khóa luận, luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, đề tài
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
o0o LÝ HOÀNG PHÚ
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH, SUY THOÁI KINH TẾ TOÀN CẦU VÀ
KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI- 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
o0o LÝ HOÀNG PHÚ
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH, SUY THOÁI KINH TẾ TOÀN CẦU VÀ
KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 62.31.01.06
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS, TS Tăng Văn Nghĩa
2 PGS, TS Vũ Chí Lộc
HÀ NỘI- 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, Nghiên cứu sinh xin được chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tớiPGS, TS Tăng Văn Nghĩa và PGS, TS Vũ Chí Lộc vì những chỉ bảo, hướng dẫn tậntình trong thời gian nghiên cứu sinh thực hiện Luận án
Thứ hai, Nghiên cứu sinh xin được trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệuTrường Đại học Ngoại thương, cơ quan chủ quản của nghiên cứu sinh, đã tạo điều kiện
về tài chính, về tinh thần và về thời gian cho nghiên cứu sinh; tới Ban chủ nhiệm KhoaSau Đại học và toàn bộ đội ngũ cán bộ Khoa Sau Đại học Trường Đại học NgoạiThương, đặc biệt là PGS TS Phạm Thu Hương vì những hỗ trợ, giúp đỡ cần thiết chonghiên cứu sinh trong thời gian thực hiện Luận án
Thứ ba, Nghiên cứu sinh cũng xin gửi lời cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tếQuốc tế vì đã tạo điều kiện vật chất và tinh thần cho nghiên cứu sinh, các giảng viên
Bộ môn Kinh tế quốc tế và Phương pháp lượng vì đã có những góp ý bổ ích khi nghiêncứu sinh thực hiện Luận án
Cuối cùng, Nghiên cứu sinh xin được trân trọng gửi lời cảm ơn tới đội ngũ giảngviên, và các nhà nghiên cứu thuộc trung tâm nghiên cứu CERDI, thuộc Đại học Tổnghợp Auvergne, Pháp về những tư vấn bổ ích trong thời gian NCS thực hiện Luận án
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Nghiên cứu sinh xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập, và chưa từngđược công bố ở Việt Nam và trên thế giới Các số liệu được thu thập từ các nguồn sốliệu chính thức của các đơn vị, tổ chức trong nước và quốc tế Mô hình nghiên cứutrong Luận án được thực hiện hoàn toàn mới Nếu sai, nghiên cứu sinh xin chịu mọitrách nhiệm
Nghiên cứu sinh
Lý Hoàng Phú
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
B TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6
1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI 6
1.1 Các nghiên cứu lí luận 6
1.2 Các nghiên cứu thực nghiệm 10
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM 19
C NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 22
CHƯƠNG 1: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI FDI TRONG ĐIỀU KIỆN KHỦNG HOẢNG VÀ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI 22
1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 22
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 22
1.1.2 Vai trò của FDI đối với các nước tiếp nhận đầu tư 29
1.2 KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI FDI 32
1.2.1 Khái niệm khủng hoảng tài chính và nguyên nhân của khủng hoảng tài chính thế giới 2008 33
1.2.2 Đặc điểm của khủng hoảng tài chính thế giới 2008 34
1.2.3 Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế 2008 tới FDI 1.3 TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI FDI 37
1.3.1 Các yếu tố tác động chung 38
1.3.2 Các yếu tố thúc đẩy chủ đầu tư tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài41 1.3.3 Các yếu tố có tác động đến việc thu hút FDI của nước tiếp nhận đầu tư 44
CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ TỚI DÒNG VỐN FDI VÀO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 53
2.1 THỰC TRẠNG FDI VÀO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN TRONG KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI 53
2.1.1 FDI vào khu vực các nước đang phát triển châu Á 53
2.1.2 FDI vào khu vực các nước đang phát triển Châu Phi 56
2.1.3 FDI vào khu vực các nước đang phát triển Châu Mỹ La Tinh 59
2.1.4 FDI vào khu vực các nước có nền kinh tế chuyển đổi thuộc châu Âu 62
Trang 62.2 THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI FDI VÀO CÁC NƯỚC
ĐANG PHÁT TRIỂN 64
2.2.1 Các yếu tố tác động chung 64
2.2.2 Thực trạng một số yếu tố tác động liên quan đến việc thúc đẩy và thu hút FDI vào các nước đang phát triển 69
2.3 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ YỂU TỐ TỚI FDI VÀO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN BẰNG MÔ HÌNH ĐỊNH LƯỢNG 87
2.3.1 Cơ sở kinh tế của mô hình 87
2.3.2 Phương trình hồi quy và các biến số của mô hình 87
2.3.3 Giới thiệu về cơ sở dữ liệu liên quan đến mô hình 91
2.3.4 Các giả thuyết đặt ra để kiểm định với mô hình 92
2.3.5 Kết quả hồi quy 95
2.3.6 Một số đánh giá rút ra từ mô hình định lượng 102
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆT NAM NHẰM CẢI THIỆN VIỆC THU HÚT FDI TRONG THỜI GIAN TỚI 106
3.1 DỰ BÁO TRIỂN VỌNG VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DÒNG VỐN FDI VÀO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI 106
3.1.1 Một số đặc điểm liên quan đến dòng vốn FDI trên thế giới hiện nay 106 3.1.2 Triển vọng và thách thức đối với dòng vốn FDI vào các nước ĐPT 111
3.2 THỰC TRẠNG THU HÚT FDI CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 3.2.1 Tổng quan về FDI vào Việt Nam 118
3.2.2 Một số thuận lợi và thách thức đối với Việt Nam trong việc thu hút FDI 122
3.3 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CỤ THỂ ĐỐI VỚI VIỆT NAM NHẰM CẢI THIỆN VIỆC THU HÚT FDI TRONG THỜI GIAN TỚI 129
3.3.1 Các quan điểm về định hướng thu hút FDI vào Việt Nam tới năm 2030 129 3.3.2 Một số khuyến nghị cụ thể đối với Việt Nam nhằm cải thiện việc thu hút FDI trong thời gian tới 132
D KẾT LUẬN 149
Đ DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151
E DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
G PHỤ LỤC 158
Trang 7Bảng 2: Tổng quan một số nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh
hưởng tới FDI
17
Bảng 4: Tổng quan các dòng vốn tới các quốc gia đang phát triển giai
Bảng 6: Tổng giá trị FDI đăng ký vào các nước đang phát triển châu Á
giai đoạn 1994-2012 (đơn vị : USD)
54
Bảng 7: Dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển châu Phi giai đoạn
2000-2012 (đơn vị: triệu USD)
57
Bảng 9: Dòng vốn FDI vào châu Mỹ La tinh giai đoạn 2000-2012 (đơn vị:
triệu USD)
60
Bảng 10: Danh sách 10 quốc gia nhận FDI hàng đầu tại châu Mỹ La tinh
và Cari bê năm 2010
61
Bảng 11: Dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển châu Âu giai đoạn
2000-2012 (đơn vị: USD)
63
Bảng 12: Dòng vốn FDI trước và trong khủng hoảng tài chính và suy thoái
kinh tế thế giới vào các nhóm nước đang phát triển (đơn vị : tỉ USD)
64
Bảng 14: Tỷ trọng các dự án FDI của các nước BRIC tính theo các khu
vực nhận đầu tư (bình quân giai đoạn 2005-2007 và năm 2011; đơn vị: %)
68
Bảng 15: Dân số năm 2010 của 30 nước đang phát triển đông dân nhất tại
ba châu lục chính
70
Trang 8tư trực tiếp hàng đầu năm 2008, 2009 và 2010
Bảng 18: Thu nhập bình quân đầu người tại 10 nước nhận đầu tư lớn nhất
năm 2010
73
Bảng 19: Trữ lượng dầu mỏ của các nước đang phát triển trên thế giới tại
3 châu lục năm 2011 (đơn vị: tỷ thùng)
75
Bảng 20: Thống kê các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư được ký
kết trên thế giới và tại 10 nước nhận FDI lớn nhất năm 2010
78
Bảng 21: Một số tiêu chí về cơ sở hạ tầng tại 10 nước đang phát triển nhận
đầu tư hàng đầu năm 2011
79
Bảng 22: Một số tiêu chí khác về cơ sở hạ tầng tại 10 nước đang phát triển
nhận đầu tư hàng đầu năm 2011
80
Bảng 23: Thống kê về một số xung đột điển hình tại một số quốc gia đang
phát triển trong 10 năm gần đây
83
Bảng 29: Ảnh hưởng của các yếu tố tác động tới FDI vào tổng thể các
nước đang phát triển so sánh với các nghiên cứu trước
98
Bảng 31: Tổng hợp các yếu tố tác động tới FDI vào các nước đang phát
triển theo khu vực địa lí
Bảng 34: Thủ tục/rào cản hành chính giai đoạn xin phê chuẩn đầu tư tại
các nước đang phát triển năm 2010
116
Trang 9Bảng 36: 10 tỉnh, thành phố của Việt Nam thu hút FDI hàng đầu tính đến
12/2011
121
Bảng 38: Số lượng các công việc tương ứng với các hoạt động đầu tư tại 3
thành phố ở Việt Nam
128
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu 1 : Dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển châu Á giai đoạn
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
West African States
Hiệp hội kinh tế các quốc gia Tây Phi
Advisory Services
Tổ chức dịch vụ tư vấn môitrường đầu tư
Taxation and Trade
Hiệp định chung về thuế quan
và thương mại
Corporation
Tổ chức tài chính quốc tế
Association
Hiệp hội kinh tế Mỹ la tinh
International
Chỉ số chứng khoán MorganStandley Capital International
Trang 1120 NCS Nghiên cứu sinh
Cooperation and Development
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
Index
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấptỉnh
Trade-Related Investment Measures
Hiệp định về các biện pháp đầu
tư liên quan đến thương mại
intellectual property rights
Quyền sở hữu trí tuệ liên quanđến thương mại
Trade and Development
Hội nghị Liên hợp quốc vềthương mại và phát triển
Monetary Union
Ủy ban kinh tế tiền tệ Tây Phi
Trang 12A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm cuối của thế kỷ XX và thập kỷ đầu của thế kỷ XXI đi qua với nhữngbiến động đáng ghi nhận về dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tới các nướcĐPT Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các nước đang phát triển (ĐPT) gia tăngvới một tốc độ trung bình trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước khoảng 23% mỗi năm chođến khi có cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á năm 1997 Tỷ trọng đầu tưtrực tiếp nước ngoài tới các nước ĐPT tăng 8%, từ 23% năm 2002 lên 31% năm 2003
và năm 2004 đạt mức 36% tổng số đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới, là mức caonhất kể từ năm 1997 và kể từ năm 2009 đạt mức 50% tổng số FDI trên toàn cầu (519,2
tỉ USD) Năm 2011, FDI vào các nước ĐPT và các nền kinh tế chuyển đổi đạt mức 776
tỷ đô la, chiếm 51% tổng giá trị FDI toàn cầu (WIR, 2012) Năm 2012, mặc dù FDI vàocác nước có nền kinh tế chuyển đổi giảm 13% giá trị dòng vốn nhưng tổng giá trị dòngvốn này vào các nước ĐPT và các nước có nền kinh tế chuyển đổi vẫn đạt mức 761 tỉUSD (UNCTAD, 2013)
Đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng ngày càngthể hiện vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế Tuy vậy, dòngvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến các nước trên thế giới chịu tác động của nhiều nhân
tố như dân số, thu nhập quốc dân, trình độ học vấn, hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trítuệ… Nghiên cứu về các nhân tố này là điều kiện để tìm ra được xu hướng vận độngcủa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới đồng thời tìm ra các giải pháp đểcác nước nhận đầu tư có thể thu hút nhiều hơn luồng vốn này cho phát triển kinh tế.Mặc dù đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng vàphát triển kinh tế tại các nước nhận đầu tư, là một trong các yếu tố then chốt giúp chocác quốc gia ĐPT hội nhập vào nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, không phải nguồn đầu
tư trực tiếp nước ngoài nào trong thực tế cũng có thể sinh lợi và không phải quốc giaĐPT nào cũng thành công trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phát triểnkinh tế Trong khi đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu tác động từ các yếu tốmang tính dài hạn như quy mô dân số, trình độ phát triển kinh tế, trình độ lao động nênthường được đánh giá cao hơn đầu tư gián tiếp cũng như có vai trò lớn hơn đối với sựtăng trưởng bền vững và dài hạn của các nền kinh tế Việc xác định mức độ ảnh hưởngcủa các yếu tố tác động tới luồng vốn này trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suythoái kinh tế toàn cầu có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nước tiếp nhận đầu tư, đặcbiệt là các nước ĐPT trong đó có Việt Nam Điều này càng có ý nghĩa quan trọng hơn
Trang 13trong bối cảnh các nước ĐPT ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trên bản đồ kinh tếthế giới Riêng đối với Việt Nam, trong bối cảnh nguồn vốn đầu tư gián tiếp không còn
ổn định do tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, nguồn vốn hỗ trợ phát triểnchính thức có xu hướng giảm dần do Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình,nguồn vốn trong nước còn hạn chế, thì FDI càng trở thành là nguồn lực quan trọng cho
mục tiêu phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Bởi vậy, NCS đã chọn đề tài «Các yếu tố tác động tới đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển trong bối cảnh khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và các khuyến nghị cho Việt Nam» làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
2 Mục đích nghiên cứu của Luận án
Trên cơ sở làm rõ các yếu tố tác động lên dòng vốn FDI vào các nước ĐPT vàphân tích thực trạng các yếu tố tác động tới FDI vào các nước ĐPT trong bối cảnhkhủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, Luận án bổ sung vào lý luận về đầu
tư nước ngoài, đặc biệt là lý luận về các yếu tố tác động tới dòng vốn và đề xuất cáckhuyến nghị cụ thể cho Việt Nam nói riêng nhằm hạn chế mặt tiêu cực, phát huy mặttích cực của các yếu tố tác động và cuối cùng nhằm tăng cường thu hút nguồn vốn FDItrong những lĩnh vực cần thiết cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của Luận án
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các yếu tố tác động tới đầu tư trực tiếp nướcngoài vào các nước ĐPT trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàncầu Các yếu tố tác động tới FDI này được chia thành các yếu tố chung, các yếu tố kinh
tế và các yếu tố phi kinh tế
3.2 Phạm vi nghiên cứu của Luận án
Về mặt nội dung: Luận án giới hạn ở việc nghiên cứu các yếu tố tác động tới
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước phát triển được chia thành các yếu tốtác động chung tới tất cả các nước ĐPT như bối cảnh khủng hoảng tài chính vàsuy thoái kinh tế, bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và các yếu tố mang tính đặctrưng quốc gia (country specific) có tác động tới việc thúc đẩy FDI từ phía chủđầu tư và thu hút FDI từ phía nước nhận đầu tư như quy mô thị trường, thu nhậpbình quân đầu người, trình độ nguồn nhân lực, mức độ ổn định chính trị…
Về mặt không gian: Luận án tập trung phân tích các vấn đề thuộc đối tượng
nghiên cứu tại các quốc gia ĐPT trên thế giới như các quốc gia ĐPT châu Phi,
Trang 14châu Mỹ La tinh, châu Á… thông qua các dữ liệu về các yếu tố tác động lên đầu
tư nước ngoài, các dữ liệu về dòng vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới và tạicác nước ĐPT trong những năm gần đây và dùng công cụ kinh tế lượng để đánhgiá các kết luận mang tính lý thuyết
Về mặt thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu về thực trạng các yếu tố tác
động đến FDI vào các nước ĐPT cũng như thực trạng dòng vốn này trong bốicảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay Để tập trungnghiên cứu các vấn đề của Luận án trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suythoái toàn cầu hiện nay, nghiên cứu sinh chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm
1999, năm kết thúc giai đoạn khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á Trên
cơ sở đó nghiên cứu sinh tổng hợp số liệu trong mô hình kinh tế lượng củachương 2 trong giai đoạn 11 năm 1999-2010 Từ việc nghiên cứu lí luận và thựctiễn về các yếu tố tác động tới dòng vốn FDI vào các nước ĐPT, nghiên cứusinh sẽ đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam nhằm tăng cường thu hút FDItrong bối cảnh hậu khủng hoảng và trên cơ sở trung hạn đến năm 2030
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trước hết, trên cơ sở xác định đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu,nghiên cứu sinh làm rõ các vấn đề lí luận về đầu tư nước ngoài nói chung và về FDI nóiriêng Trên cơ sở hệ thống các cơ sở lí luận về vấn đề nghiên cứu, tổng hợp tình hìnhnghiên cứu liên quan đến đối tượng nghiên cứu của Luận án, nghiên cứu sinh phân tíchthực trạng của đối tượng nghiên cứu và cuối cùng rút ra các kết luận rồi so sánh, đốichiếu với các kết quả nghiên cứu trước đó
Thứ hai, Luận án làm rõ thực trạng các yếu tố kinh tế và phi kinh tế có tác động tớiđầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước ĐPT cùng với các phân tích cụ thể về sự biếnđộng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thế giới các nước ĐPT trong nhữngnăm đầu của thế kỷ XXI
Thứ ba, thông qua công cụ kinh tế lượng tác giả cũng muốn chỉ ra được mức độảnh hưởng của các yếu tố tác động này tới dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào cácnước này thông qua một mô hình nghiên cứu độc lập với các dữ liệu thực tế Đặc biệt,Luận án làm rõ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giớiđến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước ĐPT trong những năm gần đây Ảnhhưởng này cũng được lượng hóa trong mô hình hồi qui được phân tích trong Luận án.Thứ tư, trên cơ sở nghiên cứu các yếu tố tác động lên dòng vốn đầu tư nước ngoàivào các quốc gia ĐPT trên thế giới trong đó có Việt Nam, Luận án đề xuất một số
Trang 15khuyến nghị đối với Việt Nam (liên quan đến các yếu tố có ảnh hưởng tới việc thu hútdòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) để tăng cường thu hút hiệu quả dòng vốn trong bốicảnh khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới với một tầm nhìn trung hạn đến năm 2030.
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu của Luận án là chủ nghĩa Mác – Lênin về duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử Để hoàn thành Luận án, các phương pháp nghiên cứutổng hợp dưới đây cũng được sử dụng như: phương pháp hệ thống hóa, phương phápthống kê, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp toán học, phương pháp môhình hóa, đồ thị hóa và đặc biệt là phương pháp hồi qui kinh tế lượng
Trong mối quan hệ với phương pháp nghiên cứu, để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứutrong Luận án, nghiên cứu sinh thu thập dữ liệu từ ba nguồn chủ yếu Nguồn dữ liệuchính về dòng vốn FDI vào các nước ĐPT được thu thập từ các Báo cáo đầu tư thế giớicủa UNCTAD Nguồn dữ liệu thứ hai được lấy từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng thế giới.Nguồn cơ sở dữ liệu này được phục vụ để chạy mô hình kinh tế lượng trong chương 2.Các dữ liệu liên quan đến dòng FDI đăng ký hằng năm, chỉ số kiểm soát tham nhũng, ổnđịnh chính trị, GDP đầu người, quy mô dân số… được lấy từ cơ sở dữ liệu thứ hai này.Ngoài ra, các số liệu về dòng vốn FDI qua các năm tại Việt Nam được thống kê từ cơ sở
dữ liệu của Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ kế hoạch và Đầu tư Việt Nam Cơ sở dữliệu của các biến số cụ thể được trình bày trong chương 2 của Luận án
6 Các đóng góp mới của Luận án
Thứ nhất, Luận án góp phần hoàn thiện lí luận về các yếu tố tác động tới FDI cũngnhư sự phát triển của lí luận về các yếu tố tác động tới dòng vốn với hai dòng lý luậnchính là các nghiên cứu kinh tế thuần túy và các nghiên cứu định lượng
Thứ hai, Luận án làm rõ mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động tới dòng vốnFDI vào các nước ĐPT với cơ sở dữ liệu cập nhật hơn, đầy đủ hơn Đồng thời Luận án
đề cập đến ảnh hưởng của chính bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thếgiới hiện nay đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước ĐPT
Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tácđộng tới dòng vốn FDI vào các nước ĐPT trong đó có Việt Nam, Luận án đề xuất một
số khuyến nghị cho các quốc gia này nhằm tăng cường thu hút dòng vốn đầu tư nướcngoài trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới
Kết quả nghiên cứu của đề tài còn có thể được sử dụng để tham khảo trong việchoàn thiện hệ thống pháp luật, hoàn thiện các chính sách của Nhà nước, góp phần hoàn
Trang 16thiện các tài liệu, bài giảng về đầu tư nước ngoài hay kinh tế phát triển Những kiếnnghị của Luận án có thể là những gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách tại các nướcĐPT trong đó có Việt Nam.
Trang 17B TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
1.1 Các nghiên cứu lí luận
Lí luận kinh tế về các yếu tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài có một lịch
sử khá lâu dài Hầu hết các nghiên cứu này đều nhấn mạnh các yếu tố đặc trưng có ýnghĩa đối với các công ty đa quốc gia, tức các chủ đầu tư, đặc biệt là các yếu tố liênquan tới sự cạnh tranh giữa các công ty đa quốc gia và giữa các công ty này với cácdoanh nghiệp nội địa nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận Hay nói cách khác, là nhữngyếu tố thúc đẩy nhà đầu tư có thực hiện dự án hay không Những nghiên cứu lí luận đầutiên về các yếu tố ảnh hưởng tới đầu tư nước ngoài bắt nguồn từ Adam Smith, StuartMill và Torrens Mặc dù số lượng các nghiên cứu kinh tế thuần túy là khá phong phú,nhưng có thể chia thành các nhóm chính gồm các lý thuyết xoay quanh yếu tố tư bản,các lý thuyết liên quan tới thương mại quốc tế, các lý thuyết về chi phí và tổ chức côngnghiệp và các lý thuyết liên quan tới chu kỳ sản phẩm và một vài định hướng khác
- Liên quan đến tư bản
Lý thuyết liên quan đến tư bản nghiên cứu về tỷ suất lợi nhuận và rủi ro đối với tưbản của các công ty Theo đó các công ty sẽ tìm kiếm những cơ hội tại các quốc gia màtại đó khoản tư bản của họ có thể mang lại nhiều lợi nhuận hơn hoặc đầu tư nước ngoài
để phân tán rủi ro đối với tư bản Một trong những học giả đầu tiên đề cập tới vấn đềnày là Bertil Ohlin Ohlin quan niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài có động cơ chủ yếu bởikhả năng kiếm lời cao và lãi suất cho vay thấp tại các thị trường đang phát triển Cácyếu tố khác có thể kể tới như khả năng vượt qua các rào cản thương mại và việc tậndụng các nguồn nguyên liệu rẻ tiền (Ohlin, 1933) Nghiên cứu của Hymer năm 1960cũng đề cập tới các nguyên nhân tương tự của đầu tư trực tiếp nước ngoài mà về sauKindleberger phân tích rõ ràng hơn: thay vì thái độ của hãng độc quyền xác định kết cấucủa thị trường, sẽ là kết cấu thị trường cạnh tranh – độc quyền sẽ tác động tới thái độcủa hãng, khi quốc tế hóa việc sản xuất (Kindleberger, 1969) Ngoài ra, trước thực tế làcác doanh nghiệp nước ngoài thường gặp một số bất lợi thế so với các doanh nghiệp nộiđịa liên quan tới việc hiểu biết thị trường, giao tiếp, truyền thông… Các doanh nghiệpnước ngoài phải nắm giữ một số lợi thế đặc trưng khác khi muốn đầu tư sản xuất ở nướcngoài Theo Hymer, FDI không chỉ đơn giản là dịch chuyển về tư bản mà còn là về việcchuyển giao quyền sở hữu trí tuệ quốc tế và các công nghệ - tài sản vô hình, kỹ thuậtkinh doanh và kỹ năng cá nhân Hymer cũng nhận định sự tồn tại của FDI có liên quan
Trang 18đến thất bại của thị trường quốc tế về các loại tài sản này Do vậy, các hãng nội vi hóacác thất bại thị trường này thông qua đầu tư trực tiếp (Hymer, 1960).
- Liên quan đến chi phí giao dịch
Buckley và Casson là những người đầu tiên phát triển giả thuyết này, bắt đầu với ýtưởng là các thị trường sản phẩm trung gian là cạnh tranh không hoàn hảo, có các chiphí giao dịch cao hơn, khi được vận hành bởi các doanh nghiệp khác nhau Khi các thịtrường được hội nhập bởi các công ty đa quốc gia, các chi phí này sẽ được giảm thiểu(Buckley và Casson, 1976) Lý thuyết về quốc tế hóa nhấn mạnh vai trò của các thịtrường sản phẩm trung gian và sự hình thành mạng lưới sản xuất quốc tế Điểm mạnhcủa lý thuyết này là ở việc đề cập tới tình trạng khó xử giữa việc sản xuất trực tiếp vàchuyển giao giấy phép sản xuất cho một đại lý nước ngoài Do đó, công ty cần phải đưa
ra hai quyết định về địa điểm sản xuất và cách thức kiểm soát Khi việc sản xuất vàkiểm soát tại nước chủ đầu tư, công ty sẽ xuất khẩu; khi việc sản xuất và kiểm soát diễn
ra tại nước nhận đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện Thông thường, cácquyết định này liên quan tới một số bước quốc tế hóa việc sản xuất
- Lý thuyết nội vi hóa (Eclectic Theory)
Theo lý thuyết này, một số giao dịch thực tế sẽ tiết kiệm chi phí hơn khi được thựchiện trong doanh nghiệp so với khi thực hiện trên thị trường Lý thuyết về nội vi hóa bắtnguồn từ nghiên cứu được tiếp cận theo hướng vi mô của John Dunning Việc sở hữucác tài sản khác nhau có thể được xem như một trong số các yếu tố giải thích sự tồn tạicủa các công ty đa quốc gia (Dunning, 1979) Dunning phát triển một cách tiếp cận màtheo ông được hiểu như một mô hình với tên gọi OLI (Quyền sở hữu, Địa điểm và Nội
vi hóa) Ông giả định một doanh nghiệp sẽ thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp nếu thỏamãn ba điều kiện sau:
Công ty có lợi thế về quyền sở hữu so với các công ty từ các quốc gia khác(Ownership -O);
Công ty đó có thể nội vi hóa (Internalize –I) các lợi thế của mình trong nội
bộ công ty thay vì thông qua thị trường để chuyển các lợi thế đó cho cácdoanh nghiệp nước ngoài
Công ty có lợi thế về địa điểm (Location -L) khi sản xuất tại nước ngoài sovới sản xuất tại nước mình
Có thể nói, theo mô hình OLI, các công ty nước ngoài có các lợi thế so với cácdoanh nghiệp nội địa trong một khu vực xác định là kết quả của việc sở hữu đặc quyền
Trang 19của một số tài sản vô hình hay hữu hình nào đó mà các tài sản này chỉ giành cho cáccông ty ở cùng một quốc gia (1) Với giả định (1), công ty nước ngoài sẽ quyết định liệulợi thế về quyền sở hữu đó sẽ được quốc tế hóa hay được bán, nếu công ty có một lợithế về quyền sở hữu (1) thì công ty đó sẽ thực hiện việc nội vi hóa (2) Với cả giả định(1) và (2), công ty nước ngoài sẽ quyết định sản xuất tại nước nhận đầu tư nếu có đủ cáclợi thế địa phương (L) để xác định việc sản xuất tại quốc gia đó, và không phải là tạiquốc gia khác.
Dunning cũng nêu ra một điều kiện thứ tư: đó là sự tương hợp giữa đầu tư nướcngoài và chiến lược dài hạn của công ty Dựa trên mô hình này, ông chỉ ra bốn lí do đểmột công ty quyết định đầu tư ở nước ngoài: tìm kiếm nguồn nguyên liệu, thị trường,hiệu quả và các tài sản chiến lược mới Các động cơ trên lí giải sự gia tăng nhanh chóngcủa đầu tư trực tiếp nước ngoài trong vài thập kỷ qua Tuy nhiên trong những năm gầnđây, không phải vấn đề tìm kiếm thị trường hay nguồn nguyên liệu là những mục tiêuchính của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các nước đang phát triển mà chính là việc tìmkiếm các tài sản chiến lược mới như di sản, kỹ năng sống, sáng chế, hay dữ liệu thôngtin về khách hàng mới là những yếu tố thu hút sự chú ý của các chủ đầu tư
- Lý luận về chu kỳ sản phẩm
Một cách tiếp cận khác được đưa ra bởi Vernon về chu kỳ sản phẩm Vernon xácđịnh mỗi một sản phẩm có một chu kỳ sống gồm 3 giai đoạn: đổi mới, chín muồi và tiêuchuẩn hóa Nguồn cầu nội địa có thể là một mục tiêu để đổi mới trong khi nguồn cầungoài nước kích thích xuất khẩu Theo mô hình của Vernon, do các cải tiến kỹ thuật cóvai trò giảm bớt sức lao động nên chúng sẽ xuất hiện sớm nhất tại các quốc gia có tậptrung tư bản cao, đặc biệt là Hoa Kỳ, (nơi mô hình được phát triển từ giữa những năm1960) Sau đó, lần lượt, việc sản xuất được thực hiện ở những quốc gia tập trung ít tưbản hơn và cuối cùng mới là các nước đang phát triển Cùng lúc đó, việc sản xuất tại cácquốc gia giàu hơn lại được phát triển xoay quanh những sản phẩm mới có các cải tiến vềsản phẩm và quy trình sản xuất Công ty đa quốc gia ban đầu sẽ cung cấp cho thị trườngxuất khẩu của mình, sau đó thiết lập đại diện thương mại và cuối cùng thường thực hiệnviệc sản xuất tại nước đầu tư thông qua con đường mở chi nhánh (Vernon, 1966)
- Liên quan đến tích lũy công nghệ
Một trong số các cách tiếp cận mới mẻ nhất là nghiên cứu của Cantwell (2000),theo đó quan điểm về tích lũy công nghệ được xem như một quá trình tích lũy nội sinhđối với công ty Khi công nghệ là mục tiêu, nó sẽ không phải chuyển giao miễn phí Cáccông ty sẽ phát triển công nghệ và khả năng của mình theo cách duy nhất và đa dạng
Trang 20Do đó, việc cạnh tranh giữa các công ty chủ yếu xoay quanh công nghệ Cải tiến kỹthuật là nguồn gốc chính cho lợi nhuận Việc quốc tế hóa sản xuất cho phép các công ty
sử dụng kiến thức và cải tiến kỹ thuật tiềm năng của mình tại các môi trường mới, làmtăng các lợi thế đặc trưng của họ Do vậy, mở rộng sản xuất dẫn đên việc thích nghi và
từ đó lại tạo điều kiên ra đời các cải tiến mới Kết quả là các công ty đa quốc gia sẽ triểnkhai tri thức của mình thông qua mạng lưới công nghệ quốc tế (Cantwell, 2000)
Nói tóm lại, các nghiên cứu theo hướng lí luận kinh tế đơn thuần đã chỉ ra được cácnguyên nhân hay các yếu tố có thể tác động đến quyết định của nhà đầu tư hoặc các công ty
đa quốc gia và xuyên quốc gia, những chủ thể đầu tư quốc tế chủ yếu Theo đó chúng tathấy có các nguyên nhân cơ bản như yếu tố tư bản (chi phí rẻ mạt về nguyên liệu và nhâncông, việc tiết kiệm được tư bản do vượt qua được rào cản thương mại ), yếu tố công nghệ(kéo dài vòng đời sản phẩm để tận thu lợi nhuận), yếu tố chi phí (giảm thiểu chi phí giaodịch thông qua nội vi hóa hoặc quốc tế hóa mạng lưới sản xuất) Tổng hợp các yếu tố tácđộng tới FDI theo các nghiên cứu thuần túy được thể hiện trong bảng 1 dưới đây
Bảng 1: Tổng hợp các yếu tố tác động tới FDI theo các nghiên cứu kinh tế thuần túy
Stt Yếu tố tác động Hướng tác động Tác giả nghiên cứu
1
Dunning, 1970, 1993
7
1960
10
2000
Trang 211.2 Các nghiên cứu thực nghiệm
1.2.1 Liên quan đến FDI vào các nước đang phát triển trên thế giới
Như đã chỉ ra ở phần trước, đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các nước đang pháttriển chịu tác động của nhiều yếu tố trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tới mục tiêu củacông ty đa quốc gia Các nghiên cứu thực nghiệm nhằm ước lượng tầm quan trọng củacác yếu tố khác nhau tác động tới đầu tư trực tiếp nước ngoài, tập trung chủ yếu vào cácyếu tố thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài như quy mô thị trường, thu nhập, môi trườngđầu tư (chất lượng lao động, sự ốn định chính trị, mở cửa kinh tế…) Các biến số chủyếu được dùng để ước lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các nước đang phát triểnnhư dân số, tốc độ phát triển kinh tế, sự ổn định chính trị, mức độ mở cửa kinh tế và một
số biến số khác
Ngay từ năm 1979, Root và Ahmed trong nghiên cứu của họ về các yếu tố tácđộng tới dòng FDI vào các ngành công nghiệp chế biến tại 70 nước đang phát triển đãkết luận rằng đô thị hóa, cơ sở hạ tầng hiện đại và thu nhập bình quân đầu người caogóp phần làm tăng FDI vào trong nước (Root và Ahmed, 1979) Nghiên cứu củaSchneider và Frey tại 80 nước đang phát triển cũng đã chỉ ra mức độ phát triển của mộtquốc gia là yếu tố tác động hàng đầu tới FDI vào quốc gia đó Họ cũng xác định yếu tố
ổn định chính trị cũng đóng vai trò quan trọng tới quyết định của nhà đầu tư nước ngoài(Schneider và Frey, 1985)
Loree và Guisinger, nghiên cứu các tác nhân của đầu tư trực tiếp nước ngoài củaHoa Kỳ trong giai đoạn từ 1977 đến 1982 (tới các nước phát triển cũng như đang pháttriển), kết luận rằng các biến số liên quan tới chính sách của nước nhận đầu tư có ýnghĩa thống kê tại các nước phát triển chỉ khi cơ sở hạ tầng là một nhân tố quan trọng ởmọi vùng miền (Loree và Guisinger, 1995)
Alan A Bevan và Saul Estrin sử dụng một dãy số liệu mảng (panel) về dòng vốnFDI tới các nước có nền kinh tế chuyển đổi tại Trung và Đông Âu nhằm xác định ảnhhưởng của các yếu tố tác động tới dòng vốn này gồm có: rủi ro quốc gia, chi phí laođộng, quy mô thị trường và các yếu tố trọng lực liên quan tới vị trí địa lí (gravityfactors) Kết quả nghiên cứu của hai ông cho thấy biến số về FDI chịu tác động bởi cácyếu tố như rủi ro quốc gia, sự phát triển của khu vực tư nhân, sự phát triển của côngnghiệp, cán cân chính phủ, dự trữ và tham nhũng (Alan A Bevan và Saul Estrin, 2000).Nghiên cứu của Marcelo Braga Nonnemberg và Mario Jorge Cardoso deMendonça về các yếu tố tác động tới dòng vốn FDI tại 38 nước đang phát triển bao gồm
cả các nước có nền kinh tế chuyển đổi giai đoạn 1975-2000 Các tác giả đã đưa ra nhiều
Trang 22kết luận quan trọng trong đó có thể kể đến việc FDI có mối tương quan với trình độ họcvấn (được mô tả bởi cấp học), mức độ mở cửa kinh tế, các biến động hay rủi ro thuộckinh tế vĩ mô như lạm phát, tốc độ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế Ngoài ra cáctác giả cũng thực hiện một kiểm tra nhỏ về mối quan hệ nhân quả giữa FDI và GDP vàxác định có mối quan hệ nhân quả giữa tốc độ tăng trưởng GDP tới FDI nhưng không
có mối quan hệ ngược lại, tức là FDI không có ảnh hưởng tới GDP
Nunnenkamp và Spatz nghiên cứu một mẫu gồm 28 nước đang phát triển trongthời kỳ 1987- 2000, chỉ ra mối tương quan đáng kể giữa dòng đầu tư trực tiếp nướcngoài và GNP đầu người, số năm học hành, các quy định hạn chế ngoại thương, các thủtục hành chính… Trong mẫu này, các biến số khác như dân số, tốc độ tăng trưởng kinh
tế, quy định về công nghệ… không có tương quan rõ ràng (Nunnenkamp và Spatz,2002) Campos và Kinoshita sử dụng dữ liệu dạng panel với 25 nền kinh tế chuyển đổi
từ 1990 đến 1998 Các kết luận rút ra như đối với mẫu các quốc gia này, đầu tư trực tiếpnước ngoài chịu ảnh hưởng của các nền kinh tế theo cụm, quy mô thị trường, lao độnggiá rẻ, và tài nguyên thiên nhiên sẵn có (Campos và Kinoshita, 2003) Bên cạnh cácnhân tố này, các biến số sau cũng có các kết quả rõ rệt: các thể chế vững mạnh, mở cửathương mại, các quy định nới lỏng đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chảyvào Garibaldi và các nhà nghiên cứu khác dựa trên một panel linh hoạt của 26 nền kinh
tế chuyển đổi giữa 1990 và 1999, phân tích một số các biến số được chia thành các yếu
tố kinh tế vĩ mô, cải cách cơ cấu, khung pháp lí và thể chế, các điều kiện cơ sở và cácphân tích về rủi ro Các kết quả cho thấy những biến số kinh tế vĩ mô như quy mô thịtrường, thâm hụt tài khóa, lạm phát và chế độ tỷ giá hối đoái, phân tích rủi ro, cải cáchkinh tế, mở cửa kinh tế, tài nguyên thiên nhiên sẵn có, rào cản đối với đầu tư và quanliêu; tất cả đều có kết quả như mong đợi và có ý nghĩa thống kê (Garibaldi, 2001).Erdal Demirhan và Mahmut Masca có nghiên cứu về các yếu tố tác động tới dòngFDI vào các nước đang phát triển thông qua một phân tích được dựa trên một mẫu dữliệu chéo tại 38 quốc gia phát triển, với các giá trị trung bình của tất cả các dữ liệu chogiai đoạn 2000-2004 (Erdal, 2008) Trong các mô hình, biến phụ thuộc là FDI Biến độclập là tốc độ tăng trưởng GDP trên đầu người, tỷ lệ lạm phát, các đường dây điện thoạitrên 1.000 người được đo trong các bản ghi, lao động chi phí cho mỗi công nhân trongngành công nghiệp sản xuất được đo trong các bản ghi, mức độ rủi ro, sự cởi mở và tỷ
lệ thuế doanh nghiệp đầu Theo kết quả các phân tích, trong mô hình chính, tốc độ tăngtrưởng bình quân đầu người, đường dây điện thoại chính và mức độ của sự cởi mở códấu hiệu tích cực và có ý nghĩa thống kê Tỷ lệ lạm phát và mức thuế suất hiện dấu hiệu
Trang 23tiêu cực và có ý nghĩa thống kê Chi phí lao động có dấu hiệu tích cực và nguy cơ códấu hiệu tiêu cực Tuy nhiên, cả hai đều tác động không đáng kể.
Glauco De Vita và Khine S Kyaw đã sử dụng một bảng dữ liệu dạng panel của 32quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1990-2004, nhóm tác giả đã xem xét tầm quantrọng tương đối của các yếu tố quyết định kinh tế trọng điểm của đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI) và dòng danh mục đầu tư Kết quả cho thấy tăng trưởng của năng suất trongnước là yếu tố quyết định FDI chảy vào các nước đang phát triển, cón đối với các dòngthuộc đầu tư gián tiếp, tăng trưởng tiền tệ trong nước lại là yếu tố tác động hàng đầu(Glauco De Vita và Khine S Kyaw, 2008)
Asiedu đã tiến hành một nghiên cứu trên 32 nước châu Phi cận Sahara và 39 nướckhông tiểu sa mạc Sahara châu Phi trong một khoảng thời gian 10 năm (1988-1987) Bàlập luận rằng dòng vốn FDI vào các nước châu Phi cận Sahara là nhằm tìm kiếm thịtrường (Asiedu, 2002) Một nghiên cứu khác của Aseidu năm 2004 lại khẳng định cácnguồn tài nguyên thiên nhiên và quy mô thị trường là yếu tố quyết định tới dòng vốnđầu tư nước ngoài ở châu Phi (Asiedu, 2004) Bà cũng cho biết rằng dòng vốn FDI tớichâu Phi có thể được thúc đẩy bởi sự ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô, bởi lực lượnglao động được đào tạo tốt hơn, tham nhũng ít hơn và một hệ thống pháp lý hiệu quả.Hình ảnh xấu của châu Phi đã ngăn cản dòng vốn FDI vào lục địa (UNCTAD, 1999).Morisset lập luận rằng các nước châu Phi cận Sahara có thể cạnh tranh và thu hút vốnđầu tư nước ngoài giống như bất kỳ nước đang phát triển khác bằng cách cải thiện môitrường kinh doanh của họ (Morisset, 2000) Jenkins và Thomas đã tiến hành một nghiêncứu về yếu tố quyết định và đặc điểm của FDI ở miền Nam châu Phi Họ lập luận rằngkích thước của thị trường địa phương, đặc biệt là doanh nghiệp khu vực ngoài chính làmột động lực quan trọng cho vốn đầu tư nước ngoài trong khu vực Ngoài nguồn tàinguyên thiên nhiên và tiến trình tư nhân hóa, lịch sử thuộc địa của châu Phi cũng thúcđẩy đầu tư trong khu vực tiểu Sahara (Jenkins và Thomas, 2002)
Getinet & Hirut phân tích các yếu tố quyết định đầu tư trực tiếp nước ngoài ởEthiopia và kết luận rằng tăng trưởng GDP thực, xuất khẩu định hướng và thúc đẩy tự
do hóa các dòng chảy của vốn đầu tư nước ngoài trong khi bất ổn kinh tế vĩ mô và cơ sở
hạ tầng kém ngăn chặn các dòng vốn FDI Các tác giả đã tổng kết hai kết luận Thứ nhất,mặc dù có một số lập luận cho rằng các yếu tố quyết định vốn đầu tư nước ngoài ở châuPhi khác với các yếu tố quyết định đến dòng vốn này vào các nơi khác trên thế giới,những yếu tố quyết định được xác định bởi các nghiên cứu thực nghiệm là tương tựnhau Thứ hai, ngay cả khi có một nhận thức phổ biến rằng các dòng vốn đầu tư nước
Trang 24ngoài vào châu Phi được xác định bởi khả năng thiên phú tài nguyên thiên nhiên củanước sở tại thì tài nguyên thiên nhiên không phải là yếu tố quyết định duy nhất của FDI(Getinet và Hirut, 2006).
Linda và Said đã tiến hành một nghiên cứu trên yếu tố quyết định của FDI ở cácnước Bắc Phi và vùng Trung Đông và kết luận rằng sự mở cửa kinh tế quốc gia, lợi tứcđầu tư, tài nguyên dầu mỏ xuất khẩu và là một thành viên của tổ chức thương mại thếgiới (WTO) là các yếu tố quyết định của FDI (Linda và Said, 2007)
Trong bài “Phân tích so sánh về các yếu tố tác động tới FDI tại các nước đang pháttriển” đăng trong tạp chí The Journal of Applied Economic Research số 4 năm 2010,Khondoker Abdul Mottaleb và Kaliappa Kalirajan đã sử dụng bảng panel dữ liệu từ 68quốc gia có thu nhập thấp và thu nhập trung bình thấp hơn phát triển nhằm xác định cácyếu tố xác định dòng chảy FDI vào các nước đang phát triển Dựa trên một phân tích sosánh tập trung vào lý do tại sao một số quốc gia thành công trong thu hút FDI, bài viếtchứng minh rằng các nước có GDP lớn hơn, tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn, tỷ lệthương mại quốc tế cao hơn và một môi trường kinh doanh thân thiện hơn sẽ thành cônghơn trong việc thu hút FDI Ngoài ra các tác giả còn kết luận rằng bằng cách thu hẹpkhoảng cách giữa tiết kiệm và đầu tư trong nước kết hợp với các công nghệ mới nhất vàbiết quản lý tốt, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có thể đóng một vai trò quan trọngtrong việc đạt được tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ở các nước đang phát triển Trongquá khứ, các nước đang phát triển không được coi là điểm đến thuận lợi cho vốn đầu tưnước ngoài như các nước phát triển Hơn nữa, trong số các nước đang phát triển, chỉ cómột vài nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Nigeria và Sudan, là nước nhận đầu tư lớn đốivới FDI loại 1, phần còn lại đang cạnh tranh cho các những FDI thuộc hàng thải(Khondoker Abdul Mottaleb, 2010)
Bài nghiên cứu về “Các yếu tố tác động tới FDI vào các nước đang phát triển:
Economic and Financial Review) số 1 năm 2011 của Behrooz Shahmoradi đã thông quamột mô hình với chuỗi số liệu dạng bảng giai đoạn 1990-2007 tại 25 quốc gia đang pháttriển để xác định các yếu tố tác động tới dòng vốn FD trong giai đoạn này Mô hình vớibiến phụ thuộc là luồng FDI vào 25 nước, các biến độc lập gồm GDP, cán cân thanhtoán, dân số, mức độ mở cửa kinh tế, cơ sở hạ tầng (điện thoại di động, internet, côngnghệ), ODA và lao động Theo các kết quả từ mô hình này, mức độ mở cửa kinh tế, quy
mô thị trường, sự sẵn có của lực lượng lao động, ODA, cơ sở hạ tầng (điện thoại di
1
Determinants of Foreign Direct Investment in Developing Countries: A Panel Data Analysis
Trang 25động, công nghệ và internet) có tác dụng tích cực đối với dòng vốn FDI vào các nướcđang phát triển.
Trong số các bài nghiên cứu thuộc hệ thống bản tin nghiên cứu của ngân hàngtrung ương Pakistan (Research Bulletin- State Bank of Pakistan), nghiên cứu về “các
Constance Kabibi Kimuli thuộc tập 8, số 1 năm 2012 đã sử dụng dữ liệu dạng mảng(panel) trong mười năm (2000-2009) của 57 quốc gia có thu nhập thấp và trung bìnhthấp nhằm tìm hiểu về các yếu tố tác động tới dòng vốn Nghiên cứu này cho thấy quy
mô thị trường là yếu tố quyết định quan trọng nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài vàocác nước đang phát triển Hơn nữa, môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, hội nhập kinh tếquốc tế, sự sẵn có của lực lượng lao động lành nghề và lĩnh vực tài chính phát triển cũngthúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước đang phát triển Tháng 6 năm 2012, tạiHội thảo khoa học thường niên của Hiệp hội các nhà kinh tế New Zealand lần thứ 53,tiến sĩ Sayeeda Bano, giảng viên Khoa kinh tế, trường Đại học Waikato, Hamilton, NewZealand và Giáo sư Jose Tabbada, Đại học Philippines đã công bố một nghiên cứu về
Nghiên cứu này cho thấy, FDI ra nước ngoài cũng chịu sự tác động của tốc độ tăngtrưởng GDP, GDP bình quân đầu người, tỷ lệ tiết kiệm và định hướng xuất khẩu Kiểmtra độ tương quan tại một số quốc gia ở Đông, Nam và Đông Nam Á cho thấy rằng dòngFDI ra nước ngoài, có độ tương quan khá cao với tỷ lệ tiết kiệm trong nước, GDP, vàGDP bình quân đầu người của nước chủ đầu tư
1.2.2 Liên quan đến FDI vào Việt Nam
Tại Việt Nam, đạo luật đầu tiên liên quan tới FDI ra đời năm 1987 với tên gọi LuậtĐầu tư nước ngoài, tức là một năm kể từ khi nước ta tiến hành công cuộc Đổi mới Luậtđầu tư nước ngoài năm 1987 được xem là một trong các bước khởi đầu cho tiến trìnhhội nhập kinh tế quốc tế của nước ta Dòng vốn FDI được xem là một trong các yếu tốquan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi từ mộtnền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường (Kokko, 2003) Dòng vốnFDI đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy đầu tư trong nước (Nguyễn PhươngHoa, 2004; Nguyễn Phi Lân, 2006), thúc đẩy chuyển giao công nghệ phục vụ cho sựphát triển công nghiệp nội địa (Mizra và Giroud 2003, 2004), thúc đẩy xuất khẩu, xóa
Trang 26đói giảm nghèo và tạo công ăn việc làm, giảm thất nghiệp (Nguyễn Phương Hoa, 2004;Nguyễn và Xing, 2006)…
Mặc dù các báo cáo liên quan đến dòng vốn FDI đến Việt Nam là khá phong phúnhưng số lượng các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến FDI vào Việt Nam lại vẫncòn khiêm tốn Một trong số các nguyên nhân có thể kể đến là sự thiếu thốn các dữ liệu.Tại Việt Nam, nhiều dữ liệu về hoạt động của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoàikhông được công bố công khai và cập nhật Ngay cả từ phía cơ quan quản lí, Tổng cụcThống kê hay Bộ Kế hoạch và đầu tư cũng không có đầy đủ các số liệu cho đến nhữngnăm cuối thập kỷ 90 Kể từ năm 2000, Tổng cục Thống kê Việt Nam đã tiến hành cácđiều tra cấp doanh nghiệp tại các tỉnh thành ở Việt Nam Trong số không nhiều cácnghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến FDI vào Việt Nam có thể kể đến nghiên cứucủa Phạm Hoàng Mai (2002), Lê Việt Anh (2004), Meyer và Nguyễn (2005) và nghiêncứu của Hoang Thi Thu (2008)
Sử dụng số lượng dự án FDI mới đăng ký vào năm 2000 và số lượng tích lũy vốnđầu tư nước ngoài lên đến 2000 là các biến phụ thuộc, Meyer và Nguyễn (2005) đãnghiên cứu các yếu tố quyết định tới FDI tại 61 tỉnh của Việt Nam Họ nhận thấy rằngbất động sản công nghiệp, dân số, giao thông vận tải, giáo dục và tăng trưởng GDP rất
có ý nghĩa với số lượng dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký Họ kết luận rằng cácnhà đầu tư nước ngoài luôn ưa thích lựa chọn địa điểm đầu tư tại đó chính quyền địaphương có thực hiện các chính sách hỗ trợ thị trường Phạm Hoàng Mai (2002) đã phântích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bổ vốn đầu tư nước ngoài bằng cách sử dụng dữliệu chéo của FDI tích lũy vào Việt Nam giai đoạn 1988-1998 Tác giả cũng kết luậnrằng cơ sở hạ tầng, chất lượng của lực lượng lao động và quy mô của thị trường địaphương là những yếu tố quan trọng nhất quyết định việc phân bổ FDI Tuy nhiên, chínhphủ ưu đãi thuế có thể không thực hiện bất kỳ tác động đáng kể vào việc thu hút dòngFDI vào các tỉnh miền núi và vùng sâu, vùng xa Tương tự như nghiên cứu của PhạmHoàng Mai (2002), Ngọc Anh (2007) cũng sử dụng dữ liệu dữ liệu chéo của FDI tíchlũy giai đoạn 1988-2006 để kiểm tra yếu tố quyết định của dòng vốn đầu tư nước ngoàivào Việt Nam Nghiên cứu hồi quy chỉ ra tầm quan trọng của lao động, thị trường và cơ
sở hạ tầng trong việc thu hút FDI Chính sách của chính phủ được đo bằng chỉ số PCI,tuy nhiên, biến này có vẻ không phải là một yếu tố đáng kể ở cấp tỉnh
Trong nghiên cứu của Việt Anh vào năm 2004, tác giả chạy các mô hình hồi quygộp để xác định những yếu tố quyết định của dòng vốn FDI vào Việt Nam 1991-2001.Bên cạnh việc đánh giá mẫu đầy đủ, các nghiên cứu phân chia mẫu thành hai giai đoạn,
Trang 271991-1996 và 1997-2001 để biết sự thay đổi bản chất của vốn đầu tư nước ngoài sau khicuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 Tác giả ủng hộ quan điểm rằng các yếu
tố như cơ sở hạ tầng, sản lượng công nghiệp cũng như quy mô thị trường là những yếu
tố hấp dẫn vốn FDI trong giai đoạn 1997-2001 Các yếu tố khác bao gồm cả tiền lương
và chất lượng lao động đều nhận dấu hiệu tiêu cực trong mối quan hệ với dòng vốn FDItrong tất cả các mẫu nghiên cứu (Lê Việt Anh, 2004)
Hoàng Thị Thu trong một nghiên cứu về các yếu tố cấp địa phương có tác động tớidòng vốn FDI vào Việt Nam đã tìm hiểu các yếu tố xác định phân phối FDI trong cáckhu vực khác nhau của Việt Nam bằng cách sử dụng mô hình panel dữ liệu FDI tại 61tỉnh trong giai đoạn 1995-2006 Tác giả kết luận rằng, nhìn chung mức FDI ở miền Bắc,miền Trung và miền Nam Việt Nam phụ thuộc vào mức GDP bình quân, việc mở cửavới thương mại quốc tế và cơ sở hạ tầng tốt của mỗi vùng miền Tuy nhiên, các yếu tốhấp dẫn chính của dòng vốn FDI trong tiểu khu vực khác nhau dựa trên địa lý và pháttriển kinh tế Ví dụ, là một trung tâm phát triển kinh tế của khu vực miền Bắc, khu vựcđồng bằng sông Hồng thu hút dòng vốn FDI nhờ GDP bình quân đầu người cao, nguồnvốn con người và dân số đông đúc còn cơ sở hạ tầng là yếu tố duy nhất thu hút dòngvốn FDI ở khu vực Bắc Trung Bộ trong khi các yếu tố quyết định của FDI trong khuvực Nam Trung Bộ là sự mở cửa đối với thương mại, vốn nhân lực, dân số và các chínhsách khuyến khích của một thành phố lớn như Đà Nẵng (Hoang Thi Thu, 2008) Cácnghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng tới FDI được khái quát trong bảng số 2
Tóm lại, liên quan tới các nghiên cứu về FDI vào Việt Nam, hầu hết các bài viếtcho thấy rằng các yếu tố thu hút dòng vốn FDI tại Việt Nam là quy mô thị trường (GDP,GDP bình quân đầu người hoặc tỷ lệ tăng trưởng GDP) và cơ sở hạ tầng Ngoài ra, tùycác nghiên cứu khác nhau mà một số yếu tố khác được xác định có thể giúp tăng cườngdòng vốn đầu tư nước ngoài là xuất khẩu, chi phí lao động thấp và hệ thống giao thôngvận tải tốt
Trên cơ sở những nghiên cứu đã tiến hành có liên quan đến đề tài nghiên cứu vàbằng việc xây dựng mô hình hồi quy kinh tế lượng với các biến số nhận các giá trị thực
tế được thu thập dưới dạng mảng cơ sở dữ liệu (panel data) và bằng phương pháp hồiquy với các mô hình khác nhau, nghiên cứu sinh kiểm chứng một số nhận định quantrọng liên quan đến các yếu tố tác động tới dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển.Ngoài việc thực hiện nghiên cứu với mẫu tổng thể các nước đang phát triển, nghiên cứusinh sẽ thực hiện nghiên cứu mô hình với mẫu các nước đang phát triển thuộc các khuvực địa lí khác nhau từ đó có sự so sánh giữa các nhóm quốc gia này Từ các kết luận từ
Trang 28các mô hình hồi quy, nghiên cứu sinh sẽ đề xuất một số định hướng chính sách nhằmtăng cường thu hút FDI thông qua việc tác động vào các yếu tố ảnh hưởng tới dòng vốn.Trong bảng 2 dưới đây là tổng quan một số nghiên cứu đã triển khai về các yếu tố ảnhhưởng tới FDI tại các nước đang phát triển Sau khi thực hiện phần nghiên cứu địnhlượng ở chương 2, nghiên cứu sinh sẽ so sánh với bảng kết quả này.
Bảng 2: Tổng quan một số nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động tới FDI
Yếu tố Biến số Hướng tác động Tác giả nghiên cứu
Cùngchiều/tích cực
Alan A Bevan và Saul Estrin (2000);Hollvà (2000); Tsai (1994); Campos vàKinoshita (2003); Garibaldi (2001); Asiedu(2002); Aseidu (2004); Meyer và Nguyễn(2005); Ngọc Anh (2007); Lê Việt Anh,(2004); Hoang Thi Thu (2008); BehroozShahmoradi (2011); Fayyaz Hussain vàConstance Kabibi Kimuli (2012)
Thu nhập quốcdân (GDP)
Cùngchiều/tích cực
Schneider và Frey (1985); Marcelo BragaNonnemberg và Mario Jorge Cardoso deMendonça; Khondoker Abdul Mottaleb vàKaliappa Kalirajan (2010); Meyer vàNguyễn (2005); Behrooz Shahmoradi(2011); Fayyaz Hussain và ConstanceKabibi Kimuli (2012); SayeedaBano(2012)
Thu nhập bìnhquân (GDPđầu người)
Cùngchiều/tích cực
Root và Ahmed (1979); Nunnenkamp vàSpatz, 2002; Erdal Demirhan và MahmutMasca (2008); Hoang Thi Thu (2008),Behrooz Shahmoradi (2011); FayyazHussain và Constance Kabibi Kimuli(2012); SayeedaBano (2012)
Tsai (1994); Erdal Demirhan và MahmutMasca (2008); Fayyaz Hussain vàConstance Kabibi Kimuli (2012)Ngược
chiều/tiêu cực
Campos và Kinoshita (2003); ErdalDemirhan và Mahmut Masca (2008)
Trang 29Nguồn nhânlực tốt (trình
độ giáo dục)
Cùngchiều/tích cực
Marcelo Braga Nonnemberg và Mario JorgeCardoso de Mendonça, Nunnenkamp vàSpatz, 2002; Aseidu (2004); Meyer vàNguyễn (2005); Ngọc Anh (2007); HoangThi Thu (2008) Behrooz Shahmoradi(2011); Fayyaz Hussain và ConstanceKabibi Kimuli (2012)
Cùngchiều/tích cực
Marcelo Braga Nonnemberg và MarioJorge Cardoso de Mendonça; Campos vàKinoshita (2003); Garibaldi (2001); Linda
và Said (2007); Khondoker AbdulMottaleb và Kaliappa Kalirajan; BehroozShahmoradi (2011); Fayyaz Hussain vàConstance Kabibi Kimuli (2012)
4.Lạm
phát
Tốc độ lạmphát
Ngượcchiều/tiêu cực
Marcelo Braga Nonnemberg và MarioJorge Cardoso de Mendonça; Garibaldi(2001); Erdal Demirhan và Mahmut Masca(2008); Aseidu (2004); Fayyaz Hussain vàConstance Kabibi Kimuli (2012)
B Các yếu tố phi kinh tế
5.Khoảng
cách địa lí
Khoảng cáchgiữa các thủ đô
Ngượcchiều/tiêu cực Alan A Bevan và Saul Estrin, 2000
6.Ổn định
chính trị
Ổn định chínhtrị
Cùng chiều/tíchcực
Schneider và Frey (1985); Aseidu (2004);(Beirhanu và Kibre, 2003)
Ngượcchiều/tiêu cực
Aseidu (2004); (Mauro 1995); (Tanzi vàDavoodi 1997); (Gupta, Davoodi, vàAlonso-Terme 1998; Li, Xu, và Zou2000); Abed và Davoodi (2000)
Cùng chiều/tích
Nói tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng trong phát triển kinh
tế của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
Đã có nhiều nghiên cứu về lý luận lẫn nghiên cứu thực nghiệm xoay quanh vai trò củacác yếu tố tác động tới dòng vốn này Những kết luận của các nghiên cứu thực nghiệm
Trang 30tuy khá đa dạng song vẫn luôn thống nhất với các lý luận kinh tế cổ điển về mối liên hệgiữa các yếu tố tác động và FDI (các yếu tố đều có liên quan đến chi phí, doanh thu vàlợi nhuận của nhà đầu tư) Từ việc phân tích tổng quan về FDI, các yếu tố tác động tớiFDI cũng như tình hình nghiên cứu về các yếu tố tác động tới FDI vào các nước đangphát triển trong đó có Việt Nam, nghiên cứu sinh sẽ đi sâu vào tìm hiểu thực trạng cácyếu tố tác động tới dòng vốn FDI cũng như thực trạng dòng vốn FDI tới các nước đangphát triển trong những năm gần đây, đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng tài chính vàsuy thoái kinh tế thế giới Những vấn đề này được đề cập tới trong chương 2 của Luận
án Trên cơ sở phân tích thực trạng các yếu tố tác động tới dòng vốn vào các nước đangphát triển trong đó có Việt Nam cũng như thực trạng sự phát triển của dòng vốn FDIvào các nước đang phát triển trong thời gian gần đây, Luận án sẽ đề xuất một số khuyếnnghị đối với Việt Nam trong chương 3 liên quan đến các yếu tố tác động nhằm tăngcường thu hút FDI trong thời gian tới
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM
Do đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh tếquốc gia cho nên các nghiên cứu ở Việt Nam liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoàirất đa dạng và phong phú Có những nghiên cứu đề cập đến thực trạng FDI vào các tỉnhthành phố của Việt Nam, có những nghiên cứu đề cập đến các bài học kinh nghiệmtrong việc thu hút FDI vào các nước trong khu vực, có những nghiên cứu lại tập trungphân tích việc hoàn thiện các chính sách xúc tiến đầu tư… Các nghiên cứu ở Việt Nam
về đối tượng nghiên cứu trực tiếp của Luận án là các yếu tố tác động tới FDI vào cácnước ĐPT trong đó có Việt Nam có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau đây.Thứ nhất là luận án tiến sĩ với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng và giải pháp đẩymạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” của tác giả Triệu Hồng Cẩm,
(bảo vệ năm 2003) Trong nghiên cứu vừa nêu, tác giả đã trình bày các cơ sở lý luận vềcác nhân tố quyết định trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, phân tích tình hình thuhút đầu tư và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoàitại Việt Nam Có thể nói, đây là một công trình nghiên cứu khá hấp dẫn, song đối tượngnghiên cứu của công trình này và Luận án vẫn hoàn toàn khác xa nhau Có nhiều vấn đềmang tính thời sự, thực tiễn như bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là khủnghoảng tài chính 2008 và suy thoái kinh tế, chưa được đề cập hoặc đề cập chưa sâu trongcông trình nghiên cứu của tác giả Triệu Hồng Cẩm
Trang 31Thứ hai là luận án tiến sĩ của Đỗ Hoàng Long với nhan đề “Tác động của toàn cầuhoá kinh tế đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” Luận án đượcbảo vệ tại Đại học Kinh tế quốc dân năm 2008, đã nghiên cứu tác động của toàn cầu hoákinh tế đối với dòng FDI trên thế giới và dòng FDI vào Việt Nam, đồng thời nghiên cứu
xu hướng vận động của dòng FDI toàn cầu và một số giải pháp đối với việc thu hút FDIvào Việt Nam Công trình này chưa đề cập tới bối cảnh khủng hoảng tài chính 2008 vàsuy thoái kinh tế thế giới, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu cũng khác so với
đề tài Luận án
Thứ ba là luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Ái Liên về “Môi trường đầu tưvới hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” tại Đại học Kinh tếquốc dân năm 2011 Công trình này đánh giá quá trình cải thiện môi trường đầu tư vàphân tích ảnh hưởng của môi trường đầu tư tới quá trình thu hút và triển khai thực hiện các dự án FDI ở Việt Nam từ đó rút ra các tồn tại cơ bản nhằm đưa ra giải pháp khắcphục những khó khăn trọng yếu thuộc môi trường đầu tư nhằm tăng cường thu hút FDI.Mặc dù đây là một công trình rất mới và có ý nghĩa song đối tượng nghiên cứu của côngtrình hẹp hơn so với Luận án đồng thời cách tiếp cận cũng như phương pháp nghiên cứu
mà tác giả Nguyễn Thị Ái Liên tiến hành khi nghiên cứu (phương pháp Pareto) cũnghoàn toàn khác với Luận án này
Ngày 27/3/2013, tại Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức “Hội nghị tổng kết
25 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” Tại Hội nghị này, có rấtnhiều báo cáo, tham luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu trong Luận án Có thể kểđến một số tham luận tiêu biểu như tham luận “Quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 25 năm qua và định hướng cho giai đoạn mới” của đồng chí Bùi Quang Vinh,
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Ðầu tư Tham luận này trình bày vắn tắt những đóng góp củaFDI đối với nền kinh tế Việt Nam 25 năm qua đồng thời chỉ ra một số quan điểm địnhhướng về thu hút FDI trong thời gian tới Tham luận của Phòng Thương mại châu Âu tạiViệt Nam (Eurocham) với tiêu đề “Thách thức và kiến nghị cho Việt Nam trong việc thu hút FDI trong thời gian tới” Trong tham luận này, tổ chức Eurocham có đưa ra một
số cảnh báo đối với Việt Nam liên quan đến việc thu hút FDI trong thời gian tới nhưviệc giảm sút sự tín nhiệm trong mắt các nhà đầu tư châu Âu, sự cạnh tranh của cácnước láng giềng, các vấn đề về sở hữu trí tuệ, cơ sở hạ tầng, sự minh bạch và thamnhũng… Đồng thời Eurocham cũng đề xuất một số khuyến nghị cho Việt Nam nhằmkhắc phục những khó khăn, thách thức đó Ngoài ra, có thể kể đến loạt bài tham luậnliên quan đến môi trường đầu tư của Việt Nam được trình bày bởi các tổ chức quốc tế
có uy tín như Tổ chức Xúc tiến Mậu dịch Nhật Bản (Jetro), Phòng Thương mại
Trang 32Australia (Auscham) và Phòng Thương mại Hoa Kỳ (Amcham) Trong các tham luậnnày, các tổ chức có đưa ra một số đánh giá về thực trạng môi trường đầu tư tại ViệtNam trong mắt các nhà đầu tư và những khuyến nghị có liên quan (Bộ Kế hoạch và đầu
tư, Kỷ yếu Hội nghị 25 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, 3/2013)
Có thể nói, hiện tại ở nước ta chưa có công trình nào bằng tiếng Việt nghiên cứumột cách đầy đủ và có hệ thống dưới góc độ kinh tế về các yếu tố tác động lên dòng vốnFDI vào các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, chưa có công trình nào bằngtiếng Việt nam có áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng khi nghiên cứu về cácyếu tố tác động tới dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển Đặc biệt, chưa cónghiên cứu nào đề cập tới tác động của bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoáikinh tế thế giới 2008 tới dòng FDI vào các nước đang phát triển Luận án không phảicông trình nghiên cứu đầu tiên về các yếu tố tác động tới FDI nhưng lại là công trìnhnghiên cứu đầu tiên có xác định mức độ ảnh hưởng của yếu tố khủng hoảng tài chính
2008 và suy thoái kinh tế thế giới đến dòng vốn này Do vậy đề tài của Luận án do tácgiả lựa chọn là hoàn toàn mới mẻ và không trùng lặp với các nghiên cứu trước đây.Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong các yếu tố quan trọng cho sựphát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới FDI nắm giữ nhiều vai trò quan trọngđối với các nước nhận đầu tư, đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
Đã có nhiều nghiên cứu về lý luận lẫn nghiên cứu thực nghiệm xoay quanh vai trò củacác yếu tố tác động tới dòng vốn này Những kết luận của các nghiên cứu thực nghiệmtuy khá đa dạng song vẫn luôn thống nhất với các lý luận kinh tế cổ điển về mối liên hệgiữa các yếu tố tác động và FDI Các nghiên cứu mặc dù đa dạng song đều có điểmchung là tìm cách lí giải xu hướng vận động của FDI trên thế giới Các yếu tố tác độngtới dòng vốn FDI trên thế giới bao gồm các yếu tố kinh tế và các yếu tố phi kinh tế Cácyếu tố thu hút dòng vốn FDI tại Việt Nam bao gồm quy mô thị trường (GDP, GDP bìnhquân đầu người hoặc tỷ lệ tăng trưởng GDP) và cơ sở hạ tầng Ngoài ra, tùy các nghiêncứu khác nhau mà một số yếu tố khác được xác định có thể giúp tăng cường dòng vốnđầu tư nước ngoài như xuất khẩu, chi phí lao động thấp và hệ thống giao thông vận tảichất lượng tốt
Trang 33C NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI FDI TRONG ĐIỀU KIỆN KHỦNG
HOẢNG VÀ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI
1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm đầu tư nước ngoài
Các quan hệ kinh doanh quốc tế ra đời từ khi các quốc gia thực hiện việc mở cửa,giao lưu kinh tế Đầu tư nước ngoài là một trong số các hình thức của kinh doanh quốc
tế, ra đời tương đối muộn so với các hình thức quan hệ kinh tế quốc tế khác như xuấtnhập khẩu hàng hóa, gia công quốc tế Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, các thươngnhân chính là những nhà đầu tư đầu tiên trên thế giới Những vụ di chuyển tư bản đầutiên đã được thực hiện vào thế kỷ XVI và XVII trong phạm vi các triều đình phong kiếnhoặc các trung tâm thương mại lớn của Châu Âu như Amstecdam, Paris hoặc Luân Đônkhi các thương nhân chuyển tiền ra nước ngoài để mua các hàng hóa và bán lại ở nơikhác để kiếm lợi nhuận Cùng với sự phát triển của tư tưởng trọng thương, việc dichuyển tư bản ngày càng trở nên phổ biến và phạm vi ngày càng mở rộng
Theo bản chất của tư bản, tư bản tiết kiệm sẽ được tiếp tục đầu tư Do vậy, cácnước giàu, với lí do “phát triển”, đã đầu tư vào các nước nghèo chỉ để làm gia tăng tưbản và tối đa hóa lợi nhuận Hiện nay, xu hướng đầu tư từ các nước phát triển tới cácnước đang phát triển đặc biệt là giữa các nước đang phát triển ngày càng trở nên phổbiến mà nổi bật nhất là đầu tư trực tiếp nước ngoài Nguồn gốc chính của các khoản đầu
tư trực tiếp nước ngoài đến từ các công ty đa quốc gia Các dòng vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài từ các công ty đa quốc gia này hiện lên tới gần 95% tổng số đầu tư trực tiếpnước ngoài trên thế giới Các công ty này đầu tư tới nhiều quốc gia nhằm tranh thủ cácthuận lợi từ quá trình quốc tế hóa, các ưu đãi của địa phương và sở hữu tài sản trí tuệ.Theo truyền thống, các công ty này xuất xứ từ các quốc gia phát triển và đầu tư tới cácquốc gia phát triển khác nhưng hiện nay, ngày càng nhiều các công ty đang lựa chọnđầu tư tới thế giới các nước đang phát triển Hoa Kỳ, Nhật Bản và Anh là ba nhà đầu tưlớn nhất tại các nước đang phát triển Nói rộng hơn, 6 quốc gia bao gồm Hoa Kỳ, Anh,Pháp, Đức, Hà Lan và Nhật Bản sở hữu tới hơn 60% nguồn vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài trên thế giới Lí do nằm ở chỗ đây là các nền kinh tế lớn nhất, cộng với một lịch
sử thương mại quốc tế lâu đời và có nhiều tổ hợp công nghiệp hùng mạnh
Trang 34Đầu tư là một trong các yếu tố quan trọng trong mô hình kinh tế vĩ mô Đầu tư đượchiểu là việc người có vốn bằng tiền hoặc tài sản hợp pháp khác sử dụng chúng để tạo ralợi nhuận cho người sở hữu vốn đó Thông qua hoạt động đầu tư, tư bản sẽ được tái tạo,sinh sôi nảy nở, việc làm và thu nhập sẽ được tạo thêm và lợi nhuận sẽ chạy về tay người
sử hữu tư bản Đầu tư có thể chia ra thành đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài
Do tầm quan trọng của hoạt động đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài, các khái niệmliên quan đến đầu tư và đầu tư nước ngoài được phát triển trong pháp luật của các quốc giacũng như dưới góc độ nghiên cứu Luật Đầu tư Việt Nam năm 2005 đưa ra khái niệm: “Đầu
tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sảnhợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” (Luật Đầu tư Việt Nam, 2005) Xét trong bốicảnh quốc tế, khái niệm đầu tư nước ngoài có thể hiểu là việc nhà đầu tư của một nước (cánhân hoặc pháp nhân) đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để để hình thành tàisản tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động khác tại nước nhận đầu tưhay còn gọi là nước sở tại nhằm thu lợi nhuận hoặc đạt các hiệu quả xã hội (Vũ Chí Lộc
2012, tr 27) Vốn ở đây có thể gồm các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình
Có thể nói, đầu tư nước ngoài là một khái niệm rộng, được hiểu theo nhiều quanđiểm khác nhau nhưng các quan điểm này đều có một số từ khóa thống nhất như hoạtđộng đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài, vốn, tài sản hợp pháp và lợi nhuận
1.1.1.2 Khái niệm và phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài
Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), FDI được là “một khoản đầu tư với những quan hệlâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi íchlâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác” Mục đích của nhà đầu tư trựctiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác
đó (IMF, 1993) Cũng theo IMF, đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu là một kiểu đầu tưđược thực hiện nhằm thu lợi nhuận tại các doanh nghiệp nằm ngoài nền kinh tế của nhàđầu tư Trong trường hợp của đầu tư trực tiếp nước ngoài, mục tiêu xa hơn của nhà đầu tư
là có được vị trí quan trọng trong thành phần ban quản lí của doanh nghiệp
Theo Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), nguồnvốn FDI bao gồm vốn được cung cấp trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quankhác bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI hoặc vốn mà nhàđầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoàigồm có ba bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộcông ty
Trang 35Theo tổ chức OECD, một nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài phải sở hữu ít nhất 10%tài sản công ty (OECD, 1996) Tức là để được gọi là đầu tư trực tiếp nước ngoài, chủđầu tư phải sở hữu 10% hoặc hơn số cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết của công
ty được đầu tư Nếu ít hơn số đó thì gọi là đầu tư gián tiếp Đầu tư trực tiếp không chỉtính đến các giao dịch ban đầu khi thiết lập quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa nhàđầu tư trực tiếp và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp mà còn tính tới tất cả các giao dịch vốngiữa các bên sau đó và giữa các công ty chi nhánh tại các quốc gia khác nhau Đầu tưtrực tiếp nước ngoài không dựa trên quốc tịch hay tư cách công dân của nhà đầu tư trựctiếp mà đầu tư trực tiếp nước ngoài dựa trên cơ sở nơi xuất xứ của khoản vốn đầu tư.Các khoản cho vay từ các thành viên không liên quan ở ngoài nước được bảo đảm bởicác nhà đầu tư trực tiếp thì không được xem là đầu tư trực tiếp nước ngoài
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nướcngoài như sau: đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốnbằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào quốc gia khác để thực hiện dự án đầu tư thông quaviệc nắm quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốcgia đó, với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của mình
Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài
Có nhiều tiêu chí để phân loại dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Thông thường,người ta dựa theo cách thức đầu tư và mục tiêu đầu tư
Căn cứ vào cách thức đầu tư thì FDI được chia làm 3 loại chính:
- Đầu tư mới - Greenfield Investment: Hình thức đầu tư này thường thấy tại các
quốc gia đang phát triển nhằm xây dựng nhà máy mới nhằm tạo ra một cơ sở sản xuấttại nước nhận đầu tư Vốn cho đầu tư mới thường đến từ các nước chủ đầu tư Đây làhình thức theo đó nhà đầu tư tiến hành xây dựng các cơ sở kinh doanh hoàn toàn mới ởnước ngoài hoặc mở rộng cơ sở kinh doanh đã có Hình thức đầu tư này có đặc điểmđầu tiên là mang lại lợi nhuận cao cho chủ đầu tư, giá trị đầu tư ban đầu thường rất lớnđồng thời tính rủi ro cao
- Mua lại và sát nhập - Merger & Acquisition: Nhà đầu tư nước ngoài mua luôn tài
sản của doanh nghiệp nước sở tại và sát nhập doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài vàodoanh nghiệp của mình, hoặc mua cổ phiếu để tham gia điều hành doanh nghiệp đó.Hình thức này thường thấy tại các quốc gia phát triển với các hình thức sát nhập quốc tếhoặc thâu tóm các doanh nghiệp cùng ngành Ngoài việc giúp tăng lợi thế về quy mô,giảm chi phí kinh doanh, việc mua lại và sát nhập còn giúp cho chủ đầu tư có thể tậndụng lợi thế của đối tác về thị trường, uy tín, công nghệ hoặc trình độ quản lí Hình thức
Trang 36mua lại và sát nhập có thể không mang lại nhiều lợi nhuân như đầu tư mới song lại giúpchủ đầu tư tiết kiệm thời gian thâm nhập thị trường mới, giảm thiểu rủi ro.
- Lợi nhuận tái đầu tư: Hình thức đầu tư này được hiểu là việc các nhà đầu tư nước
ngoài không chuyển toàn bộ lợi nhuận về nước mà giữ lại một phần để mở rộng cơ sở,quy mô sản xuất hiện có tại nước nhận đầu tư
Cũng có thể căn cứ vào cách thức đầu tư, nhưng theo một cách tiếp cận khác,chúng ta cũng có 2 loại FDI:
- Đầu tư theo chiều ngang - Horizontal FDI: Đầu tư trong cùng ngành công nghiệp.
- Đầu tư theo chiều dọc - Vertical FDI: Đầu tư vào công ty chuyên cung cấp đầu
vào sản xuất, hoặc chuyên bán đầu ra cho sản phẩm
Căn cứ vào mục tiêu đầu tư, có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài thành các loạisau:
- FDI nhằm tìm kiếm nguồn lực và tài sản chiến lược—Resource/asset seeking:
Đầu tư nhằm đạt được dây chuyền sản xuất và các nguồn lực khác như lao động rẻ hoặctài nguyên thiên nhiên, mà những nguồn lực này không có hoặc có trữ lượng không lớn
ở nước chủ đầu tư Đây là loại FDI thường chảy vào các nước đang phát triển như tàinguyên dầu mỏ ở Trung Đông hay vàng, kim cương ở Châu Phi, lao động rẻ ở ĐôngNam Á Trong một số trường hợp, đầu tư được thực hiện nhằm ngăn chặn việc bị mấtnguồn lực vào tay đối thủ cạnh tranh Ví dụ, các công ty sản xuất và khai thác dầu mỏ
có thể không cần trữ lượng dầu đó ở thời điểm hiện tại, nhưng vẫn phải tìm cách bảo vệ
nó để không rơi vào tay đối thủ cạnh tranh
- FDI tìm kiếm thị trường- Market seeking: Đầu tư nhằm thâm nhập thị trường mới
hoặc duy trì thị trường hiện có FDI tìm kiếm thị trường chịu tác động lớn bởi sự tăngtrưởng tiềm năng cũng như quy mô của thị trường nước nhận đầu tư Việc dễ hay khótiếp cận các thị trường khu vực và quốc tế cũng như các đặc trưng tiêu dùng của nướcnhận đầu tư cũng có vai trò quan trọng đối với quyết định của nhà đầu tư tìm kiếm thịtrường
- FDI nhằm tìm kiếm hiệu quả - Efficiency Seeking: Đầu tư nhằm tăng cường hiệu
quả bằng việc tận dụng lợi thế của tính kinh tế theo quy mô hay phạm vi, hoặc cả hai.Loại FDI này thường chịu tác động lớn bởi nguồn lao động, chi phí các yếu tố đầu vào
và các hàng hóa trung gian
Trang 371.1.1.3 Một số khái niệm cơ bản khác
Nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài: Nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu
là thể nhân nước ngoài hay nhóm thể nhân nước ngoài, pháp nhân hoặc tổ chứckhông mang tính pháp nhân thực hiện hành vi đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư gián tiếp nước ngoài: Đầu tư gián tiếp còn được hiểu là các khoản
vốn đầu tư nước ngoài thực hiện qua một định chế tài chính trung gian như cácquỹ đầu tư, hoặc đầu tư trực tiếp vào cổ phần các công ty niêm yết trên thịtrường chứng khoán (còn gọi là đầu tư Portfolio) Trong một số trường hợp,đầu tư gián tiếp mang tính ngắn hạn, cho phép nhà đầu tư nhanh chóng thuđược lợi ích từ tình hình tỷ giá hối đoái thuận lợi để mua và bán các tài sản.Theo Luật đầu tư Việt Nam năm 2005, đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tưthông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹđầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mànhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư Hơn nữa, việcđầu tư gián tiếp không cho phép nhà đầu tư việc kiểm soát lợi nhuận tại công
ty phát hành Khi số lượng cổ phần của nhà đầu tư dù có trở nên khá lớn cũngkhông mang lại cho nhà đầu tư có vị thế trong việc kiểm soát hoạt động kinhdoanh của công ty Cùng với tính chất giao dịch nhanh gọn, việc đầu tư giántiếp có thể là đối tượng của một số loại thuế mà nhà đầu tư phải trả cho cả haiquốc gia là nước nhận đầu tư và nước mà nhà đầu tư mang quốc tịch
Xúc tiến đầu tư: Không có một cách định nghĩa nhất quán cho khái niệm xúc
tiến đầu tư, song theo nghĩa hẹp, xúc tiến đầu tư được coi là một loạt các biệnpháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua một chiến lượcmarketing hỗn hợp bao gồm chiến lược sản phẩm (Product strategy), chiếnlược giá cả (Pricing strategy) và chiến lược xúc tiến (Promotional strategy).Hay nói một cách cụ thể hơn xúc tiến đầu tư là các biện pháp để giới thiệu,quảng cáo cơ hội đầu tư với bên ngoài, các cơ quan xúc tiến đầu tư địa phươngthường tổ chức các đoàn tham quan, khảo sát ở các địa phương khác và nướcngoài; tham gia, tổ chức các hội thảo khoa học, diễn đàn đầu tư, kinh tế ở khuvực và quốc tế Đồng thời, tích cực sử dụng các phương tiện truyền thông, xâydựng mạng lưới các văn pḥòng đại diện ở các địa phương khác và nước ngoài
để cung cấp các thông tin nhanh chóng và giúp đỡ kịp thời các nhà đầu tư nướcngoài tìm hiểu cơ hội đầu tư ở địa phương mình
Trang 38 Nước đang phát triển: Đây là một khái niệm rộng, theo đó, một nước đang
phát triển là một quốc gia với mức độ thấp của các nguồn lực kinh tế và/hoặctiêu chuẩn sống thấp Ngoài ra quốc gia đang phát triển còn được hiểu là mộtquốc gia có mức thu nhập xoay quanh trung bình và thấp Theo tiêu chuẩn củaNgân hàng thế giới, một quốc gia có thu nhập trung bình thuộc dạng thấp nếuthu nhập bình quân đầu người mỗi năm thấp hơn 1025 đô la Mỹ, và thu nhậpbình quân đầu người ở mức trung bình thấp nằm ở tầm 1026 đô la Mỹ đến
4035 đô la Mỹ Thu nhập bình quân đầu người ở mức trung bình cao nằm ở
Hợp Quốc tính đến năm 2010, có tới hơn 140 quốc gia là nước đang phát triển.Các quốc gia đang phát triển nhìn chung là các quốc gia có thu nhập bình quânđầu người ở mức trung bình và thấp, nguồn lao động dồi dào, với chất lượngtrung bình và thấp nên giá cả lao động rẻ Tại các quốc gia này, nguồn tàinguyên thiên nhiên cũng khá phong phú, quy mô thị trường lớn là những điểmđến hấp dẫn của các nhà đầu tư quốc tế Danh sách các quốc gia đang pháttriển được trình bày trong phụ lục 1 của Luận án
Yếu tố tác động tới FDI: Yếu tố tác động đến FDI được hiểu là những yếu tố
có ảnh hưởng đến việc biến động, di chuyển của dòng vốn Đối tượng nghiêncứu của Luận án là các yếu tố tác động tới FDI vào các nước đang phát triển ởquy mô quốc gia nên cách tiếp cận về các yếu tố này sẽ giới hạn chủ yếu ở quy
mô quốc gia và từ góc độ các nước nhận đầu tư là các quốc gia đang phát
triển Chúng ta có thể phân loại thành các yếu tố tác động chung tới FDI vào
tất cả các nước như bối cảnh hội nhập và khủng hoảng kinh tế thế giới và cácyếu tố có tác động riêng biệt tùy từng quốc gia Đối với các yếu tố tác độngriêng biệt thuộc về đặc trưng quốc gia, các nhà nghiên cứu có thể dựa trên đặctrưng kinh tế và phi kinh tế của các yếu tố tác động để phân chia thành các yếu
tố kinh tế và các yếu tố phi kinh tế Các yếu tố kinh tế bao gồm các yếu tố liênquan đến thị trường nội địa (quy mô thị trường, nguồn nguyên liệu rẻ, sẵn có,kinh tế vĩ mô ổn định hay lạm phát thấp), yếu tố lao động (rẻ, dồi dào, chấtlượng tốt hay kém), yếu tố gắn với thương mại quốc tế (mức độ mở cửa kinh tế,tình hình tham gia các tổ chức quốc tế, ký kết các hiệp định bảo hộ đầu tư), cácchính sách của chính phủ (cơ sở hạ tầng, khung pháp lí liên quan đến FDI).Các yếu tố phi kinh tế bao gồm mức độ ổn định chính trị, kiểm soát tham
4
http://data.worldbank.org/about/country-classifications
Trang 39nhũng, khoảng cách địa lí… Nhiều nghiên cứu đi sâu vào phân tích các yếu tốtác động tới FDI ở quy mô địa phương hoặc doanh nghiệp và từ đó có thể cócác cách phân loại khác về các yếu tố tác động này.
Tham nhũng: có nhiều cách hiểu về tham nhũng tùy theo cách tiếp cận.
Chẳng hạn, tham nhũng là việc lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân
để lấy của (Từ điển tiếng Việt, 1998); là hành vi của người có chức vụ, quyềnhạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi (Luật Phòng chống thamnhũng Việt nam năm 2005); là việc lạm dụng quyền lực được giao phó để trụclợi cá nhân (Transparency International) Từ bản chất của tham nhũng, chúng
ta có thể thấy nếu như tham nhũng trong đời sống kinh tế hằng ngày là đa dạng
và phức tạp thì tham nhũng liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng cómuôn hình muôn vẻ Do giới hạn vấn đề xoay quanh FDI nên những hành vitham nhũng từ đó cũng sẽ ít hơn, các hành vi này thường gắn với các rào cảnhành chính đối với FDI hay nói cách khác, có những công đoạn công việc màcác nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện sẽ gặp phải những trở ngại, khó khăn,
và điều đó có thể là môi trường nảy sinh tham nhũng Những công việc haycông đoạn công việc này đối với nhà đầu tư nước ngoài được chia làm ba loại:xin phê chuẩn để được tham gia đầu tư; xin cấp đất, xây dựng cơ bản, lắp đặtcác tiện ích như điện thoại, internet, điện, nước và cuối cùng là những côngviệc khi vận hành dự án Trong nhiều trường hợp, nhà đầu tư có thể bị ràngbuộc về thời gian, chi phí, và thậm chí cả mối quan hệ nên dễ bị rơi vào tìnhtrạng bị sách nhiễu Cá biệt nhiều trường hợp nhà đầu tư mắc phải sai sót hoặc
cố tình vi phạm pháp luật mà bị phát hiện, động cơ thực hiện hành vi thamnhũng, hối lộ sẽ được thúc đẩy bởi cả hai phía
Ổn định chính trị: Khái niệm ổn định chính trị trong luận án phản ánh sự xuất
hiện hay không xuất hiện, khả năng xảy ra của những xung đột, bạo lực, khủng
bố trước, trong và sau quyết định đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài Việc xácđịnh mức độ ổn định chính trị (bất ổn định chính trị) trong Luận án là theoquan điểm của Ngân hàng thế giới về việc đo lường cảm nhận khả năng chínhphủ sẽ bị sụp đổ hoặc bị lật đổ bằng phương tiện vi hiến hay bạo lực, bao gồm
cả bạo lực gia đình và khủng bố Về lí thuyết, bất ổn chính trị có thể tác độngtới toàn bộ đời sống kinh tế xã hội tại nước có liên quan và chắc chắn sẽ gâyảnh hưởng không nhỏ tới cơ hội kinh doanh, chi phí, lợi nhuận của các nhà đầu
tư trực tiếp nước ngoài khi tiến hành hoạt động đầu tư
Trang 40Tóm lại, một số khái niệm cơ bản được sử dụng để làm rõ các vấn đề nghiên cứutrong luận án gồm có các khái niệm liên quan đến đầu tư nước ngoài, khái niệm chung và
cụ thể về các yếu tố tác động đến FDI, khái niệm tham nhũng, ổn định chính trị…
1.1.2 Vai trò của FDI đối với các nước tiếp nhận đầu tư
Đối với các nước tiếp nhận đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài có những ích lợi vềnguồn vốn, về việc làm, về cán cân thanh toán và về cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế.Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra những tác động về chu chuyển tư bản vàvốn, công nghệ tới các nước nhận đầu tư Các nước nhận đầu tư là những nước đang pháttriển, rất cần nguồn vốn lớn cũng như khoa học và công nghệ hiện đại để phát triển nềnkinh tế Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc chu chuyển vốn và chuyển giaocông nghệ lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn đối với các nước đang phát triển tiếp nhậnđầu tư Thông qua các dự án FDI, nước nhận đầu tư có thể tiếp nhận những khoản vốn rấtlớn vào các ngành kinh tế trọng điểm để phát triển kinh tế đồng thời tiếp nhận những côngnghệ tiên tiến từ các nước chủ đầu tư Những thay đổi của luồng vốn của đầu tư trực tiếpnước ngoài tới các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam trong thời gian gần đâyđược thể hiện rõ hơn với những số liệu cụ thể được phân tích trong chương 2 của luận án.Thứ hai, đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các nước nhận đầu tư thể hiện
ở việc góp phần tạo việc làm và tiền lương tại các quốc gia này Có một số cách tác độngtới tiền lương tại các quốc gia nhận đầu tư của các công ty có đầu tư trực tiếp nước ngoài.Cách đầu tiên là khi các công ty này trả một mức lương cao hơn các doanh nghiệp trongnước tạo ra một sự chênh lệch về lương giữa hai khu vực Cách thứ hai, các doanh nghiệpnước ngoài sẽ chỉ trả lương cao cho một số công nhân có tay nghề cao hoặc các thợ kỹthuật, kỹ sư có trình độ Với các cách này, họ có thể thu hút được chất xám từ các công tynội địa đồng thời tạo sức ép để tăng lương đối với các lao động tại các doanh nghiệp trongnước (spillower effect) Cách thứ ba, hoạt động của các doanh nghiệp có đầu tư trực tiếpnước ngoài sẽ làm cho mức lương bình quân tăng lên nhờ vào sự kết hợp của cả hai cáchtrên, tức là vừa tạo ra sự khác biệt về lương so với doanh nghiệp trong nước, vừa tạo rasức ép cho các doanh nghiệp trong nước phải tăng lương để giữ lao động hoặc để tuyểndụng được nguồn lao động có chất lượng
Đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc tạo việc làm tại các nước nhậnđầu tư là rất đáng kể Mặc dù đó là loại FDI tìm kiếm thị trường hay FDI tìm kiếm chi phí
rẻ, bằng cách này hay cách khác, FDI góp phần tạo thêm công ăn việc làm đáng kể chonước tiếp nhận đầu tư Khu vực có đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn thu hút một lực lượngkhá đông đảo lao động từ các vùng miền kinh tế Việc gia tăng lao động có thể thực hiện