêu này phản ánh số tiền NHTW đang nợ Chính phủ, bao gồm:Tiền gửi của Kho bạc Nhà nước (bằng nội và ngoại tệ); Các khoản nợ

khác (bao gồm cả phần vốn tài trợ uỷ thác đầu tư nhận của Chính phủ nhưng chưa

sử dụng)

Sự chênh lệch giữa trạng thái Cho vay và tiền gửi Chính phủ sẽ thể hiện sự tăng hay giảm của Cung VKD từ NHTƯ Nếu trạng thái Cho vay ròng tăng, thể hiện Cung VKD tăng lên và ngược lại

+ Tiền mặt trong lưu thông: Bao gồm các loại tiền do NHTW phát hành hiện

đang nằm trong quĩ của các khu vực thể chế khác Được xác định bằng cách loại ra

Trang 18

khỏi tiền phát hành khoản tiền còn tồn tại quĩ NHTW và Kho bạc Nhà nước Trong

đó tồn quĩ tại NHTW bao gồm tồn Quĩ dự trữ phát hành, Quĩ nghiệp vụ phát hành

và tiền mặt tại các đơn vị phụ thuộc

Khoản mục này biến động ngược chiều với Cung VKD, nếu tiền mặt trong lưu thông tăng sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới trạng thái Cung VKD của NHTƯ và ngược lại

+ Tài sản có khác ròng: Là phần chênh lệch giữa Tài sản có khác và Tài sản

nợ khác Về cơ bản trạng thái của khoản mục này là tương đối ổn định và gần như không có ảnh hưởng tới lớn tới trạng thái Cung VKD của NHTƯ

Tài sản có khác bao gồm: Tài sản cố định (đất đai, nhà cửa, máy móc thiết

bị, ); Chi phí xây dựng cơ bản và mua sắm tài sản cố định; Công cụ lao động; Kim loại quí, đá quí; Các khoản phải thu: các khoản phải thu từ khách hàng (bị khách hàng lợi dụng trong quá trình giao dịch với NHTW, tạm ứng và phải thu phát sinh trong hoạt động nội bộ của NHTW), chi phí chờ phân bổ, tạm ứng nộp ngân sách

Tài sản nợ khác: Bao gồm các tài khoản phản ánh các khoản phải trả và các

tài sản nợ khác không được phân tổ vào các tài sản nợ trên: Lãi (lỗ): thể hiện chênh lệch thu, chi năm trước chuyển sang; Chênh lệch các khoản thu (thu về nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ thị trường mở, hoạt động ngoại hối, dịch vụ, thu phí, lệ phí, thu khác) và các khoản chi (chi về các hoạt động nghiệp vụ và dịch vụ NH, chi in đúc

và bảo quản tiền, chi lương, phụ cấp, ăn trưa, chi nghiên cứu khoa học, ) phát sinh trong năm tài chính; Khấu hao tài sản cố định; Các khoản phải trả: các khoản phải trả khách hàng về xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định, các loại tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông đã xử lý và chờ thanh toán cho khách hàng, tiền giữ hộ đợi thanh toán,

- Các yếu tố cung chính sách bao gồm:

+ Tái cấp vốn cho các ngân hàng: Là hoạt động cấp tín dụng có bảo đảm của

NHTƯ để cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng nhằm thực hiện Chính sách tiền tệ của NHTƯ

Hoạt động tái cấp vốn thể hiện hành vi cung ứng VKD cho các NH và khối lượng VKD được cấp phụ thuộc vào Chính sách tái cấp vốn của NHTƯ trong từng

Trang 19

thời kì Thông qua lãi suất tái cấp vốn, hạn mức và các điều kiện GTCG được sử dụng trong từng hình thức TCV mà NHTƯ sẽ chi phối tới lượng VKD cấp cho hệ thống NH

+ Các hoạt động thị trường: bao gồm Nghiệp vụ Thị trường mở và các

phương tiện thường xuyên của NHTƯ

Nghiệp vụ TTM là hoạt động mua bán GTCG của NHTƯ với đối tượng theo quy định trên thị trường mở nhằm thực hiện mục tiêu của CSTT trong từng thời kì Đây là nghiệp vụ can thiệp mang tính linh hoạt, chủ động điều tiết VKD thông qua giao dịch mua bán GTCG, hoán đổi ngoại tệ, phát hành GTCG của NHTƯ hay nhận tiền gửi có kì hạn với mức lãi suất cố định

Các hoạt động thường xuyên bao gồm việc nhận tiền gửi thường xuyên và cho vay thường xuyên với các TCTD của NHTƯ Thông qua việc nhận hay cho vay này, NHTƯ sẽ tác động nhằm hấp thụ hay cung ứng VKD ngắn hạn cho các TCTD

Thông qua các yếu tố cấu thành Cung cầu VKD tại NHTƯ cho thấy mỗi yếu

tố thay đổi sẽ ảnh hưởng mạnh tới trạng thái VKD của toàn hệ thống Điều này đặt

ra yêu cầu cho cơ quan quản lí vĩ mô về tiền tệ và hoạt động NH là phải quản lí được phần vốn này để đảm bảo sự ổn định tiền tệ quốc gia

1.1.2 Quản lí vốn khả dụng của Ngân hàng trung ương trong điều hành Chính sách tiền tệ

1.1.2.1 Khái niệm

Theo quan điểm của NHTƯ Châu Âu: Quản lý VKD của NHTƯ bao gồm đánh giá cung và cầu VKD, khả năng hấp thụ hay cung ứng VKD của NHTƯ thông qua nghiệp vụ thị trường mở [54]

Với khái niệm như vậy thì việc quản lý VKD về cơ bản là sự thích nghi, không có một kịch bản nào được chuẩn bị trước, không có mức tăng trưởng VKD được xác định trước, chỉ đơn giản là NHTƯ cung cấp cho thị trường theo yêu cầu, với bất cứ khối lượng nào Quan điểm này phù hợp với các nước mà NHTƯ chủ động duy trì thị trường ở trạng thái thiếu hụt VKD (ví dụ như Vương quốc Anh,

Trang 20

Hoa Kỳ, khu vực đồng Euro và Nhật Bản), không trả lãi với phần dự trữ dư thừa để buộc các TCTD chỉ để số tiền vừa đủ cho các mục đích thanh toán

Với quan điểm của ECB, để quản lí VKD tốt thì điều đầu tiên là phải xác định cụ thể chính sách quản lý VKD và hoạt động quản lý VKD của NHTƯ Có nghĩa là NHTƯ cần có quan điểm thống nhất từ đầu trong việc quản lí VKD, điều quan trọng nhất là phải dự báo tốt về trạng thái VKD của thị trường rồi sử dụng công cụ NV TTM để can thiệp và điều chỉnh thị trường, chứ không phải là thực hiện hành vi quản lí VKD – là bị động can thiệp tới thị trường thông qua hoạt động giao dịch của NV TTM Nếu việc dự báo VKD liên quan đến dự báo trên Bảng cân đối của NHTƯ thì NHTƯ phải đánh giá được phạm vi ảnh hưởng của các can thiệp thị trường thông qua mức độ ảnh hưởng của các khoản mục trên bảng cân đối tiền tệ của NHTƯ tới trạng thái dự trữ của các TCTD, để duy trì trạng thái VKD cân bằng trong nền kinh tế

- Theo quan điểm của tác giả Ulrich Bindseil: Quản lý VKD là việc Ngân hàng Trung ương điều tiết mức cung VKD sao cho phù hợp với sự biến động thường xuyên của nhu cầu VKD nhằm đạt được các mục tiêu hoạt động của Chính sách tiền tệ về giá và lượng [82]

Với quan điểm này, NHTƯ có nhiệm vụ dự đoán nhu cầu của VKD, nhân tố ảnh hưởng đến nguồn cung ứng, từ đó có những quyết định chính xác để bơm thêm hay hút bớt VKD từ các ngân hàng Đây là bước đầu tiên của quá trình thực hiện Chính sách tiền tệ Nó là cơ sở cho những quyết định liên quan đến số lượng, thời hạn và mức độ thường xuyên cho các hoạt động mang tính can thiệp trên thị trưởng

Mở Tác giả U Bindseil cũng đề cập tới mức độ quan trọng của năng lực dự báo chính xác sự biến động cung cầu VKD có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của Chính sách tiền tệ nói chung và nghiệp vụ thị trường Mở nói riêng

- Việt Nam: Quản lý vốn khả dụng là sự kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước đối với sự thay đổi tiền gửi của các tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước và thông qua việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ, đặc biệt là nghiệp vụ thị trường mở để tác động vào khả năng thanh toán của các tổ chức tín dụng nhằm đạt

Trang 21

được mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia trong từng thời kỳ

Nói chung, các quan điểm về quản lí VKD trong điều hành CSTT đều đề cập tới:

Quản lý VKD là việc NHTƯ dự báo trạng thái VKD chung trong toàn hệ thống, thiết lập các quy tắc ứng xử và sử dụng các biện pháp can thiệp để điều chỉnh điều kiện tiền tệ và trạng thái cung cầu VKD trên thị trường LNH nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ

Có nghĩa là NHTƯ quản lý VKD sẽ ảnh hưởng ngắn và dài hạn đến thị trường tài chính và cuối cùng tác động đến trạng thái nền kinh tế Khi quản lý VKD của NHTƯ tập trung vào đánh giá quan điểm điều hành CSTT (có tính chất dài hạn) chứ không phải là sách lược của hoạt động tiền tệ (mà chủ yếu là ngắn hạn)

Đặc biệt tới khi khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra, các nước mới nổi như Việt Nam đã nhận ra tầm quan trọng của việc nghiên cứu kĩ lưỡng về một môi trường kinh tế phức tạp với những bất cập của thị trường và các công cụ điều hành chứ không nên chỉ quan tâm đến các hoạt động điều hành hàng ngày của NHTƯ

1.1.2.2 Sự cần thiết phải quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ quốc gia của NHTƯ

NHTƯ quản lý VKD nhằm nâng cao hiệu quả điều hành CSTT

NHTƯ thông qua việc dự báo trạng thái VKD của thị trường, xác định chính xác liều lượng và thời hạn can thiệp tới thị trường sẽ là động lực để thị trường biến đổi theo hướng tích cực và phù hợp với mục tiêu mà NHTƯ đặt ra Có thể nói, NHTƯ quản lí VKD tốt sẽ cải thiện khả năng ảnh hưởng của các công cụ chính sách tới các biến số thực của nền kinh tế được lựa chọn làm mục tiêu chính sách trong từng thời kỳ CSTT quốc gia Về bản chất, Chính sách tiền tệ có những đặc điểm:

- Tính không chặt chẽ trong cơ chế tác động của CSTT: Điều này thể hiện ở

việc giá trị của các mục tiêu của CSTT có thể không biến đổi cùng chiều với sự tác động của CSTT mà biến đổi do các biến số khác nằm ngoài sự kiểm soát của NHTƯ, mặc dù chúng được thiết kế thành hệ thống mụctiêu của CSTT Cụ thể hơn,

có nhiều tình huống mà các mục tiêu mà CSTT lựa chọn bị biến động do tác động

Trang 22

của các yếu tố từ nền kinh tế, làm giảm hiệu quả tác động của CSTT và làm sai lệch mục tiêu cuối cùng của NHTƯ

- CSTT tác động thông qua cơ chế thị trường: Khi điều hành CSTT, NHTƯ có

thể chủ động tạo ra tác động thông qua thay đổi quan hệ cung cầu VKD trên thị trường nhưng cũng có tình huống ngược lại, quan hệ cung cầu vốn đó bị biến đổi vì các yếu tố khác dẫn đến NHTƯ can thiệp bị động để triệt tiêu các ảnh hưởng không mong muốn tới hệ thống mục tiêu của CSTT, đồng thời NHTƯ sử dụng các mối quan

hệ khách quan của thị trường để truyền tải tác động thông qua công cụ của nó [29]

Từ những đặc điểm trên cho thấy việc điều hành CSTT của NHTƯ bị chi phối nhiều bởi yếu tố không chắc chắn Trong bối cảnh bình thường và bất thường của chu kì kinh tế thì NHTƯ sẽ cần thay đổi việc điều hành CSTT thông qua thay đổi hành vi can thiệp, điều hành và quản lí VKD để đạt hiệu quả CSTT cao nhất thông qua điều tiết khối tiền cung ứng Trong bối cảnh bình thường của nền kinh tế, các quốc gia phát triển có quan điểm duy trì trạng thái VKD ở mức thiếu hụt, còn các thị trường mới nổi (emerging market economies - EMEs) thường duy trì dao động giữa thặng dư và thiếu hụt Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với xu hướng toàn cầu hóa, dòng vốn ngoại trở thành một yếu tố chính ảnh hưởng đến trạng thái VKD ở nhiều EMEs và tạo nên nhiều bất ổn Khi khả năng hấp thụ của các dòng vốn chảy vào trong EMEs bị giới hạn trong phạm vi của các hoạt động kinh tế thực sự và vào độ sâu của thị trường tài chính thì dòng vốn lớn có thể có một tác động thúc đẩy bong bóng tài sản và tạo ra áp lực lên lạm phát Mặt khác, việc bất ngờ đảo chiều của dòng vốn (do sự an toàn và mức độ cạnh tranh trong nước) trong cuộc khủng hoảng năm 2008 cũng đặt ra một mối đe dọa rất lớn cho sự ổn định tài chính trong các nền kinh tế Vì vậy, nhiệm vụ quản lý VKD đã trở nên phức tạp hơn và đầy thử thách với NHTƯ ở các nước mới nổi để bảo đảm sự ổn định tài chính trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu ngày càng sâu sắc

Đặc biệt, những thách thức trong quản lý VKD của NHTƯ trở nên nổi bật trong cuộc khủng hoảng dưới chuẩn năm 2007 dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Trong tháng 8 năm 2007, thị trường tiền tệ ở nhiều nước kinh tế

Trang 23

công nghiệp mới nổi bị đóng băng sau khi khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn ở Mĩ xảy ra Cuộc khủng hoảng lan truyền khắp thế giới và những nước mới nổi còn bổ sung thêm khó khăn khi dòng vốn nóng tiếp tục chảy ra rất mạnh Để ngăn chặn cuộc khủng hoảng, ngân hàng trung ương sử dụng cả hai biện pháp thông thường và đặc biệt để bơm VKD

Những biện pháp này bao gồm: Cung cấp bổ sung VKD cho các TCTD, bằng nội tệ và ngoại tệ; Can thiệp trực tiếp trong phân khúc rộng lớn hơn của thị trường tài chính; Mua trái phiếu chính phủ dài hạn; Hỗ trợ đặc biệt với một số tổ chức cụ thể

Sự khác biệt trong quản lí VKD ở thời kì khủng hoảng là NHTƯ mở rộng phạm vi quản lý VKD vượt ra ngoài các đối tượng truyền thống và bổ sung các loại chứng khoán có thể chấp nhận làm tài sản thế chấp, tạo ra một mô hình đơn giản của quản lý VKD bằng cách sử dụng khuôn khổ của phân vùng thanh khoản theo các yếu tố tự định và chính sách, cải thiện tính hiệu quả của kênh lượng và lãi suất trong quản lý VKD Những biện pháp trên được các nước mới nổi sử dụng đạt hiệu quả và đến nay trở thành bài học tham khảo tốt cho các nước phát triển, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu [69]

Vì vậy, điều quan trọng để đạt được hiệu quả như mong muốn trong điều hành CSTT trong cả những điều kiện bình thường và bất thường của nền kinh tế là NHTƯ cần có cơ sở dữ liệu chính xác, phù hợp với điều kiện thị trường thông qua hoạt động dự báo VKD ở từng thời điểm để ra quyết định thay đổi khối cung tiền Điều này làm cho việc dự báo, quản lý VKD trở thành một nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất trong việc quyết định tính hiệu quả trong điều hành CSTT quốc gia

Giúp NHTƯ điều chỉnh kịp thời trạng thái VKD của hệ thống NH

Việc dự báo VKD của hệ thống TCTD sẽ giúp NHTƯ nắm được trạng thái bình thường và bất thường của thị trường, từ đó đưa biện pháp điều chỉnh kịp thời trạng thái VKD thông qua bơm hút tiền, điều chỉnh cơ chế giá

Khi xem xét trạng thái VKD, cả trên phương diện trạng thái vốn của từng TCTD và tổng thể cân bằng VKD toàn thị trường của NHTƯ đều có tác động sâu

Trang 24

sắc tới sự ổn định của hệ thống tiền tệ và nền kinh tế Về cơ bản, khi xem xét tới hoạt động quản lý VKD của NHTƯ là quan tâm trên phương diện quản lý sự biến động số dư vốn của các TCTD trên bảng cân đối tiền tệ của NHTƯ, NHTƯ điều

hành Chính sách tiền tệ bằng cách kiểm soát chi phí của khoản VKD này (dù gián tiếp thông qua chi phí các khoản vay của NHTM từ NHTƯ hay trực tiếp thông qua chi phí của các khoản nợ phải trả với các TCTD khác) để tác động tới mức lãi suất trên thị trường liên ngân hàng thông qua hoạt động Arbit lãi suất Khi trạng thái VKD quá dư thừa hay thiếu hụt sẽ tác động tiêu cực tới việc điều hành CSTT của NHTƯ, do đó hầu hết các NHTƯ sẽ cố gắng để quản lý VKD bằng việc đi trước thị trường một bước, dự báo trạng thái VKD chung của thị trường, điều chỉnh sự cân bằng của thị trường, tránh những biến động bất lợi về lãi suất, mất cân bằng khối lượng của thị trường và tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện CSTT

NHTƯ có xu hướng dự báo phần dự trữ của các TCTD và ước tính phần dự

trữ vượt vì biết rằng: Khi trạng thái cung cầu VKD mất cân bằng – dù dư thừa hay thiếu hụt – sẽ đẩy NHTƯ phải thực hiện hành vi không mong muốn, do đó, NHTƯ

có thể sẽ phải thỏa mãn phần nào yêu cầu của thị trường để có thể tiếp tục thực hiện CSTT đã định

Với trạng thái thiếu hụt: khi có tình trạng thiếu thanh khoản thì NHTƯ sẽ

(hầu như) luôn cung cấp nhu cầu Trong lịch sử, chỉ có một số ít trường hợp NHTƯ không thể cung cấp đủ tiền mặt để đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế, trừ trường hợp hãn hữu là siêu lạm phát hoặc bất ổn dân chính trị Nếu TCTD thiếu dự trữ làm cho

nó không thể thanh toán vào cuối ngày, để tránh sự biến động đột biến với mức lãi suất trên TTLNH, NHTƯ có thể cung cấp tín dụng thông qua việc cho vay tái cấp vốn do không thể cung cấp qua Nghiệp vụ Thị trường mở do đã kết thúc phiên giao dịch Tuy nhiên, thông thường thì các TCTD có đủ số dư để đáp ứng nhu cầu thanh toán, nó chỉ thiếu với số dư DTBB hoặc yêu cầu về tỉ lệ thanh khoản Khi NHTƯ áp dụng mức lãi suất phạt bằng hoặc cao hơn mức lãi suất cho vay tái cấp vốn thì các TCTD sẽ duy trì sự cân bằng giữa các khoản tiền gửi và NHTƯ sẽ thuận lợi cho việc cung cấp VKD thông qua nghiệp vụ Thị trường mở

Trang 25

Trong bất cứ tình huống nào, việc thiếu hụt VKD trong ngày sẽ gần như luôn được NHTƯ cung cấp, mặc dù mức giá có thể cao hơn, vì vậy, việc thiếu thanh khoản vào cuối ngày rất ít khi xảy ra

Ngược lại, việc dư thừa VKD lại không phải hình ảnh phản chiếu của tình

trạng thiếu hụt thanh khoản NHTƯ không phải chuẩn bị đối phó như thiếu hụt Không có rủi ro thanh toán, không có việc thất bại thanh toán khi VKD dư thừa, không có tình trạng không đủ DTBB Nhưng hậu quả của việc dư thừa VKD sẽ tác động đến kết quả kinh doanh của TCTD và can thiệp tới mục tiêu chính sách của NHTƯ, đó là làm giảm lãi suất ngắn hạn, thậm chí có thể giảm xuống gần như bằng

0 Điều này đã xảy ra ở một số quốc gia như Nhật Bản Các TCTD có thể cố gắng để

bù đắp sự mất mát thu nhập này bằng cách làm chấp nhận cho vay với các khoản vay

có mức độ rủi ro cao hơn (điều này sẽ gây mất ổn định vĩ mô hoặc gây lạm phát, nếu việc cho vay lại trên TTLNH phát triển), hoặc họ có thể từ chối nhận tiền gửi của khách hàng, đặc biệt là giảm lãi tiền gửi (làm ảnh hưởng sự phát triển của các trung gian tài chính và có thể gây lạm phát vì khi đó, người dân không thích gửi tiền vào

NH, làm khuyến khích tiêu dùng chứ không khuyến khích tiết kiệm) hoặc họ có thể

cố gắng chuyển tiền của mình thành ngoại hối (sẽ tác động tới tỷ giá hay trạng thái ngoại hối của NHTƯ, có thể gây lạm phát, nếu tỷ giá hối đoái giảm giá) Một số nghiên cứu của NHTƯ cho thấy khi thị trường có trạng thái dư thừa VKD làm kênh truyền tải lãi suất của chính sách tiền tệ bị yếu đi [44] Điều này một lần nữa tạo nên một tác động tiêu cực tới việc thực hiện CSTT

Nếu biến động thị trường từ thặng dư sang thiếu hụt là liên tục theo từng ngày thì thị trường sẽ trở nên mất cân bằng, lãi suất ngắn hạn biến động không thể đoán trước, điều này sẽ ảnh hưởng tới sự ổn định dài hạn của thị trường, các TCTD

sẽ e ngại khi tham gia thị trường

Nói cách khác, dự báo và Quản lý VKD là một phần quan trọng trong việc điều hành CSTT của NHTƯ Mục tiêu của ngân hàng trung ương là ổn định tiền tệ, điều này có nghĩa, trong một bối cảnh nhất định, ổn định giá trị tiền tệ bằng cách giữ lạm phát thấp, giữ ổn định giá cả trong nước và giá trị đối ngoại của tiền tệ bằng

Trang 26

cách giữ tỷ giá hối đoái ổn định, qua đó hỗ trợ các mục tiêu rộng lớn hơn của thị trường tài chính ổn định, bằng cách giảm những rủi ro có thể phát sinh từ ngắn hạn

do giá cả không ổn định

Để thực hiện quản lý VKD, NHTƯ sử dụng các khuôn khổ, các công cụ và các quy định để tác động đến lượng dự trữ của các TCTD và kiểm soát sự biến động mức lãi suất ngắn hạn và mục tiêu hoạt động cho phù hợp với mục tiêu cuối cùng của Chính sách tiền tệ Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý VKD của hệ thống và đưa ra can thiệp hữu hiệu lên thị trường tiền tệ, đòi hỏi NHTƯ phải thực hiện tốt công tác dự báo VKD

Đối với các NHTƯ thực hiện điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc sử dụng các công cụ trực tiếp thì vai trò và ý nghĩa của việc dự báo VKD còn mờ nhạt Nhưng đối với các NHTƯ thực hiện điều hành chính sách tiền tệ thông qua sử dụng các công cụ gián tiếp thì dự báo VKD là một trong những khâu không thể thiếu được trong quá trình kiểm soát, điều tiết tiền tệ của NHTƯ

Thực chất, Ngân hàng Trung ương thực hiện quản lý VKD của các TCTD bằng cách quản lý cung và cầu VKD, xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới cung cầu VKD để từ đó tác động vào đó để đạt được mục tiêu đã xác định

1.2 NỘI DUNG VÀ QUY TRÌNH QUẢN LÍ VỐN KHẢ DỤNG TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

1.2.1 Quy trình quản lí vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương

1.2.1.1 Dự báo vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ

Vai trò của dự báo VKD trong điều hành CSTT

Dự báo VKD làm cơ sở để NHTƯ có thể chủ động đề ra những giải pháp điều hành CTTT phù hợp, góp phần điều tiết VKD, điều tiết lãi suất trên thị

trường theo mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Việc không dự báo được VKD sẽ làm cho NHTƯ bị động, lúng túng trong việc lựa chọn hiệu quả giải pháp điều tiết tiền tệ

Hay nói cách khác, thực chất dự báo VKD ngắn hạn là nhằm cung cấp cho

Trang 27

NHTƯ các thông tin về xu hướng VKD trên thị trường khi chưa có sự can thiệp của NHTƯ, qua đó NHTƯ luôn sẵn sàng chuẩn bị các giải pháp để điều tiết VKD, đảm bảo sự cân bằng giữa cung và cầu về VKD Chính vì vậy, dự báo VKD tạo cơ sở để NHTƯ thực hiện các giải pháp điều hành CSTT, thông thường là sử dụng nghiệp vụ Thị trường mở để duy trì ổn định về VKD, điều tiết thị trường tiền tệ theo các mục tiêu chính sách tiền tệ

Thông thường, khi cung VKD chưa đáp ứng cầu về VKD, lãi suất ngắn hạn trên thị trường có xu hướng tăng Ngược lại khi thị trường dư thừa VKD, lãi suất ngắn hạn trên thị trường sẽ có xu hướng giảm Với việc chủ động dự báo được xu hướng VKD trên thị trường, NHTƯ có thể quyết định lượng VKD cần thiết bơm/hút từ thị trường NHTƯ sử dụng các biện pháp, công cụ CSTT và nghiệp vụ thị trường mở là công cụ ưu việt nhất để tác động bơm/hút VKD, qua đó làm cho lãi suất thị trường xoay quanh mức lãi suất định hướng của NHTƯ

Vì vậy, có thể nói: dự báo VKD là khâu đầu tiên và là khâu quyết định hiệu quả của công tác quản lý VKD của NHTƯ

Phương pháp dự báo VKD

Để dự báo VKD có thể sử dụng các phương pháp tiếp cận khác nhau Có thể tiếp cận bằng cách tổng hợp VKD của các TCTD, có thể tiếp cận qua các nhân tố ảnh hưởng thể hiện trên bảng cân đối tiền tệ của NHTƯ

 Dự báo trên cơ sở phương pháp tiếp cận bảng cân đối tiền tệ của NHTƯ

 Cơ sở dự báo

Bảng 1.1 Bảng cân đối tiền tệ rút gọn của NHTƯ

+ Tài sản có ngoại tệ ròng + Tiền mặt trong lưu thông

+ Cho vay Chính phủ ròng + Tiền gửi dự trữ

+ Cho vay các TCTD

+ Các khoản khác ròng

Phương pháp tiếp cận BCĐ tiền tệ của NHTƯ cho phép NHTƯ sử dụng số

Trang 28

liệu của các khoản mục trên BCĐ để dự báo trạng thái VKD Sự thay đổi của mỗi nhân tố trên BCĐ sẽ ảnh hưởng tới trạng thái VKD của toàn hệ thống NH

Bảng 1.1 cho thấy:

Tiền dự trữ của các TCTD = Tổng Tài sản Có - tiền mặt trong lưu thông Tiền dự trữ của TCTD gửi tại NHTƯ là phần cung VKD, là số tiền các TCTD có thể sử dụng để trang trải nghĩa vụ tài chính Nó bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: Tài sản có ngoại tệ ròng, cho vay Chính phủ ròng, tiền trong lưu thông, cho vay các ngân hàng và các khoản mục khác ròng Trong đó, các hình thức tái cấp vốn hay thông qua nghiệp vụ thị trường mở đều là các kênh chịu sự quản lý của các nhà điều hành tiền tệ, được tập trung trong nhóm “cho vay TCTD” là yếu tố cung VKD mang tính chính sách Các yếu tố còn lại biến động không phụ thuộc vào ý trí của NHTƯ, gọi là cung VKD tự định

Cung VKD có thể thiết lập từ bảng cân đối NHTƯ như sau:

Cung VKD = (Tài sản có ngoại tệ ròng + cho vay Chính phủ ròng + các

khoản mục khác ròng – tiền mặt trong lưu thông) + cho vay các TCTD từ NHTƯ

Hoặc Cung VKD = Cung VKD tự định + cung VKD theo chính sách

Cầu về VKD gồm cầu về dự trữ đáp ứng yêu cầu DTBB theo quy định của NHTƯ và dự trữ vượt đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả

Cầu về VKD = DTBB + dự trữ để thanh toán [37]

Phương pháp này dự báo về sự thay đổi của VKD bắt nguồn từ thay đổi của các yếu tố trên BCĐ của NHTƯ Về nguyên tắc, hầu hết các yếu tố tiền tệ đều có tính thời vụ, nên có thể dự báo các yếu tố căn cứ vào phân tích dãy số liệu lịch sử thông qua việc thiết lập mô hình dự báo Đồng thời, cũng có thể dự báo trên cơ sở các hợp đồng (cho vay, thu nợ, mua bán ngoại tệ…) kế hoạch giải ngân (thời điểm, khối lượng…)

 VKD (dự trữ của TCTD tại NHTƯ) =  tài sản có ngoại tệ ròng +  cho vay Chính phủ ròng +  cho vay các TCTD + các khoản khác ròng -  tiền mặt trong lưu thông

Trang 29

Từ công thức trên chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố có dấu (+) là mối quan

hệ thuận chiều và có dấu (-)là quan hệ nghịch chiều

 Quy trình dự báo vốn khả dụng trong điều hành Chính sách tiền tệ

Bước 1: Xác định các yếu tố cần dự báo

Đây là phương pháp dự báo dựa vào các yếu tố trên BCĐ TT của NHTƯ, vì vậy, các yếu tố cần dự báo hoàn toàn là những khoản mục cấu phần của bảng cân đối Trong đó, Cung VKD được cấu thành từ: Cung tự định (Tài sản có ngoại tệ ròng; Cho vay Chính phủ ròng; Các khoản mục khác ròng; Tiền mặt trong lưu thông) và Cung chính sách (Cho vay các TCTD từ NHTƯ) Cầu VKD được hình thành từ hai bộ phận là Cầu cho dự trữ bắt buộc và cầu thanh toán

Bước 2: Lập dãy số liệu lịch sử về các yếu tố cung - cầu vốn khả dụng trong một khoảng thời gian cần thiết

Ở bước này, cán bộ theo dõi sự biến động của các nhân tố cần dự báo theo các mốc thời gian ngày, tuần, tháng, năm để đưa vào dãy số thời gian, Với việc thống kê các hiện tượng số lớn qua thời gian, cùng với các phương pháp phân tích thống kê để tìm ta quy luật vận động của mỗi nhân tố Qua dãy số thời gian để tìm

ra đặc điểm, sự biến động của từng nhân tố, từ đó vạch rõ xu hướng - tính quy luật của sự biến động, dự báo mức độ biến động của từng nhân tố trong tương lai

Bước 3: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến các tiêu thức dự báo trong

kỳ dự báo

Đây là bước quan trọng và phức tạp nhất trong quy trình dự báo, nó đòi hỏi cán bộ nghiệp vụ phải nắm vững kĩ thuật dự báo, có kinh nghiệm và khả năng phán đoán chính xác sự thay đổi của từng nhân tố ảnh hưởng tới yếu tố cần dự báo trong khoảng thời gian nhất định

 Dự báo các yếu tố về cung VKD

 Cung VKD tự định

Để đi vào dự báo tưng yếu tố cung tự định xuất phát từ bảng cân đối tiền tệ của NHTƯ, có thể giả định bỏ qua các khoản tiền đang trong quá trình thanh toán,

Trang 30

các khoản thanh toán phát sinh không thường xuyên như nộp lợi nhuận cho Chính phủ hay các dòng ngoại hối chảy vào liên quan tới khu vực tư nhân biến động trong một vài ngày

Thông thường, việc dự báo được tiến hành với các khoản mục chính trên bảng cân đối tiền tệ, NHTƯ dự báo tập trung vào các mục thể hiện sự biến động lớn nhất về giá trị chứ không tập trung dự báo mức độ thay đổi ở các khoản mục Nếu các ngân hàng trung ương dự báo mức độ thay đổi, rồi sau đó thay đổi trong quãng thời gian cho trước thì cũng có thể dự báo được nhưng nó sẽ theo quãng thời gian còn lại (Giả sử tiền mặt trong lưu thông hiện nay là 100 và được dự báo tăng 10% vào ngày mai, có nghĩa nó sẽ biến động thành 110 Nhưng nếu con số này thực tế hôm nay là 105, có nghĩa là sự gia tăng nhu cầu của ngày mai đã xảy ra sớm hơn, mức dự báo là không thay đổi nhưng thực chất là đã có sự thay đổi; Hoặc mức dự báo tăng cao hơn con số cho trước )

Việc dự báo theo giá trị hay mức độ thay đổi đều có lợi thế của nó và NHTƯ

có thể sử dụng ở các thời điểm khác nhau, tuy nhiên, về cơ bản, NHTƯ sử dụng dự

báo chủ yếu theo giá trị thay đổi của các khoản mục

o Cho vay Chính phủ ròng

Cho vay Chính phủ ròng = cho vay Chính phủ – tiền gửi Chính phủ

Để dự báo được xu hướng biến động của khoản mục cho vay Chính phủ ròng, bộ phận dự báo cần theo dõi được sự biến động về khoản mục Cho vay và tiền gửi của Chính phủ, cụ thể thông qua hoạt động thu chi và bảo lãnh của Chính phủ

Để dự báo chính xác hơn thì Bộ Tài chính cũng cần dự báo được luồng tiền các khoản thu chi ngân sách và cung cấp kịp thời cho NHTƯ các kết quả dự báo Như vậy, giữa các bộ phận thích hợp của NHTƯ và Bộ tài chính cần có sự trao đổi thông tin 2 chiều kịp thời

Hiệu quả dự báo của yếu tố này phụ thuộc vào:

- Mối quan hệ giữa NHTƯ và BTC trên cơ sở hợp tác hai bên cùng có lợi

Bộ Tài chính cung cấp cho NHTƯ các thông tin về hoạt động ngân sách và dự báo luồng ngân sách, tạo điều kiện cho NHTƯ dự báo được xu hướng VKD Ngược lại,

Trang 31

NHTƯ cung cấp cho Bộ tài chính kết quả dự báo VKD của toàn hệ thống, làm cơ sở cho Bộ Tài chính đưa ra quyết định về thời điểm phát hành các chứng khoán Chính phủ phù hợp với mức lãi suất hợp lí

- Việc mở TK của Chính phủ: Ngoài việc phối hợp cung cấp thông tin của

Bộ Tài chính, việc dự báo VKD phụ thuộc rất nhiều vào việc mở tài khoản của Chính phủ Đối với những nước mà Chính phủ chỉ gửi tiền tại các ngân hàng thương mại và không có quan hệ vay vốn từ NHTƯ thì yếu tố Cho vay Chính phủ ròng không ảnh hưởng đến dự báo VKD của NHTƯ

Với trường hợp Chính phủ gửi tiền duy nhất ở NHTƯ thì mỗi hoạt động ngân sách đều ảnh hưởng tới trạng thái VKD của hệ thống Trường hợp Chính phủ đồng thời gửi tiền ở NHTƯ và hệ thống TCTD thì sự chuyển dịch giữa các tài khoản tiền gửi của Chính phủ gây khó khăn đối với việc dự báo VKD

Khi thiếu hụt ngân sách, các biện pháp để bù đắp có thể sử dụng: vay từ dân, từ NHTƯ hay từ nước ngoài NHTƯ dự báo nhân tố này dựa trên các hoạt động thu và chi của Chính phủ theo công thức:

Cho vay Chính phủ ròng = Chi thường xuyên + chi trả nợ - các khoản thu

và tài trợ – các khoản vay mới từ hệ thống TCTD – các khoản phát hành các chứng khoán mới của Chính phủ - các khoản vay nước ngoài mới

Thông tin về khoản vay của ngân sách từ thị trường (gồm các khoản vay mới từ

hệ thống các ngân hàng thương mại, các khoản phát hành các chứng khoán mới của Chính phủ và các khoản vay nước ngoài mới) có thể thu thập được các thông tin sẵn có trên từ Bộ Tài chính do nó hoàn toàn thuộc quyền quyết định của Chính phủ

Tiền gửi tại NHTƯ được dự báo trên cơ sở các nguồn thu của Chính phủ trừ các khoản chi của Chính phủ phát sinh trong kỳ

Dự báo các khoản chi Ngân sách: Để dự báo các khoản chi ngân sách, có thể

theo dõi quy luật dựa trên số liệu lịch sử hay chia nhỏ theo các cách phân loại khác nhau như: chi thường xuyên, chi xây dựng cơ bản, sau đó chia tiếp theo các ngành kinh tế Trong chi thường xuyên chia thành chi trả lãi, lương, chi tài trợ và chuyển giao, chi khác; chi xây dựng cơ bản chia nhỏ thành chi mua sắm tài sản cố định, mua

Trang 32

các tài sản vô hình và đất, mua cổ phần, chuyển giao vốn

+ Chi thường xuyên:

Chi trả nợ gốc và lãi: Đây là yếu tố duy nhất có thể dự báo được với độ

chắc chắn NHTƯ có thể có được các số liệu tình hình về chi trả nợ gốc và lãi khi thực hiện vai trò đại lý tài chính cho Chính phủ Trường hợp NHTƯ không nắm được các số liệu này thì Bộ Tài chính (bộ phận quản lý nợ Chính phủ) cần cung cấp các thông tin này cho NHTƯ

Chi lương và tiền công: Có thể dự báo với độ chắc chắn cao trong trường

hợp có quy định cụ thể về thời điểm chi lương, tiền công Ngoài yếu tố thời điểm chi lương và tiền công, những thông tin về thời điểm và mức độ thực hiện các khoản điều chỉnh tăng lương, trợ cấp một lần cũng cần được Bộ tài chính cung cấp cho NHTƯ kịp thời

Chi tài trợ, chuyển giao: Các khoản chi của Chính phủ hỗ trợ người sản xuất,

khách hàng Thông thường các khoản tài trợ này nằm trong dự toán, nhưng cũng có trường hợp thực hiện khi có các biến động, các có sốc bên ngoài Chính vì vậy, cơ sở

để dự báo được các khoản mục này là NHTƯ cần theo dõi sát các diễn biến thị trường

và phối hợp chặt chẽ với Bộ tài chính để các thông tin kịp thời

Các khoản chi thường xuyên khác: Cũng tương tự như khoản mục chi thường

xuyên nêu trên, việc dự báo sẽ khó khăn hơn rất nhiều khi có các khoản chi bất thường Vì vậy, về nguyên tắc, việc dự báo khoản mục này trước hết là căn cứ vào các thông tin có được qua phân tích các số liệu lịch sử về cơ cấu thanh toán, những thông tin về các ngày thanh toán nguyên liệu… và đặc biệt là cần có các thông tin kịp thời từ Bộ Tài chính hoặc các cơ quan Chính phủ về các yếu tố đột biến

+ Chi xây dựng cơ bản: Chi xây dựng cơ bản gồm mua sắm tài sản cố định,

chi về đất và các tài sản vô hình, mua cổ phần và chuyển giao vốn Tất cả các giao dịch trên đều dựa trên các quyết định chính trị Vì vậy, để dự báo được, cần có các thông tin của Chính phủ [37]

Mô hình kinh tế lượng có thể hữu ích cho dự báo dòng chảy Ngân sách của chính phủ trên cơ sở hàng năm, nhưng có thể không cung cấp các dự báo dòng tiền

Trang 33

mặt ngắn hạn cần thiết cho quản lý VKD

Tuy nhiên, những dự báo ngắn hạn tiền mặt dòng chảy nên được so sánh với

dữ liệu hàng năm, theo đơn vị cùng kì năm trước

Nhìn chung, khoản mục chi thường dễ dự báo hơn khoản thu, vì nó dựa trên quyết định chính thức

Dự báo các khoản thu và tài trợ : Cũng theo dõi theo phương pháp dựa trên

số liệu lịch sử và điều chỉnh theo tính thời vụ, chia nhỏ dự toán năm theo các định

kì nhỏ, theo tuần, tháng, năm, đồng thời phân chia theo khoản thu, chia nhỏ thành thu từ thuế, thu các khoản phi thuế, thu từ vốn

Thu từ thuế: Trong quá trình dự báo, cần quan tâm đến tình hình kinh tế vĩ

mô chung như: Lạm phát, GDP, khả năng cạnh tranh quốc tế, tình hình công ăn việc làm, cán cân thanh toán…và các yếu tố mang tính thời điểm như thời gian thu thuế

để xác định rõ mốc thời gian cho sự biến động của yếu tố dự báo Thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập công ty, thuế trị giá gia tăng và một số loại thuế khác…đều có thời điểm thu thuế ấn định trước Ngoài ra, cần phải tính đến các yếu tố thời vụ qua phân tích số liệu lịch sử

Thu từ các khoản phi thuế: Thu từ các khoản ngoài thuế như phí hải quan,

thu từ lãi, cổ tức và đóng góp của các doanh nghiệp Nhà nước, các khoản phí, lệ phí, chuyển giao lợi nhuận của NHTƯ và các khoản thu khác Các khoản thu ngoài thuế cũng chị tác động rất nhiều bởi các điều kiện kinh tế vĩ mô, chẳng hạn như tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ, tình hình lợi nhuận của các doanh nghiệp Nhà nước, mùa du lịch, tiềm năng và chất lượng dịch vụ du lịch

Thu về vốn: ngược với chi đầu tư xây dựng cơ bản, thu về vốn gồm các

khoản bán tài sản cố định, tài sản vô hình, đất, cổ phần và thu các khoản chuyển giao về vốn Tương tự như chi đầu tư xây dựng cơ bản, tất cả các thu này thường dựa trên các quyết định chính trị Để đánh giá được tác động của các khoản thu này đến VKD, NHTƯ cần có các thông tin kịp thời từ Chính phủ Tương tự như vậy, NHTƯ cũng cần có các thông tin về các khoản tài trợ từ Chính phủ.Với các khoản thu, việc dự báo chính xác có thể khó khăn hơn Tuy nhiên, trong một số ngày quan

Trang 34

trọng và ở một số yếu tố chính có thể sử dụng yếu tố thời vụ để dự báo

Ngoài ra, cần quan tâm tới Bảo lãnh Chính phủ:

Bảo lãnh Chính phủ (cho khoản vay) là cần thiết, nhằm tạo điều kiện huy động vốn cho nền kinh tế (mà cụ thể là cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, TCTD - gọi là người được bảo lãnh), qua đó thúc đẩy phát triển Các nước nghèo hoặc đang phát triển rất cần hình thức vay này

Vay bằng bảo lãnh Chính phủ là hình thức vay thấp hơn vay ODA Khoản vay bảo lãnh Chính phủ về nguyên tắc là của người được bảo lãnh, được giao cho người được bảo lãnh sử dụng Nó chỉ được giám sát qua một cơ chế khá lỏng lẻo: người được bảo lãnh báo cáo (tình hình vay, sử dụng, tình hình tài chính) cho Người cấp bảo lãnh; Người cấp bảo lãnh kiểm tra khi thấy cần thiết, mà không thông qua các công cụ quản lý của Chính phủ (các chính sách đối với quá trình sử dụng hoặc kiểm tra trực tiếp các dự án của người được bảo lãnh)

Hay nói cách khác, cả khách quan lẫn chủ quan, tác động của Chính phủ (người cấp bảo lãnh) vào việc sử dụng khoản vay là khá thấp

Ảnh hưởng của Bảo lãnh Chính phủ tới công tác dự báo:

Một số chính phủ cảm thấy khó để dự báo các luồng tiền liên quan đến bảo lãnh cho chính quyền địa phương, doanh nghiệp nhà nước hoặc hỗ trợ các cơ quan nước ngoài Điều này đặt ra 3 vấn đề:

(1) Chính phủ nên hạn chế bảo lãnh hoàn toàn cho 1 khoản vay của cơ quan nước ngoài, chỉ bảo lãmh khi thật cần thiết Điều đó làm giảm số lượng các tổ chức phát hành, lập hệ thống theo dõi các khoản đi vay sẽ làm tổng chi phí đi vay giảm

và tăng tính thanh khoản của thị trường

(2) Chính quyền trung ương hoặc các bộ bảo lãnh phải theo đúng thủ tục sau: Bảo lãnh chỉ được cấp bởi cơ quan được ủy quyền hợp pháp; Cấp bảo lãnh sau khi thủ tục thỏa thuận của bên xin cấp bảo lãnh đã hoàn tất; Thông tin về bảo đảm phải báo cáo Bộ Tài chính để chính quyền trung ương có dữ liệu thống nhất và đầy đủ về số lượng và thời gian của mỗi khoản cấp bảo lãnh

Trang 35

(3) Bên được nhận bảo lãnh thường xuyên cung cấp thông tin về các báo cáo tài chính cho chính phủ, chính phủ sẽ có dự đoán về dừng cấp các khoản bảo lãnh

do tình hình kinh doanh suy thoái của bên nhận bảo lãnh và không bị bất ngờ khi có yêu cầu thế chấp

Một số nước, Chính phủ có thể thực hiện bảo lãnh hoặc không thực hiện Nếu Chính phủ không thực hiện thì Bộ Tài chính sẽ phải chủ động tìm thông tin, làm các thủ tục thích hợp và từ chối bất kỳ yêu cầu “bảo lãnh” nào mà không đúng thẩm quyền và thủ tục (điều này khuyến khích người đi vay phải thận trọng hơn và đảm bảo là đã cung cấp đầy đủ thông tin cho chính phủ)

Bảo lãnh có thể được cấp bởi ngoại tệ thay vì tiền nội tệ, điều này có thể dẫn đến các thay đổi Tài sản ngoại tệ ròng cũng như bảng cân đối của chính phủ, nhưng có thể sẽ không tác động đến thanh khoản của hệ thống các TCTD (Lượng giảm của tài sản ngoại

tệ ròng có thể cân bằng với việc giảm tiền gửi của chính phủ tại NHTW) [76]

o Tài sản có ngoại tệ ròng

Việc dự báo các khoản mua/ bán ngoại tệ giữa NHTƯ và các ngân hàng theo

phương pháp chủ yếu là dựa trên cơ sở kế hoạch mua/ bán ngoại tệ của NHTƯ và

các hợp đồng đã ký kết về việc mua/ bán ngoại tệ giữa NHTƯ và các ngân hàng

+ Về ngắn hạn, những thay đổi về tài sản có ngoại tệ ròng chính là kết quả

của việc NHTƯ can thiệp trên thị trường ngoại hối Sự biến động của khoản mục tài sản có ngoại tệ ròng thường có thể dự đoán với độ chắc chắn cao nếu thanh toán các giao dịch ngoại hối có độ trễ khoảng vài ngày (độ trễ của các giao dịch thường là 2 ngày).Với độ trễ như vậy, NHTƯ hoàn toàn có thể sử dụng các công cụ CSTT để điều chỉnh các tác động từ giao dịch ngoại hối đến VKD của các ngân hàng Tuy nhiên, nếu việc sử dụng công cụ CSTT không thường xuyên, các khoản thanh toán không có độ trễ thì việc dự báo những thay đổi của khoản mục tài sản có ngoại tệ ròng đến VKD là rất khó khăn

+ Về dài hạn: Những thay đổi về tài sản có ngoại tệ ròng bị ảnh hưởng bởi

thay đổi của các yếu tố cấu thành cán cân thanh toán quốc tế (cán cân thương mại, cán cân dịch vụ, cán cân thu nhập, chuyển giao vãng lai, cán cân vốn) Sự chênh

Trang 36

lệch cuối cùng về trạng thái cán cân thanh toán quốc tế sẽ được điều chỉnh thông qua Cán cân bù đắp chính thức và phản ánh thông qua sự can thiệp của NHTƯ trên thị trường ngoại hối

NHTƯ mua ngoại tệ sẽ tác động làm tăng (tác động +) VKD của các ngân hàng, ngược lại NHTƯ bán ngoại tệ sẽ tác động làm giảm (tác động -) VKD của các NH

Thông thường các giao dịch mua bán ngoại tệ sẽ được thực hiện 2 ngày sau khi thoả thuận, ký kết hợp đồng (kể cả đối với giao dịch giao ngay "spot", ngày giá trị cũng là sau 2 ngày kể từ ngày ký hợp đồng, T+2 Như vậy, khi có các hợp đồng đã ký kết thì hoàn toàn có thể dự báo giá trị giao dịch có tác động tăng/giảm VKD sau 2 ngày tiếp theo

Trường hợp không có thông tin về dự kiến các giao dịch mua/bán ngoại tệ giữa NHTƯ và các ngân hàng, hoặc chưa có hợp đồng ký kết thì có thể dự kiến doanh số giao dịch mua/bán bằng 0

o Tiền mặt trong lưu thông

Về ngắn hạn, cầu về tiền mặt chủ yếu chịu tác động bởi các yếu tố có tính

thời vụ như ngày chi trả lương, ngày nghỉ, ngày chi tiền điều chỉnh tăng lương, Việc

dự báo yếu tố tiền mặt cần dựa trên các số liệu lịch sử để phân tích tìm ra các yếu

tố có tính thời vụ

Yếu tố mùa vụ ảnh hưởng mạnh mẽ để tiền mặt lưu thông, ngay cả ở các

nước phát triển, nơi mà hầu hết các khoản tiết kiệm và các giao dịch không sử dụng tiền mặt Về cơ bản, với yếu tố này, NHTƯ luôn cung cấp đủ theo nhu cầu của nền kinh tế và hút tiền mặt dư thừa thông qua hệ thống NH Ở các quốc gia này, Chính phủ có các biện pháp để làm giảm nhu cầu sử dụng tiền mặt như trả lương công chức, lương hưu thông qua tài khoản tại NH Sau đó, khi người dân rút tiền mặt là rút ở ATM (có rất ít giao dịch cần tiền mặt như vậy) và liên quan đến việc quản lý cầu tiền mặt ở NHTM Do đó, không có sự liên kết trực tiếp trong kết quả dự báo giữa việc giải ngân của Chính phủ và tiền mặt lưu thông Thay vào đó, việc chi của Chính phủ với một đối tác nào đó qua tài khoản của hệ thống NHTM tại NHTƯ sẽ ảnh hưởng tới việc dự báo nhu cầu tiền mặt

Trang 37

Ở các nước đang phát triển thì mức độ ảnh hưởng giữa ngày trả lương của Chính phủ với tiền mặt trong lưu thông là rất cao do tình trạng tài chính hạn chế nên

có sự biến động lớn về nhu cầu tiền mặt trong ngày trả lương của Chính phủ Lúc này, NHTƯ cần theo dõi về sự phát triển của thanh toán không dùng tiền mặt, khả năng tài chính hay tỉ lệ dân số Ngược lại, yếu tố mùa vụ lại không ảnh hưởng tới nhu cầu sử dụng tiền mặt

Ở các nước có hệ thống tài chính kém phát triển, chính phủ có thể chi trả tiền lương, lương hưu, v.v chủ yếu bằng tiền mặt Các cách khác nhau cho dòng chảy các luồng tiền: Chính phủ có nhận tiền mặt từ NHTƯ và cung cấp cho các Bộ? Hoặc là tiền mặt được chuyển đến NHTM cả nước? Nói chung, mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ ròng và tiền mặt lưu thông là vô cùng chặt chẽ và không có tác động trực tiếp vào số dư của NHTM tại NHTƯ Nó ảnh hưởng tới mức chính phủ

sử dụng tiền mặt từ NHTƯ chứ không thông qua tài khoản ngân hàng để thực hiện thanh toán Nếu chính phủ sử dụng các khoản tín dụng trực tiếp từ tài khoản ngân hàng thì mối quan hệ giữa hai yếu tố đó sẽ thay đổi nhưng phải mất khoảng thời gian là vài tháng hoặc thậm chí trong nhiều năm Nó đòi hỏi hệ thống TCTD phải đẩy mạnh việc mở rộng số lượng khách hàng, tác động nhằm thay đổi hành vi cá nhân Tại một số quốc gia, lần đầu tiên tiền lương được trả vào tài khoản chứ không phải bằng tiền mặt thì tất cả tiền mặt bị rút ra ngay lập tức trong vòng một ngày Tới tháng tiếp theo, việc rút hết xảy ra trong một đến hai tuần Dần dần, cá nhân có thể bắt đầu sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt, dịch vụ, hoặc tài khoản tiết kiệm tại ngân hàng Việc thay đổi có thể kéo dài một thời gian khá dài, sẽ làm cho dự báo khó khăn hơn [82]

Ở một số nước, dự báo nhu cầu tiền mặt bị ảnh hưởng bởi mức độ Đôla hóa Đôla hóa là việc dùng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán trong nước Ở một số nước, trong lưu thông có thể có nhiều hơn một loại tiền tệ Ví dụ như đồng Mác Đức và bây giờ là đồng Euro được sử dụng rộng rãi ở các nước Trung Âu mà không tham gia đồng tiền chung Châu Âu, hay ở Miền Nam châu Phi có thể được sử dụng tiền của các nước láng giềng Afghanistan sử dụng đồng đô la Mỹ như Đồng Rupi

Trang 38

Pakistan và các đồng tiền khác

Trường hợp tiền tệ trong nước không được sử dụng cho nhu cầu thanh toán trong nước thì nhu cầu về giao dịch tiền mặt sẽ không trùng với nhu cầu giao dịch nội tệ tiền mặt.Việc dự báo nhu cầu tiền mặt có thể thực hiện được khi mối quan hệ giữa sử dụng tiền tệ trong nước - tiền nước ngoài ổn định và trở nên khó khăn khi mối quan hệ thay đổi, khi niềm tin vào đồng nội tệ tăng, dự kiến tăng giá so với đồng Đôla (hoặc các loại tiền tệ thay thế) trong tương lai gần hoặc thay đổi nếu có

là sự gia tăng về mức độ Đôla hóa Vì vậy, quá trình dự báo chính xác tổng cầu cho giao dịch tiền mặt sẽ không có kết quả phù hợp với thành phần của tiền tệ trong nước Điều này gây khó khăn cho NHTƯ, buộc NHTƯ phải thực hiện điều tra định

kỳ để ước tính lượng ngoại tệ được sử dụng trong nước - ví dụ, yêu cầu một nhóm người trông cửa hàng mỗi tháng hoặc quý xác định khoảng bao nhiêu phần trăm các giao dịch bằng đồng ngoại tệ đó

Về dài hạn, yếu tố ảnh hưởng tới cầu tiền mặt là: (1) Xu hướng và tăng

trưởng theo chu kỳ của nhu cầu tiền mặt; (2) Tốc độ tăng trưởng GDP danh nghĩa: một giả định trung lập, trong trường hợp không có bất kỳ thông tin nào khác rằng cầu về tiền mặt ổn định khi tính GDP danh nghĩa; (3) Xu hướng thay đổi trong mối quan hệ giữa Chính phủ và nhu cầu tiền mặt thông qua việc tăng cường sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt Việc phổ biến rộng rãi máy ATM có thể giảm nhu cầu nắm giữ tiền mặt, làm người sử dụng dễ dàng bổ sung tiền mặt khi cần thiết; (4) Mùa lễ hội quan trọng hàng năm: ở một số nước, dịp đó có thể là Giáng sinh (25/12), Lễ Phục sinh trong tháng ba hoặc tháng 4, Lễ Ramadan người

ta thường chi tiêu nhiều hơn tiền hơn Ở một số nước khác, yếu tố mùa vụ tác động mạnh tới cầu tiền mặt lại liên quan tới kì nghỉ: đi du lịch, kì nghỉ giai đoạn hoặc thời gian có nhiều kiều hối gửi về; (5) Sử dụng nội tệ ở nước ngoài cũng là một yếu

tố làm phức tạp cho quá trình dự báo

Với những mùa vụ theo tháng: Như tiền lương của chính phủ, lương hưu

được trả bằng tiền mặt thì việc dự báo có thể sử dụng mô hình hàng tháng cho nhu cầu tiền mặt Ví dụ, tại một số quốc gia, tiền mặt trong lưu thông tăng lên vào cuối

Trang 39

mỗi tháng tiền lương và/hoặc lương hưu được trả và sau đó giảm dần cho đến cùng một điểm trong tháng tiếp theo

Với mùa vụ theo tuần: Nhiều quốc gia đã tìm thấy một mùa vụ rõ ràng hàng

tuần Nhiều tiền mặt hơn được rút ra trước ngày nghỉ cuối tuần và trở về NHTƯ —thông qua việc thanh toán tại cửa hàng và NHTM vào ngày đầu tiên của tuần làm việc tiếp theo Điều này đôi khi được gọi Ngày giao dịch hiệu quả Tại một số quốc gia, mô hình là rất rõ ràng và bị ảnh hưởng bởi ngày nghỉ lễ Nếu lương được trả theo tuần - điển hình là thứ Năm hay thứ Sáu sẽ có một mô hình nắm giữ tiền mặt theo tuần Nhưng tiêu chuẩn công cụ phân tích thống kê có thể không có khả năng thích ứng với mô hình hàng tuần, mà chạy trên tháng và kết thúc theo năm nên NHTƯ cần phải dự báo chúng

Dự báo thay đổi và điều chỉnh nhu cầu tiền mặt

Cũng như cách tiếp cận phân tích nhu cầu tiền mặt, NHTƯ có thể liên hệ với những tổ chức có nhu cầu tiền mặt lớn (thường là NHTM, hoặc các công ty trung gian xử lí tiền mặt) theo yêu cầu tiền mặt dự kiến của họ vài ngày tiếp theo Dự báo phân tích có thể chỉ ra rằng sẽ không có nhu cầu tiền mặt ròng trong 2-3 ngày tới, nhưng nếu tất cả các ngân hàng lớn nói rằng họ đang gửi xe tải để nhận nhiều tiền hơn, nhóm nghiên cứu dự báo nhu cầu phải nhận thức được điều này

Một dự báo chung phải kết hợp dự báo thống kê với các thông tin đáng lưu ý

ở mức dự kiến trung bình để tạo ra một dự báo chính xác với một trong các yếu tố đầu vào riêng biệt

Dự báo mệnh giá nhu cầu tiền mặt

Nhu cầu dự báo tiền mặt rõ ràng không chỉ có các nhà dự báo VKD quan tâm

mà còn cả những người chịu trách nhiệm trong việc phát hành tiền của NHTƯ Họ cần đảm bảo các mệnh giá được in và có sẵn để đáp ứng nhu cầu Dự báo tổng nhu cầu và cụ thể các mệnh giá riêng lẻ dự báo cho từng mệnh giá, NHTƯ luôn phải duy trì tiền mặt dư thừa trong kho, cho dù NHTƯ phải mất chi phí bảo quản, an ninh hay rủi ro do phải thay thế một sêri tiền bị rút khỏi lưu thông, nhưng điều này tránh cho NHTƯ bị động khi có nhu cầu rút tiền mặt ồ ạt

Trang 40

o Các khoản khác ròng

Về ngắn hạn thì các khoản khác ròng có biến động không đáng kể Hơn nữa, trong các khoản khác ròng, có một số khoản không có tác động đến VKD của các TCTD như các khoản định giá lại giá trị tài sản… Một số khoản có thể biết trước như khoản mục về lãi của NHTƯ, khi chuyển lãi của NHTƯ vào tài khoản của Kho bạc, thậm chí diễn biến này không có tác động đến VKD trong trường hợp Kho bạc chỉ mở tài khoản tại NHTƯ (khoản mục này chỉ có tác động đến VKD trong trường hợp Kho bạc cũng mở tài khoản tại các NHTM hoặc khi Kho bạc rút tiền từ NHTƯ

Cho vay với các TCTD có nhiều hình thức, tùy mục đích vay vốn và tài sản bảo đảm của các TCTD mà được chia thành: cho vay tái cấp vốn, cho vay khi thiếu hụt khả năng thanh toán hay cho vay theo thời vụ và cho vay điều chỉnh Số liệu này sẽ được cung cấp cho bộ phận dự báo sau khi hợp đồng tín dụng được phê duyệt

Các hoạt động thị trường của NHTƯ bao gồm: hợp đồng mua lại và mua lại đảo ngược, giao dịch mua bán hẳn, phát hành tín phiếu NHTƯ, các hoạt động trên thị trường liên ngân hàng Căn cứ vào kế hoạch cung ứng khả năng thanh toán và tình hình thị trường mà

 Dự báo các yếu tố về cầu VKD

Về nguyên tắc, VKD hay tiền gửi của các TCTD tại NHTƯ được duy trì là nhằm mục tiêu thực hiện yêu cầu về DTBB theo quy định của NHTƯ và đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán, chi trả Theo đó, các yếu tố tác động đến cầu về VKD chính là cơ chế về DTBB, tình hình hệ thống thanh toán và những diễn biến không chắc chắn về các nghĩa vụ thanh toán Như vậy, trong số các yếu tố tác động đến cầu

Ngày đăng: 20/11/2013, 13:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG CÂN ĐỐI TIỀN TỆ CỦA FED TỪ 2008 ĐẾN 2012 - Quản lý VKD trong điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước việt nam
2008 ĐẾN 2012 (Trang 69)
Bảng khác của các NHTM. Nó hướng đến khả năng của một NH giải quyết nhu cầu  thanh  khoản  trong  ngắn  hạn  với  những  nghĩa  vụ  trả  nợ  từ  tài  sản  ngắn  hạn  đến  những tài sản trung hạn hiện có - Quản lý VKD trong điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước việt nam
Bảng kh ác của các NHTM. Nó hướng đến khả năng của một NH giải quyết nhu cầu thanh khoản trong ngắn hạn với những nghĩa vụ trả nợ từ tài sản ngắn hạn đến những tài sản trung hạn hiện có (Trang 82)
Bảng 2.1: MỤC TIÊU CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2012  Năm - Quản lý VKD trong điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước việt nam
Bảng 2.1 MỤC TIÊU CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2012 Năm (Trang 89)
Bảng  2.2  chỉ  ra  mức  tăng  tổng phương  tiện  thanh toán  M2  của Việt  Nam - Quản lý VKD trong điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước việt nam
ng 2.2 chỉ ra mức tăng tổng phương tiện thanh toán M2 của Việt Nam (Trang 90)
Bảng 2.4:  SỐ LƯỢNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ - Quản lý VKD trong điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước việt nam
Bảng 2.4 SỐ LƯỢNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ (Trang 99)
Bảng 2.5:  TỐC ĐỘ THAY ĐỔI CỦA GIÁ TRỊ TÀI SẢN CÓ NGOẠI TỆ RÒNG                        GIAI ĐOẠN NĂM 2000 -2012          Đơn vị tính: % - Quản lý VKD trong điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước việt nam
Bảng 2.5 TỐC ĐỘ THAY ĐỔI CỦA GIÁ TRỊ TÀI SẢN CÓ NGOẠI TỆ RÒNG GIAI ĐOẠN NĂM 2000 -2012 Đơn vị tính: % (Trang 110)
Bảng 2.6: TẦN SUẤT, KHỐI LƯỢNG TRÚNG THẦU VÀ PHƯƠNG THỨC - Quản lý VKD trong điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước việt nam
Bảng 2.6 TẦN SUẤT, KHỐI LƯỢNG TRÚNG THẦU VÀ PHƯƠNG THỨC (Trang 123)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w