khóa luận, luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, đề tài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THẾ BÍNH
NGUỒN VỐN CHO PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 62.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS Đoàn Thành Hà Người hướng dẫn khoa học 2: TS Ngô Gia Lưu
TP.HỒ CHÍ MINH NĂM 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận án có lời cam đoan danh dự về công trình nghiên cứu khoa học này là của mình, như sau:
Tôi tên là: Nguyễn Thế Bính
Sinh ngày 30 tháng 1 năm 1969
Quê quán: Nghệ An
Hiện công tác tại: Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh,
Là nghiên cứu sinh khóa 15, Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM
Đề tài: Nguồn vốn cho phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Cần Thơ
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.,TS Đoàn Thanh Hà
Người hướng dẫn khoa học 2: TS Ngô Gia Lưu
Luận án được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng TP HCM
Đề tài này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, các dữ liệu trong nghiên cứu trung thực và được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch và chưa được công bố toàn bộ nội dung này bất kỳ ở đâu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi
TP Hồ Chí Minh, ngày 1 tháng 8 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thế Bính
Trang 4SXKD Sản xuất kinh doanh
TCTD Tổ chức tín dụng TCTC Tổ chức tài chính
Trang 5TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TM-DV Thương mại – dịch vụ
TTCK Thị trường chứng khoán
Việt Nam
Vietnam Chamber of Commerce and Industry
Việt Nam
Vietnam Association of Small and Medium Enterprises
Administration
Property Organization
Trang 6WB Ngân hàng thế giới World Bank
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.6 Một số chỉ tiêu về doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Cần Thơ 55
Bảng 2.10 Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo ngành kinh tế 58
Bảng 2.15 Cơ cấu nguồn vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa 69
Bảng 2.16 Tình trạng nguồn vốn 70 Bảng 2.17 Tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng 72
Bảng 2.18 Cơ cấu dư nợ của các tổ chức tín dụng 73
Bảng 2.19 Dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 73
Trang 8Bảng 2.20 Hoạt động của các ngân hàng thương mại Nhà nước 74
Bảng 2.21 Hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần 75
Bảng 2.23 Vốn huy động qua ngân hàng thương mại 83
Bảng 2.28 Lãi suất bình quân của khoản vay phải trả 92
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
SỐ BIỂU
ĐỒ
TÊN BIỀU ĐỒ TRANG
Biểu đồ 2.1 Mức độ đáp ứng nhu cầu vốn 71
Biểu đồ 2.3 Tỷ trọng các nguồn huy động vốn 83 Biểu đồ 2.4 Tình hình tiếp cận các khoản vay ưu đãi 86
Trang 9MỤC LỤC
Trang:
BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv
MỞ ĐẦU viii
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1
1.1 LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1
1.1.1 Các tiêu chí phân định doanh nghiệp nhỏ và vừa 1
1.1.2 Những đặc điểm của loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa 9
1.1.3 Vai trò của hệ thống doanh nghiệp nhỏ và vừa 14
1.2 NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 16
1.2.1 Vốn chủ sở hữu 16
1.2.2 Các khoản nợ 21
1.2.3 Những nhân tố tác động đến nguồn vốn của các DNNVV 32
1.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ NGUỒN VỐN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN THẾ GIỚI 36
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế về nguồn vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 36
1.3.2 Bài học cho Việt Nam 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 44
Trang 10CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN VỐN VÀ TIẾP CẬN
NGUỒN VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 46
2.1 TỔNG QUAN VỀ TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ CẦN THƠ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 46
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội 46
2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 51
2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 54
2.2.1 Số lượng, quy mô 54
2.2.2 Cơ cấu, thành phần 55
2.2.3 Năng lực hoạt động 59
2.2.4 Những đóng góp cho kinh tế, xã hội thành phố Cần Thơ 64
2.2.5 Những tồn tại, hạn chế cơ bản 65
2.3 THỰC TRẠNG NGUỒN VỐN VÀ TIẾP CẬN VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN TP CẦN THƠ 67
2.3.1 Thực trạng nguồn vốn 67
2.3.2 Thực trạng tiếp cận nguồn vốn 72 2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NGUỒN VỐN VÀ TIẾP CẬN VỐN
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
Trang 11PHỐ CẦN THƠ 87
2.4.1 Những thuận lợi 87
2.4.2 Những khó khăn, trở ngại 88
2.4.3 Nguyên nhân 90
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 99
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TIẾP CẬN NGUỒN VỐN CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 100
3.1 QUAN ĐỂM, MỤC TIÊU VÀ LỘ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 100
3.1.1 Quan điểm phát triển 100
3.1.2 Mục tiêu và lộ trình phát triển 101
3.2 GIẢI PHÁP TIẾP CẬN NGUỒN VỐN CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 105
3.2.1 Giải pháp đối với doanh nghiệp 106
3.2.2 Giải pháp đối với nguồn cung ứng vốn 115
3.2.3 Giải pháp đối với các Tổ chức hiệp hội 130
3.3 KIẾN NGHỊ 131
3.3.1 Đối với Nhà nước 131
3.3.2 Đối với chính quyền thành phố Cần Thơ 136
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 141
Trang 12KẾT LUẬN 142 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 13MỞ ĐẦU
1 LÝ DO NGHIÊN CỨU:
Thành phố Cần Thơ là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), có tiềm năng rất lớn về công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản và thương mại dịch vụ Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của thành phố Cần Thơ, hệ thống doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) luôn có vị trí rất quan trọng Trong những năm qua, các DNNVV
đã có những bước tiến đáng kể, đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội của Thành phố (đóng góp khoảng 45% GDP, 29% tổng kim ngạch xuất khẩu, khoảng 25% tổng thu ngân sách, góp phần giải quyết hơn 60% lao động phi nông nghiệp) Có thể nói, hệ thống DNNVV đã và đang trở thành
bộ phận quan trọng trong kinh tế của thành phố Cần Thơ, là nơi tạo động lực phát triển kinh tế (tốc độ tăng trưởng của loại hình doanh nghiệp này luôn hơn tốc độ tăng trưởng của GDP và của các loại hình doanh nghiệp khác), góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Mặc dù có nhiều thuận lợi từ những chính sách phát triển của nhà nước cũng như của thành phố Cần Thơ, tuy nhiên, hệ thống doanh nghiệp này vẫn còn nhiều khó khăn trong quá trình phát triển như: quy mô nhỏ, thiếu vốn và khó tiếp cận nguồn vốn, trình độ công nghệ còn lạc hậu, khả năng quản trị doanh nghiệp yếu, thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao, thiếu mặt bằng để phát triển sản xuất kinh doanh, đại bộ phận chưa quan tâm đến xây dựng thương hiệu, khó liên kết để tạo thế mạnh chung Trong những
hạn chế đó thì thiếu vốn cũng như trở ngại trong tiếp cận nguồn vốn là vấn
đề nghiêm trọng nhất cản trở đến tiến trình phát triển Trong khi đó, mặc
Trang 14dù có nhiều nguồn cung ứng nguồn vốn, nhưng xuất phát từ nhiều nguyên nhân, các DNNVV trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong thời gian qua vẫn khó tiếp cận Để phát triển các DNNVV trên địa bàn thành phố Cần Thơ thì vấn đề đặt ra cần được giải quyết trong bối cảnh hiện tại là: Đánh giá được quy mô, cơ cấu và nhu cầu nguồn vốn đối với từng nhóm ngành nghề trong
hệ thống các DNNVV trên địa bàn thành phố Cần Thơ? Những hạn chế, trở ngại dẫn đến tình trạng thiếu vốn và khó tiếp cận nguồn vốn cũng như những nguyên nhân của nó? Làm thế nào để mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn cho các DNNVV trên địa bàn thành phố Cần Thơ? Đây cũng
chính là lý do tác giả chọn đề tài: “Nguồn vốn cho phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Cần Thơ” để nghiên cứu trong
luận án của mình nhằm tháo gỡ một trong những những tồn tại, khó khăn chính của hệ thống doanh nghiệp này trên địa bàn thành phố Cần Thơ với mục đích phát huy đến mức cao nhất hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh cũng như tiềm năng của loại hình kinh tế này phục vụ cho sự nghiệp chung
là đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa trong xu thế hội nhập
2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN:
Cho đến thời điểm nghiên cứu này thực hiện, đã có nhiều công trình nghiên cứu có đề cập đến nguồn vốn của loại hình DNNVV ở nhiều cấp độ nghiên cứu khác nhau Cụ thể:
− Trong nghiên cứu “Mở rộng và nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa” của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế
Trung ương (2009) các tác giả đã chỉ ra rằng thiếu vốn và khó tiếp cận nguồn vốn là một trong những cản trở lớn nhất trong quá trình phát triển của loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay Theo nghiên cứu này, tình trạng thiếu vốn và khó tiếp cận nguồn vốn của các DNNVV xuất
Trang 15phát từ cả hai phía, bản thân doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng thương mại Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung phân tích những rào cản đối với các DNNVV trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng mà không đề cập đến các nguồn vốn cũng như những kênh cung ứng vốn khác mà trong thực
tế, DNNVV có thể tiếp cận để giải quyết những khó khăn về nguồn vốn của mình [77]
− Nghiên cứu của TS Trương Quang Thông (2010) trong đề tài “Tài trợ tín dụng ngân hàng cho các DNNVV – Một nghiên cứu thực nghiệm tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh”, đã khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt
động của các DNNVV trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, qua đó gợi ý chính sách hỗ trợ phát triển hệ thống doanh nghiệp này trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thông qua chính sách tài trợ tiếp cận vốn tín dụng từ hệ thống ngân hàng thương mại [38]
− Hỗ trợ về vốn và tiếp cận nguồn vốn là một trong những nhóm giải pháp quan trọng được đề xuất nhằm phát triển DNNVV của Việt Nam đến
năm 2020 trong nghiên cứu “Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam” của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (2010) Theo nghiên
cứu này, để các DNNVV Việt Nam phát triển cần đầu tư đổi mới trang thiết
bị - công nghệ, mở rộng liên kết và xúc tiến thị trường, nhưng thiếu vốn và không được hỗ trợ tiếp cận vốn đã ngăn cản tiến trình nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNNVV của Việt Nam Tuy vậy, nghiên cứu chỉ tập trung phân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển, chưa làm rõ nguyên nhân cũng như nhưng chính sách hỗ trợ cụ thể để giúp
hệ thống doanh nghiệp này giải quyết bài toán về vốn [76]
− Luận án tiến sỹ của Nguyễn Minh Tuấn (2011) về đề tài “Phát triển dịch vụ ngân hàng hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam”
Trang 16tác giả đã đánh giá và đưa ra những giải pháp hoàn thiện và đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng thương mại tạo điều kiện giúp phát triển các DNNVV [40]
− Một số nghiên cứu trong các luận văn thạc sỹ chuyên ngành kinh tế, tài chính – ngân hàng đề cập đến chính sách nhằm mở rộng khả năng cung tín dụng cho các DNNVV như:
+ Luận văn thạc sỹ kinh tế “Hoàn thiện hoạt động tín dụng hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Thị Việt Hà (2008), đã phân tích tình trạng
thiếu vốn cho đầu tư sản xuất kinh doanh của hệ thống DNNVV trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nhưng doanh nghiệp không tiếp cận được nguồn vốn tín dụng do những bất cập trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại, qua đó, qua đó đề xuất các giải pháp và chính sách nhằm hoàn thiện hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại, giúp DNNVV thuận lợi trong tiếp cận vốn tín dụng [14]
+ Nghiên cứu “Cho vay theo hạn mức tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn – Thực trạng và giải pháp” trong luân văn thạc sỹ của Đoàn Vũ Thiên (2007)
chỉ tập trung nghiên cứu tìm ra hạn mức tín dụng phù hợp trong hệ thống NHNN&PTNT với đối tượng khách hàng là các DNNVV [35]
+ Luận văn thạc sỹ của Hoàng Đức Kiên Thế (2007) với đề tài “Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ - trên phương diện mở rộng cung tín dụng” đề cập đến chính sách hỗ trợ phát triển các DNNVV từ chính sách mở
rộng cung tín dụng [34]
+ Đề tài “Giải pháp nâng cao khả năng huy động nguồn vốn cho các DNNVV Việt Nam” trong luận văn thạc sỹ của Phan Thị Thanh Giang
Trang 17(2007), đề cập chung đến thực trạng nguồn vốn huy động của các DNNVV Việt Nam giai đoạn 2000 – 2006, thời điểm bối cảnh quốc tế và trong nước chưa có những yếu tố tác động lớn đến các DNNVV như trong giai đoạn hiện nay [11]
− Một số luận văn nghiên cứu về hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng thương mại giúp phát triển DNNVV ở Việt Nam và một số địa phương như:
+ Đề tài nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ của Hồ Xuân Vũ
(2006)“Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với DNNVV tại ngân hàng Thái Bình Dương” [41].; nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Cúc (2007) trong luận văn thạc sỹ “Kiểm soạt rủi ro tín dụng cho vay các doanh nghiệp nhỏ
và vừa tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”
[7]; luận văn thạc sỹ “Phát triển dịch vụ ngân hàng phục vụ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Thị Tuyết Nhung
(2007) [28].; nghiên cứu “Quản lý rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam” của tác
giả Lê Nguyễn Phương Ngọc (2007) [26], đề cập đến các nghiệp vụ ngân hàng cũng như cần đa dạng hóa các dịch vụ nhằm giúp hệ thống DNNVV thuận lợi hơn trong quá trình tiếp cận với các nguồn tài trợ từ hệ thống ngân hàng
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã góp phần nhận diện những khó khăn về nguồn vốn trong quá trình phát triển các DNNVV tại Việt Nam cũng như tại một số địa phương, đề xuất những giải pháp, kiến nghị về mặt
kỹ thuật (dịch vụ cung ứng vốn từ các ngân hàng thương mại) cũng như chính sách (các giải pháp hỗ trợ) giúp hệ thống DNNVV thuận lợi hơn trong tiếp cận nguồn vốn
Trang 18Đối với hệ thống doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng trên địa bàn thành phố Cần Thơ, một số nghiên cứu có liên quan được công bố trong những năm gần đây có thể kể đến như:
− Nghiên cứu của ThS Trần Thanh Mẫn và cộng sự (2008) trong đề tài
nghiên cứu cấp thành phố “Lộ trình phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thành phố Cần Thơ sau khi Việt Nam gia nhập WTO và thực hiện AFTA” đã dự báo về nhu cầu vốn và định hướng phát triển doanh
nghiệp trong các ngành nghề, trong đó, đa phần là nhóm DNNVV[21]
− Nghiên cứu của PGS.TS Đoàn Thanh Hà và công sự (2013) trong đề
tài cấp thành phố “Nghiên cứu lộ trình và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNNVV thành phố Cần Thơ sau khi Việt Nam gia nhập WTO và sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới” thì một trong yếu tố có
ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của các DNNVV trên địa bàn thành phố Cần Thơ là quy mô vốn nhỏ, thiếu vốn và gặp nhiều trở ngại trong tiếp cận nguồn vốn cũng như các kênh cung ứng vốn Để hệ thống doanh nghiệp này nâng cao năng lực cạnh tranh thì mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn
là một trong những giải pháp quan trọng mà nhóm nghiên cứu đề cập đến [12]
Mặc dù vậy, cho đến thời điểm nghiên cứu này thực hiện thì vẫn chưa
có nghiên cứu tổng quát và đầy đủ về nguồn vốn bao gồm, quy mô và cơ cấu nguồn vốn, các kênh cung ứng vốn, nhu cầu vốn, giải pháp tiếp cận các nguồn cung ứng vốn cho từng nhóm ngành nghề của hệ thống DNNVV trên địa bàn thành phố Cần Thơ Có thể nói, giải quyết vấn đề về nguồn vốn cho DNNVV là một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay nhằm giúp doanh nghiệp tiếp tục trụ vững và phát triển đáp ứng các mục tiêu trong kế hoạch phát triển DNNVV của thành phố Cần Thơ đến năm 2020 tầm nhìn 2030
Trang 193 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu nguồn vốn cho phát triển của các DNNVV trên địa bàn thành phố Cần Thơ với các mục tiêu cụ thể sau:
− Thứ nhất, tổng hợp, hệ thống hóa và làm rõ các lý luận về loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa, nguồn vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa và sự cần thiết phải phát triển loại hình doanh nghiệp này trong phát triển kinh tế;
− Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng về nguồn vốn và tiếp cận nguồn vốn của các DNNVV trên địa bàn thành phố Cần Thơ;
− Thứ ba, đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm giải quyết những khó khăn
về tiếp cận nguồn vốn của các DNNVV trên địa bàn thành phố Cần Thơ
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng về nguồn vốn tài chính của các DNNVV trên địa bàn thành phố Cần Thơ gồm: quy mô, nhu cầu, cơ cấu nguồn vốn và tình hình tiếp cận các nguồn cung ứng vốn
Trang 20− Nghiên cứu về nguồn vốn và tiếp cận nguồn vốn của các DNNVV trên địa bàn thành phố Cần Thơ, không nghiên cứu các vấn đề khác
− Các số liệu, dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu từ năm 2008 đến năm
2012 Định hướng chiến lược phát triển DNNVV thành phố Cần Thơ và đề
ra các nhóm giải pháp đến năm 2020, tầm nhìn 2030
Những dữ liệu của các yếu tố khác liên quan đến phát triển DNNVV
và dữ liệu của hệ thống doanh nghiệp này ngoài phạm vi thành phố Cần Thơ chỉ sử dụng so sánh, tham khảo, phục vụ cho những mục tiêu đặt ra
5 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Phương pháp luận chung trong quá trình thực hiện luận án là sử dụng phép biện chứng duy vật Về phương pháp, để đạt được những mục tiêu nghiên cứu trên, trong quá trình thực hiện, đề tài đã sử dụng riêng lẻ hay tổng hợp những phương pháp và công cụ sau:
5.1 Phương pháp thống kê mô tả từ các nguồn dữ liệu, số liệu thu thập trong quá trình nghiên cứu, gồm:
− Dữ liệu thứ cấp: Các lý luận chung về vốn, nguồn vốn; các số liệu báo cáo của doanh nghiệp, các số liệu thống kê báo cáo hàng năm của các cơ quan chức năng trên địa bàn thành phố Cần Thơ như: Các Sở, Ban, Ngành, Hiệp hội; Cục Thống kê thành phố, Tổng Cục Thống kê; Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh thành phố Cần Thơ; các báo cáo của các nghiên cứu liên quan đã công bố của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI); Hiệp hội DNNVV Việt Nam (VINASME); Các tài liệu, sách, báo, tạp chí khoa học, internet… Từ đó tập hợp, thống kê, phân tích, so sánh, đối chiếu theo các tiêu chí đã xác định trong nghiên cứu
Trang 21− Số liệu sơ cấp: Thu thập thông tin qua khảo sát bằng bảng câu hỏi (Phiếu thu thập thông tin) với các mẫu phiếu theo từng đối tượng thu thập thông tin Dữ liệu khảo sát được tổng hợp bằng phần mềm Excel để tổng hợp các dữ liệu khảo sát theo các tiêu chí đánh giá
5.2 Phương pháp phỏng vấn chuyên gia Phương pháp phỏng vấn chuyên
gia là phương pháp được thực hiện dựa trên cơ sở thu thập và xử lý những đánh giá của các chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu Các chuyên gia được lựa chọn trong nghiên cứu gồm: lãnh đạo Thành phố, các Sở, Ban, Ngành, Hiệp hội, Các nhà nghiên cứu, Chủ các doanh nghiệp… là những cá nhân
am hiểu và có chuyên môn sâu trên các lĩnh vực liên quan đến nguồn vốn và các kênh tiếp cận nguồn vốn của DNNVV tại thành phố Cần Thơ
5.3 Nghiên cứu đối chiếu So sánh, đối chiếu giữa yêu cầu, kinh nghiệm
của một số quốc gia có những nét tương đồng trong việc giải quyết nguồn vốn cho các DNNVV với thực trạng quá trình phát triển các DNNVV trên địa bàn thành phố Cần Thơ, để từ đó có thêm căn cứ xây dựng những giải pháp nhằm mở rộng khả năng cung ứng nguồn vốn cho loại hình doanh nghiệp này của thành phố Cần Thơ
5.4 Cách tiếp cận của đề tài từ phân tích – tổng hợp Tổng hợp, phân
tích các dữ liệu liên quan đến nguồn vốn và các kênh tiếp cận vốn của DNNVV trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong bối cảnh nghiên cứu, để từ
đó nhận diện hiện trạng, đánh giá những yếu tố chính tác động làm cơ sở cho việc đưa ra những giải pháp và kiến nghị về tiếp cận nguồn vốn cho các DNNVV trên địa bàn thành phố Cần Thơ
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN:
Trang 22Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần bổ sung những luận điểm khoa học làm cơ sở để hoạch định các chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển hệ thống DNNVV trên địa bàn thành phố Cần Thơ nói riêng và các địa phương khác ở Việt Nam nói chung với những đóng góp cơ bản sau đây:
− Tổng hợp, hệ thống hóa và làm rõ thêm các vấn đề lý luận và thực tiễn
về phát triển DNNVV Tổng kết kinh nghiệm thành công về chính sách nguồn vốn đối với các DNNVV của một số nước trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho phát triển DNNVV tại Việt Nam
− Phân tích đầy đủ, khoa học thực trạng nguồn vốn và tiếp cận các nguồn cung ứng vốn cho từng nhóm đối tượng theo quy mô, ngành nghề và khu vực kinh tế của các DNNVV trên địa bàn thành phố Cần Thơ Phân tích những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu vốn và khó tiếp cận nguồn vốn của hệ thống doanh nghiệp này tại thành phố Cần Thơ từ các phương diện: doanh nghiệp, nguồn cung ứng vốn, môi trường kinh tế và chính sách của Nhà nước
− Đề xuất các nhóm giải pháp và kiến nghị được xây dựng dựa trên cơ sở
lý luận và căn cứ thực tiễn nên có khả năng ứng dụng cao cũng như được phân loại theo từng nhóm đối tượng tạo ra một hệ thống giải pháp toàn diện, khả thi nhằm giải quyết các vấn đề về nguồn vốn phù hợp và thích ứng với
hệ thống DNNVV trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện tại và chiến lược phát triển hệ thống doanh nghiệp này đến năm
2015 tầm nhìn 2020 của thành phố Cần Thơ và cả nước
− Giúp các cơ quan hoạch định chiến lược ở địa phương, xây dựng chính sách phát triển hệ thống DNNVV của thành phố Cần Thơ, làm tài liệu tham
Trang 23khảo hữu ích cho các nghiên cứu khoa học liên quan đến DNNVV của các địa phương trong nước nói chung và cho các tỉnh vùng ĐBSCL nói riêng
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được bố cục làm 3 chương: CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN VỐN VÀ TIẾP CẬN NGUỒN VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TIẾP CẬN NGUỒN VỐN CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Trang 24CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1.1 Các tiêu chí phân định doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại một số nước trên thế giới
Cách xác định về doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trên thế giới hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất, ngay trong khái niệm về loại hình DNNVV tại các nước cũng khác nhau mặc dù đây là đối tượng doanh nghiệp đặc trưng của nền kinh tế Việc định nghĩa rõ doanh nghiệp nào là nhỏ và vừa rất linh hoạt và tùy thuộc vào từng quốc gia, từng khu vực kinh tế Thông thường sẽ có những mức giới hạn cho một doanh nghiệp để được coi là nhỏ và vừa, khi vượt qua giới hạn đó, doanh nghiệp vượt cấp trở thành doanh nghiệp lớn, thành các tập đoàn kinh tế Việc xác định quy mô DNNVV chỉ mang tính chất tương đối vì
nó chịu tác động của các yếu tố như trình độ phát triển của một nước, tính chất ngành nghề, điều kiện phát triển của một vùng lãnh thổ nhất định hay mục đích phân loại doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định cho các chính sách hỗ trợ Tiêu chí phân loại DNNVV được phân thành hai nhóm chính gồm nhóm các tiêu chí định tính và nhóm các tiêu chí định lượng
− Nhóm tiêu chí định tính trong phân định DNNVV được dựa trên những đặc điểm của loại hình doanh nghiệp này như:
+ Trình độ chuyên môn hóa hạn chế: Do quy mô sản xuất nhỏ, xuất thân từ các cơ sở sản xuất mang tính chất hộ gia đình hay trong một số ngành nghề truyền thống, do vậy, quá trình sản xuất ít được chuyên môn hóa sâu ở hệ thống các doanh nghiệp này
+ Hệ thống quản lý gọn nhẹ, mức độ phức tạp không cao, số đầu mối
Trang 25trong hệ thống quản lý ít: Hoạt động tổ chức quản lý ở những doanh nghiệp thuộc loại hình này thường được thực hiện trực tiếp, ít phân cấp quản lý, thậm chí kiêm nhiệm Ngoài ra, ở một số doanh nghiệp, tổ chức quan lý theo mô hình truyền thống gia đình
Các tiêu chí này có thể phản ánh đúng bản chất của loại hình doanh nghiệp này, tuy nhiên, trong thực tế khó dùng tiêu chí này trong phân định DNNVV mà chỉ dùng để tham khảo hay kiểm chứng bởi tiêu chí này rất khó đo lường
− Nhóm tiêu chí định lượng thường dựa trên các chỉ tiêu có thể đo lường được về quy mô của doanh nghiệp, một số chỉ tiêu thường dùng trong phân định DNNVV bao gồm:
+ Số lượng lao động của doanh nghiệp: số lượng này có thể là lao
động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên, lao động thực tế Tuy nhiên, trên thực đo lường số lao động bình quân trong năm của doanh nghiệp chỉ là con số dự kiến và số lượng này cũng không bắt buộc chủ doanh nghiệp công bố khi thành lập Hơn nữa, tiêu chí về số lao động bình quân là một tiêu chí không cố định do việc sử dụng lao động mùa vụ rất phổ biến ở nhiều ngành nghề nên số lao động của doanh nghiệp thường luôn thay đổi gây nhiều khó khăn trong thống kê cũng như phân định DNNVV
+ Tài sản hay vốn: có thể là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản cố
định, giá trị tài sản còn lại
+ Doanh thu: có thể là tổng số doanh thu/năm, tổng giá trị gia
tăng/năm (hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ số này)
Trong thực tế, sự phân định DNNVV theo quy mô và lựa chọn tiêu chí nào để phân định, thường chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều
Trang 26yếu tố, cụ thể:
− Phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế theo hướng trình độ phát triển càng cao thì trị số các tiêu chí càng tăng lên Ở một số nước có trình độ phát triển kinh tế thấp thì các chỉ số phân định DNNVV sẽ thấp hơn so với các nước phát triển
− Phụ thuộc vào tính chất ngành nghề, mỗi ngành nghề có đặc điểm sản xuất, kinh doanh khác nhau (thâm dụng lao động hay thâm dụng vốn) nên có ngành sử dụng nhiều lao động, có ngành sử dụng ít lao động,… do đó cần tính đến tính chất này để có sự so sánh, đối chứng trong phân loại các DNNVV giữa các ngành với nhau Trong thực tế, ở nhiều nước, người ta thường phân chia thành hai đến ba nhóm ngành với các tiêu chí phân loại khác nhau bao gồm ngành công nghiệp, nông nghiệp và ngành dịch vụ hoặc phân chia thành nhóm ngành sản xuất hay ngành phi sản xuất
− Phụ thuộc vào những đặc điểm địa lý: các vùng lãnh thổ có địa kinh tế khác nhau nên chính sách phát triển kinh tế cũng thường không đồng nhất,
do vậy căn cứ xác định loại hình doanh nghiệp cũng khác nhau theo hướng chi tiết, cụ thể hay đơn giản, nhằm phù hợp với chính sách phát triển
Mặc dù dùng sử dụng nhóm tiêu chí nào hay mức độ quy mô cách biệt đến đâu, thì nhìn chung, trong phân chia quy mô DNVVN các quốc gia căn
cứ vào yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong đó quy mô vốn, quy mô lao động sử dụng thường xuyên là hai tiêu chí
cơ bản nhất để xác định DNVVN, nhưng việc lựa chọn các tiêu chí để phân loại doanh nghiệp cũng rất đa dạng
Nghiên cứu về chính sách phát triển hệ thống DNNVV trên thế giới, cách xác định thế nào là DNNVV của mỗi nước có những khác biệt nhất
Trang 27định, có quốc gia đưa ra quy định khá chi tiết, nhưng cũng có những quốc gia, quy định đơn giản hơn, cụ thể:
− Tại Trung Quốc: Tiêu chí xác định DNNVV của Trung Quốc chỉ dựa
vào số lao động mà không căn cứ vào vốn đăng ký hay bất kỳ một tiêu chí nào khác Theo Luật khuyến khích phát triển DNNVV của Trung Quốc ngày 29/6/2002 thì doanh nghiệp nhỏ là những doanh nghiệp có từ 50-100 lao động thường xuyên và doanh nghiệp vừa là những doanh nghiệp có sử dụng
từ 101 tới 500 lao động [25] [13]
− Tại Nhật Bản: Luật cơ bản về DNNVV đã được sửa đổi (ban hành
ngày 3/12/1999) với nội dung thay đổi chủ yếu là tăng giới hạn vốn tối đa cho các DNNVV trong từng lĩnh vực Mục đích của sự thay đổi này là làm tăng số lượng doanh nghiệp có đủ điều kiện được hưởng các biện pháp trợ giúp DNNVV Theo Luật mới, các tiêu chí xác định DNNVV được thể hiện theo từng ngành (gồm 4 nhóm ngành là sản xuất, bán buôn, bán lẻ và dịch vụ) với hai tiêu thức đánh giá là số lao động tối đa và số vốn tôi đa [36] [29] [13] [68] (bảng 1.2)
Bảng 1.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa của Nhật Bản
Lĩnh vực Số lao động tối đa Số vốn tối đa (triệu Yên Nhật)
Nguồn: Chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV Nhật Bản, JICA, 1999 [68]
− Tại Hàn Quốc: Hàn Quốc phân định DNNVV theo ngành kinh doanh
dựa trên số lao động sử dụng, cụ thể: ngành sản xuất, khai thác, vận tải: số
Trang 28lao động nhỏ hơn 300 người; ngành xây dựng: số lao động nhỏ hơn 200 người; ngành thương mại và dịch vụ: số lao động nhỏ hơn 20 người[13][30][76][77][82]
− Tại Đài Loan: Nền kinh tế Đài Loan phát triển thịnh vượng trên cơ sở
sự thành công của hệ thống DNNVV Do vậy, khác với nhiều quốc gia, kể từ năm 1967, Đài Loan đã có một định nghĩa chính thức về DNNVV được thể chế hóa trong các văn bản luật của Chính phủ Định nghĩa DNNVV của Đài Loan được quy định rõ và chi tiết trong từng ngành nghề:
+ Trong các ngành chế tạo, xây dựng và khai mỏ: các DNNVV là các doanh nghiệp có vốn hoạt động dưới 80 triệu Đài tệ (khoảng 2,3 triệu USD) hoặc số người lao động thường xuyên dưới 200 người
+ Trong các ngành nông nghiệp, lâm sản, ngư nghiệp, gây giống gia súc, nước, điện, năng lượng, khí gas, thương mại, vận tải, nhà kho, liên lạc, tài chính, bảo hiểm, bất động sản, dịch vụ công nghiệp, dịch vụ thương mại, dịch vụ xã hội và dịch vụ cá nhân: các DNNVV là các doanh nghiệp có doanh thu hàng năm dưới 100 triệu Đài tệ (khoảng 2,9 triệu USD), hoặc số người lao động thường xuyên dưới 50 người [13][76][77]
− Tại Thái Lan: Các quy định của Thái Lan xác định những doanh
nghiệp sử dụng dưới 100 lao động và số vốn dưới 4 triệu đôla thì được coi là DNNVV[13][76][77]
− Tại Malaysia: Việc xác định DNNVV theo ngành kinh doanh dựa trên
số lao động sử dụng và doanh thu Ngành nông nghiệp: số lao động ít hơn 50 người, doanh thu nhỏ hơn 5 triệu Ringgit Malaysia (MYR); ngành sản xuất
và dịch vụ: số lao động ít hơn 150 người, doanh thu nhỏ hơn 25 triệu MYR;
Trang 29ngành công nghệ thông tin: số lao động ít hơn 50 người, doanh thu nhỏ hơn
5 triệu MYR [13][76][77]
− Tại các nước Châu Âu: Trước kia, các nước thuộc cộng đồng Châu
Âu có cách định nghĩa về DNNVV của riêng cho từng quốc gia, như ở Đức các DNNVV được định nghĩa là những doanh nghiệp có số lao động dưới
500 người, trong khi đó ở Bỉ, DNNVV được định nghĩa là những doanh nghiệp có số lao động là 100 người,… Nhưng đến nay cộng đồng Châu Âu
đã bắt đầu có khái niệm chung về DNNVV chung, chuẩn hóa hơn, theo đó, DNNVV là các doanh nghiệp có ít hơn 250 lao động tồn tại dưới bất kỳ hình thức pháp lý và cơ cấu sở hữu nào Các DNNVV được chia thành doanh nghiệp siêu nhỏ nếu sử dụng từ 1- 9 lao động; doanh nghiệp nhỏ nếu có từ
10 đến dưới 50 lao động và những doanh nghiệp có từ 51 đến dưới 250 lao động được coi là doanh nghiệp vừa [13][76][77][83]
− Tại Mỹ: Cục Quản lý kinh doanh nhỏ (SBA) Mỹ xác định DNNVV là
"một đơn vị kinh doanh có ít hơn 500 lao động", trong đó, doanh nghiệp nhỏ
là doanh nghiệp sử dụng dưới 100 lao động và doanh nghiệp vừa sử dụng từ
100 – 500 lao động Đây là định nghĩa được sử dụng rộng rãi nhất và có thể coi là tiêu chuẩn về DNNVV chính thức của Chính phủ Mỹ [30][76][77]
− Tại Australia: Việc phân định DNNVV căn cứ vào ngành sản xuất
hay phi sản xuất, theo đó, trong ngành sản xuất nói chung: DNNVV là doanh nghiệp sử dụng dưới 100 lao động, còn trong ngành phi sản xuất: DNNVV là doanh nghiệp sử dụng dưới 20 lao động [13][76][77]
− Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (WB), doanh nghiệp siêu nhỏ là
doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến
300 lao động [13][76][77]
Trang 301.1.1.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
Tại Việt Nam, khái niệm DNNVV được biết đến bắt đầu từ những năm 1990 đến nay, thông qua các văn bản pháp luật của Nhà nước hay những quy định riêng của địa phương trong quá trình phân loại doanh nghiệp phục vụ cho hoạt động phân cấp quản lý, sắp xếp thang lương hoặc làm căn cứ cho các chính sách hỗ trợ, cụ thể như sau:
− Theo thông tư liên bộ số 21/LĐTT ngày 17/6/1993 của liên bộ Bộ Lao động Thương binh Xã hội và Bộ Tài chính, các doanh nghiệp ở Việt Nam được phân thành 5 hạng: hạng đặc biệt, hạng I, II, III và IV dựa trên mức độ phức tạp của quản lý và hiệu quả sản xuất kinh doanh với 8 tiêu chí rất phức tạp như vốn, công nghệ, lao động, doanh thu, lợi nhuận… Tuy nhiên, tại thời điểm này, đối tượng phân loại chủ yếu chỉ giới hạn trong các doanh nghiệp Nhà nước với mục đích giúp cơ quan chức năng có căn cứ để xếp thang bậc lương cho cán bộ quản lý doanh nghiệp
− Trước năm 1998, một số địa phương, tổ chức đã xác định DNNVV dựa trên các tiêu chí khác nhau như: số lao động dưới 50 người, giá trị tài sản cố định dưới 10 tỷ, số dư vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng và doanh thu hàng tháng dưới 20 tỷ đồng Đơn cử, tại thành phố Hồ Chí Minh, có quy định những doanh nghiệp có vốn pháp định trên 1 tỷ đồng, lao động trên 100 người và doanh thu hàng năm trên 10 tỷ đồng là doanh nghiệp vừa, còn dưới giới hạn đó, được xếp vào nhóm doanh nghiệp nhỏ
− Ngày 20/6/1998, Chính phủ đã có công văn số 681/CP-KCN về việc định hướng chiến lược và chính sách phát triển các DNNVV Theo hướng dẫn của công văn này, DNNVV là những doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng và lao động thường xuyên dưới 200 người Văn bản này cũng cho phép các địa phương được quyền lựa chọn áp dụng một trong hai tiêu chí hoặc cả
Trang 31hai tiêu chí căn cứ vào vào điều kiện cụ thể trong từng ngành, từng lĩnh vực Đây có thể được coi là văn bản chính thức đưa ra tiêu chí xác định DNNVV
− Ngày 23/11/2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP
về trợ giúp phát triển DNNVV Theo nghị định này, đối tượng được xác định là DNNVV bao gồm các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật doanh nghiệp nhà nước; Các hợp tác xã thành lập
và hoạt động theo luật hợp tác xã; Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 109/2004/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng Việt Nam hoặc số lao động bình quân hàng năm dưới 300 người Như vậy, theo định nghĩa này, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh và thỏa mãn một trong hai tiêu thức lao động hoặc vốn đưa ra trong nghị định này đều được coi là DNNVV
Cho đến thời điểm nghiên cứu này thực hiện, việc phân định DNNVV tại Việt Nam đang được xác định theo các tiêu chí của Nghị định này
Trang 32Bảng 1.2: Tiêu chuẩn phân định doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
nguồn vốn
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động Nông, lâm nghiệp
và thủy sản < 10 người < 20 tỷ đồng
từ 10 - 200 người
từ 20 - 100
tỷ đồng
từ 200 -
300 ngườiCông nghiệp và
xây dựng <10 người < 20 tỷ đồng
từ 10 - 200 người
từ 20 - 100
tỷ đồng
từ 200 -
300 ngườiThương mại và
dịch vụ < 10 người < 10 tỷ đồng
từ 10 - 50 người
từ 10 - 50 tỷ đồng
từ 50 - 100 người
Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP [56]
Như vậy, việc xác định DNNVV theo Nghị định này của Việt Nam hiện nay dựa trên các tiêu chí về quy mô (quy mô vốn hay lao động) và tính chất ngành nghề Nhìn chung, các tiêu chí phân loại này tương đối phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay nhất là xác định theo nhóm ngành nghề Việc sử dụng tiêu chí ngành nghề theo các nhóm ngành nghề với nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ trong phân định DNNVV là cần thiết, bởi đặc thù trong hoạt động của các nhóm ngành nghề này có sự khác biệt rõ ràng
Tuy nhiên, việc dùng một trong hai tiêu chí lao động bình quân hàng năm hoặc tổng nguồn vốn còn quá chung chung, khó phân định Mặt khác,
ở góc độ thống kê về DNNVV, việc sử dụng một trong hai chỉ tiêu lao động
và tổng nguồn vốn đã tạo ra sự khác biệt đáng kể về số liệu thống kê
Xét về số lao động bình quân cũng cần làm rõ thêm là tính toán với lao động thường xuyên, hay bao gồm cả lao động thời vụ; gồm những lao
Trang 33động thực tế của doanh nghiệp hay chỉ gồm những lao động ký hợp đồng và
có đóng bảo hiểm? Trên thực tế chỉ tiêu về số lao động bình quân trong năm của doanh nghiệp chỉ là con số dự kiến và cũng không bắt buộc người thành lập doanh nghiệp phải kê khai nên cũng không có căn cứ để phân loại doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh Hơn nữa, tiêu chí về số lao động bình quân
là một tiêu chí có tính “động” rất lớn do hiện tượng lao động mùa vụ rất phổ biến và số lao động này thay đổi công việc thường xuyên nên gây nhiều khó khăn trong việc xác định DNNVV Để xác định rõ hơn, theo tác giả, nên sử dụng chỉ tiêu lao động nên dựa vào số lao động làm việc thường xuyên từ 1 năm trở lên
Đối với tiêu chí quy mô tổng nguồn vốn trong phân định DNNVV, tiêu chí này trong nhiều trường hợp không phản ánh đúng thực trạng quy
mô của doanh nghiệp Trong khi đó, quy mô của doanh nghiệp có thể được phản ánh rõ hơn thông qua chỉ tiêu doanh thu bởi nó gắn với thực trạng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì lẽ đó, tác giả cho rằng nên sử dụng tiêu chí doanh thu hàng năm của các doanh nghiệp để xác định chính xác hơn quy mô của doanh nghiệp trong từng giai đoạn thay cho tiêu chí tổng nguồn vốn
Vì vậy, theo tác giả, để thống nhất và thuận lợi trong thông kê, đánh giá, việc xác định DNNVV ngoài việc phân định theo ngành kinh tế cần dựa trên cả hai tiêu chí là doanh thu hàng năm và số lao động làm việc từ 1 năm trở lên trung bình hàng năm của các doanh nghiệp
1.1.2 Những đặc điểm của loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa
Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO - World Intellectual Property Organization) các doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ, quy mô nhỏ và vừa có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trên cả góc độ kinh tế và xã
Trang 34hội Ngay trong khối EU, là khu vực có nền kinh tế phát triển cao, các doanh nghiệp này vẫn chiếm tới 99% tổng số doanh nghiệp, tạo ra 65 triệu việc làm và đóng góp 40% đến 50% trong tổng GDP hàng năm Quan trọng hơn, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ là những cái nôi nuôi dưỡng tinh thần khởi nghiệp và sáng tạo trong nền kinh tế Trong một số khu vực kinh tế, DNNVV chiếm vai trò quan trọng và là động lực phát triển của nền kinh tế bởi các DNNVV có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thỏa mãn nhu cầu
có hạn về những chủng loại hàng hóa, dịch vụ trong những thị trường chuyên môn hóa, khuynh hướng sử dụng nhiều lao động với trình độ lao động kỹ thuật trung bình, thấp, đặc biệt là rất linh hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu thay đổi của thị trường DNNVV có thể tham gia vào những mảng thị trường mới mà những thị trường này không thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp lớn do quy mô thị trường nhỏ Các DNNVV cũng sẵn sàng phục vụ ở những khu vực xa xôi, những khoảng trống nhỏ trên thị trường mà các doanh nghiệp lớn không cung ứng
vì các mối quan tâm của họ đặt ở các thị trường có khối lượng lớn do quy
mô của sản xuất Các đặc điểm của hệ thống các DNNVV có thể nhìn nhận thông qua:
1.1.2.1 Những ưu điểm của loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa
− Thuận lợi trong quá trình thành lập và đi vào hoạt động, bộ máy gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với thay đổi của thị trường Trong một chừng mực nào đó, so với các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn, đây là một ưu thế rõ rệt của các DNNVV Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn nhỏ, diện tích mặt bằng không lớn, lao động ít, các điều kiện sản xuất đơn giản là có thể bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh Thường những lĩnh vực các DNNVV tham gia có chu kỳ sản xuất ngắn, không đỏi hỏi đầu tư trang thiết bị công nghệ
Trang 35nhiều, vòng quay sản phẩm nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có, thu hồi nhanh hoặc vay mượn dễ dàng Bộ máy tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt dễ quản
lý Mặt khác, do tồn tại ở mọi thành phần kinh tế, các DNNVV là những doanh nghiệp bám sát nhu cầu của thị trường nhất, đồng thời do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ của nó, doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén, trong lựa chọn thay đổi mặt hàng trong sản xuất kinh doanh Do vậy, hệ thống các doanh nghiệp này sẽ góp phần tạo ra sự đa dạng, sống động trong phát triển kinh tế;
− Lợi thế trong tổ chức quản lý Với cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, số lượng nhân viên tương đối ít sẽ dễ có sự thống nhất, đồng thuận trong các quyết sách từ lãnh đạo cho đến nhân viên Từ đó, quá trình triển khai và thực hiện các kế hoạch kinh doanh cũng sẽ nhanh chóng hơn, đáp ứng kịp thời với những biến đổi trên thị trường So với cơ cấu tổ chức quy mô lớn, mô hình quản trị qua nhiều cấp ở các doanh nghiệp lớn, hoạt động này tại các DNNVV ít phức tạp nên việc hoạch định các quyết định kinh doanh của những doanh nghiệp này không cần qua nhiều cấp, nên khi gặp khó khăn, có thể nhanh chóng giải quyết Chính vì vậy, mặc dù quy mô nền kinh tế ngày càng tăng lên, kéo theo quy mô doanh nghiệp cũng có xu hướng lớn, tuy vậy, trên thực tế, bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ XX, nhằm thích nghi với nhu cầu của thị trường trong một số lĩnh vực, nhiều doanh nghiệp lớn như vận tải, giáo dục, dịch vụ, du lịch trên thế giới có xu hướng điều chỉnh và phân chia thành các doanh nghiệp nhỏ để tăng hiệu quả trong hoạt động kinh doanh;
− Một lợi thế của DNNVV nữa là các doanh nghiệp này sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, có tính đột phá, những lĩnh vực có thể hàm chứa mức độ
Trang 36rủi ro cao nhưng hứa hẹn thành công Lợi thế này xuất phát từ thực tế là các DNNVV có mức vốn đầu tư nhỏ, sử dụng ít lao động nên có khả năng mạo hiểm và sẵn sàng mạo hiểm Bên cạnh đó, sở dĩ các DNNVV có động cơ để đi vào các lĩnh vực mới này do tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong các lĩnh vực đời hỏi phải tổ chức sản xuất theo dây chuyền, sản xuất hàng loạt Các DNNVV phải dựa những lĩnh vực, phân khúc không đòi hỏi lợi thế nhờ quy mô hay những sản phẩm thành công nhờ tính khác biệt mà chỉ có những DNNVV có được
− Các DNNVV cũng có lợi thế trong việc đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp DNNVV có vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cố định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép Đồng thời DNNVV cũng tận dụng được lao động dồi dào để thay thế vốn Với chiến lược phát triển, đầu
tư đúng đắn, sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, các DNNVV có thể đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hóa
có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hạn chế;
− Là nhóm doanh nghiệp có tính chủ động và linh hoạt về giá cả cao, nhờ cơ cấu gọn nhẹ, nên chiến lược kinh doanh dựa vào sự linh hoạt trong chính sách giá được coi là một trong những vũ khí lợi hại nhất của các DNNVV nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường luôn luôn thay đổi Trong khi đối với các doanh nghiệp lớn, để hạ giá thành, cần có thời gian để điều chỉnh
cơ cấu sản xuất, còn tại các DNNVV khả năng điều chỉnh và đưa ra nhiều mức giá linh hoạt khác nhau phù hợp với sức mua của thị trường có thể được thực hiện nhanh chóng mà không gây ra nhiều biến đổi trong cơ cấu sản xuất
Trang 37Chính những ưu điểm đó mà hiện nay, hệ thống DNNVV vẫn là loại hình doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong các nền kinh tế cho dù quy
mô kinh tế ngày càng phát triển theo hướng mở rộng
1.1.2.2 Những hạn chế và tồn tại của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Bên cạnh các ưu điểm như đã nói ở trên, DNNVV vẫn còn nhiều hạn chế Các hạn chế của DNNVV xuất phát từ những hạn chế khách quan bên ngoài và các hạn chế đến từ chính các doanh nghiệp
− Hạn chế đầu tiên và cũng là lớn nhất của các DNNVV đó là quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp này thường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay tiến hành đổi mới, nâng cấp thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc biệt là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường;
− Khó tiếp cận với các trợ giúp về tài chính và tiếp cận thị trường do quy
mô doanh nghiệp nhỏ nên uy tín, thị phần trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh của họ chưa được xác lập Bên cạnh hoạt động về quản trị thiếu bài bản dẫn đến việc các DNNVV thường không tiếp cận tốt với các trợ giúp, các DNNVV thường gặp khó khăn trong việc thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài cũng như khó khăn trong việc thiết lập vị trí vững chắc trên thị trường, đặc biệt với thị trường quốc tế Nguyên nhân chủ yếu là do hạn chế về khả năng tài chính cho các hoạt động quảng
bá và các doanh nghiệp cũng chưa có các khách hàng truyền thống Thêm vào đó, quy mô thị trường của các doanh nghiệp loại này thường bó hẹp trong phạm vi địa phương, việc mở rộng ra các thị trường mới là rất khó khăn
Trang 38− Cũng do quy mô nhỏ nên hoạt động của doanh nghiệp về tổ chức quản
lý, nghiên cứu phát triển, đào tạo ít được đầu tư đúng mức dẫn đế tình trạng các doanh nghiệp này không có nhiều những kỹ năng vượt trội, riêng có, thiếu kinh nghiệm trong thiết kế sản phẩm Ngoài ra, tại hệ thống doanh nghiệp này, năng lực công nghệ khó được cải thiện do không đủ tài chính cho nghiên cứu triển khai, nhiều doanh nghiệp có những sáng kiến công nghệ tiên tiến nhưng không đủ tài chính cho việc nghiên cứu triển khai nên không thể hình thành công nghệ mới hoặc bị các doanh nghiệp lớn mua lại với giá rẻ Nói cách khác là không đủ năng lực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, khó nâng cao được năng suất và hiệu quả kinh doanh Bên cạnh đó, các DNNVV thường gặp khó khăn về mặt bằng sản xuất khi cần mở rộng quy mô do gặp niều trở ngại khi tiếp cận mặt bằng có cơ sở hạ tầng tốt
1.1.3 Vai trò của hệ thống doanh nghiệp nhỏ và vừa
Với số lượng các doanh nghiệp ngày càng tăng, đóng góp của khu vực DNNVV ngày càng lớn đối với toàn bộ nền kinh tế Vai trò của các DNNVV ngày càng lớn đối nền kinh tế xã hội và được thể hiện trên các mặt sau:
− Hệ thống DNNVV có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm cho xã hội, giảm áp lực về việc làm và thất nghiệp Trong bối cảnh,
do tỷ lệ dân số tăng cao, sự chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp nông thôn trong quá trình đô thị hóa trong những năm gần đây nên vấn đề giải quyết việc làm đang trở nên cấp thiết Đặc biệt, ở những nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, quá trình cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước, một lượng lớn lao động dôi dư rất cần được giải quyết công ăn việc làm Các DNNVV ra đời đã tạo ra nhiều việc làm mới với tốc độ tăng
Trang 39trưởng cao, góp phần tăng thu nhập của người lao động, cải thiện đời sống kinh tế, các vấn đề xã hội ngày một tốt hơn
− Góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các doanh nghiệp thành lập ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa trong quá trình tái cấu trúc kinh tế nông thôn, quá trình đô thị hóa sẽ góp phần giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp và tăng tỷ trọng trong các ngành phi nông nghiệp Điều này sẽ giúp cho việc chuyển dịch cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế theo hướng ngày một tiến bộ hơn (giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ)
− Hệ thống các DNNVV đã có những đóng góp quan trọng vào GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế Là loại hình doanh nghiệp chiếm một tỷ lệ lớn trong hệ thống doanh nghiệp, các DNNVV ngày càng đóng góp nhiều hơn vào tổng GDP do số lượng doanh nghiệp ngày càng lớn và phân bổ rộng khắp trong hầu hết các ngành, các lĩnh vực Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng sản xuất của khu vực DNNVV thường cao hơn so với các khu vực doanh nghiệp khác
− Có những đóng góp quan trọng vào hệ thống ngân sách Nhà nước Hệ thống DNNVV đã có những đóng góp to lớn vào ngân sách của nhà nước và
có xu hướng tăng khi số lượng doanh nghiệp ngày càng gia tăng về số lượng, có mặt hầu khắp trong các lĩnh vực ngành nghề sản xuất kinh doanh
− Đóng góp vào quá trình nâng cao trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất Với sự năng động của mô hình doanh nghiệp này, các DNNVV là những chủ thể đi tiên phong trong việc áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới cũng như các sáng kiến về kỹ thuật Do áp lực cạnh tranh nên các DNNVV thường xuyên phải cải tiến công nghệ, tạo sự khác biệt để có thể cạnh tranh thành công Mặc dù không tạo ra được những phát minh, sáng kiến mang tính đột phá nhưng nó là những động lực cho sự thay đổi tiến bộ
Trang 40khoa học và công nghệ
− Tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Với sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực sẽ làm giảm tính độc quyền và buộc các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh, phải liên tục đổi mới để tồn tại và phát triển Với sự linh hoạt của mình, các DNNVV cũng sẽ tạo sức ép cạnh tranh với các công ty lớn Ngoài ra, nhiều DNNVV còn đóng vai trò là vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa và phân công lao động sản xuất, làm tăng hiệu quả của các DNNVV cũng như các công ty hợp tác Bên cạnh đó, các DNNVV còn là cơ sở của sự hình thành những doanh nghiệp lớn, đồng thời làm lành mạnh môi trường đầu tư và kinh doanh, do tạo ra môi trường cạnh tranh đa dạng trong nền kinh tế Với những doanh nghiệp thành công, quy mô của các doanh nghiệp sẽ được mở rộng và nhiều doanh nghiệp trong số này phát triển trở thành những doanh nghiệp lớn
− DNNVV là trụ cột của kinh tế địa phương Nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế, thì DNNVV lại có mặt ở khắp các địa phương và là chủ thể đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương Ngoài ra, các DNNVV còn
là tiền đề để tạo ra một môi trường văn hóa kinh doanh mang tính kinh tế thị trường, tạo ra những nhà kinh doanh giỏi
− Những đóng góp vào xuất khẩu Một phần không nhỏ các DNNVV tham gia vào các ngành nghề có khả năng xuất khẩu cao như dệt may, thủy sản, thủ công mỹ nghệ,… vì vậy, các DNNVV là lực lượng rất quan trọng trong việc tăng cường xuất khẩu Một số ngành nghề, đặc biệt là ngành nghề thủ công, ngành nghề truyền thống, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu do các DNNVV đảm nhiệm