1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn việt nam sau 1975

200 1K 15
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam sau 1975
Tác giả Nguyễn Thị Thúy Hằng
Người hướng dẫn PGS. Nguyễn Văn Long, TS. Nguyễn Văn Phượng
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 200
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khóa luận, luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, đề tài

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

CON NG-êi c¸ nh©n trong tiÓu thuyÕt

Vµ truyÖn ng¾n viÖt nam sau 1975

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Hà Nội - 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

Vµ truyÖn ng¾n viÖt nam sau 1975

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu trong luận án và kết quả nghiên cứu đều trung thực, chưa từng được công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Thúy Hằng

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc, đất nước bước sang thời bình với những biến chuyển lớn lao về kinh tế, văn hóa, xã hội Đây cũng là thời điểm

mở ra giai đoạn phát triển mới của văn học dân tộc Đặc biệt, Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) với chủ trương đổi mới tư duy, đề cao tinh thần dân chủ đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới nền văn học trên mọi bình diện Sự phát triển vượt trội của hai thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn đưa văn xuôi lên vị trí “thống trị” văn đàn, giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra gương mặt mới cho văn học Với ý nghĩa này, tiểu thuyết

và truyện ngắn sau 1975 cần được nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện

1.2 Cuộc sống thời bình tạo điều kiện cho con người trở lại với nhu cầu tự nhiên, chủ trương mở cửa, hội nhập về kinh tế và từng bước mở rộng giao lưu văn hóa với thế giới… đã thúc đẩy sự xuất hiện trở lại của ý thức cá nhân, tác động mạnh mẽ đến tư tưởng và sáng tạo của nhà văn Trong sự đổi mới tư duy nghệ thuật thì đổi mới quan niệm về con người là cốt lõi, “là biểu hiện cụ thể của xu thế dân chủ hóa và sự thức tỉnh ý thức cá nhân trên nền tinh thần nhân bản” [146] Ba mươi năm chiến tranh

là một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, tạo ra sự thống nhất tương đối trong cách văn học nhìn con người Từ chỗ nó được xem xét trong tư cách con người tập thể (chặng 1945 - 1954), rồi con người được đặt trong sự thống nhất riêng - chung (chặng 1954 - 1964) và dần đi tới kiểu mẫu con người sử thi, đại diện cho sức mạnh, phẩm chất, ý chí, khát vọng của cả cộng đồng (chặng 1965 - 1975) Con người trong văn học sau 1975 được thể hiện ở nhiều vị thế, trong tính đa chiều của các mối quan hệ, được soi chiếu dưới nhiều tiêu chí và thường được nhìn nhận như một cá thể, một số phận giữa cuộc sống đời thường, nhiều đa đoan, đa sự Vượt qua nhận thức hạn hẹp, giản đơn, văn học sau

1975 nhìn con người như một thực thể phong phú và còn đầy bí ẩn

Sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người làm biến đổi mọi bình diện của sáng tác, từ cảm hứng, chủ đề, hệ thống nhân vật đến cơ cấu thể loại Các chủ

đề gắn với cảm hứng nhận thức lại được tập trung khai thác Nhân vật đa số không được xây dựng theo nguyên tắc điển hình hóa mà chú trọng vào khám phá tính cá thể,

đa ngã, phức tạp Bên cạnh sự phát triển mạnh của tiểu thuyết và truyện ngắn, phóng sự lên ngôi cùng tự truyện và tản văn Tư duy thể loại cũng biến chuyển rõ rệt kéo theo nhiều thủ pháp, kĩ thuật mới lạ, hiện đại trong nghệ thuật trần thuật, trong ngôn ngữ,

Trang 5

giọng điệu… Mấu chốt của những đổi mới này suy cho cùng đều xuất phát từ ý thức về

cá nhân và quan niệm con người cá nhân, cá thể Con người cá nhân trong tiểu thuyết

và truyện ngắn Việt Nam sau 1975 vì vậy là một đối tượng khảo sát, nghiên cứu thực

sự cần thiết, giúp tiếp cận và lí giải yếu tố cơ bản chi phối sự biến đổi nội dung và nghệ thuật của văn xuôi sau 1975

1.3 Con người cá nhân không chỉ là vấn đề của văn học hôm nay Đó là sự tiếp nối một nguồn mạch quan trọng mang tính nhân bản của lịch sử văn học dân tộc đã manh nha từ văn học trung đại Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, có giai đoạn con người cá nhân đã bị phủ định, khước từ để thay thế bằng kiểu mẫu con người tập thể Sự trở lại của con người cá nhân sau 1975 tiếp nối tinh thần nhân bản của truyền thống văn học dân tộc, gắn với quá trình trưởng thành nhân cách trong những điều kiện văn hóa, lịch sử mới

1.4 Văn xuôi sau 1975 hiện có mặt và ngày càng có vị trí đáng kể trong

chương trình nhà trường phổ thông và đại học Việc nghiên cứu Con người cá nhân

trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam sau 1975 do đó không chỉ có ý nghĩa khoa

học mà còn mang tính thời sự, tính thực tiễn đối với người học văn, người dạy văn vì

nó cung cấp cơ sở lý luận cho việc xác lập các tiêu chí đánh giá văn học từ lập trường nhân bản và dân chủ

Đây là những lí do để chúng tôi triển khai đề tài luận án này

2 Lịch sử nghiên cứu

Văn xuôi sau 1975 đã ít nhiều được nghiên cứu ở cấp độ tổng quan và nhiều hơn

ở cấp độ cụ thể (tác gia, tác phẩm) Con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn

Việt Nam sau 1975 tuy chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nhưng đã được một số

tác giả lưu tâm, hoặc từ hướng khảo sát có đặt vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người, hoặc xem xét thế giới hình tượng trong sáng tác của một nhà văn cụ thể Sau đây

là khái quát của chúng tôi về những ý kiến có liên quan đến đề tài của luận án

2.1 Những nghiên cứu chung về con người cá nhân và vai trò, vị thế của nó trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975

Đầu thập kỉ tám mươi (thế kỉ XX), Trần Đình Sử khi nghiên cứu về những đổi mới trong tư duy nghệ thuật và hình tượng nhân vật văn học giai đoạn từ sau 1975 đã khẳng định: “Con người đạo đức thế sự là đặc điểm chủ yếu nhất của sự đổi mới tư duy nghệ thuật trong văn học ta thập kỷ qua”[211] Ông tiếp tục nhấn mạnh trong một công trình nghiên cứu sự vận động quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt

Trang 6

Nam từ 1945 đến 1985 rằng, nếu như con người những năm đầu kháng chiến là con người của cái chung, “vấn đề cá tính, nhu cầu hạnh phúc cá nhân chưa thể là vấn đề có tầm quan trọng…” thì sau 1975, con người “đang được xem xét với những chiều sâu mới Đời sống cá nhân, cá tính phải trở thành một đối tượng nhận thức, thể hiện ”[189; 90-91] Theo ông: “chỉ từ sau năm 1986, với công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, con người trong văn học mới thật sự trải qua một bước ngoặt mới Chất sử thi nhạt dần

và quan niệm thế sự, đời tư, triết lý, văn hóa về con người nổi lên, trở thành một nét chủ đạo, làm thay đổi cả diện mạo văn học”[189; 95] Ở một bài nghiên cứu khác, ông nhận định: khuynh hướng “phi sử thi hóa” khiến “con người trong văn học mất dần tính nguyên phiến sử thi mà hiện ra nhiều mâu thuẫn, nhất là trong tình cảm, đạo đức”,

“ngoài ý chí, tư tưởng, tình cảm, còn được khắc họa ở các phương diện bản năng, vô thức, tâm linh, nghịch lí”; “Thay vào chỗ trung tâm của những chiến sĩ, anh hùng năm xưa là hình ảnh những con người thực dụng, tẻ nhạt, tầm thường” Với hướng đi này,

“con người trở về với con người cá thể, quan tâm tới cá nhân: đề tài cái tôi, ý thức chủ thể, con người thân phận, cảm hứng đạo đức, tự vấn lương tâm, nỗi buồn…đều là những biểu hiện của ý thức cá nhân”[215]

Bùi Việt Thắng khi điểm lại tình hình truyện ngắn trong năm 1986 đã nhấn mạnh:

“Nhà văn tỏ rõ thái độ của mình đối với đời sống hôm nay – quan tâm đến mọi chuyện, đến từng con người trong những số phận hết sức khác nhau Mỗi con người đều có một

vị trí và giá trị nhất định trước cộng đồng và lịch sử, và mỗi cá nhân độc đáo, thú vị trong

sự khám phá liên tục của nhà văn”[234] Ông tiếp tục khẳng định ý này trong bài viết

“Văn xuôi gần đây và quan niệm con người” Theo tác giả, các nhà văn đã quan tâm đến vấn đề số phận con người và hoàn cảnh, chú ý “sự tồn tại chân chính của những nhân cách” cá nhân, mạnh dạn đi sâu vào “con người trong con người”, đó chính là “biểu hiện của việc dân chủ hóa nền văn học hiện nay ở ta”[235]

Với bài viết “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Vũ Tuấn Anh chỉ rõ: “Mười năm trở lại đây, văn học có một cách nhìn khác, một cách biểu hiện khác về con người, vừa phần nào mang tính chất đối lập, vừa mang ý nghĩa bổ sung cho thời kì văn học đã qua… Sự dân chủ hóa trong xã hội và văn học đã được biểu hiện ngay trong thế giới nhân vật Gần như không có những nhân vật được lí tưởng hóa theo những công thức định sẵn Các nhân vật, cùng với số phận và hành vi của họ, đều bình đẳng trước sự quan sát của nhà văn”[4] Tác giả cho rằng văn học sau 1975 đã “cố gắng khám phá thế giới bí ẩn, khuất lấp, đầy bất trắc và bất thường bên trong mỗi con người, bên trong bản

Trang 7

thể - người”, nhờ đó “văn học hiện nay cũng đang hòa vào con đường chung của văn học nhân loại ở phương diện khám phá những bí ẩn con người”[4]

Nguyễn Bích Thu nhận xét về cái mới của văn xuôi sau 1975: “Vấn đề con người, vấn đề cái riêng trở thành mối quan tâm hàng đầu của người viết”[144; 225];

“vấn đề con người cá thể được đặt ra một cách bức xúc, mạnh mẽ trong cảm hứng sáng tạo của nhà văn”, “các tác giả tiểu thuyết đã nhìn nhận con người như một cá thể bình thường trong những môi trường đời sống bình thường”[144; 230-231] Theo bà, nhà văn Việt Nam những năm đổi mới không chỉ “đi sâu vào số phận con người mà còn đề cập tới khát vọng sống, về hạnh phúc cá nhân, về tình yêu đôi lứa (…), đi sâu vào thế giới nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhằm nhận diện hình ảnh con người đích thực”[144; 231]…

Vấn đề con người cá nhân còn được đề cập đến trong một số công trình mang ý

nghĩa tổng kết về văn xuôi sau 1975 Nguyễn Thị Bình với chuyên luận Văn xuôi Việt

Nam 1975 – 1995, những đổi mới cơ bản đã nhấn mạnh đến những thay đổi lớn trên

các phương diện: quan niệm về nhà văn, quan niệm về con người và một số đổi mới đáng chú ý trên phương diện thể loại Nhấn mạnh đến sự biến chuyển trong quan niệm nghệ thuật về con người, bà khẳng định: “Từ quan niệm con người lịch sử, con người cộng đồng chuyển dần sang quan niệm con người cá nhân phức tạp bí ẩn”[33; 65];

“văn xuôi ít có những nhân vật đẹp đẽ, hoàn hảo… nó bị lấn át, bị lu mờ bởi thế giới nhân vật của đời thường phàm tục”[33; 76] “Trình bày con người như nó vốn có, không lí tưởng hóa, thần thánh hóa nó là đặc điểm nổi bật trong quan niệm con người của văn xuôi từ sau 1975 Quan niệm “con người đời thường”, “con người phàm tục”,

“không hoàn hảo” vừa giống như một sự đối thoại với quá khứ, khước từ những quy phạm cũ, vừa đề xuất hệ giá trị mới để đánh giá con người: hệ giá trị nhân bản”[33; 79] Nguyễn Thị Bình nhấn mạnh: “tinh thần quan tâm đến “nhân tố con người” đã giúp văn xuôi từ sau 1975 thoát khỏi lối mòn quen thuộc, phá vỡ những quy phạm hình thành trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, dần dần đạt tới một quan niệm toàn diện, nhiều chiều về con người, mở ra những tầng sâu mới mẻ và thú vị về đời sống bí ẩn, vô cùng

vô tận của những cá thể sinh động gần gũi”[33; 82]

Nguyễn Văn Long với công trình Văn học Việt Nam sau 1975 và việc giảng dạy

trong nhà trường khẳng định: “Sự thức tỉnh ý thức cá nhân và tinh thần nhân bản là nền

tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo, bao trùm trong nền văn học giai đoạn này”, “khi cuộc sống dần trở lại với những quy luật bình thường của nó, con người trở về với

Trang 8

muôn mặt đời thường… bối cảnh đó đã thúc đẩy sự thức tỉnh trở lại ý thức cá nhân, đòi hỏi sự quan tâm đến mỗi người và từng số phận”; “Văn xuôi hôm nay đã tiếp cận con người ở nhiều tư cách, vị thế và trên nhiều bình diện, nó đặc biệt quan tâm đến con người như một cá thể, một thực thể sống, trong đó chứa đựng cả cái phần nhân loại phổ quát”[145; 43,44,68]

Lê Thị Hường trong luận án Tiến sĩ Những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn

Việt Nam giai đoạn 1975 – 1995 đưa ra kết luận khá xác đáng về sự thể hiện hình

tượng con người cá thể: “Quan niệm về con người cá thể là cái nhìn nghệ thuật chung của các nhà văn về con người hôm nay, nó bộc lộ tính loại hình về quan niệm nghệ thuật của một thời đại Văn học Việt Nam từ sau 1975 đặc biệt là ở truyện ngắn – thực

sự đã đặt vấn đề “con người trong văn học”; “Có thể nói chưa bao giờ văn học ta đề cập đến giá trị và đời sống của con người cá nhân như giai đoạn hiện nay”[115; 64]

Chuyên luận Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

của Mai Hải Oanh đã chỉ ra trung tâm của sự biến đổi nghệ thuật: “Sau 1975, khi cái nhìn của nhà văn nghiêng về thế sự - đời tư, con người trong tiểu thuyết là con người đời thường, tồn tại trong hàng loạt các mối quan hệ chằng chịt, phức tạp, lắm khi oái oăm không đoán trước được điều gì” Tác giả đặc biệt quan tâm đến sự bừng tỉnh của ý thức cá nhân trong văn học: “Đến thời kì đổi mới, ý thức cá nhân lại được thức tỉnh một lần nữa, sâu sắc hơn, mạnh mẽ hơn trong văn học Việt Nam”; “Ý thức cá nhân thể hiện thái độ và bản lĩnh dám sống cho mình, theo quan điểm của mình (…), là sự hiện diện của cái tôi với tất cả sự phong phú và góc cạnh trong nhiều mối quan hệ phức tạp và bí

ẩn chứa nhiều cạm bẫy”[192; 28,95,96]

Gần đây nhất, Nguyễn Thị Kim Tiến đưa ra cái nhìn khái quát về con người trong sự phát triển, vận động của tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới, đồng thời khảo sát hình tượng con người ở góc nhìn xã hội và góc nhìn loại hình văn học: “Con người trong văn học thời kì đổi mới được các nhà văn quan niệm không còn đơn giản, xuôi chiều, thay vào đó, nhà văn nhìn con người ở nhiều thang bậc giá trị, ở những tọa độ ứng xử khác nhau, ở nhiều chiều kích, chân thực và toàn diện hơn Nhờ sự thay đổi quan niệm về con người, nhà văn đã cắt nghĩa các vấn đề cuộc sống liên quan đến con người theo chiều hướng đa chiều”[261; 1]

Như vậy, vấn đề con người cá nhân đã được đề cập đến qua khá nhiều chuyên luận, công trình, bài báo có tính chất tổng kết, khái quát Các tác giả khá thống nhất trong quan niệm: ý thức cá nhân đã thức tỉnh trở lại và con người đời tư, cá thể được

Trang 9

xem là hạt nhân trong sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người của văn xuôi Việt Nam sau 1975

2.2 Những nghiên cứu về các phương diện biểu hiện con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn sau 1975

Theo quan sát của chúng tôi, các nhà nghiên cứu có điểm gặp gỡ nhau ở chỗ khẳng định văn xuôi sau 1975 thể hiện cái nhìn nhiều chiều về con người, trong sự đa bội, phức tạp và sinh động của chính nó

Nguyễn Thị Bình nhấn mạnh đến các kiểu loại người phổ biến và khẳng định:

“với sự mở rộng một số bình diện khám phá con người, các nhà văn đã bước đầu xác lập được một hệ thống tiêu chí giá trị phù hợp với con người trong thời đại mới, phù hợp tinh thần nhân bản, dân chủ của sự nghiệp đổi mới xã hội mà Đảng tiến hành”[33; 117] Ở một bài viết khác, bà tiếp tục nhấn mạnh chiều sâu nhận thức thẩm mĩ và sự phong phú của văn xuôi nước ta giai đoạn này: “Sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Phan Thị Vàng Anh… quan tâm nhiều đến hành trình

tự ý thức của con người Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Chu Lai, Đỗ Hoàng Diệu, Phạm Hoa, Nguyễn Quang Lập… có những phát hiện sắc sảo về con người bản năng, vô thức Bảo Ninh, Hồ Anh Thái, Thuận, Châu Diên… lại nhiều trăn trở với đời sống tâm linh của con người”[33; 208]

Nguyễn Văn Long chú ý đến tính đa chiều trong các mối quan hệ người, đến các tầng bậc nhân tính được soi chiếu: “văn xuôi sau 1975 mở ra cái nhìn ở nhiều bình diện khác: con người như một thực thể tự nhiên, con người trong tính cá thể đơn nhất và trong tính nhân loại phổ quát”; “cùng với việc tiếp cận con người ở nhiều bình diện, văn xuôi cũng mở ra sự khám phá con người ở nhiều tầng bậc Con người ý thức, tư tưởng, con người trong chiều sâu của tiềm thức, vô thức, tâm linh”[145; 70],

“rất khó có thể đưa ra một bảng phân loại hay liệt kê nào có khả năng bao quát được thế giới nhân vật của văn xuôi hiện nay Nhưng cũng có thể dễ dàng nhận ra khá nhiều kiểu loại nhân vật mới, vốn chưa có hoặc rất ít trong văn xuôi trước 1975: con người cô đơn, nhân vật bi kịch, nhân vật lạc thời, nhân vật kì ảo…”[145; 72]

Mai Hải Oanh dành một chương chuyên luận lần lượt phân tích, lí giải các loại hình nhân vật chính trong tiểu thuyết sau 1975 như bằng chứng về sự đổi mới cách nhìn con người: kiểu nhân vật tự ý thức, nhân vật bi kịch, nhân vật tha hóa, nhân vật dị biệt Theo bà, “thế giới nhân vật trong tiểu thuyết đương đại thực sự là thế giới “muôn mặt đời thường”[192; 289]

Trang 10

Con người tự ý thức (con người tự thú hay sám hối) được khá nhiều tác giả quan

tâm Tôn Phương Lan có “Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kì đổi mới” Bà nhấn mạnh: “Khảo sát con người trong nhu cầu tự nhận thức, các nhà văn đã tìm nhiều cách để tiếp cận với cõi tận cùng trong tâm hồn con người Con người luôn mong đợi Con người luôn khát khao, hi vọng và tìm kiếm cho dù có khi họ biết cái đã qua sẽ không bao giờ trở lại cũng như điều mong ước chắc gì đã có được trong đời”[134] Bích Thu cho rằng trong những năm gần đây, cảm hứng tự nhận thức được khơi dậy mạnh mẽ trong văn xuôi, đặc biệt là lĩnh vực tiểu thuyết Sự thể hiện cảm

hứng này thông qua nhiều nhân vật (Giang Minh Sài trong Thời xa vắng, Khiêm trong

Ngược dòng nước lũ, Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh, lão Khổ trong Lão Khổ, Khoái

trong Tiễn biệt những ngày buồn, Tâm trong Cơ hội của chúa, Bằng trong Cơn

giông…) Theo bà, đó là “những mẫu người đứng trước sự thử thách và lựa chọn trên

các cực đối lập để nhận về mình thành công hay thất bại trong dòng chảy của cuộc đời”, và “nhà văn đã nhận diện con người đích thực với nhiều kiểu dáng nhân vật, biểu hiện phong phú và đa dạng nhu cầu tự ý thức, sự hòa hợp giữa con người tự nhiên, con người tâm linh và con người xã hội”[144; 232] Mai Hải Oanh đã khẳng định trong chuyên luận của mình: “trong tiểu thuyết, loại nhân vật tự ý thức… hết sức đa dạng (…), kiểu nhân vật này đủ đông đảo để hình thành một dòng văn học tự vấn – thể hiện nhu cầu tự thức tỉnh của con người trong xã hội hiện đại”[192; 106]

Con người với cảm thức cô đơn, cảm thức lạc loài có lẽ thu hút nhiều nhất các

nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng nói: “Vấn đề nỗi cô đơn của con người cũng được một

số cây bút chú ý Không ít người miêu tả nó và miêu tả khá hay, nhưng không “hù dọa” con người và đẩy nó thêm vào tuyệt vọng”[234] Nguyễn Thị Bình nhận xét: “cảm thức

cô đơn, nỗi hoang mang lo âu trước bao điều phi lí dường như đang đậm dần trong tâm thế con người hiện đại, khi khúc xạ vào văn chương cũng thường mang gương mặt của

“cái bi”; “nhiều tác giả lên tiếng cảnh báo về tình trạng mất khả năng giao tiếp giữa các

cá nhân”, hoặc ở một số tác giả khác “nỗi cô đơn triết học thấp thoáng ẩn hiện”[33; 146-147] Tương tự, khi điểm qua dấu hiệu đổi mới của văn xuôi, Bích Thu khẳng định: “những năm gần đây với tư duy nghệ thuật mới về con người, các nhà văn đã quan tâm đến nhu cầu tự ý thức, đến sự thức tỉnh của cá nhân, đến trạng thái tâm lí cô đơn của con người”; “cô đơn trở thành một chủ đề thu hút sự chú ý của nhiều cây bút văn xuôi hôm nay bởi bản chất của tâm trạng cô đơn là khao khát cái đẹp, cái thiên lương của con người”; “Cô đơn là vấn đề của mỗi bản thể, cá nhân nhưng nó không

Trang 11

hẳn là vấn đề riêng tư, nhỏ bé Có thể nói từng cuộc đời riêng của mỗi cá nhân gộp lại thành vấn đề của cộng đồng, của xã hội, một khía cạnh của chủ nghĩa nhân đạo hôm nay”[246] Tôn Phương Lan giải thích về sự xuất hiện của nhân vật cô đơn: “Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, nhà văn đã có thể nhìn vào tâm thức, vào đời sống tình cảm và phát hiện ra những khao khát riêng tư, mối mâu thuẫn giữa kỳ vọng của con người và thực tế khách quan Điều đó được thể hiện qua hiện tượng nhân vật cô đơn xuất hiện khá nhiều trong văn xuôi những năm đổi mới”[134] Lê Thị Hường nhấn mạnh: “Với quan niệm con người cá thể, với sự thức tỉnh ý thức cá nhân, con người có lúc cảm thấy cô đơn và có nhu cầu nói to lên trạng thái tâm lý này”, “cô đơn trở thành điểm xoáy thu hút sự chú ý của nhiều cây bút”, “cô đơn là ám ảnh thường xuyên của nhân vật, trở thành chủ đề nổi bật”[116] Hai tác giả Trần Hạnh Mai và Ngô Thị Thu Hiền sơ bộ nhận diện cảm thức lạc loài trong văn xuôi đã đề cập đến “nỗi cô đơn, đau đớn của con người khi xa lạ, bơ vơ giữa hiện tại, bất hòa với xung quanh”, các tác giả bài viết cho rằng “trong sự chuyển biến mạnh mẽ của văn xuôi đương đại, cảm thức lạc loài đã hiện ra như một cách nhận thức sâu sắc hơn về những vấn đề nhân sinh thiết cốt,

về trạng thái nhân thế đáng buồn lo và cả ước vọng thiết tha về cuộc sống tốt đẹp hơn”[156] Trịnh Đặng Nguyên Hương nói đến “những thức nhận về thân phận di dân, tha hương và lưu lạc”, từ đó “đào sâu vào thân phận con người mang tính phổ quát” trong sáng tác của nhà văn Thuận Chỉ ra cảm thức lạc loài của các nhân vật ngay nơi tổ

ấm, giữa cộng đồng, tác giả nhấn mạnh đến đặc điểm riêng trong sáng tác của nhà văn này: “nhân vật lạc loài trở thành phổ biến, không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, màu

da, giới tính, quốc gia: một thế giới lạc loài không biên giới Với Thuận, cảm giác, trạng thái lạc loài đã được ý thức sâu sắc, trở nên nhất quán, xuyên suốt, thường trực trong tác phẩm như là một cách thức diễn giải mang cảm quan riêng của chị về con người, xã hội và văn chương hiện đại”[114]

Con người tự nhiên bản năng cũng được nhắc tới trong một số công trình

Nguyễn Thị Bình không dùng khái niệm “tự nhiên bản năng” mà diễn giải: “con người

là sản phẩm của tự nhiên” Bà khẳng định văn xuôi sau 1975 “có nhu cầu cân bằng lại” cái nhìn lí tưởng hóa một chiều ở giai đoạn trước khi đề cập đến khát vọng mang tính bản năng của con người, “giúp cho hình ảnh về nó chân thật hơn”[33; 103] Võ Thị Thanh Hà khi nói đến sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi giai đoạn mới cũng cho rằng các nhà văn sau 1975 đã nhìn nhận “con người với những

Trang 12

khát vọng bản năng như là một điều bình thường tất yếu”, “con người được khám phá

từ bản năng làm mẹ, bản năng tình dục…”[82; 323-324]

Về con người kì ảo, nhân vật gắn liền với các yếu tố vô thức tiềm thức, tâm linh

trong văn xuôi sau 1975, Mai Hải Oanh nhận xét: “nhiều nhà văn đã xây dựng kiểu nhân vật huyền thoại hoặc mang những dáng dấp huyền thoại”[192; 133]; Bùi Thanh Truyền cho rằng: “Hệ thống nhân vật trong văn xuôi có yếu tố kì ảo hôm nay khá đa dạng, phong phú Có thể đó là những nhân vật huyền thoại hoặc có nguồn gốc từ thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, những nhân vật siêu thực, lịch sử đã thuộc về thiên cổ như

ma, quỷ, vong hồn… hoặc là cỏ cây, đồ vật, con vật… có hành động, chức năng thần

kì, là những con người dưới đáy bị biến dạng, hóa thân bởi sự khắc nghiệt, hoang dã bởi môi trường sống, bởi không tìm được chỗ đứng giữa dòng đời cuộn chảy, bởi phép thuật, lời nguyền”[280] Võ Thị Thanh Hà nhấn mạnh: “Tiểu thuyết đương đại khắc họa con người không chỉ ở tính cách, những điều có thể lí giải được bằng lí tính mà còn khám phá con người ở cõi tâm linh vi diệu biến ảo, khám phá những dòng ý thức và những mảnh tiềm thức đan vào nhau như một ma trận cực kì phức tạp của thế giới bên trong con người”[82; 323-324]

Thế giới con người vô cùng đa dạng và mỗi nhà nghiên cứu đều có cách tiếp cận riêng ở những giới hạn nhất định Chúng tôi mới chỉ bao quát những ý kiến, những nhận định chung về văn xuôi và một số nghiên cứu luận giải về thế giới nhân vật của các tác giả, tác phẩm tiêu biểu Sự quan tâm đến con người cá nhân trong các công trình nói trên là những gợi dẫn cần thiết cho chúng tôi khi đi sâu vào vấn đề này

2.3 Những ý kiến về các phương thức nghệ thuật thể hiện con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn sau 1975

Khá nhiều tác giả quan tâm tới sự đổi mới văn xuôi trên phương diện nghệ thuật Tuy nhiên, nhìn nó như là kết quả của ý thức về con người cá nhân thì chưa có công trình nào đặt vấn đề trực diện hoặc nghiên cứu một cách hệ thống

Khi khái quát những đổi mới trên phương diện thể loại của văn xuôi sau 1975, Nguyễn Thị Bình khẳng định: “góc độ tiếp cận con người đời tư đã cho phép văn xuôi nước ta từ sau 1975 tự phân biệt với văn xuôi giai đoạn trước đó” Tác giả cho rằng biểu hiện cụ thể nhất của sự khác biệt này nằm ở tính chất của không gian nghệ thuật (“không gian mang tính cá nhân riêng tư”; “không gian đời tư thấm đẫm cảm giác của

cá nhân”; “cảm giác mang tính cá nhân tạo ra cả những không gian ảo giác, không gian hoang tưởng của tâm linh, của cảm thức tôn giáo”) và thời gian nghệ thuật (“thời gian

Trang 13

sự kiện ngắn”; “thời gian tâm lí, thời gian hồi tưởng có thể mở ra đến vô cùng”; “quá khứ đồng hiện cùng thực tại và tương lai, các lớp thời gian chồng lên nhau, có khi nhòe

mờ, có khi đứt nối lộn xộn đã phá vỡ cấu trúc truyện truyền thống, đưa kiểu cốt truyện tâm lí lên hàng đầu”, “thời gian nghệ thuật giữ vai trò không thể thiếu trong việc bộc lộ đời sống riêng tư của con người ”[33; 136-139]) Cái nhìn khái quát này đã thực sự khơi mở cho chúng tôi triển khai luận án

Nguyễn Văn Long nhấn mạnh: “Sự khám phá vào thế giới tiềm thức, vô thức, đời sống tâm linh đã dẫn đến nhiều phương thức biểu đạt mới, như dòng ý thức, huyền

ảo hóa”[145; 70] Theo Mai Hải Oanh thì “bên cạnh những thủ pháp nghệ thuật cổ điển (…) thì việc vận dụng kĩ thuật dòng ý thức, sử dụng huyền thoại, phi lí, tái tạo mô típ, đặc tả hành động… nhằm miêu tả tính đa diện của nhân vật chính là những nỗ lực hiện đại hóa tiểu thuyết của các nhà văn Việt Nam”[192; 151] Tìm hiểu một số cách biểu hiện con người cô đơn bất hạnh, Bích Thu kết luận: “thủ pháp độc thoại nội tâm với nhiều dạng thể hiện độc đáo như tự bạch, độc thoại với người vắng mặt, dạng viết nhật

kí, sự đan xen giữa ý thức và tiềm thức để khơi sâu vào nỗi đau có tính chất dồn nén, nín lặng của con người” và “bằng thời gian đồng hiện, bằng các mạch phát triển của thời gian tâm trạng, các nhà văn đã có điều kiện đi sâu khai thác và khám phá đến tận cùng cõi cô đơn của con người”[246] Khi nói về ý thức cách tân trong tiểu thuyết, bà nhấn mạnh đến vấn đề ngôn ngữ: “ngôn ngữ đối thoại giữ vai trò đáng kể trong khắc họa tính cách nhân vật Mỗi nhân vật được nhà văn quan niệm như một ý thức, một tiếng nói, một chủ thể độc lập”, “độc thoại nội tâm trở thành một thủ pháp nghệ thuật

có hiệu quả trong quá trình tự ý thức của nhân vật, đi sâu vào thế giới nội tâm đầy bí ẩn của nhân vật”; “tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đã vận dụng thủ pháp dòng ý thức như một phương tiện đi vào thế giới tâm linh một cách có hiệu quả”[145; 234-235]

Chúng tôi nhận thấy giới nghiên cứu tỏ mối quan tâm sâu sắc tới hình tượng con người cá nhân, coi con người cá nhân chính là cốt lõi của sự đổi mới văn xuôi sau 1975 Các phương diện và phương tiện thể hiện con người cá nhân cũng đã được bàn đến, tuy nhiên mới chỉ ở mức độ khảo cứu ban đầu Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình

nào nghiên cứu một cách trực diện, hệ thống vấn đề Con người cá nhân trong tiểu

thuyết và truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, chúng

tôi sẽ tập trung khảo sát một cách hệ thống các bình diện của con người cá nhân và

những phương thức nghệ thuật tương ứng

Trang 14

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài lấy đối tượng nghiên cứu là con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam từ sau 1975

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Tư liệu dùng để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài là các tiểu thuyết, truyện ngắn từ sau 1975, đặc biệt là từ 1986 đến những năm gần đây Đây là hai thể loại tiêu biểu, đạt được nhiều thành tựu nhất trong văn xuôi Hơn nữa, hai thể loại này

có mô hình nghệ thuật, nguyên tắc nghệ thuật tương đối gần nhau Nhưng do số lượng tác phẩm của hai thể loại là quá lớn, luận án dành sự ưu tiên cho những sáng tác nổi bật,

có ý thức tự giác trong nhìn nhận và đánh giá con người cá nhân Sự lựa chọn này phù hợp với dung lượng, thời gian thực hiện đề tài

Nhằm làm rõ con người cá nhân trong tiểu thuyết, truyện ngắn từ sau 1975, cần

sự đối sánh với văn học đoạn trước đó Vì vậy, đề tài sẽ mở rộng tư liệu khảo sát đến

văn xuôi trước 1975 trong những trường hợp cần thiết

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận án đề ra mục tiêu nhận diện, phân tích các dạng cơ bản của con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam từ sau 1975, từ đó khẳng định và lí giải

sự xuất hiện trở lại của con người cá nhân, đồng thời chỉ ra những đổi mới nghệ thuật

tự sự trên phương diện thể hiện con người cá nhân ở hai thể loại này

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.2.1 Xây dựng cơ sở lí luận của đề tài, cụ thể là xác định khái niệm công cụ:

con người cá nhân

4.2.2 Tìm hiểu những tiền đề xuất hiện trở lại và sự vận động của con người cá nhân trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975

4.2.3 Phân tích các dạng biểu hiện cơ bản của con người cá nhân trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975

4.2.4 Phân tích những đổi mới trong nghệ thuật thể hiện con người cá nhân

trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau đây:

- Phương pháp loại hình

Trang 15

Con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn sau 1975 là một thực thể nghệ thuật vô cùng đa dạng, phức tạp Để nhận diện và tìm hiểu đối tượng này, phương pháp loại hình giúp người nghiên cứu khảo sát, phân loại các dạng thức con người cá nhân trong tiểu thuyết, truyện ngắn sau 1975

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học

Chúng tôi sử dụng “công cụ” của thi pháp học để tiếp cận đối tượng trong quá trình thực hiện đề tài Cụ thể là từ việc tìm hiểu những biến đổi quan niệm nghệ thuật

về con người, chỉ ra những dạng thức cơ bản của con người cá nhân, từ đó tìm hiểu tác động của nó đến những đổi mới nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết và truyện ngắn từ sau

1975

- Phương pháp so sánh

Phương pháp này giúp chúng tôi liên hệ, tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa các loại hình nhân vật, chỉ ra sự giống và khác nhau giữa các nhà văn trong thể hiện con người cá nhân, giúp xem xét sự thể hiện con người cá nhân trong đối sánh với giai đoạn văn học trước đó nhằm làm rõ đặc điểm riêng của con người cá nhân ở tiểu thuyết và truyện ngắn sau 1975

- Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại

Phạm vi khảo sát của luận án là tiểu thuyết và truyện ngắn Do đó, khi nghiên cứu con người cá nhân trong các sáng tác, phương pháp này giúp cho sự phân tích bám sát những đặc trưng của loại hình tự sự, đồng thời quan tâm đến đặc điểm riêng của mỗi thể loại trong việc thể hiện con người cá nhân

- Ngoài các phương pháp nêu trên, chúng tôi còn vận dụng phương pháp liên

ngành Sự phối kết hợp các phương pháp xã hội học, văn hóa học, tâm lí học… trong

quá trình nghiên cứu giúp chúng tôi đáp ứng tốt hơn mục tiêu của luận án

6 Những đóng góp mới của luận án

6.1 Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách chuyên biệt, toàn diện

về con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam sau 1975; nhận diện

và phân tích những dạng thức cơ bản của con người cá nhân, chỉ ra những cách tân của nghệ thuật tự sự trên phương diện thể hiện con người cá nhân trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975

6.2 Từ việc nghiên cứu về con người cá nhân, luận án góp phần khẳng định sự đổi mới của văn xuôi sau 1975 ở một chiều sâu cốt lõi là trình độ tư duy thẩm mĩ về con người

Trang 16

6.3 Luận án cung cấp một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam sau 1975 tại các trường phổ thông, cao đẳng và đại học ngành ngữ văn

7 Giới thiệu bố cục luận án

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận án được triển khai trong 3 chương:

Chương 1 (Từ trang 13 đến trang 48): Quan niệm Con người cá nhân - Tiền

đề xuất hiện trở lại và sự vận động của con người cá nhân trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975

Chương 2 (Từ trang 49 đến trang 96): Những kiểu con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam sau 1975

Chương 3 (Từ trang 97 đến trang 148): Con người cá nhân và những đổi mới nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975

Trang 17

CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM “CON NGƯỜI CÁ NHÂN” – TIỀN ĐỀ XUẤT HIỆN TRỞ LẠI VÀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI

CÁ NHÂN TRONG TIỂU THUYẾT, TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975

1.1 Quan niệm “con người cá nhân”

Con người được hiểu như một phần, một sinh thể toàn năng của thế giới tự nhiên, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: sinh học, tâm lí học, đạo đức học, dân tộc học, y học, triết học, văn học… Mỗi khoa học có cách nhìn nhận, cách nghiên cứu khác nhau về con người, tùy theo mục tiêu cụ thể Việc hình dung “con người” trong tính chỉnh thể của nó thật không đơn giản và cũng không dễ bề thống nhất

1.1.1 “Con người” và bản chất của con người

Con người là “sinh vật có tính xã hội Một bước phát triển cao nhất của sự sống trên trái đất Con người tạo ra xã hội, làm ra công cụ lao động, biến đổi thiên nhiên, ý thức và có tiếng nói”[260; 197-198] Xét về mặt bản chất xã hội, “con người không những chỉ tạo ra lao động xã hội mà còn thiết lập ra các mối quan hệ xã hội, hình thành hiện thực văn hóa xã hội và tiến trình lịch sử ” [260; 199] Mặt khác, “với tính cách là hiện thân những năng lực sáng tạo đã hình thành về mặt lịch sử, với tính cách là kẻ chịu trách nhiệm cá nhân về tất cả những hậu quả của những hành vi của mình, của những

sự đánh giá về việc chấp nhận những tiêu chuẩn nhất định của sinh hoạt xã hội, con người là một cá nhân”[260; 199]

Trong lịch sử triết học cơ bản có hai quan niệm khác nhau khi nói về bản chất của con người Quan niệm thứ nhất – xuất phát từ chỗ đề cao tự nhiên, lấy tự nhiên là trung tâm

- cho rằng con người là một bộ phận của vũ trụ, là một tiểu vũ trụ, phụ thuộc vào Trời - đấng toàn năng tối cao (Triết học Ấn Độ và Trung Quốc cổ trung đại) Quan niệm thứ hai

đề cao con người, nhấn mạnh đến vị thế của con người trong xã hội và đặt nó trong mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với tự nhiên (Triết học phương Tây cổ đại khẳng định con người là vốn quý, là trung tâm hoạt động của thế giới Triết học Tây Âu thời phục hưng và cận đại phát hiện ra con người trong thế giới và cả một thế giới trong con người Các nhà Khai sáng quan niệm con người là một bộ phận của thế giới tự nhiên, một động vật, suy nghĩ nhờ các giác quan Các nhà triết học cổ điển Đức đã đề cao sức mạnh trí tuệ của con người và cho rằng: tư duy, ý thức của con người chỉ phát triển trong chừng mực

Trang 18

con người nhận thức và cải tạo thế giới, con người là chủ thể, đồng thời là kết quả hoạt động của một thời đại lịch sử nhất định của nền văn minh do chính nó tạo ra.)

Một số trào lưu triết học phương Tây hiện đại (từ giữa thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX) lại đưa ra những quan điểm khác nhau về con người và bản chất con người Sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật đã giúp con người khắc phục nghèo đói, bệnh tật; con người học được cách chế ngự tự nhiên, thay lao động cơ bắp bằng lao động cơ khí, lạc quan nhìn về tương lai Tuy nhiên, đại chiến thế giới hai đã tàn phá các thành tựu khoa học – kĩ thuật, đẩy con người vào tình trạng khủng hoảng và hoài nghi, mất lòng tin vào lịch sử Triết học phương Tây hiện đại vì vậy diễn ra theo xu hướng “có sự điều hòa mâu thuẫn giữa khoa học với tôn giáo, sự tách biệt đối lập giữa chủ nghĩa duy lí và chủ nghĩa nhân bản”[243; 144] Triết học hiện sinh thể hiện “ý thức thuần túy về bản thân” cũng như “sự tồn tại đích thực nhân cách con người”, coi sự tồn tại của con người là hiện thực tuyệt đối và duy nhất Triết học Freud nhấn mạnh đến ba yếu tố hình thành nhân cách con người: “cái ấy” (tính dục), “cái tôi” (ý thức của con người) và cái “siêu tôi” (đại diện của xã hội, lí tưởng và những tác động bên ngoài trong tâm lí con người) Triết học tôn giáo (điển hình là chủ nghĩa Thomas mới) đề cao đức tin vào Chúa, lấy Chúa làm trung tâm để con người thấm nhuần những giá trị chân chính… Như vậy, trong thời đại mới, các trào lưu triết học phương Tây cũng đi theo hai chiều hướng: một

là đề cao vị thế của con người, hai là nhấn mạnh vai trò của tự nhiên (triết học tôn giáo)

Xu hướng thứ nhất lại tiếp tục được tách ra thành hai quan niệm: đề cao bản năng tự nhiên (triết học Freud) hoặc coi trọng ý thức nhân vị (triết học hiện sinh)

Chủ nghĩa Marx đã đưa ra những nguyên lí cơ bản của quan niệm biện chứng duy vật về con người Song, việc xây dựng một quan điểm hài hòa, hoàn chỉnh về con người là một việc vô cùng khó khăn vì những biểu hiện bản chất của con người cực kỳ nhiều vẻ (đó là lí tính, là ý chí, tính cách, xúc cảm, lao động, giao tiếp…) Marx cho rằng: điều kiện quyết định sự hình thành con người là lao động Lao động và xã hội đã tạo ra bản chất của con người Marx viết: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng vốn có của một cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa của tất cả những quan hệ xã hội”[289; 7] Quan niệm về con người như vậy thực ra đã được manh nha từ triết học cổ điển Đức, khi J.G Fichte cho rằng, khái niệm con người không liên quan tới một con người đơn nhất… mà có liên quan đến giống người L.A Feurbach cũng nhấn mạnh không có con người cô lập Đó chính

là tiền đề cho quan niệm của Marx về con người và bản chất con người

Trang 19

Tâm lí học chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx về con người nhấn mạnh đến quan điểm về “sự thống nhất biện chứng của những thành tố tự nhiên và xã hội”, đồng thời cho rằng: “con người về cơ bản phải được xem xét như một hiện tượng xã hội lịch

sử cụ thể với những thuộc tính của mình, nó trở thành một cá nhân đặc biệt so với các

cá nhân khác Con người phát triển thành cá nhân và thành nhân cách, phụ thuộc trước hết không phải vào mong muốn và ý chí, mà là vào quan hệ xã hội, kinh tế chính trị và vật chất khách quan mà trong đó con người sống”[53; 114] Tuy nhiên, do quá nhấn mạnh vào bản chất xã hội của con người, triết học Marx và Tâm lí học chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx chưa coi trọng đúng mức yếu tố tự nhiên trong cấu trúc cá nhân ở mỗi con người

Như vậy, các học thuyết cơ bản cho thấy: con người là một thực thể, một sản phẩm của tự nhiên và xã hội Tuy nhiên, đi vào cụ thể, quan niệm về bản chất của con người cũng được phân tách theo hai xu hướng: một đề cao yếu tố tự nhiên, bản chất tự nhiên; một nhấn mạnh vào bản chất xã hội, ý thức xã hội của con người

1.1.2 Quan niệm “con người cá nhân” và quá trình phát triển của con người cá nhân trong lịch sử

1.1.2.1 Quan niệm con người cá nhân

Từ điển Triết học (Cung Kim Tiến (2002), NXB Văn hóa thông tin Hà Nội) cho rằng con người cá nhân được thể hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng, chịu

sự tác động mạnh mẽ bởi các yếu tố xã hội: “Con người với những phẩm chất được quy định về mặt xã hội và được biểu lộ ở mỗi cá nhân: trí tuệ, tình cảm, ý chí”, “các đặc tính vốn có của cá nhân không thể là bẩm sinh, mà xét cho cùng là bị quy định bởi chế

độ xã hội hình thành trong lịch sử”; “cá nhân là một tổng thể gắn bó những nét bên trong và những đặc điểm của con người, qua đó mọi tác động từ bên ngoài được phản ánh”, “cái chủ quan trong cá nhân (cảm xúc, ý thức, nhu cầu) là không tách rời các quan hệ khách quan được hình thành giữa con người với hình thức chung quanh Trình

độ phát triển của cá nhân phụ thuộc vào chỗ các quan hệ này tiến bộ đến đâu về mặt lịch sử”[260; 144] Theo quan điểm này, con người – cá nhân được hiểu là những thực thể mang tính xã hội, ở đó có mối quan hệ khăng khít, tác động qua lại giữa cá nhân với

cá nhân, cá nhân với cộng đồng Cá nhân vì vậy vừa mang tính cá thể (của riêng nó) lại vừa mang tính phổ quát (của nhân loại) Nó được phân biệt với các cá thể khác thông qua chính tính đơn nhất và tính phổ biến của nó

Trang 20

Tiếp tục phân tích mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội, triết học Marx cho rằng

cá nhân luôn luôn được phân biệt với những đặc trưng căn bản sau:

- “Thứ nhất: cá nhân là phương thức tồn tại cụ thể của loài người một cách trực tiếp, cảm tính Không có con người nói chung, mà chỉ có con người cụ thể - cá nhân - của giống loài

- Thứ hai, cá nhân là phần tử đơn nhất, riêng lẻ, tạo thành cộng đồng xã hội, là

cơ sở hình thành lịch sử xã hội loài người

- Thứ ba, cá nhân là một chỉnh thể toàn vẹn có nhân cách, biểu hiện trong phẩm chất sinh lý và tâm lý riêng biệt của mỗi con người

- Thứ tư, cá nhân trong mối quan hệ với xã hội là một hiện tượng lịch sử, vận động phát triển phù hợp với mỗi thời đại nhất định Do đó, trong bất kỳ xã hội nào, cá nhân cũng không tách rời khỏi xã hội, mỗi thời đại sản sinh ra một kiểu cá nhân có tính đặc thù, thậm chí đối lập nhau, trong những quan hệ xã hội nhất định”[283]

Ở đây, cá nhân được hiểu theo nghĩa vừa là mỗi cá thể đơn nhất, là cơ sở hình thành xã hội; vừa là những nhân cách độc lập với phẩm chất tâm lí, sinh lí riêng Cá nhân gắn bó chặt chẽ với xã hội và mang đặc điểm riêng của từng thời đại Quan niệm con người cá nhân trong triết học Marx khá toàn diện khi có nói đến cả phương diện tự nhiên (phẩm chất tâm lí, sinh lí), vừa quan tâm đến phương diện xã hội của con người (trong đặc điểm “không tách rời khỏi xã hội”) Tuy nhiên, nhìn tổng thể vẫn thấy quan niệm trên chú tâm nhiều hơn đến con người xã hội mà lướt qua bản chất tự nhiên của con người

Trong cuốn Lịch sử cá nhân luận, Alain Laurent đã tổng hợp các ý kiến nghiên

cứu về quá trình thai nghén của cá nhân trong tâm thức phương Tây Trên cơ sở đó, Alain Laurent đã đưa ra quan niệm của mình về con người cá nhân Ông khẳng định:

“Bản tính con người là cá nhân”[137; 4] Con người cá nhân có những “ham muốn và những dục vọng riêng biệt,… bị thúc đẩy bởi những lợi ích riêng khiến anh ta muốn sống theo các lợi ích này”[137; 5] Trong mỗi cá nhân luôn luôn có sự kết hợp giữa bản năng tự nhiên và ý thức xã hội, giữa tình cảm tự phát và ý chí đã trở thành tự giác

Cá nhân có tính độc lập, tự do trong hành động Cá tính độc lập của mỗi cá nhân được xem như “biểu hiện hoàn mĩ nhất của bản chất con người”[137; 6] Đi sâu vào ý tưởng này, tác giả cho rằng “quyền tự nhiên của cá nhân là kẻ sáng tạo ra chính cuộc sống của mình mà không bị ép buộc – và là kẻ sáng tạo ra chính bản sắc của mình mà không thấy nó bị áp đặt bởi những sở thuộc không do mình chọn”[137; 7]

Trang 21

Con người cá nhân tồn tại bằng một ý chí mạnh mẽ và khả năng ý thức cao về bản thân: “Sở dĩ cá nhân có thể tự chủ như vậy vì y sống một cuộc sống thứ hai có tính chất trí tuệ ở trong nội tâm mình Y có một ý thức về chính mình: trong nội tâm thâm trầm của y thuộc về chính mình, y quay trở lại chính mình Chính khả năng tự nhận thức này cho phép y vượt lên khỏi mình và có được một quyền lực của mình về chính mình”[137; 8] Theo quan niệm này, cá nhân là một chủ thể gồm hai mặt: con người bên trong (với những vận động nội tâm âm thầm, khiến cá nhân hoàn toàn khác biệt với những cá nhân khác) và con người bên ngoài (với hành động có ý thức về các sự lựa chọn và các hành vi của mình) Do đó, cá nhân là những nhân cách có trách nhiệm

Qua cách tổng thuật và kết luận về con người cá nhân, Alain Laurent đã khẳng định khả năng tự nhận thức, khả năng độc lập bên cạnh những khao khát bản năng của con người Như vậy, con người cá nhân được nhìn nhận khá thấu đáo và toàn diện trong các lớp lang ý nghĩa của nó

Từ những quan niệm trên, chúng tôi sơ bộ đi đến cách hiểu sau: con người

cá nhân là con người được biểu hiện trong phẩm chất sinh lí và tâm lí riêng biệt; gắn liền với ý thức về bản thể, về cá tính, về sự sống của bản thân Đó là ý thức về cái tôi với sự độc lập tương đối trong hành động, suy nghĩ, cảm xúc, là ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ mà nó đặt ra cho mình Cái tôi ấy có khả năng phản tỉnh, phê phán, khả năng hành động, thực hiện khát vọng của riêng nó, với những trải nghiệm riêng, nó cũng nhiều khả năng sai lầm, ấu trĩ hoặc vấp váp trong hành động, nhưng đó lại là động cơ thúc đẩy cuộc tìm kiếm bản ngã của chính nó Và khi đối lập với số đông, cái tôi dễ rơi vào cô đơn, trống trải Đó là một thứ xúc cảm tất yếu khi cá nhân hành động theo các thái độ của mình hơn là theo các chuẩn mực của tập thể

“Cá nhân” có chỗ khác “cá thể” tuy hai khái niệm ấy có mối quan hệ mật thiết

và nhiều khi được hiểu với ý nghĩa tương đồng Nếu “cá nhân” là một hiện tượng lịch

sử, phát triển trong mỗi thời đại với những điều kiện, trình độ, quan niệm tương ứng được ý thức trong mối quan hệ với tập thể, cộng đồng thì “cá thể” chỉ con người trong ý nghĩa đơn nhất, cá biệt trong các quan hệ nội tại của nó với chính nó

1.1.2.2 Quá trình phát triển của con người cá nhân trong lịch sử

Alain Laurent nhấn mạnh: “Thai nghén âm thầm thời trung cổ…, cuối cùng cá nhân bắt đầu chập chững nổi lên trong thời phục hưng như một thực tế được thể nghiệm và là phạm trù của tư duy, cá nhân luận đột nhập rõ ràng vào thế kỉ XVII và XVIII”[137; 18] A.JA Gurevich cho rằng: “Trong suốt quá trình lịch sử cá nhân con

Trang 22

người ý thức bản thân mình ở những mức độ khác nhau: tự tách ra khỏi tập đoàn hay hòa nhập tập đoàn, con người không bao giờ là một cá thể không có mặt mũi rõ rệt trong một bầy những kẻ giống mình”[79; 321] Hữu Sơn cũng tỏ ra đồng quan điểm trên: “Cá nhân xuất hiện từ thời cổ đại và không cần phải đợi đến lúc chủ nghĩa tư bản hình thành”[185; 14] Huyền Giang khi tìm hiểu về con người cá nhân ở phương Đông cho biết: “Cái tôi – ý thức về con người cá nhân của từng cá nhân – bao giờ cũng tồn tại”[185; 38], “không có một quan niệm về con người cá nhân đồng nhất và thống nhất,

mà có nhiều quan niệm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau”[185; 44] Nói chung, giới

nghiên cứu nhất trí rằng: cá nhân xuất hiện đã lâu Nó đƣợc thể hiện hết sức khác nhau và mang tính đặc thù trong mỗi thời đại lịch sử (chúng tôi nhấn mạnh) Tuy

nhiên, để phát triển thành ý thức phổ biến trong xã hội, nó phải trải qua một quá trình lâu dài Lịch sử cá nhân từ khi thai nghén đến khi thể hiện, phát triển là cả một hành trình dài, có lúc phát triển mạnh mẽ, có lúc bị ngưng trệ, thậm chí bị trấn áp

Thời trung cổ, khi chế độ phong kiến cát cứ, phân quyền mạnh mẽ, tôn giáo nhất thần được xem như là công cụ của giai cấp thống trị Thiên chúa giáo - dòng tôn giáo giữ truyền thống bảo thủ nhất của Cơ đốc giáo – đã trở thành một tôn giáo độc tôn của các nước phong kiến Tây Âu Uy quyền phong kiến và thần quyền giáo hội đã cản trở khoa học kỹ thuật phát triển Triết học cũng bị phụ thuộc vào thần học Giáo hội và nhà thờ đã thiết định được một sức mạnh chưa từng có, chi phối cả chính trị Con người

cá nhân vì vậy không có chỗ đứng khi luôn nằm trong thế thụ động, trĩu nặng tội tổ tông, chỉ biết ăn năn sám hối trong kiếp làm người A.JA Gurevich khi tổng hợp các ý kiến của giới nghiên cứu về con người cá nhân thời kì này đã viết: “trước thời Phục hưng, dường như không có cá nhân con người, cá nhân hoàn toàn bị xã hội nuốt đi và hoàn toàn phục tùng xã hội”[79; 321] Alain Laurent nhấn mạnh: “con người không có quyền tự chủ nào hết trong việc chọn các giá trị và các chuẩn mực hành vi và họ không suy nghĩ cũng không hình dung mình là những cá nhân riêng biệt mà chỉ hành động

xem như những mảnh đơn thuần lệ thuộc vào một cái chúng ta”[137; 21-22] Chúng tôi

cho rằng, với quan niệm cá nhân là một thực thể độc lập có khát vọng và hành động độc lập thì thời trung cổ chưa có con người cá nhân theo đúng nghĩa (khi đó, con người phải từ bỏ cá tính riêng, không ý thức bản thân mình như những cá thể tự trị)

Thời đại Phục hưng, Tây Âu bừng tỉnh khỏi bóng đêm Trung cổ Những giá trị của thời Hy Lạp cổ đại được phục sinh Chế độ phong kiến với nền sản xuất nhỏ và các đạo luật hà khắc của nó bước vào giai đoạn lụi tàn Các ngành khoa học tự nhiên phát

Trang 23

triển, bội thu thành tựu Ý thức nâng cao giá trị cũng như khát vọng giải phóng con người đã làm nảy nở ý thức cá nhân Một kiểu người mới nảy sinh, dù hãy còn là thiểu số: con người của chữ “tôi” Với việc tự gọi mình là “tôi”, con người đã khẳng định quyền tối cao của mình và tính độc lập cá nhân Shakespeare là người đầu tiên đưa vào tác phẩm cái “tôi” cô độc giữa “chúng ta”, “con người trở thành cá nhân tinh thần và y

có ý thức về tình trạng mới này”[137; 36]

Ở thế kỉ Khai sáng (XVIII), các nhà triết học đưa ra quan niệm con người tự nhiên (“con người cũng có một thể xác động vật”), đồng thời đề cao con người xã hội Những tác phẩm lớn như “Tinh thần luật pháp” của C de Montesquieu, “Khế ước xã hội” của J J Rousseau đã nhấn mạnh tính tự do dân chủ Trong “Khế ước xã hội” Rousseau viết: “tự do là tự bản chất con người mà có…, tự do là mỗi người phải được chăm lo sự tồn tại của mình và do đó tự làm chủ lấy mình”; “từ bỏ tự do của mình là

từ bỏ phẩm chất con người, từ bỏ quyền làm người và cả nghĩa vụ làm người” Tôn trọng quyền cá nhân, giải phóng cá nhân khỏi cương vị phụ thuộc vào tổng thể cộng đồng, đặt cá nhân vào trung tâm xã hội, thừa nhận “cá nhân mới là biểu hiện đầy đủ

nhất và duy nhất của nhân loại (…) người ta bắt đầu dùng chữ cá nhân để chỉ con

người, cốt để nói lên tính đặc thù và tính phổ quát của con người”[137; 42] Cương vị

“bá chủ” của con người cá nhân thời kì này khắc sâu vào văn hóa và thực tế chính trị -

xã hội của thời đại

Cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, cách mạng công nghiệp ở Anh và cách mạng

tư sản ở Pháp làm rung chuyển châu Âu, đưa châu Âu bước vào nền văn minh công nghiệp Tư tưởng chung của các nhà triết học Kant, Hegel… là đề cao vai trò tích cực của tư duy con người, xem con người như là giá trị cao nhất sáng tạo ra tất cả mọi giá trị văn hoá trên trái đất, là thực thể có lý tính của vũ trụ mà tất cả phải xuất phát từ đó

và quay về đó Sau Kant, Feuerbach nhấn mạnh đến bản tính tự nhiên của con người Ông cho rằng con người không chỉ được hiểu như là một bộ phận của giới tự nhiên mà còn là một sinh thể tự nhiên toàn năng; con người vừa như là một cá thể chứa đầy tham vọng cá nhân, vừa như là sản phẩm của văn hoá và lịch sử; trong con người luôn có những ham muốn, nhu cầu, khát vọng và thái độ ích kỷ Quan niệm về con người trong triết học Feuerbach như đã trình bày ở trên theo đánh giá của A.G.Spirkin “chính là điểm xuất phát cho những lập luận của Mác về con người và bản chất con người”[223]

Thời kỳ hiện đại, nhờ khoa học kĩ thuật phát triển, cách hiểu về “con người cá nhân” cũng có nhiều thay đổi S Freud thách thức những cái nhìn cũ về con người khi

Trang 24

đưa ra lí thuyết vô thức Tâm lí con người được hiểu là một hiện tượng không đơn giản

và khó có thể mô tả minh bạch bằng ngôn ngữ Tuy nhiên, vị bác sĩ người Áo này đã gây nhiều tranh cãi khi cho rằng bản năng tính dục là cơ sở duy nhất cho các hoạt động của con người Chính vì tư tưởng này, Freud đã bị nhiều người phản đối, trong đó có K.G Jung - học trò của ông Nhưng từ Freud và Jung, trào lưu triết học hiện sinh đã thể hiện sự ưu tiên gần như tuyệt đối cho con người cá nhân với quan niệm “con người không phải như một bản thể phổ quát mà như một nhân vị” và “nhân vị đó mới là một

cá nhân”[52; 80], “con người không chỉ như anh ta tự quan niệm, mà còn như anh ta muốn, như anh ta tự quan niệm sau khi đã sống, và như anh ta muốn sau khi đã ước ao được sống; con người không là gì khác ngoài cái mà bản thân anh ta tự làm nên”[203], ngoài cái anh ta “dự định trở thành”

Con người hiện sinh mang trong mình “sự lo sợ”, nhưng điều đó không ngăn cản con người hành động, ngược lại, nó là điều kiện để con người hành động, tự chịu trách nhiệm với hành động của bản thân mình Con người hiện sinh không chờ ai đó chỉ đường J.P Sartre cho rằng con người hiện sinh “không có điểm tựa và không có hy vọng được cứu giúp, là con người bị bắt buộc phải luôn không ngừng tự sáng tạo ra bản thân mình”[203], tự quyết và tự chịu trách nhiệm, số phận con người nằm trong bản thân con người Con người có tính phổ quát (universalité de l‟homme), nhưng tính phổ quát này không có sẵn, mà nó luôn phải được xây dựng Với tư cách cá nhân, tôi xây dựng sự phổ quát (l‟universel) bằng cách tự chọn bản thân tôi và bằng cách hiểu dự án của người khác

kể cả người sống ở một thời đại khác, mỗi người tự làm nên mình đồng thời làm nên một mẫu người Chủ nghĩa hiện sinh cũng cho rằng, con người cá nhân khi không tự mình hành động thì sẽ “tha hóa”, thực chất là đánh mất mình để hóa thành người khác nếu nó quá suy tôn một thứ đạo đức có sẵn, quá tôn thờ một mẫu người lí tưởng hoặc tự biến mình thành một cơ năng để hành động (hành động như một cái máy, ăn theo tư tưởng của người khác mà không thể dứt ra được)

Chủ nghĩa hiện sinh cũng nhấn mạnh đến con người cá nhân như một hữu thể

cô đơn trong sự tự do lựa chọn và hành động Tuy nhiên, con người hiện sinh không lẩn tránh cô đơn mà chấp nhận cô đơn, đối mặt với tấn bi kịch của cuộc đời họ dù đó là hố thẳm Không thể sống không cô đơn nên “bệnh” của con người là buồn, là âu lo, là xao xuyến Tuy nhiên, con người hiện sinh vẫn chấp nhận thất bại, lựa chọn dấn thân, nhập cuộc bởi mỗi lần dấn thân, mỗi lần nhập cuộc là một lần để con người dám là chính nó, dời xa cái chết về tinh thần Như vậy, đời sống nhân loại chỉ có thể hiểu được thông qua

Trang 25

sự hiện sinh của cá nhân theo quan niệm của triết học hiện sinh, tức là thông qua kinh nghiệm riêng biệt của anh ta về cuộc đời Hành động, tính chất hành động của mỗi cá nhân làm nên sự hiện sinh của anh ta trên cõi đời Cá nhân có đặc tính âu lo, xao xuyến,

cô đơn và khát vọng dấn thân để dám là chính nó

Từ nửa sau thế kỉ XX, thời đại “hậu công nghiệp” với nền văn minh máy tính,

sự bùng nổ của thông tin, thế giới như bé lại trong tính “thôn địa cầu”; tất cả các nhu cầu đời sống đều được thương phẩm hóa tất yếu dẫn đến sự khủng hoảng về “tâm trạng” và hình thành nên một “tâm thức” (esprit) mới: tâm thức hậu hiện đại Các triết gia Jean-François Lyotard, Richard Rorty, Jerome Bruner… đều nhận ra rằng cảm thức của con người hậu hiện đại đã hướng về một phương khác so với con người hiện đại Alan Wilde và Max Apple nhận thấy con người hậu hiện đại không tin vào khả năng nỗ lực làm chủ và điều chỉnh thế giới, họ chấp nhận rằng “bản chất của thế giới là hỗn mang”[13; 222] Con người hậu hiện đại không còn tra vấn về ý nghĩa của giá trị và hữu thể “Họ cũng không ngây thơ để tin rằng trong chính mình chỉ có một bản thể và

bản thể ấy là phần tử của một thế giới Họ thấy rằng bản thể và thế giới là những thứ hiện thực đa tầng và đa phương Để sống, họ phải lựa chọn một trong những thế giới

và một trong những bản thể; hay, tốt nhất, họ phải tạo cho riêng họ một thế giới và

một bản thể nào đó”[13; 223] Con người hậu hiện đại hoài nghi về giá trị của những cuộc cách mạng Họ cũng không thực sự tin vào một mẫu hình thế giới lí tưởng và

trường cửu “Con người thường bị phân tán thành một chủ thể phi trung tâm, bao hàm

nhiều mảnh vụn và tất cả đều bị hòa tan trong bối cảnh xám xịt chung quanh”[155; 63-64] Nhà văn Pháp Samuel Beckett đã mượn lời nhân vật để bộc lộ sự hoài nghi về bản thể con người và ý nghĩa của sự tồn tại: “Tôi đã sinh ra hay không sinh ra, tôi đã sống hay không sống, tôi đã chết hay chỉ là đang chết, tất cả những điều này không quan trọng Tôi chỉ sẽ làm như từ trước đến nay tôi vẫn luôn luôn làm trong tình trạng không hay biết gì về những việc tôi làm, về việc tôi là ai, từ đâu đến, và tôi có tồn tại

thật hay không” (Cái chết của Malona) [13; 74] Cũng vẫn Samuel Beckett trong Tàn

cuộc đã khẳng định: sống là than khóc, sầu não, bi quan và cho độc giả nhìn thấy cái

viễn cảnh cô đơn tuyệt đối của con người cuối cùng trên trái đất (thông qua lời độc thoại của nhân vật bị mù và bại liệt) Cái tiêu đề “Tàn cuộc” như tượng trưng cho một ngày tận thế không còn xa nữa Alain-Robbe Grillet cho rằng: “Thế giới đã đành là vô nghĩa, nhưng cũng không phải phi lí gì cả, nó cứ tồn tại vậy thôi… Nhiệm vụ của nhà văn là cần tạo ra một thế giới càng trực quan, càng mang tính chất thực thể, để thay

Trang 26

thế cho thế giới vốn có ý thức tràn đầy chức năng tâm lí xã hội” (Con đường của tiểu

thuyết tương lai) [Dẫn theo 155] Alain-Robbe Grillet trong tiểu thuyết Kẻ nhìn trộm

đã viết về những con người lạnh lùng, dửng dưng, “không có khả năng, thậm chí càng không có ý nghĩ thay đổi cái bất công, xấu xa độc ác trong cuộc đời này Họ tồn tại đấy nhưng là vắng mặt”[155; 66] Con người – không khác sự vật ấy – cũng chính là một trong những biểu hiện của con người trong chủ nghĩa hậu hiện đại, mang dấu hiệu về sự biến mất cái tôi

Có thể nói, con người cá nhân là một khái niệm vô cùng phức tạp Sự phức tạp

này được thể hiện trong quan niệm khác nhau về nó diễn ra ở mỗi thời kì, gắn với bối cảnh lịch sử và những ước định mang tính xã hội

Quan niệm về con người cá nhân cũng được phân xuất thành hai xu hướng: nhấn mạnh đến ý thức xã hội, quan hệ xã hội hoặc đề cao yếu tố tự nhiên, bản thể tự nhiên của con người Thời hiện đại, quan niệm về con người cá nhân được mở rộng trong quá trình tiếp tục đào sâu khám phá bản thể, tạo ra những giá trị độc đáo hơn về

con người Con người cá nhân xuất hiện từ lâu, ngay khi con người thể hiện bản

năng sinh tồn của nó Tuy nhiên, phải đến thời đại Phục hưng và nhất là thế kỉ Ánh sáng, nó mới thực sự được ý thức đầy đủ Từ đó về sau, ý thức cá nhân đã phát triển gắn liền với sự phát triển của xã hội Và trong mỗi không quyển văn hóa đặc thù, ý thức

cá nhân luôn có những đặc tính riêng nổi trội Điều đó được phản chiếu khá rõ trong văn học qua các thời kì lịch sử

1.2 Con người cá nhân trong văn học Việt Nam trước 1975 – một cái nhìn khái quát

Vấn đề con người cá nhân trong văn học Việt Nam không chỉ là mối quan tâm riêng của văn hóa học, của lịch sử tư tưởng mà còn là vấn đề then chốt của văn học Cho đến nay, trong giới nghiên cứu vẫn tồn tại quan niệm cho rằng chỉ có con người cá nhân trong văn học hiện đại mà không có con người cá nhân trong văn học cổ trung đại Tuy nhiên, từ thực tế khảo cứu, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã khẳng định sự có mặt của con người cá nhân ngay trong văn học trung đại với những hình thức khác nhau, mức độ đậm nhạt khác nhau, phụ thuộc vào đặc điểm của từng thời đại lịch sử và ảnh hưởng của các trường phái triết học, tôn giáo mà nó thụ hưởng

1.2.1 Con người cá nhân trong văn học cổ trung đại

Trong suốt 10 thế kỉ tồn tại, xã hội phong kiến Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn khi hưng thịnh, khi khủng hoảng nhưng vẫn có một môi trường văn hóa đặc thù

Trang 27

với sự hòa trộn của hai yếu tố nội sinh và ngoại nhập, chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ tư tưởng Phật, Nho và Đạo Một trong những yếu tố cơ bản của hệ hình văn hóa ấy là những quan niệm về vũ trụ và con người Với cái nhìn nhất thể về thế giới (tam tài – thiên, địa, nhân), “con người” không được nhìn nhận tách rời mà là “tiểu ngã” hòa vào trong cái “đại ngã” là vũ trụ Quan niệm thẩm mĩ thời trung đại đề cao tính biểu tượng

và hình thành nên một hệ thống dày đặc các ước lệ, tượng trưng từ trong sinh hoạt vật chất, nghi thức giao tiếp đến sáng tác nghệ thuật Quan niệm thẩm mĩ ấy còn nhấn mạnh tính trang nhã, uyên bác và sùng cổ Tuy nhiên, quan niệm ấy không hoàn toàn bất biến, nhất là khi xã hội phong kiến rơi vào khủng hoảng trầm trọng, các quy phạm không còn ràng buộc khắt khe, đồng thời hình thành một khuynh hướng hướng về các giá trị nhân văn nhân bản Bên cạnh đó, văn hóa dân gian vẫn ảnh hưởng đến những sáng tác nghệ thuật bác học, vẫn có những quan niệm thẩm mĩ giàu tính hồn nhiên, nhân bản gần gũi với đời sống hiện thực Môi trường xã hội – lịch sử và văn hóa nói trên giúp chúng ta tìm hiểu và lí giải những biểu hiện cũng như đặc điểm của con người

cá nhân trong hành trình văn học mười thế kỉ

Về vấn đề con người cá nhân trong văn học trung đại, giới nghiên cứu vẫn tồn tại hai luồng ý kiến khác nhau Khuynh hướng thứ nhất cho rằng văn học cổ trung đại thể hiện tính “phi ngã” (đồng nghĩa với việc không có cái tôi, cái cá nhân) Khuynh hướng thứ hai khẳng định ý thức cá nhân đã được thể hiện trong văn học trung đại, ở một số tác giả với mức độ đậm nhạt khác nhau Đã có một số công trình đặt vấn đề

nghiên cứu văn học trung đại ở góc độ con người cá nhân Tiêu biểu là công trình Con

người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam của nhóm tác giả Nguyễn Hữu Sơn, Trần

Đình Sử, Huyền Giang, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân Với hai phần chính: Những vấn đề lí luận chung và Con người cá nhân trong thực tiễn văn

học Việt Nam, nhóm tác giả đã giải quyết được những vấn đề lớn từ lí thuyết tới quan

niệm về con người cá nhân trong văn học trung đại, khảo sát những hình thức tư duy, xác định nguyên tắc phản ánh nghệ thuật về con người và hướng tới phân tích mô tả những bước tiếp nối, khác biệt tương đối về con người ở các tác gia, tác phẩm và giai đoạn tiêu biểu

Chúng tôi nhận thấy, tác phẩm văn học trung đại thường có sự giao thoa đan cài giữa yếu tố quy phạm lẫn xu thế li tâm, bên cạnh những quan niệm chung thì vẫn bộc

lộ những chiêm nghiệm nghệ thuật riêng về con người và đời sống Vấn đề đặt ra là ý thức về con người cá nhân đã được phát triển như thế nào qua từng giai đoạn, những

Trang 28

khả năng và những giới hạn của quan niệm về con người cá nhân trong văn học thời kì này là gì? Văn học Lý – Trần, giai đoạn đặt nền móng cho văn học viết, đã quan tâm tới

con người trong tư cách cá thể, thể hiện trong việc ghi chép tiểu sử, cuộc đời và hành trạng của các thiền sư (Thiền uyển tập anh, Tam tổ thực lục, Thánh đăng ngữ lục,

Thượng sĩ hành trạng) Thơ Lý – Trần, kể cả thơ thiền đã khắc họa con người cá nhân

trong suy tư, chiêm nghiệm về nhân sinh, vũ trụ Nhưng những cá nhân ấy vẫn nằm trong khuôn khổ chung của hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo, nên vẫn là những hình tượng thiên về loại hình hơn là màu sắc cá thể, được kiến tạo chủ yếu bằng biểu tượng Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc, giai đoạn này, văn học hầu như chỉ thể hiện được sức mạnh tập thể chứ chưa đi vào vấn đề cá nhân, “nền văn học không xây dựng được nhân vật”[151; 69-70]

Từ cuối thế kỉ XV đến nửa đầu thế kỉ XVII, ảnh hưởng của Nho giáo ngày càng trở nên sâu sắc hơn Tuy nhiên, vẫn có một cái tôi thấp thoáng trong bộ phận sáng tác bằng chữ Nôm, điển hình là thơ Nôm Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và cuốn

Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ Với Nguyễn Trãi, chẳng ai dám phủ nhận ông

không phải là một đấng trung quân ái quốc Tuy nhiên, trong thơ ông, bên cạnh hìnhtượng một kẻ sĩ nặng lòng với vua, với nước, ta còn bắt gặp một con người với những rung động, những sở nguyện của riêng mình và hiện diện cả trong những sinh hoạt đời thường Đã có lúc ông ham được an nhàn trong một thế giới riêng mình, vô kỷ, vô công, vô danh, mong muốn được như sở nguyện (“Dầu bụt dầu tiên ai kẻ hỏi,/ Ông này

đã có thú ông này” – Mạn thuật - VI) nhưng cái đạo “làm con” – “làm tôi” lại khiến ông

không ngừng day dứt, để rồi cô độc một cách thanh cao khi “Người tri âm ít, cầm nên

lặng/ Lòng hiếu sinh nhiều, cá ngại câu” (Tự thuật - X) Thơ Nôm Nguyễn Trãi đã cho

ta gặp “một con người có ý thức cao với đức tài, lí tưởng đại dụng, khôn khéo, sâu sắc,

tự tin, dũng cảm, tự khẳng định, chọi lại thói phàm tục của người đời, không trùng khít hoàn toàn với khuôn mẫu nào hết”[185; 157] Đó chẳng phải là một cái tôi hết sức đặc biệt đó sao? Thế kỉ XVI, khi xã hội phong kiến bắt đầu suy tàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm khẳng định mình bằng hình thức khép lòng, giữ cái thú “tự tại”, “ẩn dật”, mặc “chốn lao xao” “dữ lành miệng thế” Với cái nhìn thấu suốt trong thời đại nhiều rối ren, Nguyễn Bỉnh Khiêm nguyện giữ mình cho an toàn, thanh thản, khép kín và cũng chẳng

hề ngập ngừng, trăn trở cho lựa chọn của mình So với Nguyễn Bỉnh Khiêm thì đó là điều mà Ức Trai không thể

Trang 29

Thế kỉ XVII, Nguyễn Dữ để lại dấu ấn với tập truyện truyền kì – những ghi chép mang tính huyền thoại lưu truyền tản mạn nhưng lại mở ra một thế giới con người ngổn ngang trong “bể dục” của tham lam, ác, loạn Nào là chuyện Trọng Quỳ đánh bạc gán vợ, Trung Ngộ tham dục với hồn ma cây gạo, chàng Hà Nhân mê đắm hai hồn hoa Liễu, Đào, thần Thuồng Luồng bắt nàng Dương Thị, mối tình bất chính của oan hồn Thị Nghi với viên quan họ Hoàng; các tượng thần đi ăn trộm ở ngôi chùa hoang Đông Trào, người con gái Nam Xương phải thác oan vì chồng ghen bóng… Mượn các yếu tố huyền ảo, Nguyễn Dữ đề cao ý thức về giá trị nhân cách, đạo lí của con người Tuy

nhiên, Truyền kì mạn lục cũng không thể làm ngơ trước những cảm xúc ái ân táo bạo,

hiếm có Tác giả đã dành khá nhiều ưu ái cho những cuộc tình đầy lãng mạn, gặp gỡ ngoài hôn thú, hoàn toàn trái với đạo lí của nhà nho (Cuộc gặp của Trung Ngộ với hồn

ma Nhị Khanh; Nhuận Chi và Túy Tiêu, Phật Sinh với Lệ Nương; Hàn Than và Vô Kỷ…) Ngay cả ở nàng Vũ Nương - một người phụ nữ tiết hạnh - thì đậm nét hơn vẫn

là những khát khao hạnh phúc đời thường cùng niềm cảm thông của tác giả trước bao

ngang trái, bất hạnh trong số phận con người Trước đó, trong Thánh Tông di thảo cũng

có một số truyện đề cập khát vọng hạnh phúc ái ân của những tinh vật với con người

(Tinh chuột, Chuyện lạ nhà thuyền chài, Chồng dê) Thứ tình yêu, tình dục đó lúc bấy

giờ là chuyện cấm kị nhưng vẫn đại diện cho tiếng nói của khát vọng yêu và được yêu của cá nhân con người Chỉ có điều, do quan niệm khắt khe của thời đại, niềm đam mê

ấy khó bề tìm được sự thuận tình dù vô vàn hấp dẫn

Giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, khi xã hội phong kiến dấn sâu vào khủng hoảng thì bộ phận văn học Nôm đã có sự phát triển mạnh mẽ phong phú hơn nhiều Cảm hứng nhân đạo với các vấn đề về số phận, quyền sống của con người, đặc biệt là người phụ nữ trở thành cảm hứng chủ đạo trong nhiều tác phẩm Ý thức cá nhân được đánh thức, biểu hiện qua những khao khát riêng tư về hạnh phúc chồng vợ “Chinh phụ ngâm” (Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm) là khúc tâm tình mòn mỏi nhớ thương chồng của người chinh phụ Cuộc chiến tranh phi nghĩa đã cắt lìa đôi lứa, để lại người vợ trẻ với nỗi sợ về sự tàn phai: “Thoi đưa ngày tháng ruổi mau,/

Người đi thấm thoát qua màu xuân xanh” Người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc

(Nguyễn Gia Thiều) cũng không kém phần sầu héo, thậm chí ủ dột hơn, càng ngày càng mất hi vọng Tài sắc vẹn toàn, đủ điều kiện hưởng hạnh phúc nhưng rơi vào “giấc mộng Nam Kha hư ảo”, người cung nữ hóa ra chẳng có gì (“Quyền phúc họa trời tranh mất cả/ Chút tiện nghi cũng chả phần ai./ Cái quay búng sẵn trên trời,/ Mờ

Trang 30

mờ nhân ảnh như người đi đêm”) Ý thức về nỗi cô đơn của mình, người cung nữ càng đau khổ, nhất là khi những khao khát dục tình bùng nổ, trở thành nỗi khát thèm vô lượng, vô biên (“Má hồng không thuốc mà say,/ Nước kia muốn đổ, thành này muốn long”; “Có âm dương có vợ chồng,/ Dẫu từ thiên địa cũng vòng phu

thê”) Nếu như Truyền kì mạn lục miêu tả chuyện dục tình như một niềm ham

muốn tội lỗi thì ở đây, cái chuyện “kín đáo” ấy lại là niềm sung sướng, kiêu hãnh Bản năng dục tính của con người đã được thẳng thắn tỏ bày, thẳng thắn khẳng định như một lẽ thường không thể thiếu được trong cuộc đời mỗi con người Đó chính là dấu hiệu rõ nhất thể hiện sự vận động của ý thức cá nhân giữa hai giai đoạn văn học

Trong sự bừng nở của văn học thế kỉ XVIII, Hồ Xuân Hương được coi là một cây bút độc đáo khi mạnh dạn phơi mở yếu tố bản năng Không vòng vo, bà công khai gợi ra cảm giác nhục dục, vẻ đẹp thân thể, hoạt động tính giao, những thúc đẩy nguyên thủy trong bản năng con người Dường như có một ẩn ức dục tình chi phối đến thơ nữ

sĩ này Vậy nên, mặc những niêm luật khắt khe, mặc định kiến hẹp hòi, Hồ Xuân Hương vẫn đắm say cùng “tuế nguyệt”, vẫn thẳng thắn bày tỏ nỗi tủi thẹn, khát thèm

(“Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ,/ Sau giận vì duyên để mõm mòm” – Tự tình I;

“Năm thì mười họa hay chăng chớ/ Một tháng đôi lần có cũng không” – Làm lẽ) Thực

tế, cuộc sống tình duyên nhiều trắc trở, đạo đức xã hội cấm đoán, cái tôi Hồ Xuân Hương trở nên ngạo nghễ, bất cần, bướng bỉnh thách thức: “Quản bao miệng thế lời

chênh lệch,/ Không có, nhưng mà có mới ngoan” (Không chồng mà chửa) Bà xem đó

là cái tự nhiên, cái nhu cầu thiết yếu của con người Có nhà nghiên cứu khẳng định:

“Đã đến lúc không nên nói đến cái gọi là dâm và tục trong thơ bà, mà nên nói đến những ám ảnh tính dục, nhu cầu giải phóng nhãn quan tình dục phong kiến cổ hủ như một nhu cầu của con người cá nhân”[185; 174] Chúng tôi hoàn toàn đồng thuận với quan điểm này

Sự xuất hiện của con người cá nhân trong văn học Việt Nam cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX đã được nhiều nhà nghiên cứu lưu tâm Khi xã hội phong kiến đi vào giai đoạn suy thoái, mọi quan hệ xã hội đứt tung, con người sụp đổ niềm tin vào triều

đại Con người cá nhân với xúc cảm thương thân, xót thân xuất hiện trong Chinh phụ

ngâm, Cung oán ngâm nay tiếp nối trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du Cảm xúc cô

độc khi lưu lạc, tha hương nơi góc bể chân trời chiếm tới 2/3 số bài trong Thanh Hiên

thi tập Cái tôi khi tách ra khỏi cộng đồng ý thức được cái “thiếu” đủ bề (tình thân, gia

Trang 31

đình, bè bạn), một mình một bóng (“Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ” – Ta có tấc lòng không biết nói với ai; “Bồi hồi đối ảnh độc vô ngữ” – Bồi hồi đối ảnh một mình không biết nói với ai) Rồi tuổi già, bệnh tật, sự tàn phai của xuân thì, đặc biệt, cảm nhận về cái hữu hạn của kiếp người, về trạng thái vô nghĩa của nhân sinh trong kiếp đời mỏi mòn vô tích sự khiến thơ Nguyễn Du trở thành tiếng than của cõi lòng (“Mệnh đẳng hồng mao bất tự tri” – Mệnh bằng cái lông mà không biết; “Nhất sinh từ phú tri vô ích/ Mãn giá cầm thư đồ tự ngu” – Một đời từ phú biết là vô tích sự, Đầy giá đàn sách, chỉ

là tự lừa dối mình…) Rõ ràng, ý thức của nhà thơ họ Nguyễn hết sức sâu sắc về con

người cá nhân qua mấy quan niệm: con người có mà như không có (vô thân), thân xác

con người chóng tàn phai, không cưỡng lại được thời gian, có tài nhưng không được

chấp nhận (tài vô sở dụng) Và để nâng cao giá trị con người, Nguyễn Du đã đề cao chữ

“tâm” (Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài) Tâm ở đây là cái tâm của Nho gia, nhưng nổi

bật hơn vẫn là cái tâm “thương thân, liên tài”, là cái thật, là tấm lòng, là cái xót xa trước quyền sống con người bị xâm phạm, bị lăng nhục (“Thịt da ai cũng là người,/ Lòng nào

hồng rụng thắm rời chẳng đau”) Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du hay dùng từ “chút

này”, “chút phận”, “chút niềm”… Đó cũng là biểu thị của sự khiêm nhường, nhưng hơn cả là quan niệm về cái phận vị nhỏ bé của con người Con người trong thơ ông không phải là cái “Ta” mạnh mẽ “cuồn cuộn” tấm lòng “trung hiếu” (như trong thơ Nguyễn Trãi), cũng chẳng phải cái “Ta” ngạo nghễ dù một mình mà vẫn thảnh thơi an lạc chấp thế (như trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm) Con người ở đây tách rời “Đạo” nên mỏng manh, yếu đuối, dễ phạm lỗi lầm và cũng có thể đầy khiếm khuyết Con người giả dối, phản trắc để trục lợi (thằng bán tơ, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến); tàn độc, bịp bợm, kiếm ăn từ việc bán buôn thân xác (Tú Bà); yếu đuối, nhu nhược (Thúc Sinh); mưu cao, kế sâu, hiểm độc (Hoạn Thư)… Nguyễn Du đã thừa nhận những cái “nhỏ bé”, cái bình thường, cái cá biệt tồn tại trong mỗi cá thể bên cạnh cái khí phách, phi thường theo tiêu chuẩn thời đại Có thể nói đó là quan điểm khá toàn diện về con người cá nhân đương thời

Thế kỉ XIX, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát là những bậc danh tài, thể hiện sâu sắc ý thức cá nhân Nguyễn Công Trứ ôm khát vọng mang cái tài của mình để thi thố, lập công, thành danh để rồi an lạc thú phong lưu tao nhã (“Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ”) Ông coi trọng cả việc lập thân lẫn thú ăn chơi, chủ trương bên cạnh công danh cần có hưởng lạc (“Thú vui thú ném ngang vành tráng sĩ”; “Càng tài tử càng nhiều tình ái”) Công danh là cái chí nhà nho, còn hưởng lạc là sự khẳng định về bản thể tự nhiên,

Trang 32

là sự tự khẳng định mình trong cõi hữu hạn của đời người Bên cạnh ý thức: “Đã mang tiếng ở trong trời đất – Phải có danh gì với núi sông”; “không công danh thì nát với cỏ cây” là tham vọng “Xóc sổ tính ngày chơi”, là ham thích “cúc tùng phong nguyệt mới vui sao” Tự phân biệt mình với số đông, Nguyễn Công Trứ thực hiện thú vui mà không cần quan tâm đến chê khen miệng thế (phần nào giống với Nguyễn Bỉnh Khiêm

“Được mất dương dương người tái thượng,/ Khen chê phơi phới ngọn đông phong”)

Có thể nói, Nguyễn Công Trứ đã diễn đạt một ý thức cá nhân mới: con người của công danh, hành lạc, con người của cái tôi phóng túng, ngoài những khuôn khổ giáo điều

Khác với Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát sinh vào thời nhà Nguyễn phục hưng Hán học Ông có sáng tác bằng chữ Nôm nhưng chủ yếu vẫn là chữ Hán Mạnh mẽ, ngang tàng, sống ngoài thói tục nhưng không có thái độ nhập thế như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát không đặt chí ở công danh, luôn thấy mình bơ vơ trên con “đường

phẳng mờ mịt” (Bài ca ngắn đi trên bãi cát) Không cúi đầu, cũng không chịu vào

khuôn phép, Cao Bá Quát sống trong bi kịch của người khao khát được “Chắp thêm đôi cánh – Bay lên tận tầng mây tía”, hòa nhập với thiên nhiên để thoát khỏi trần ai chật chội Thái độ khinh đời, bất cần đời, coi thường thói tục cũng chính là sự tự khẳng định của một cái tôi với tinh thần tự giải phóng khỏi những quy phạm cứng nhắc

Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, Nguyễn Khuyến và Tú Xương cũng là những danh sĩ thể hiện khá rõ cái tôi của nhà nho trong thời đại Nho học cuối mùa thất thế Cũng nuôi chí lập công danh như mọi nhà nho khác nhưng khi nhận ra thứ sách vở mình có chẳng ích gì trong cảnh nước mất nhà tan, Nguyễn Khuyến cáo quan về làm ông đồ già, ôm cái sầu trống rỗng, ngẩn ngơ trước sự tắt lụi của giấc mộng hoàng

lương: “Một giấc hoàng lương thôi cũng mộng/ Nghìn năm bay hạc, tớ là ai?” (Bài

muộn - II) Ý thức về sự bất lực, vô nghĩa của Nguyễn Khuyến trong thời cuộc chính là

ý thức về cá nhân, về vai trò mình đối với cuộc đời Tú Xương khác Nguyễn Khuyến bởi sự chật vật trong khoa cử, nhưng cũng vì thế mà ông càng nhìn rõ trắng đen cuộc đời để mà cười cợt, tự giải thoát cho chính mình Trong những vần thơ giễu nhại tự trào, Tú Xương vẽ ra vô vàn những tật xấu của mình, nhưng chính cái thói tật ấy lại thể hiện thái độ ngạo đời của một nhà nho bất đắc chí Đó cũng là một cái tôi muốn vượt thoát khỏi khuôn khổ chật hẹp tù túng một thời

Từ những phân tích sơ bộ trên, có thể khẳng định: có sự xuất hiện của con người

cá nhân trong văn học cổ trung đại Do bối cảnh lịch sử, con người cá nhân mang những đặc trưng riêng Thời Lí - Trần, phổ biến nhất vẫn là con người trung nghĩa, yêu

Trang 33

nước, con người bổn phận, trung quân ái quốc, con người chưa chịu sự ràng buộc chặt chẽ của Nho giáo, còn đầy tinh thần tự chủ, tiến thủ, tích cực kiểu Thiền Tông hoặc con người vô ngôn, vô ngã, tự do, phá chấp theo giáo lí nhà Phật Lí tưởng độc lập chủ quyền là cái đích của các cá nhân anh hùng thời đại (Thơ Lí Thường Kiệt, Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn) Giai đoạn sau (từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII), con người cá nhân xuất hiện dưới các hình thức chính: hoặc là công thần trung quân ái quốc, hoặc lìa

bỏ công danh, thị phi, lánh đục về nhàn, hoặc đắm theo tiếng gọi của bản năng sắc dục (trong tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ) Thế kỉ XVIII - XIX, con người cá nhân được khẳng định qua các nhu cầu sống, nhu cầu hạnh phúc, qua khát vọng công danh, hành lạc, phóng túng ngoài những khuôn khổ giáo điều (trong tác phẩm của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát) Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, cái tôi bất lực, vô nghĩa (Nguyễn Khuyến), cười cợt, giễu nhại, tự trào đối với chính mình và thời cuộc (Tú Xương) là hai cái tôi điển hình nhất Có thể khẳng định, trong lịch sử văn học Việt Nam, con người xã hội - nghĩa vụ được ý thức trước, con người tự nhiên được ý thức sau và phải qua một quá trình vận động với nhiều giai đoạn để đi tới nhận thức đầy đủ

về nó

1.2.2 Con người cá nhân trong văn học hiện đại

Từ đầu thế kỉ XX, văn học Việt Nam đã chuyển dần từ phạm trù trung đại sang hiện đại Trong bối cảnh lịch sử mới, văn hóa mới, ý thức cá nhân phát triển mạnh mẽ

và mang những sắc thái riêng biệt

1.2.2.1 Giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1945

Trong giai đoạn này, xã hội Việt Nam với những biến động lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa đã dẫn đến sự xuất hiện kiểu con người cá nhân mang tính hiện đại với

Trang 34

minh công nghiệp và sự nở rộ của báo chí… đảo lộn sâu sắc các mối quan hệ xã hội và tâm thức công chúng Nó làm rạn nứt dần những nguyên tắc vốn được coi là bất di bất dịch trong văn hóa làng xã Hình bóng con người cá nhân phương Tây đã tác động mạnh mẽ vào đời sống xã hội và được các tầng lớp (đặc biệt là thanh niên, học sinh) hồ hởi đón nhận Văn học Việt Nam bước vào cuộc cách tân sâu sắc và thực sự đổi mới trong vòng nửa đầu thế kỉ Ý thức cá nhân trỗi dậy mạnh mẽ, thể hiện khá đậm đặc trong các sáng tác thuộc khuynh hướng lãng mạn Đầu tiên là Tản Đà, một người ý thức rất rõ về cái tài và sự đa tình ở mình, Tản Đà vừa kêu gọi hành đạo lập nghiệp, lại vừa ngợi ca hưởng thụ, vui với cái thú trần tục ở đời Ôm khát vọng “bồi lại tấm dư đồ rách, thiết tha thề nguyền cùng hồn non nước, đồng thời thích thả mình trong cái thú hưởng lạc, ăn chơi trong cơn “say nhừ”, “say tít”… Lúc hăng hái nhập thế, hành động, lúc lại buồn chán cảnh trần thế và nuôi mộng thoát li”[210; 111], cái tôi Tản Đà vừa là

sự tiếp nối của cái tôi nhà nho tài tử trong xã hội phong kiến, vừa ngông nghênh và đầy mâu thuẫn theo tinh thần hiện đại Đó là thói đa tình, phóng túng, hưởng lạc, là ý thức

về quyền năng của cái tôi, là sự mạnh dạn đưa những tình cảm riêng tư vào trong thơ, khơi nguồn đầu tiên cái khao khát sống là mình trong tình yêu, tận hưởng hết những gì tuổi xuân có được Ngông nghênh, kiêu bạc, nhưng lại thấm thía nỗi cô đơn của một cá nhân tài tình giữa cuộc thế đen bạc, không có tri âm tri kỉ: “Con đường vô hạn khách đông, tây/ Ta nhớ ai mà đứng mãi đây”, Tản Đà thổi cái sầu “như từ vạn thuở dồn về” vào thi ca

Đến những năm 1930, Thơ Mới làm náo động thi đàn bởi cái tôi khao khát mãnh liệt được sống thực là mình, với mọi cảm xúc, mọi rung động trong tình yêu,

trước vẻ đẹp của tự nhiên Tác giả Thi nhân Việt Nam từng viết: “Ngày thứ nhất… chữ

tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó thật bỡ ngỡ Nó như lạc loài nơi đất khách Bởi

nó mang một quan niệm chưa từng có ở xứ này: quan niệm cá nhân”[227; 45] Quả đúng vậy, trong buổi đầu, cái tôi Thơ Mới là một tiếng nói lạ so với những gì quen thuộc trong văn học truyền thống Tuy nhiên, nó nhanh chóng chiếm hữu độc giả bởi

đó là tiếng lòng của mỗi cá nhân Cái tôi ấy cũng được thể hiện trong một quá trình, từ cái tôi cá thể giai đoạn đầu (Lưu Trọng Lư, Thế Lữ) đến cái tôi bản thể giai đoạn sau (Huy Cận, Hàn Mặc Từ, Chế Lan Viên, Bích Khê…), đặc biệt là hiện tượng hướng tới

sự giải thoát của cái tôi trong Đạo (như nhóm Xuân Thu nhã Tập) Mở đầu cho Thơ Mới, Lưu Trọng Lư thể hiện cái tôi đầy bỡ ngỡ, rụt rè, “ngơ ngác” nhưng đã biết tự ngắm mình để giãi bày những u uẩn âm thầm, những xúc cảm thiết tha thầm kín của

Trang 35

tình yêu (Không nói – Lưu Trọng Lư) Thế Lữ mơ màng, lãng du mà vô cùng quyến rũ

khi coi mình là người “khách tình si”, “ham vẻ đẹp với muôn hình, muôn thể” Ảnh hưởng bởi không khí thời đại, Thơ Mới thời kì này còn mang hơi thở của lịch sử bi

hùng trong cái tôi khỏe khoắn của Huy Thông, trong khát vọng tự do của Thế Lữ (Nhớ

rừng) Niềm vui buổi đầu nhanh chóng qua đi nhường chỗ cho cái tôi sớm buồn chán

và nuôi mộng thoát li Các nhà Thơ Mới sớm nhận thấy lí tưởng của mình trở thành phù du trước cuộc đời đen bạc nên bất mãn, hoài nghi hiện thực Thế Lữ mang nặng cảm giác cô đơn lạc lõng đành thoát li tới khoảng trời cao rộng để tìm lẽ sống Nhưng ngay sau đó, bước sang 1936, Thơ Mới bừng nở trong một giai đoạn cực thịnh với sự phát triển đầy đủ, cao độ của cái tôi cá nhân Những gương mặt mới: Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Tế Hanh, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ…với sức sáng tạo kì diệu đã đưa Thơ Mới lên vị trí thống lĩnh văn đàn Cái tôi cá nhân lúc này mạnh dạn công khai, tỏ bày ước muốn, khát vọng sống và nhu cầu hưởng thụ Xuân Diệu thăng hoa trong cảm xúc mãnh liệt của tình yêu, bộc lộ những khát khao giao hòa ân ái Ý thức đầy đủ về cái cá nhân, “ông hoàng của thơ tình” đòi hỏi một cuộc sống toàn vẹn, “toàn tin, toàn trí, toàn hồn” và “thức nhọn mọi giác quan” để tận hưởng hạnh phúc của cuộc đời Huy Cận thấy mình là “một chiếc linh hồn nhỏ, mang mang thiên cổ sầu” Nguyễn Bính dù mang chất chân quê nhưng vẫn là một cái tôi cá nhân của Thơ Mới, bị hút theo tiếng gọi của đô thị, đắm mình vào những cuộc phiêu du

để rồi luôn ngậm ngùi trong những mối tình lỡ và mối hoài niệm về quê hương Hàn Mặc Tử ngày càng trở nên siêu thực trong nỗi đau thân xác đã thả hồn mình lên cõi trăng sao để tìm “nguồn thơm”, tìm sự “trường thọ” Chế Lan Viên sầu não khóc than

cho vương quốc Chiêm Thành hoang tàn đổ nát (Điêu tàn) Ý thức cá nhân trong thơ

ông trội rõ ở cảm thức lạc loài, cô độc (“Đường về thu trước xa lắm lắm/ Mà kẻ đi về chỉ một tôi”) Giai đoạn sau, cái tôi Thơ Mới khủng hoảng mạnh mẽ và rơi vào bế tắc Huy Cận giải phóng mình bằng niềm vui hòa mình vào vũ trụ Chế Lan Viên tìm đến

siêu thoát trong sâu thẳm hư vô (Vàng sao) Xuân Diệu là người sớm nhận thức cái cô

đơn cố hữu, tồn tại như bóng, như hình, thấm thía, ớn lạnh trong mỗi cá thể (“Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá/ Hai người sao chẳng bớt bơ vơ”; “Trên trần lạnh thẩn thơ dăm bóng nhạt”; “Chiếu xa vắng một mình ta ở giữa”; “Ta nằm đây như một ải quan xa”…), nay càng thêm đau đớn khi nhận ra “Đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn”, trong “thời tươi” đã ngầm chứa cái mầm của “thời phai” Vũ Hoàng Chương cất giọng than cho kiếp sống lạc loài: “Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa/ Bị quê hương

Trang 36

ruồng bỏ giống nòi khinh/… Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỉ/ Một đôi người u uất nỗi chơ vơ/ Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị/ Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang

sơ” (Phương xa) Những vần thơ chếnh choáng mang nỗi đau bị ruồng bỏ, chia cắt lại

thể hiện một khao khát kiếm tìm bản thể: “Đêm nay lạnh tìm em trên gác tối/ trong tay

em dâng cả tháng năm thừa/ Có lẽ đâu tâm linh còn trọn lối/ Để đi về cay đắng những

thu xưa” (Quên) … Rõ ràng, cái tôi trong Thơ Mới đã có sự phân rã, không còn vẹn

nguyên xúc cảm tươi mới thuở ban đầu Khi ý thức cá nhân lên đến cao độ, cũng là lúc cái tôi hoài nghi về sự tồn tại của bản thể (“Ai bảo giùm: Ta có có Ta không?” – Chế Lan Viên) Cái tôi đó tuyệt vọng khi không có đường hướng, không có lối thoát Có thể nói, con người cá nhân trong Thơ Mới thật đa dạng, muôn màu Hoài Thanh vô cùng tinh tế khi đưa ra nhận xét: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi Mất bề rộng ta đi tìm

bề sâu Nhưng càng đi sâu càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu du trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận Cả trời thực, trời mộng vẫn nao nao theo hồn ta”[227; 46] Sau này, khi nhóm Xuân Thu nhã tập ra đời, “cái tôi Thơ Mới tuyệt giao với hiện thực, với lí trí để trở về cõi vô thức, đề cao sự

linh diệu của hành động sáng tạo thơ”[210; 121]

Bên cạnh thành công của Thơ Mới, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cũng thực hiện một cuộc “cách mạng” táo bạo trong tư tưởng và nghệ thuật Ý thức về con người cá nhân đã được nâng lên thành một vấn đề xã hội Đó là khát vọng bài trừ Nho giáo, vượt lên trên những ràng buộc của xã hội phong kiến; giương cao lá cờ tự do yêu đương và

tự do hôn nhân; ý thức về sự bình đẳng giới, về quyền bảo vệ nhân phẩm và danh dự;

tìm sự giải thoát trong tình yêu, trong những ước mơ cải cách xã hội Mai (Nửa chừng

xuân - Khái Hưng) kiên quyết không chấp nhận làm vợ lẽ của bất kì ai (kể cả cự phú

Hàn Thanh – một người giàu có hay Lộc – người mà cô hết lòng yêu thương chung thủy chờ đợi bấy lâu) vì cô cho rằng: “làm cô thượng không bằng, không sung sướng bằng làm chị xã, chị bếp, chị bồi mà được vợ một, chồng một, yêu mến nhau, khi vui

có nhau, khi buồn có nhau, khi hoạn nạn có nhau” Loan (Đoạn tuyệt – Nhất Linh) dám

công khai bày tỏ một quan niệm sống tự lập và hoàn toàn bình đẳng trong mối quan hệ

mẹ chồng – nàng dâu, mối quan hệ nam nữ, đồng thời ao ước một cuộc đời tự do, không bó buộc Cô khẳng định: “Mẹ chồng có ác thì đi chỗ khác mà ở, chồng ghét thì càng nên đi lắm… Mình sống, muốn sống thì không thể một mình sống được sao, nếu

Trang 37

cái gia đình kia không cho mình được sung sướng” Và tự hỏi: “Học thức mình không kém gì Dũng, sao không thể như Dũng, sống một đời tự lập, can chi cứ quanh quẩn

trong vòng gia đình…?” Hồng (Thoát li - Khái Hưng) kiên quyết bảo vệ tình yêu của

mình, bỏ nhà ra đi theo tiếng gọi trái tim và sung sướng khi thấy mình hoàn toàn tự do… Có thể nói, các nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn mang khát vọng mãnh liệt về quyền được yêu, được sống, được bình đẳng, được hạnh phúc Câu nói của Loan

(Đoạn tuyệt): “Em có quyền tự lập thân em… Cái quyền làm người”; câu nói của Mai (Nửa chừng xuân): “Nhà tôi không có mả lấy lẽ”; câu nói của Nhung (Lạnh lùng):

“Con có quyền đi lấy chồng”… thể hiện tư tưởng phản kháng quyết liệt với những lề

thói cũ, cổ hủ, xâm phạm đến quyền cá nhân con người

Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đồng thời thể hiện ý thức về quyền bảo vệ nhân phẩm Mai đã từ bỏ Lộc để “không bị ai khinh mạn” Loan đấu tranh quyết liệt để bảo

vệ quyền làm người khi thấy mình bị coi không bằng một con vật Nếu so với Thơ Mới, nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ở giai đoạn đầu ít được biểu hiện trong những xúc cảm ủy mị Dù chán chường, tuyệt vọng họ vẫn sẵn sàng đối mặt, lựa chọn đấu tranh để giành lấy cái mình muốn Đó là tinh thần nhập thế đầy tích cực Bên cạnh

đó, các nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn còn tự khẳng định cá nhân mình theo nhiều chiều hướng khác nhau: thoát li vào tình yêu lãng mạn nhằm trốn chạy nỗi

cô đơn, đề cao tiếng nói của ái tình hoặc ôm giấc mộng cải cách xã hội Ngọc – một chàng trai thành phố hào hoa - dành tình yêu say đắm cho Lan – một thôn nữ hiền lành

chất phác, nương tựa cửa chùa (Hồn bướm mơ tiên) Phong (Nắng thu) một thanh niên

con nhà dòng dõi đã bước qua địa vị của mình để yêu Trâm - cô gái câm mà lại nghèo

Dũng (Đoạt tuyệt) bỏ nhà ra đi thực hiện lí tưởng “làm thay đổi hiện tình của dân

quê”… Giai đoạn sau, Tự lực văn đoàn đề cao sự tự do lựa chọn của cá nhân trong

hành vi và lối sống Tuyết (Đời mưa gió) coi “lạc thú ở đời như một vị thuốc trường

sinh”, “ái tình là sự gặp gỡ của hai xác thịt” và “không bao giờ trở thành vật sở hữu của

ai” Trương (Bướm trắng) sau khi bị lao phổi đã tự dứt bỏ các mối quan hệ xã hội, lao

vào khoái lạc một cách liều lĩnh (ăn chơi, hút thuốc phiện, biển thủ công quỹ) Nhanh chóng trở thành kẻ tha hóa trong con mắt mọi người nhưng Trương vẫn thấy đó là cuộc sống thật mà anh “ham muốn bấy lâu”, là những trải nghiệm anh cần có khi cuộc sống

chỉ còn tính bằng ngày Hiền (Trống mái) mời Vọi tới dự sinh nhật mặc mọi dè bỉu

khen chê vì muốn chứng minh mình không hề phân biệt đẳng cấp; mời Vọi đi tắm biển

chỉ để thỏa ý thích lãng mạn Cảnh (Thanh Đức) coi trọng duy nhất thú ăn chơi Y cho

Trang 38

rằng “sinh ra ở đời để mà sung sướng, để thỏa mãn chứ không phải để khổ sở, để than phiền hay để theo đuổi một mục đích viển vông nào”… Xét theo chuẩn mực đạo đức quen thuộc, Tuyết, Trương, Cảnh được xếp vào dạng vô luân Tuy nhiên, lối sống và cách hành xử của các nhân vật đó cũng đưa ra một quan niệm về tự do cá nhân, về cái tôi bản năng luôn tồn tại trong mỗi một con người, về sự lạc điệu của con người giữa cộng đồng trong một giai đoạn khi không tìm ra sự tương hợp Đó cũng có thể coi là một sự thử nghiệm mang tính luận đề về con người cá nhân của các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn

Không thể không kể đến một tên tuổi nữa trong dòng văn học lãng mạn với màu sắc cá nhân hết sức độc đáo: Nguyễn Tuân Nổi tiếng bởi cái tôi “ngông nghênh kiêu bạc”, Nguyễn Tuân “ngạo đời” bằng cái tài, bằng ý thích tự do xê dịch để thay đổi thực đơn cho các giác quan, bằng cái thú hưởng lạc trong nghệ thuật ẩm thực và âm nhạc Giá trị của cái tôi cá nhân tập trung trong những hình tượng tài hoa nghệ sĩ khác thường (từ những ông Nghè, ông Tú, ông Cống thích chơi lan, chơi cúc, thích đánh bạc bằng thơ dưới trăng rằm trên sông hoặc nhấm nháp chén trà trong sương sớm đến những tên trộm có khả năng “ném bút chì”, ném cái mai bén ngọt, đâu trúng đấy, đến kẻ làm nghề đao phủ với thuật “chém treo ngành”) Đa số họ ý thức được về tài của mình, dám sống

vì cái tài đó, bất chấp những hệ lụy cho dù có bị tán nghiệp, bị gậy ăn mày vẫn không

thay đổi niềm đam mê (Những chiếc ấm đất) Họ cố khẳng định con người cá nhân

bằng nghệ thuật hành lạc mà vẫn không che giấu hết được những hiu hắt úa tàn của kiếp sống lạc thời Tuy nhiên, đó cũng là biểu hiện của một thái độ không buông xuôi bất lực, không a dua với thói đời kệch cỡm, phàm tục trong xã hội đương thời Có những thời điểm, cái tôi phủ nhận xã hội một cách cực đoan đó đắm trong lạc thú trần

tục mà quên đi những gì cần làm trong một kiếp người (Chiếc lư đồng mắt cua) nhưng

vẫn còn sự tự trọng của một con người ý thức về nhân cách Không thoát khỏi căn bệnh của chủ nghĩa lãng mạn, cái tôi Nguyễn Tuân chìm trong cô đơn, bế tắc đã tìm đến thế

giới của yêu ma (Xác ngọc lam, Ðới roi, Rượu bệnh, Loạn âm) Có thể hiểu đó là phản

ứng tâm lí tất yếu của một ý thức cá nhân khí khái, không chấp nhận tấn kịch xã hội Nhìn một cách khách quan, cái tôi đó gắng gồng mình lên để bảo vệ cho cái đẹp Nó tự thấy tủi hổ, rồi hoài nghi cộng đồng, thậm chí hoài nghi cả chính mình

Trong giai đoạn đầu của trào lưu văn học hiện thực, các nhà văn dành mối quan tâm chính cho con người giai cấp Đến Nam Cao, ý thức về cá nhân đã thực sự có một tầm vóc mới Không giống như con người cá nhân trong văn học lãng mạn, chủ yếu phơi mở thế giới nội cảm riêng tư, cũng không hoàn toàn là con người cá nhân thường

Trang 39

thấy ở văn học hiện thực, luôn hiện diện qua xung đột xã hội, tác phẩm của Nam Cao thể hiện sự tự giác cao về giá trị cá nhân từ việc nghiêm túc nhìn nhận, mổ xẻ cuộc sống của chính nó Khát vọng khẳng định bản thân và trách nhiệm làm người khiến nhân vật của ông luôn tồn tại trong trạng thái vật vã trăn trở Nó ghê sợ cuộc sống mòn

rỉ, vô nghĩa chỉ loanh quanh với việc “làm để có ăn, ăn để sống, sống lại để đợi chết”

(Sống mòn) Nhu cầu được phát huy tận độ giá trị của con người, hướng tới những mục

tiêu nhân văn cao cả khiến nó luôn luôn day dứt Quá trình tự tranh đấu để vượt ra khỏi cái kén nhỏ bé, vươn tới một chủ nghĩa cá nhân văn hóa làm nên vẻ đẹp bất diệt của nhân tính

Nhìn lại, có thể nhận thấy ý thức cá nhân phát triển theo chiều hướng từ con người cá thể đến con người bản thể Từ những năm 20 của thế kỉ XX, con người cá nhân còn đầy những e dè ngượng nghịu, đến những năm 30, con người cá nhân làm thành linh hồn cuộc cách mạng thơ ca Cái sầu, cái cô đơn, bế tắc trong Thơ Mới giai đoạn cuối là phản ứng tất yếu đối với xã hội, khi cá nhân bất hòa với xã hội mà lại chưa thực sự tìm được lý tưởng Bên cạnh Thơ Mới Tự lực văn đoàn đấu tranh quyết liệt cho tự do cá nhân Thành trì của lễ giáo phong kiến thực sự đã lung lay trước cuộc tiến công này Có thể nói, chính nhu cầu khẳng định của cái tôi cá nhân, cá thể đã thúc đẩy công cuộc hiện đại hóa văn học Trước 1945, văn học Việt Nam đã thực sự đạt đến chiều sâu nhân bản trong quan niệm về con người cá nhân

1.2.2.2 Giai đoạn từ 1945 – 1975

(*) Khu vực văn học cách mạng

Hai cuộc kháng chiến trường kì chống Pháp và chống Mĩ đã cuốn dân tộc Việt Nam vào mặt trận chống giặc ngoại xâm đồng thời với nỗ lực xây dựng chủ nghĩa xã hội Chiến tranh tạo nên gương mặt mới cho văn học với màu sắc sử thi bi tráng

Kháng chiến chống Pháp đã tác động đến sự thức tỉnh sức mạnh và giá trị cộng đồng Cái tôi cá nhân – cá thể gần như bị phủ nhận Hoài Thanh viết: “Đoàn thể tái tạo chúng tôi và trong bầu không khí mới của giang sơn, chúng tôi thấy rằng đời sống của

cá nhân không có nghĩa gì trong đời sống bao la của đoàn thể” (Dân khí miền Trung –

Tạp chí Tiên phong, số 3, 1945) Cái tôi hòa tan cái ta Con người tìm thấy mình trong

tập thể Những dằn vặt, đau khổ, mất mát riêng tư được xếp lại sau nhiệm vụ chung

Mọi nguyên tắc ứng xử của mỗi người đều dựa trên lợi ích cách mạng Lượng (Thư

nhà – Hồ Phương) đau xót và bàng hoàng khi nghe tin người yêu bị làm nhục, nhưng

rồi anh đã trấn tĩnh được ngay: “việc ấy cũng không hề gì… miễn là Chi vẫn trung

Trang 40

thành với dân với nước” Nghe tin cha mẹ bị giặc bắn, Lượng “lạnh cả người… rụng rời cả hai tay… đầu nóng chảy” nhưng sau đó anh đã bình tĩnh an ủi người yêu rằng:

“các cụ chết cho chúng ta được sống, cũng như bao nhiêu người đã hi sinh để cho có

Đông Triều”, rằng cả hai phải “công tác đoàn thể cho trọn vẹn” Kha (Xung kích –

Nguyễn Đình Thi) suy nghĩ: “thế hệ chúng ta đáng nhẽ đang kiến thiết, hạnh phúc còn nhiều, nhưng chúng ta không hề tiếc”… Kha và Lượng là những nhân vật tiêu biểu cho hình ảnh con người trong văn học giai đoạn này

Thời kì chống Mỹ, con người tập thể, cộng đồng được văn học hình tượng hóa thành cái tôi sử thi Đó là biểu tượng đẹp nhất của cộng đồng, được tất cả ngưỡng vọng Đời sống riêng tư thống nhất với đời sống chung Con người hi sinh cho cộng đồng một

cách thanh thản, nhẹ nhõm: ông Tám Xẻo Đước (Đất – Anh Đức) thà chết chứ không chịu dời nhà để giữ trọn ân nghĩa với cách mạng Chị Sứ (Hòn đất – Anh Đức) biết

mình khó bề thoát được cái chết, vẫn tự nhủ: “mình chỉ thấy tiếc chớ không ân hận mắc

cỡ gì cả Tới phút này đối với Đảng, mình vẫn y nguyên, như chị Minh Khai, như Võ Thị Sáu nên từ phút này trở đi, mình cũng phải giữ được như vậy ” Tình yêu, tình cảm gia đình luôn luôn đẫm màu sắc lí trí, gắn liền với trách nhiệm cộng đồng Con người nổi bật ở nhu cầu cống hiến mà ít đặt vấn đề hưởng thụ Hạnh phúc của nó nằm

trong cái chung Những nhân vật như Biền (Tầm nhìn xa - Nguyễn Khải), Nguyễn Văn Trỗi (Sống như Anh – Trần Đình Vân), chị Út (Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi), Lữ

và Kinh (Dấu chân người lính – Nguyễn Minh Châu), Mẫn và Thiêm (Mẫn và tôi – Phan Tứ), T‟nú (Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành)… điển hình cho con người sử thi

của văn học cách mạng trước 1975 Cuộc đời, con đường đi của các nhân vật này nhất quán với dòng chảy lịch sử Họ đổi đời khi gặp cách mạng, giác ngộ và trưởng thành như những công dân – chiến sĩ kiểu mẫu

Bị chi phối bởi tinh thần sử thi, con người trong văn học chống Mĩ chủ yếu được đánh giá từ điểm nhìn bên ngoài, tâm lí cá nhân ít được đi sâu miêu tả Những băn khoăn, trăn trở, sự cô đơn… gần như là những biểu hiện xa lạ, khó tìm Lí giải về điều này, Nguyễn Minh Châu cho rằng: “Trong cả hai cuộc kháng chiến, bao giờ chúng ta cũng là một kẻ yếu, phải đánh nhau với những kẻ thù mạnh, mà buộc chúng ta phải thắng bằng bất cứ giá nào, vì sự sống còn của đất nước Phải chăng những đặc điểm đó bắt buộc chúng ta tạm gác lại những sự thực đau lòng, những thất thiệt, những mặt tính

cách nào của từng con người không trực tiếp tạo nên chiến thắng” (Trang giấy trước

đèn) Tuy nhiên, văn học 1945 – 1975 không phải hoàn toàn không thể hiện con người

Ngày đăng: 20/11/2013, 12:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. R.M Albérès (2003), Cuộc phiêu lưu tư tưởng văn học Âu châu thế kỉ XX (1900- 1959), NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc phiêu lưu tư tưởng văn học Âu châu thế kỉ XX (1900-1959)
Tác giả: R.M Albérès
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2003
2. Tạ Duy Anh, Mô - típ “tội ác và trừng phạt” sẽ còn ám ảnh các nhà văn, http://evan.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô - típ “tội ác và trừng phạt” sẽ còn ám ảnh các nhà văn
Tác giả: Tạ Duy Anh
3. Phạm Tuấn Anh (2009), Sự đa dạng thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự đa dạng thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975
Tác giả: Phạm Tuấn Anh
Năm: 2009
4. Vũ Tuấn Anh (1994), “Những vấn đề của văn học hiện đại qua ba cuộc hội thảo”, Vũ Tuấn Anh lược thuật, Nghiên cứu văn học (1), tr. 37-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của văn học hiện đại qua ba cuộc hội thảo”, Vũ Tuấn Anh lược thuật, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1994
5. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Nghiên cứu văn học (4), tr. 14-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển”," Nghiên cứu văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
6. Vũ Tuấn Anh (1995), Đổi mới văn học vì sự phát triển, Tạp chí văn học (4), tr.14- 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
7. Vũ Tuấn Anh (1995), Sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam từ 1945 đến nay, Luận án PTS Ngữ văn, Viện văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam từ 1945 đến nay
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
8. Vũ Tuấn Anh (1996), “Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại”, Tạp chí văn học (9), tr. 28-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1996
9. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học nhận thức và thẩm định, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học nhận thức và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2001
10. Vũ Tuấn Anh, Bích Thu (cb) (2006), Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam, Tập 1+2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam
Tác giả: Vũ Tuấn Anh, Bích Thu (cb)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
11. Thái Phan Vàng Anh (2010), “Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, Nghiên cứu văn học (2), tr. 96-108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Năm: 2010
12. Trần Hoài Anh (2009), Lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954 – 1975, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954 – 1975
Tác giả: Trần Hoài Anh
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2009
13. Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh (sưu tầm và biên soạn) (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới, những vấn đề lí thuyết, NXB Hội nhà văn, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại thế giới, những vấn đề lí thuyết
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh (sưu tầm và biên soạn)
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2003
14. Đào Tuấn Ảnh, Những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga, http://vienvanhoc.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh
15. Đào Tuấn Ảnh (2005), “Quan niệm thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại”, Nghiên cứu văn học (8), tr. 43-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại”, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh
Năm: 2005
16. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1999
17. Lại Nguyên Ân (1986), “Thử nhìn lại văn xuôi mười năm qua”, Tạp chí văn học (1), tr. 14-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nhìn lại văn xuôi mười năm qua”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1986
18. Lại Nguyên Ân (1987), “Thử tìm hiểu loại hình các mô típ chủ đề trong văn học Việt Nam hiện đại”, Tạp chí văn học (6), tr.18-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm hiểu loại hình các mô típ chủ đề trong văn học Việt Nam hiện đại”", Tạp chí văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1987
19. M. Bakhtin (2003), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2003
20. M. Bakhtin 1998), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Nhà XB: NXB Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w