khóa luận, luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, đề tài
Trang 1häc viÖn ng©n hµng - -
LUËN ¸N TIÕN SÜ KINH TÕ
Ngêi híng dÉn khoa häc: 1 tS Lª V¨n LuyÖn
2 TS NguyÔn Ngäc B¶o
Trang 2Hµ Néi - 2013
Trang 3BẢN CAM ĐOAN
Tên tôi là: Đào Quốc Tính
Hiện là Nghiên cứu sinh tại Học viện Ngân hàng
Tôi cam đoan các công trình nghiên cứu là của bản thân tự nghiên cứuchưa được công bố bởi bất cứ công trình nào khác, các thông tin số liệu làtrung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm về công tình nghiên cứu và tính trungthực của đề tài
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Nghiên cứu sinh
Đào Quốc Tính
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á (Asian Development Bank)
AML/CFT Chống rửa tiền, chống tài trợ cho khủng bố (Anti – Money Laundering
and Combating the Financing of Terorism)APG Tổ chức Châu Á Thái Bình Dương về chống rửa tiền (Asia/Pacific
Group on Money Laundering) CDD Cập nhật thông tin khách hàng (Customer Due Dilligence)
CIC Trung tâm thông tin tín dụng (Credit Information Center)
CTCTTT Công ty cho thuê tài chính
EUR Ký hiệu đồng tiền chung Châu Âu
FATF Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền toàn cầu (Financial
Action Task Force)FIU Cơ quan tình báo tài chính (Financial Intelligence Unit)
Tổ chức hợp tác quốc tế của lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửatiền (International Cooperation Review group
MOU Bản thoả thuận ghi nhớ (Memoradum of Understanding)
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTW Ngân hàng trung ương
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Co –
operation and Development)PEP Nhân vật chính trị có ảnh hưởng (Politically - Exposed Person)
Trang 6KYC Nhận biết khách hàng (Know your Customer)
RRG Tổ chức đánh giá khu vực của lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống
rửa tiền toàn cầu (Regional Review Group)TCTC Tổ chức tài chính
TCTD Tổ chức tín dụng
TTLNH Thị trường liên ngân hàng
TTLKCK Trung tâm lưu ký chứng khoán
TTTT Thị trường tiền tệ và ngân hàng
SDR Đồng tiền của quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF)STR Báo cáo giao dịch đáng ngờ (Suspicious Transaction Report)
UNODC Cơ quan phòng, chống ma tuý và tội phạm của Liên Hiệp Quốc (United
Nations Office on Drugs and Crime)WB
WTO
Ngân hàng thế giới (World Bank)
Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
LUËN ¸N TIÕN SÜ KINH TÕ 1
DANH MUC CÔNG TRINH NGHIÊN C U CUA TAC GIA ̣ Ứ ̉ ̉ 118
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu 2.1: Cơ cấu tài sản các tổ chức tài chính (TCTC) 2007
Biểu 2.2: Cơ cấu tài sản các tổ chức tài chính (TCTC) 2008
Biểu 2.3: Cơ cấu tài sản các tổ chức tài chính (TCTC) 2009
Biểu 2.4: Cơ cấu tài sản các tổ chức tài chính (TCTC) 2010
Biểu 2.5: Cơ cấu tài sản các tổ chức tài chính (TCTC) 2011
Biểu 2.6: Cơ cấu tài sản các tổ chức tài chính (TCTC) 2012
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảm bảo an ninh tài chính ngày càng trở thành vấn đề sống còn đối vớimỗi quốc gia và toàn cầu trong xu thế ngày càng tự do thương mại, tự do lưuchuyển các dòng vốn An ninh thị trường tài chính là một phần đặc biệt quantrọng của an ninh tài chính, thể hiện qua hoạt động của thị trường Tài chính
ổn định, an toàn, phát triển và chống được các tác động của các cuộc khủnghoảng từ bên ngoài và từ nội tại nền kinh tế
Những năm gần đây, từ cuộc khủng hoảng nợ cho vay bất động sản dướichuẩn của các Ngân hàng Mỹ đã kéo theo cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tếtoàn cầu gây ra hậu quả nặng nề cho các quốc gia và vùng lãnh thổ mà đếnnay vẫn chưa giải quyết xong hậu quả để lại Hiện nay Châu Âu đang trải quathời kỳ khó khăn của khủng hoảng nợ công của chính phủ, bùng nổ từ Icelandđến Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý và một số quốc gia khác Ngay cảđến các quốc gia hùng mạnh về kinh tế như: Mỹ, Nhật, Trung quốc cũng phảixem xét lại chính sách nợ công của chính phủ để tìm cách khắc phụ như kiểmsoát chặt chẽ chi ngân sách, xem xét lại các chính sách đầu tư công…
Việt Nam, một nước đang trong quá trình phát triển và hội nhập, từ quốcgia có thu nhập thấp đến nay trở thành quốc gia ở ngưỡng đầu có thu nhậptrung bình Thị trường tài chính phát triển qua các năm đã góp phần tích cựcthúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, ViệtNam có hệ thống tài chính, kinh tế còn nhỏ bé nên dễ bị tổn thương khi có cáctác động của khủng hoảng tài chính, kinh tế của thế giới và những khó khăn
từ nội tại nền kinh tế Thị trường tài chính hoạt động chưa thật ổn định, nguy
cơ mất an toàn hệ thống luôn hiện hữu, sức chịu đựng của thị trường tài chínhtrước tác động của cuộc khủng hoảng còn yếu
Trang 9Đảm bảo an ninh tài chính, đặc biệt đảm bảo an ninh tài chính cho thịtrường tài chính là một vấn đề quan trọng hàng đầu của Việt Nam trong quátrình phát triển và hội nhập kinh tế toàn cầu Chính vì vậy, Nghiên cứu sinh
chọn đề tài nghiên cứu: “An ninh tài chính cho thị trường tài chính Việt
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” cho luận án tiến sỹ kinh tế
của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trong năm 2007, Nghiên cứu sinh đã thu thập tài liệu giảng dạy, cácgiáo trình liên quan đến thị trường tài chính tại một số viện, học viện, trườngđại học, như: Học viện Ngân hàng; Đại học Kinh tế quốc dân; Học viện tàichính; Đại học Ngoại thương; Đại học Thương mại; Viện nghiên cứu quản,quản lý kinh tế Trung ương; Viện Kinh tế Trong năm này, Nghiên cứu sinhcũng đã thu thập được một số tài liệu liên quan đến thị trường tài chính tạiNgân hàng Nhà nước Việt Nam, tại Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhànước Đồng thời, Nghiên cứu sinh đã trực tiếp tham gia nhóm đề tài nghiêncứu: “Hệ thống giải pháp đảm bảo an ninh tài chính của ngân hàng thươngmại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” với tư cách là thư ký
đề tài Từ những cơ sở nghiên cứu này, Nghiên cứu sinh đã hình thành địnhhướng nghiên cứu và chọn chủ đề nghiên cứu Sau khi hoàn thành kỳ thi đầuvào của nghiên cứu sinh tại Học viện Ngân hàng, Nghiên cứu sinh đã xâydựng chủ đề và đề cương nghiên cứu của đề tài luận án tiến sĩ trình tiến sĩ LêVăn Luyện và tiến sĩ Nguyễn Ngọc Bảo để hướng dẫn và cho hướng đểNghiên cứu sinh tiếp tục hoàn thiện và bảo vệ đề cương nghiên cứu của đề tài.Sau quá trình chỉnh sửa và hoàn thiện đề cương nghiên cứu của đề tài, Nghiêncứu sinh đã trình Học viện Ngân hàng để được bảo vệ đề cương nghiên cứutrước hội đồng khoa học Đề cương nghiên cứu đã được bảo vệ, đề tài nghiêncứu đã được phê duyệt với tên đề tài: “An ninh tài chính cho thị trường tàichính Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” cho luận án tiến sĩ
Trang 10của Nghiên cứu sinh.
Thị trường tài chính là một thị trường rộng lớn, mang tính phức tạp cao,ảnh hưởng đan xen giữa các loại thị trường hợp thành thị trường tài chính.Đặc biệt thị trường tài chính mang tính liên thông và hội nhập toàn cầu rấtcao Trong quá trình nghiên cứu về thị trường tài chính đầy biến động và phứctạp, do đó, để xây dựng kế hoạch nghiên cứu cụ thể và đề cương chi tiết chocác chương, các nội dung là quá trình công phu sưu tập các tài liệu nghiêncứu hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng và cho các năm Trong quá trìnhnghiên cứu, Nghiên cứu sinh chưa từng thấy bất kỳ một tài liệu hay một côngtrình nghiên cứu khoa học nào đã nghiên cứu về an ninh tài chính của thịtrường tài chính
Trong năm 2008, Nghiên cứu sinh đã tập trung nghiên cứu, xin ý kiến củangười hướng dẫn và đã hoàn thành đề cương chi tiết cho các chương và nội dungcủa đề tài Trong năm này, về cơ bản đã hoàn thành chi tiết hóa các nội dungnghiên cứu Tuy nhiên, trong năm 2008, lạm phát trong nước tăng cao, tín dụngtăng trưởng nóng, chỉ số chứng khoán sụt giảm mạnh so với năm 2006 và 2007,trong khi đó thị trường tài chính quốc tế diễn biến phức tạp như khủng hoảngnền kinh tế Mỹ kéo theo hàng loạt ngân hàng khó khăn, phá sản, Châu Âu bắtđầu thời kỳ khủng hoảng nợ công đã đặt ra nhiều vấn đề cần phải cập nhật, bổsung trong đề cương nghiên cứu chi tiết của Nghiên cứu sinh
Trong những năm này, hệ thống giám sát thị trường tài chính quốc tếcũng có những thay đổi, một số quốc gia xem xét lại các mô hình giám sáthiệu quả Đặc biệt các quốc gia đã thấy được cần có hệ thống giám sát độc lậpnhưng phải gắn liền với tính ứng cứu kịp thời đối với thị trường tài chính, nhưtính thanh khoản của thị trường tài chính, trước hết là Ngân hàng trung ươngcác nước phải đáp ứng kịp thời khi xảy ra khủng hoảng thanh khoản của ngânhàng thương mại
Do vậy, năm 2008, ngoài việc hoàn thành đề cương chi tiết cho đề tài,
Trang 11Nghiên cứu sinh thường xuyên nghiên cứu những biến động của thị trường tàichính thế giới thông qua các tài liệu của Ngân hàng trung ương Mỹ, của Ngânhàng trung ương Châu Âu, của Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Ngânhàng phát triển Châu Á và các hệ thống tài liệu của một số viện Nghiên cứu
về quản lý kinh tế trung ương và Hiệp hội kinh tế
Trong năm 2009, dựa trên các tài liệu thu thập được trong nước và quốc
tế kết hợp với các đợt hội thảo về thị trường tài chính, ổn định thị trường tàichính, chuẩn mực về giám sát ngân hàng kết hợp với nghiên cứu đề tài khoahọc cấp Nhà nước do nhóm tác giả tại Bộ Tài chính và một số Bộ, ngành đãnghiên cứu về: “An ninh tài chính quốc gia, lý luận và cảnh báo” do Giáo sư,tiến sĩ Tào Hữu Phùng là chủ biên, đã được công bố năm 2004 Trong côngtrình nghiên cứu này, các tác giả đã nghiên cứu và công bố các nhân tố về anninh tài chính quốc gia như lạm phát, thâm hụt ngân sách, tài chính doanhnghiệp, cán cân thương mại, cán cân thanh toán… Trong năm này, Nghiêncứu sinh đã tiếp tục nghiên cứu và tham gia trực tiếp viết và hoàn thiện đề tàikhoa học cấp ngành ngân hàng do nhóm tác giả Ngân hàng Nhà nước ViệtNam và Bộ Tài chính Việt Nam với vai trò là thư ký đề tài: “Giải pháp đảmbảo an ninh tài chính cho ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hộinhập kinh tế quốc tế” đã được công bố năm 2007 Trong công trình này cáctác giả đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến an ninh tài chính ngân hàngthương mại và đưa ra một số giải pháp để đảm bảo an ninh tài chính cho cácNgân hàng thương mại Việt Nam
Đồng thời, trong năm 2009, Nghiên cứu sinh đã xây dựng và hoàn thànhcác điều kiện hay các nhân tố ảnh hưởng đến an ninh của thị trường tài chính
và các chỉ tiêu phản ánh tính ổn định của thị trường tài chính
Nhân tố đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tài chính, bao gồm:+ Tính ổn định của thị trường tài chính;
+ Tính an toàn của thị trường tài chính;
Trang 12+ Tính phát triển của thị trường tài chính;
+ Khả năng chống đỡ các tác động bất lợi của thị trường tài chính trongcác cuộc khủng hoảng từ nội tại đến nền kinh tế và tác động từ bên ngoài Cácchỉ tiêu phản ánh để thị trường tài chính đảm bảo an ninh, bao gồm các chỉtiêu đáp ứng của những nhân tố ảnh hưởng, như:
+ Các chỉ tiêu về tính ổn định của thị trường tài chính;
+ Các chỉ tiêu về tính an toàn của thị trường tài chính;
+ Các chỉ tiêu về tính phát triển của thị trường tài chính;
+ Các chỉ tiêu phản ảnh khả năng chống đỡ tác động bất lợi của thịtrường tài chính trong các cuộc khủng hoảng từ nội tại nền kinh tế và tác động
từ bên ngoài
Trong năm 2010, Nghiên cứu sinh đã xây dựng đề cương chi tiết về bachuyên đề của luận án tiến sĩ có sự hướng dẫn khoa học của Khoa Sau đạihọc, Học viện Ngân hàng và của các tiến sĩ hướng dẫn luận án
+ Chuyên đề thứ nhất: “giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng,chống rửa tiền ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” Đây làchuyên đề Nghiên cứu sinh hoàn thành sớm nhất (Quý I, II năm 2010).Chuyên đề này hoàn thành khá dễ dàng vì Nghiên cứu sinh trong giai đoạnnày đang trực tiếp phụ trách mảng công việc liên quan đến công tác phòng,chống rửa tiền ở Việt Nam, nên thường xuyên nghiên cứu các chuẩn mựcquốc tế về phòng, chống rửa tiền, các quy định của Việt Nam và thực trạnghoạt động phòng, chống rửa tiền trong lãnh thổ Việt Nam Đồng thời tronggiai đoạn này, Nghiên cứu sinh là trưởng một nhóm nghiên cứu để biên soạnLuật phòng, chống rửa tiền của Việt Nam, đảm bảo nguyên tắc đáp ứng đầy
đủ các chuẩn mực quốc tế và tình hình trong nước Từ năm 2007, Việt Namchính thức là thành viên Nhóm Châu Á – Thái Bình Dương (APG) về phòng,chống rửa tiền Năm 2008, đoàn đánh giá đa phương của các quốc gia đã trực
Trang 13tiếp đánh giá về cơ chế phòng, chống rửa tiền của Việt Nam và đưa ra mộtbản khuyến nghị với 138 Khuyến nghị về thiếu hụt đối với Việt Nam Từ thờiđiểm đó đến nay, Việt Nam trải qua quá trình rà soát khu vực của tổ chức(RRG), tổ chức hợp tác quốc tế của (ICRG) của lực lượng đặc nhiệm tài chínhtoàn cầu (FATF) Trong quá trình này, Nghiên cứu sinh có điều kiện trực tiếpchỉ đạo và tiếp xúc trực tiếp trong hội nghị quốc tế, hội nghị trong nước vàtiếp xúc một số tài liệu liên quan.
+ Chuyên đề thứ hai: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát
vi mô các tổ chức tín dụng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốctế”, Chuyên đề thứ hai được Nghiên cứu sinh hoàn thành trong Quý III, IVnăm 2010 Chuyên đề này được thu thập các tài liệu trực tiếp từ Cơ quanThanh tra, giám sát ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tài liệugiám sát vi mô của Ngân hàng trung ương một số nước, tài liệu liên quan củaQuỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), của Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng pháttriển Châu Á (ADB) Nghiên cứu sinh thu thập một số tài liệu giám sát vi môcủa các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, công ty cho thuê tàichính qua một số năm (năm 2007, 2008, 2009, 2010)
+ Chuyên đề thứ ba: “Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tàichính cho hoạt động của thị trường tiền tệ ở Việt Nam trong điều kiện hộinhập kinh tế quốc tế” chuyên đề này Nghiên cứu sinh hoàn thành trong quý II,III năm 2011 Chuyên đề được sưu tập và lựa chọn các tài liệu về lý thuyếtcủa thị trường tiền tệ và ngân hàng trong giáo trình giảng dạy của một sốtrường đại học và viện nghiên cứu tại Việt Nam, các tài liệu của Ngân hàngNhà nước Việt Nam, các tài liệu của WB, IMF, ADB ngoài ra, Nghiên cứusinh đã tham khảo một số tài liệu liên quan của một số hãng kiểm toán nhưKPMG, Erng and Young, Dloite, của một số hãng xếp hạng tín nhiệm quốc tếnhư: Fitch rating, Moodys, Stardard and Poor Đề tài khoa học cấp ngành:
Trang 14“Giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cho ngân hàng thương mại Việt Namtrong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” được Nghiên cứu sinh nghiên cứu
kỹ lưỡng
Trong một thời gian nghiên cứu liên tục, Nghiên cứu sinh hàng ngày đềutheo dõi biến động của sàn chứng khoán Hà Nội và sàn chứng khoán Thànhphố Hồ Chí Minh, theo dõi biến động thanh khoản tỷ giá, lãi suất của thịtrường Việt Nam
Ba chuyên đề nghiên cứu của Nghiên cứu sinh đã được hội độngnghiệm thu của Học viện Ngân hàng nghiệm thu thông qua vào ngày 25tháng 11 năm 2011
Quý: (I, II) năm 2012, Nghiên cứu sinh đã tập trung hoàn thành bản thảolần đầu tiên của luận án tiến sĩ xin ý kiến của các Tiến sĩ hướng dẫn Sau khi
có ý kiến hướng dẫn, đề tài được hoàn thiện và bổ sung những nội dungnghiên cứu cho các chương, các mục liên quan Quý III năm 2012, đề tài củaluận án được gửi trình Khoa Sau đại học, Học viện Ngân hàng để thẩm định.Sau khi có ý kiến thẩm định của Khoa Sau đại học, Nghiên cứu sinh tiếp tục
bổ sung và hoàn chỉnh luận án tiến sĩ của mình Quý IV năm 2012, đề tàinghiên cứu được trình Học viện Ngân hàng, Nghiên cứu sinh xin được bảo vệcấp cơ sở
Ngày 22 tháng 3 năm 2013, Nghiên cứu sinh đã bảo vệ đề tài luận án cấp
cơ sở trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở Sau khi có kết quả chấm luận
án tiến sĩ cấp cơ sở và ý kiến của các Thành viên hội đồng, ý kiến kết luận củaChủ tịch hội đồng, đề tài luận án tiến sĩ tiếp tục được bổ sung và hoàn chỉnh
để bảo vệ trước hội đồng Theo dự kiến, đề tài sẽ được bảo vệ trong quý IVnăm 2013
Trong luận án, Nghiên cứu sinh đã hệ thống hóa được những vấn đề cơ
Trang 15bản về an ninh tài chính trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thị trườngtài chính và an ninh tài chính của thị trường tài chính Các vấn đề được trìnhbày đầy đủ, lô gíc, biện chứng và chuẩn xác Nội dung trọng tâm của đề tài là
an ninh tài chính đối với thị trường tài chính được trình bày đầy đủ ở ba thịtrường là; thị trường tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị trườngbảo hiểm Đây là tiền đề để đánh giá mức độ thực trạng về an ninh tài chínhcho thị trường tài chính Việt Nam Luận án nghiên cứu tổng quan về thịtrường tài chính Việt nam (từ khi gia nhập WTO – 2007), đến nay, luận ánđánh giá sâu sắc, từ đó rút ra các nguyên nhân và bài học thực tiễn cho thịtrường tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị tường bảo hiểm Việtnam Luận án đã đề xuất được định hướng chiến lược phát triển thị trường tàichính Việt Nam, hệ thống các giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cho thịtrường tài chính Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và cónhững kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành
Luận án đã có những đóng góp mới cho quá trình nghiên cứu khoa học, đó là: + Luận án đã trình bày được các chỉ tiêu đảm bảo an ninh tài chính chothị trường tiền tệ và Ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm.+ Luận án phân tích quá trình phát triển của thị trường tài chính ViệtNam, từ khi gia nhập WTO (2007) đến nay, có đưa ra theo cơ cấu của 03 loại:thị trường là: thị trường tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán và thịtrường bảo hiểm
+ Về thực tiễn, luận án đã đề xuất 03 nhóm giải pháp đảm bảo an ninhtài chính điển hình cho 03 thị trường, bao gồm: Nhóm giải pháp, đảm bảo anninh tài chính cho thị trường tiền và ngân hàng; nhóm giải pháp đảm bảo anninh tài chính cho thị trường chứng khoán; nhóm giải pháp đảm bảo an ninhtài chính cho thị trường bảo hiểm
Trang 163 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
+ Làm rõ nội dung khoa học của an ninh tài chính cho thị trường tài chính;+ Đánh giá, thực trạng an ninh tài chính của thị trường tài chính ViệtNam, trong đó chủ yếu đi sâu phân tích về an ninh tài chính của thị trườngtiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm
+ Đề xuất các giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tàichính Việt Nam
4 Các phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương phápthống kê, tổng hợp, nghiên cứu thực tiễn tại Ngân hàng Nhà nước và một số
bộ, ngành, tại một số tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán, nghiên cứu tàiliệu của một số tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán, nghiên cứu tài liệu củamột số tổ chức quốc tế để phân tích, quy nạp tìm ra phương án tối ưu cho mụctiêu nghiên cứu
5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu một cách tổng quan về thị trường tài chính, an ninh thịtrường tài chính, chủ yếu tập trung nghiên cứu về thị trường tiền tệ và ngânhàng - ngân hàng và thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm, là nhữngthành phần chủ yếu chi phối thị trường tài chính trong giai đoạn kể từ khiViệt Nam gia nhập WTO đến nay Đối với thị trường tiền tệ và ngân hàng,Nghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu thị trường hoạt động giữa các tổchức tín dụng với các tổ chức kinh tế, dân cư và các tổ chức khác
- Đối tượng nghiên cứu là vấn đề an ninh tài chính cho thị trường tàichính Việt Nam, lấy thị trường tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán,thị trường bảo hiểm để khảo sát đánh giá
Trang 176 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, Đề tài gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về an ninh tài chính cho thị trường tài chínhtrong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế;
Chương 2: Thực trạng về an ninh tài chính của thị trường tài chính ViệtNam, đánh giá, nhận định, nguyên nhân và bài học;
Chương 3: Giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tài chínhViệt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN NINH TÀI CHÍNH CHO
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 T ng quan v an ninh tài chính trong đi u ki n h i ổ ề ề ệ ộ
nh p kinh t qu c t ậ ế ố ế
1.1.1 Khái niệm về an ninh tài chính
An ninh là một khái niệm rất rộng, nói đến an ninh người ta thường nghĩđến an ninh quốc gia, an ninh chính trị, an ninh xã hội với việc đảm bảo anninh bằng các biện pháp bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ chế độ chính trị,bảo vệ hiến pháp và pháp luật…Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa, khủng hoảngtài chính kinh tế, khủng hoảng ở các lĩnh vực khác như: môi trường, nănglượng, khí hậu, dịch bệnh mang tính ảnh hưởng toàn cầu ngày một gia tăng,người ta lại thường nhắc đến an ninh trong các lĩnh vực kinh tế như: an ninhlương thực, an ninh năng lượng và an ninh tài chính…Với sự xuất hiện ngàycàng nhiều vấn đề các cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính, vấn đề an ninh tàichính càng được các quốc gia và thế giới quan tâm nhiều hơn
Dưới tác động ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa tài chínhcác quốc gia đối mặt với rủi ro tài chính ngày càng lớn và khủng hoảng tàichính đã trở thành mối đe dọa chủ yếu đến anh ninh kinh tế thế giới Chính vìvậy, tăng cường an ninh tài chính, hoàn thiện và cải cách thể chế giám sát vàtài chính, thiết lập cơ chế ứng phó cần thiết, cơ chế ngăn chặn rủi ro linh hoạt,tăng cường phối hợp và hợp tác với cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực tàichính, đã trở thành nội dung chính của an ninh tài chính Từ đó, có thể thấy anninh tài chính là điều kiện thiết yếu để nền tài chính ổn định và phát triển, tạotiền đề để đảm bảo an ninh kinh tế và phát triển bền vững nói chung
Trang 19Trong bài phát biểu của tác giả Durmus Yilmaz, Thống đốc Ngân hàngTrung ương Thổ Nhĩ Kỳ tại diễn đàn kinh tế thế giới (The OECD WORLDFORUM) được tổ chức tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, từ ngày 27 đến ngày 30tháng 6 năm 2007 với chủ đề: “an ninh tài chính và ổn định tài chính –Financial security and stability”; Ngân hàng Trung ương cùng đưa ra địnhnghĩa về ổn định tài chính là khi năng lực của hệ thống tài chính đứng vữngtrước những cú sốc và không gây ra tổn hại trong sự dịch chuyển các khoảntiết kiệm sang cơ hội đầu tư Một định nghĩa khác có tính đến sự vắng mặtcủa khủng hoảng trong hệ thống tài chính và sự phát triển mạnh mẽ của hệthống, tài chính Ngoài ra, nó cũng được định nghĩa có tính đến sự thực hiện
có hiệu quả của hệ thống tài chính trong trường hợp các cú sốc, tình trạng áplực và thay đổi sâu sắc về cơ cấu
Theo quan điểm của Thống đốc Ngân hàng Trung ương Thổ Nhĩ Kỳ, anninh tài chính có thể được tăng cường thông qua sự hiện hữu của hệ thốnghoạt động trơn tru Đây là một quan điểm tổng thể và bao gồm hệ thống thanhtoán, cơ sở hạ tầng về công nghệ cũng như khung quản lý và giám sát Giữa
an toàn tài chính và an ninh tài chính có mối liên kết chặt chẽ
Theo tài liệu An ninh tài chính quốc gia lý luận cảnh bảo, đối sách – Nhàxuất bản tài chính tháng 7 năm 2004 của nhóm tác giả do Giáo sư, tiến sỹ khoahọc Tào Hữu Phùng (chủ biên) và tài liệu nghiên cứu của nhóm tác giả Ngân hàngNhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính, an ninh tài chính có khái niệm như sau:
An ninh tài chính là một khái niệm cơ bản để chỉ một tình trạng tài chính
ổn định, an toàn, vững mạnh và không bị khủng hoảng
Ổn định được hiểu là duy trì được hoạt động bình thường, không có
những biến động đột ngột, bất thường Tuy nhiên, cần phải hiểu sự ổn địnhtrong sự vận động và phát triển Ổn định không có nghĩa là cố gắng giữnguyên mọi thứ như cũ mà là giữ được ổn định trong tiến trình phát triển đi
Trang 20lên, không ngừng cải tiến và hoàn thiện.
An toàn được hiểu là trạng thái không bị nguy hiểm do các tác động bên
trong và bên ngoài Giữ được an toàn đồng nghĩa với không tự mình gây hạicho mình đồng thời ngăn chặn và chống lại được sự tấn công phá hoại từ bênngoài Nếu ổn định là tiền đề có tính chất nền tảng thì an toàn là cốt lõi chiphối toàn bộ quá trình vận động của tình trạng tài chính
Vững mạnh là cơ sở cho sự ổn định và an toàn, một trạng thái tài chính
yếu không thể giữ được ổn định và đảm bảo an toàn Trong các tài liệu tiếngAnh người ta sử dụng từ “soundness” hay “strong” để chỉ sự vững mạnh
Khủng hoảng là giới hạn cuối cùng của sự mất an ninh tài chính, tránh
được khủng hoảng là mục tiêu tối thượng của mọi giải pháp đảm bảo an ninhtài chính Khủng hoảng tài chính bao trùm gắn với mất cân đối tài chính, gắnvới nghĩa vụ phải thanh toán lớn hơn nhiều phương tiện dùng để thanh toántại một thời điểm nào đó
Một số dạng khủng hoảng tài chính phổ biến như: khủng hoảng ngânhàng (Banking Crisis); khủng hoảng nợ quốc gia (National Debt Crisis);khủng hoảng tiền tệ (Monetary Crisis); khủng hoản thị trường chứng khoán(Crisis of Security market); khủng hoảng cán cân thanh toán (Crisis ofBalance of payment); khủng hoảng cán cân vãng lai (Crisis of currentAccount); khủng hoảng cán cân vốn (Crisis of capital Account); khủng hoảngkhả năng thanh khoản (Crisis of Liquidity); khủng hoảng ngân sách (Crisis ofGovernment Budget)
Bốn nội dung trên đồng thời là 4 nguyên tắc của đảm bảo an ninh tàichính Ngoài ra, cần nhấn mạnh tới nguyên tắc thứ 5 về tính hệ thống của anninh tài chính, nghĩa là an ninh của từng bộ phận gắn liền với an ninh củatoàn hệ thống, có mối quan hệ tương tác và phụ thuộc lẫn nhau về mặt tổ chức
và địa lý, an ninh từng quốc gia không tách rời an ninh khu vực và toàn cầu,
Trang 21đồng thời cả về mặt đối tượng và nội dung của an ninh như an ninh tài chínhliên quan chặt chẽ tới an ninh kinh tế, an ninh chính trị, an ninh xã hội, anninh thông tin…
Nghiên cứu sinh cơ bản thống nhất với khái niệm an ninh tài chính củacác tác giả đã nghiên cứu, tuy nhiên, khái niệm này mới chỉ được khái quát rấtchung ở “tình trạng tài chính”; Và yếu tố vững mạnh không được đề cập rõràng, khó hiểu Nghiên cứu sinh đưa ra khái niệm về an ninh tài chính với nộidung thay yếu tố vững mạnh thành yếu tố phát triển Như vậy: an ninh tàichính là một khái niệm cơ bản để chỉ một tình trạng tài chính ổn định, an toàn,phát triển và không bị khủng hoảng Khái niệm này sẽ được sử dụng trongsuốt một quá trình nghiên cứu của Luận án
Để nâng cao tính khoa học và thực tiễn của an ninh tài chính, cần phảinghiên cứu sâu hơn về thị trường tài chính, các khu vực tài chính.[31, 32, 33,
34, 35,63,64]
1.1.2 Phân loại an ninh tài chính
Để có nghiên cứu tổng quát an ninh tài chính, dẫn đến nghiên cứu sâuhơn về thị trường tài chính, từ khái niệm và các nghiên cứu ở trên, có nhiềucách thức để phân loại an ninh tài chính, có thể phân loại an ninh tài chínhnhư sau:
1.1.2.1 Phân loại theo cấp hay phạm vi quản lý
a An ninh tài chính quốc gia: Tài chính quốc gia theo nghĩa rộng baohàm toàn bộ nền tài chính vĩ mô của một nước có chủ quyền và nhà nướcđóng vai trò là chủ thể quản lý nền tài chính quốc gia Theo nghĩa hẹp, tàichính quốc gia hay tài chính nhà nước là bộ phận của nền tài chính vĩ môthuộc quyền quản lý và điều tiết trực tiếp của nhà nước bao gồm ngân sáchnhà nước và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách Bản chất của an
Trang 22ninh tài chính cho khu vực này là duy trì sự ổn định, an toàn và vững mạnhcủa thu chi Ngân sách nhà nước, giữ thâm hụt ngân sách nhà nước ở mức hợp
lý, đảm bảo cân đối tài chính cho các quỹ ngoài ngân sách
An ninh ngân sách nhà nước là hạt nhân của an ninh tài chính quốc gia
An ninh ngân sách nhà nước là trạng thái ngân sách ổn định, bền vững, antoàn, lành mạnh, có cơ cấu hợp lý, có khả năng tạo lập và phân phối cácnguồn lực tài chính có hiệu quả cao Thực chất của vấn đề an ninh ngân sáchnhà nước chính là mức độ an toàn hợp lý được chấp nhận về quy mô, tổngmức, cũng như cơ cấu thu, cơ cấu chi, mối quan hệ tài chính giữa các cấpchính quyền được xét trong quan hệ đa chiều với các yếu tố kinh tế vĩ mô(tăng trưởng kinh tế, giá cả, lạm phát, thất nghiệp, cán cân thanh toán…), cácnhân tố ảnh hưởng về chính trị, kinh tế xã hội, sự phát triển của các vùng,miền An ninh ngân sách nhà nước bảo đảm cho hoạt động của nhà nước đượcdiễn ra bình thường và hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thất, lãng phítrong quá trình nhà nước sử dụng ngân sách nhà nước để phát triển kinh tế -
xã hội, tạo được thế chủ động cho nhà nước trong quá trình quản lý và điềuhành ngân sách nhà nước An ninh ngân sách nhà nước phải đi đôi với việcthiết lập và thực thi hệ thống pháp luật về ngân sách nhà nước phù hợp, nhấtquán, đồng bộ, minh bạch, ổn định, đồng thời tăng cường giám sát hiệu quảhoạt động của ngân sách nhà nước An ninh ngân sách nhà nước có liên quanchặt chẽ đến kiềm chế nợ nước ngoài của chính phủ ở mức độ an toàn và duytrì khả năng trả nợ, tránh lâm vào tình trạng vỡ nợ
b An ninh tài chính doanh nghiệp (bao gồm cả tài chính nhà nước vàcác trung gian tài chính, tổ chức tài chính phi ngân hàng như bảo hiểm, tíndụng thuê mua, công ty chứng khoán, công ty môi giới, quỹ chứngkhoán…) đây là cốt lõi của an ninh tài chính vì tài chính doanh nghiệp là
cơ sở của tài chính quốc gia An ninh tài chính của các doanh nghiệp phi tài
Trang 23chính có tầm ảnh hưởng phụ thuộc vào qui mô của nó Doanh nghiệp cóqui mô càng lớn thì việc đảm bảo an ninh tài chính của doanh nghiệp càng
có tầm quan trọng đối với đảm bảo an ninh tài chính quốc gia Các doanhnghiệp tài chính, kể cả ngân hàng và phi ngân hàng hoạt động trên thịtrường tài chính - tiền tệ có mối liên hệ rộng lớn với nhiều khách hàng nênmức độ rủi ro cao Chính vì vậy, an ninh tài chính của khu vực doanhnghiệp tài chính cần được chú ý đặc biệt
c An ninh tài chính cá nhân (dân cư - hộ gia đình): An ninh tài chínhdân cư biểu hiện ở khả năng tiết kiệm và tích luỹ của các hộ gia đình Tàichính dân cư không an ninh khi thu nhập không đủ cho các nhu cầu thiết yếu
và không có khoản để dành dự phòng cho các trường hợp bất trắc Tiết kiệmvốn là truyền thống của các nước Á đông trong đó có Việt Nam song do thunhập bình quân đầu người còn thấp nên các khoản tiết kiệm còn nhỏ bé, hiệuquả kinh tế thấp Bên cạnh đó, yếu tố bất bình đẳng trong thu nhập, trongphân phối và phân phối lại thu nhập cho các tầng lớp dân cư cũng như phânhoá giàu nghèo quá mức cũng là nguyên nhân làm xấu đi tình trạng tài chínhdân cư, có thể gây ra sự “bùng nổ” làm mất an ninh của khu vực tài chínhnày Khoảng cách ngày càng lớn giữa thu nhập danh nghĩa với thu nhập chínhthức của một bộ phận dân cư cũng như việc sử dụng tiền mặt là chủ yếu trongcác hoạt động thanh toán không chỉ trong dân cư mà còn trong toàn bộ hoạtđộng tài chính làm cho tài chính dân cư càng khó kiểm soát là có an ninh haykhông An ninh tài chính dân cư còn được biểu hiện và biểu hiện rõ nhất ởnhững quan hệ tài chính trong cộng đồng, nổi bật là các quan hệ vay mượn,liên kết kinh tế, thanh toán, ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế,… và hoạtđộng của tài chính “ngầm”, thị trường tài chính “đen” Việc vỡ “hụi”, vỡ
“họ”, chiếm dụng vốn của nhau, cho vay nặng lãi, “bắt nợ”, “xiết nợ”… ảnhhưởng rất xấu tới khả năng đảm bảo an ninh tài chính dân cư
Trang 241.1.2.2 Phân loại theo lĩnh vực
a An ninh tài chính khu vực nhà nước (ngân sách nhà nước, cán cânthanh toán, vay nợ quốc gia…) Ngân sách nhà nước luôn được đảm bảo cácgiới hạn về bội chi ngân sách, thông thường các nước đang phát triển là dưới5% so với tổng thu; nợ công, ở ngưỡng an toàn (chẳng hạn các nước thường
áp dụng 50% so với GDP) Cán cân thanh toán thặng dư hoặc có bội chi thìphải ở mức thấp Số bội chi cán cân tổng thể phải được đảm bảo bằng dự trữngoại tệ…
b An ninh tài chính của các trung gian tài chính (ngân hàng, các tổchức tài chính phi ngân hàng…) Các ngân hàng, tổ chức tài chính phi ngânhàng hoạt động phải đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, ổn định như chỉ số về vốn
tự có tối thiểu phải đạt lớn hơn hoặc bằng 8% so với tổng tài sản đã hiệuchỉnh rủi ro, nợ quá hạn không quá 5% so với tổng dư nợ, tính thanh khoảnluôn đáp ứng
c An ninh tài chính khu vực doanh nghiệp và dân cư Các doanh nghiệphoạt động phải ổn định, có lãi, cạnh tranh tốt trên thị trường, chịu đựng đượccác tác động bất lợi của thị trường trong nước và quốc tế Các chỉ số an toàn
về vốn, tài sản luôn luôn đảm bảo Dân cư phải có thu nhập ổn định và ngàycàng được nâng cao Tỷ lệ thất nghiệp luôn ở mức thấp, công ăn, việc làmluôn được đảm bảo
1.1.2.3 Phân loại theo chức năng tài chính
a An ninh tài chính trong huy động các nguồn lực tài chính: đặc điểmquan trọng nhất là đảm bảo sự ổn định và an toàn trong việc huy động cácnguồn lực tài chính, duy trì sự cân đối cơ cấu nguồn lực huy động, trong đóđặc biệt chú trọng tới cân đối huy động nguồn lực trong nước và ngoài nướccũng như cân đối nguồn lực tài chính ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, huyđộng của nhà nước và của thị trường Sự an toàn và vững mạnh của hệ thốngtrung gian tài chính giữ vai trò quyết định đảm bảo an ninh tài chính trong
Trang 25huy động các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế thị trường.
b An ninh tài chính trong phân bổ các nguồn lực tài chính: sự phát triểnkinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế có xu hướng làm tăng vai tròphân bổ nguồn lực tài chính của thị trường trong khi giảm vai trò phân bổ trựctiếp của nhà nước trong lĩnh vực này Tuy nhiên, lý luận và thực tiễn đều chỉ
ra rằng cần có sự kết hợp giữa thị trường và nhà nước mới có thể đảm bảophân bổ các nguồn lực tài chính một cách hợp lý và hiệu quả, vừa tránh đượcnhững khiếm khuyết của thị trường, vừa không sa vào sai lầm của cơ chế kếhoạch hoá tập trung, bao cấp và sự can thiệp quá mức của nhà nước trongphân bổ các nguồn lực tài chính
c An ninh tài chính trong sử dụng các nguồn lực tài chính: cốt lõi là hiệuquả sử dụng các nguồn lực tài chính Hiệu quả càng cao thì tính an toàn, khảnăng hoàn trả, khả năng cạnh tranh và tái sản xuất mở rộng càng cao An ninhtài chính trong sử dụng nguồn lực tài chính là khâu cuối cùng quyết định anninh tài chính của toàn bộ nền tài chính quốc gia
1.1.2.4 Phân loại theo phạm vi địa lý
a An ninh tài chính địa phương: tầm quan trọng của an ninh tài chính địaphương phụ thuộc vào mô hình nhà nước của mỗi quốc gia Đối với mô hìnhnhà nước liên bang, mỗi địa phương có quyền tự chủ tài chính tương đối caonên an ninh tài chính địa phương đóng vai trò quan trọng hơn rất nhiều so với
an ninh tài chính địa phương của những nước theo mô hình nhà nước tậpquyền trung ương
b An ninh tài chính quốc gia: xuất phát từ những đặc điểm lịch sử và sựphát triển của chủ quyền quốc gia, an ninh tài chính quốc gia luôn luôn là vấn
đề trung tâm của an ninh tài chính An ninh tài chính quốc gia phản ánh tínhchất độc lập, tự chủ và toàn vẹn của một chủ thể hoàn chỉnh và tính chất đóngày càng biểu hiện rõ hơn trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
c An ninh tài chính khu vực (nhóm nước có liên quan chặt chẽ về địa lý
Trang 26hay cùng nằm trong một khối liên kết kinh tế khu vực): việc ra đời và pháttriển của các khối liên kết quốc tế làm cho vai trò của an ninh tài chính khuvực ngày càng tăng Đặc biệt, một nước có thể cùng một lúc tham gia nhiềukhối liên kết kinh tế và giữa các khối có sự đan xen lẫn nhau nên an ninh tàichính khu vực có thể phát triển thành an ninh tài chính liên khu vực.
d An ninh tài chính toàn cầu: xu thế toàn cầu hoá tác động tới an ninh tàichính theo hướng tăng cường sự ràng buộc và phụ thuộc tài chính lẫn nhautrên phạm vi và qui mô toàn cầu Khủng hoảng tài chính ở một quốc gia haymột khu vực rất dễ lan rộng thành khủng hoảng hay suy thoái kinh tế - tàichính cả thế giới
1.1.2.5 Phân loại theo tính chất
a An ninh tài chính thực, trong đó các chỉ tiêu đánh giá an ninh tài chínhđều phản ánh tình trạng tài chính ổn định, an toàn và hiệu quả một cách trungthực, chính xác, các biến động đều được phản ánh một cách kịp thời, đầy đủ,cung cấp thông tin phục vụ đắc lực cho việc hoạch định các chính sách đảmbảo an ninh tài chính
b An ninh tài chính “ảo” hay an ninh tài chính hình thức, nghĩa là tìnhtrạng bề ngoài có vẻ ổn định, an toàn và vững mạnh song thực chất bên trọnglại đang chứa đựng những nguy cơ hay những yếu tố mất an ninh tài chính,thậm chí tiềm ẩn khả năng bùng nổ khủng hoảng Nguyên nhân của an ninhtài chính ‘ảo” là báo cáo sai sự thật, che dấu và bóp méo thông tin trong khi
hệ thống giám sát tài chính hoạt động không hiệu quả Nói cách khác, an ninhtài chính “ảo” xẩy ra khi tình trạng thông tin “bất đối xứng” trở nên quá mức
An ninh tài chính “ảo” thậm chí còn tồi tệ hơn mất an ninh tài chính thực vì
nó làm cho người ta mất phương hướng, không kiểm soát được tình hình, chủquan không có các biện pháp đối phó để cứu vãn và phục hồi an ninh tàichính trước khi quá muộn
1.1.2.6 Phân loại theo mức độ
Trang 27a An ninh tài chính mức độ cao: tình trạng tài chính lý tưởng, khônghoặc rất ít có dấu hiệu ảnh hưởng tiểu cực tới sự ổn định, an toàn và vữngmạnh tài chính đi đôi với hệ thống đảm bảo an ninh tài chính được tổ chức tốt
và hoạt động có hiệu quả cao Loại an ninh tài chính này có thể gọi là an ninhtài chính tuyệt đối
b An ninh tài chính được đảm bảo: tình trạng tài chính vẫn duy trì được
sự ổn định, an toàn và vững mạnh, song xuất hiện các hiện tượng có thể gâymất an ninh tài chính cục bộ hoặc làm suy yếu hệ thống tài chính tuy khôngphải ở mức độ nghiêm trọng Tình hình tài chính vẫn ở trạng thái có thể kiểmsoát được với các chỉ tiêu đảm bảo an ninh tài chính chủ yếu vẫn nằm tronggiới hạn an toàn, rủi ro tài chính ở mức độ cho phép và hệ thống đảm bảo anninh tài chính đủ khả năng khắc phục những hiện tượng tiêu cực đó
c An ninh tài chính không được đảm bảo: các dấu hiệu tiêu cực vượtkhỏi tầm kiểm soát, nhiều chỉ tiêu đảm bảo an ninh tài chính bị phá vỡ, vượtqua giới hạn “báo động đỏ”, mức độ rủi ro tài chính cao, hệ thống đảm bảo anninh tài chính hiện tại không đủ sức giữ vững an ninh tài chính nếu khôngđược củng cố và cải tổ kịp thời, cần áp dụng các biện pháp phục hồi an ninhtài chính khẩn cấp mạnh mẽ
d Mất an ninh tài chính: tình trạng tài chính rối loại, thậm chí khủnghoảng, đại đa số các chỉ tiêu đảm bảo an ninh tài chính nếu xấu đi nghiêmtrọng, hệ thống các giải pháp đảm bảo an ninh tài chính bất lực, thậm chí têliệt Tình trạng tài chính phải mất một thời gian khá dài và một nguồn lực khálớn mới có thể thoát ra khỏi khủng hoảng và phục hồi an ninh
1.1.2.7 Phân loại theo thị trường tài chính
a Căn cứ tính chất chuyên môn hoá thị trường: an ninh thị trường công
cụ nợ; an ninh thị trường công cụ vốn; an ninh thị trường công cụ phái sinh.Nói một cách tổng quát, thị trường tài chính hoạt động trên cơ sở giao dịch
Trang 28các loại tài sản tài chính Các loại tài sản tài chính có thể như tín phiếu, tráiphiếu, cổ phiếu và những công cụ tài chính phái sinh như: hợp đồng kỳ hạn,hợp đồng hoán đổi, hợp đồng giao ngay, hợp đồng tương lai, hợp đồng giaosau và hợp đồng quyền chọn.
b Căn cứ vào cơ cấu thị trường: an ninh thị trường sơ cấp, an ninh thịtrường thứ cấp Thị trường sơ cấp (Primary markets) là thị trường pháthành và giao dịch các loại chứng khoán mới phát hành, thị trường thứ cấp(secondary markets) giao dịch các loại chứng khoán đã phát hành Giaodịch trên thị trường sơ cấp cung cấp nguồn vốn cho nhà phát hành chứngkhoán, trong khi giao dịch trên thị trường thứ cấp cung cấp thanh khoảncho các nhà đầu tư
c Căn cứ vào thời hạn của các công cụ tài chính: an ninh tài chính củathị trường tiền tệ và ngân hàng; an ninh tài chính thị trường vốn; an ninh thịtrường bảo hiểm Thị trường tiền tệ và ngân hàng (money markets) thườnggiao dịch vốn ngắn hạn, phần lớn không quá một năm; trong khi thị trườngvốn (capital markets) là thị trường giao dịch các loại vốn dài hạn, thôngthường là trên một năm Các loại chứng khoán dưới một năm thường đượcgọi là chứng khoán của thị trường tiền tệ và ngân hàng Chứng khoán có thờihạn trên một năm thường được gọi là chứng khoán của thị trường vốn thịtrường bảo hiểm, bao gồm: thị trường bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phinhân thọ
1.2 Tổng quan về thị trường tài chính
1.2.1 Khái niệm về thị trường tài chính
Thị trường tài chính là thị trường của các công cụ tài chính và trong đónguồn tài chính được kết chuyển từ người có vốn dư thừa sang người thiếuvốn, thông qua các mối quan hệ trao đổi, mua bán các công cụ tài chính
Trang 29Nếu nhìn nhận đơn giản có thể hiểu, thị trường tài chính là nơi diễn racác hoạt động mua bán các công cụ tài chính Tại thị trường này, diễn racác quá trình mua, bán các giấy tờ có giá hay người cung cấp tiền tệ đápứng nhu cầu của những người khác về tiền tệ để sử dụng chúng, là nơi diễn
ra về cung và cầu vốn đáp ứng cho nền kinh tế, nơi gặp gỡ của các nguồnvốn nhàn rỗi trong xã hội Qua quá trình vận động này hình thành nên giámua, giá bán của các loại cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu và cácloại giấy tờ có giá khác, hình thành lãi suất huy động, lãi suất cho vay ngắnhạn, trung hạn và dài hạn…
Thị trường tài chính là môi trường ở đó hệ thống tài chính vận động.Trong hoạt động của thị trường tài chính không chỉ là nơi diễn ra quá trìnhmua bán các công cụ tài chính, diễn ra các phương thức giao dịch mà còn
là nơi diễn ra các hoạt động của các chủ thể về cung cấp và đầu tư tàichính, nhận nguồn cung cấp tài chính và các chủ thể thực hiện giám sát thịtrường tài chính
Chức năng cơ bản nhất của thị trường tài chính là nơi diễn ra quá trìnhdẫn vốn từ người dư thừa về vốn tới người cần vốn Thị trường tài chínhtạo thuận lợi nhất để quá trình cung cầu về vốn gặp nhau, từ đó tạo ra quátrình lưu thông về vốn được thông suốt, tạo điều kiện để thúc đẩy phát triểnkinh tế, xã hội Thị trường tài chính phát triển nó thúc đẩy phát triển nềnkinh tế hàng hoá, góp phần thúc đẩy tăng năng suất lao động và hiệu quảphát triển kinh tế, xã hội
Tuy nhiên, trong quá trình vận động của thị trường tài chính cũng cónhững rủi ro xảy ra, nếu không có sự quản lý, giám sát chặt chẽ hoạt động củathị trường Do đó, trong quá trình vận động của thị trường tài chính còn có sựtham gia của các chủ thể giám sát thị trường với mục tiêu hoạt động là tạodựng thị trường hoạt động minh bạch, có hiệu quả, hạn chế thấp nhất rủi rohoạt động của thị trường tài chính, duy trì sự ổn định, an toàn cho thị trường
Trang 30và thúc đẩy thị trường tài chính phát triển [6, 16, 18, 19, 20, 64, 69, 70, 72]
1.2.2 Phân loại thị trường tài chính.
Thị trường tài chính rất đa dạng và phong phú, mỗi loại thị trường tàichính được hình thành và phát triển với các chức năng yêu cầu và mục đíchkhác nhau tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội ở mỗi quốc giakhác nhau, vào các công cụ tài chính và các phương thức giao dịch, các đốitượng tham gia thị trường
Dựa vào các tiêu thức khác nhau, có thể phân chia thị trường tài chínhnhư sau:
1.2.2.1 Căn cứ vào trình tự phát hành, giao dịch và cơ cấu của thị trường: thị trường tài chính được phân chia thành thị trường sơ cấp, thị trường thứ cấp.
+ Thị trường sơ cấp là thị trường tài chính mà ở đó diễn ra những hoạtđộng mua, bán những công cụ tài chính mới phát hành Trên thị trường này,vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu
tư mua công cụ tài chính mới phát hành
+ Thị trường thứ cấp là thị trường tài chính mà ở đó diễn ra nhữnghoạt động mua, bán lại những công cụ tài chính đã được phát hành trên thịtrường sơ cấp
1.2.2.2 Căn cứ vào tính chất chuyên môn hoá của thị trường: thị trường tài chính được phân chia thành thị trường công cụ nợ và thị trường công cụ vốn, thị trường công cụ phái sinh
+ Thị trường công cụ nợ là thị trường trong đó người cần vốn huyđộng vốn dựa trên phát hành các công cụ nợ như: trái phiếu, tín phiếu, kỳphiếu…thực chất các công cụ nợ là các thoả thuận có tính ràng buộc, trong
đó người vay cần một khoản vốn trong một thời gian nhất định thì phải camkết trả nợ trong thời hạn đó với số nợ gốc và lãi đã được thoả thuận Ngườivay nợ và người cho vay có thể thoả thuận thời hạn trả nợ cụ thể trên công
Trang 31cụ nợ Công cụ nợ cũng chỉ có thể nằm trong ba loại thời hạn là: ngắn hạn,trung hạn và dài hạn.
Đặc điểm của công cụ nợ là dựa trên quan hệ vay mượn, có thời hạn, lãisuất được ấn định trước và cố định và người sở hữu công cụ nợ không có vaitrò gì trong quản lý các công trình hay tổ chức mà người sở hữu đã mua công
cụ nợ ở tổ chức đó phát hành Tuy nhiên, ngược lại người phát hành công cụ
nợ (nguồn vốn), trong mọi trường hợp phải chịu trách nhiệm hoàn trả đầy đủ
cả gốc và lãi đã cam kết ghi trên công cụ nợ mà không phụ thuộc vào hoạtđộng của tổ chức hay công trình có lãi, lỗ
+ Thị trường công cụ vốn là thị trường trong đó người cần vốn huy độngbằng cách phát hành cổ phiếu bán cho những người có vốn Người nắm giữ cổphiếu được gọi là cổ đông, họ góp vốn vào công ty để tiến hành sản xuất, kinhdoanh theo nguyên tắc lời ăn, lỗ chịu Người nắm giữ cổ phiếu có quyền đượcphân chia lãi ròng và tài sản của công ty phát hành cổ phiếu Người nắm giữ cổphiếu có quyền tham gia các hoạt động của công ty theo tỷ lệ sở hữu vốn trongcông ty Khác với công cụ nợ, cổ phiếu không có lãi suất cố định mà cổ tức phụthuộc vào hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty phát hành cổphiếu Các cổ phiếu được coi là những chứng khoán dài hạn vì nó không quyđịnh thời hạn mà thời hạn nó gắn liền với thời hạn hoạt động của công ty
+ Thị trường công cụ phái sinh: là thị trường phát hành và mua đi bán lạicác công cụ tài chính phái sinh Đây là loại thị trường cao cấp, giao dịchnhững công cụ tài chính cao cấp như: chứng quyền, quyền chọn, hợp đồngtương lai, hợp đồng kỳ hạn…
1.2.2.3 Căn cứ vào thời hạn của công cụ tài chính: thị trường tài chính được phân chia thành thị trường tiền tệ và ngân hàng và thị trường vốn.
+ Thị trường tiền tệ và ngân hàng là thị trường phát hành và mua bán cáccông cụ tài chính ngắn hạn thông thường dưới một năm Theo nghĩa rộng, thị
Trang 32trường tiền tệ và ngân hàng là thị trường vay và cho vay vốn, ngắn hạn giữacác tổ chức tài chính và khách hàng của họ.
Cũng có thể hiểu thị trường tiền tệ và ngân hàng là thị trường vốn ngắnhạn, hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng diễn ra chủ yếu thông quahoạt động của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Ngân hàngthương mại là chủ thể chủ yếu trong việc thu hút và cung cấp các nguồn vốnngắn hạn
Thị trường tiền tệ và ngân hàng được hình thành chủ yếu bởi thị trườngvay và cho vay ngắn hạn của các định chế tài chính trung gian (ngân hàng,các tổ chức tài chính phi ngân hàng) và thị trường hối đoái, thị trường liênngân hàng
+ Thị trường vốn là thị trường giao dịch các khoản vốn dài hạn nhằmmục đích cung cấp tài chính cho các khoản đầu tư dài hạn của chính phủ, củacác doanh nghiệp, các tổ chức và các cá nhân Công cụ của thị trường vốn cóthời hạn thông thường là dài hơn một năm Thị trường vốn gồm có thị trườngtín dụng dài hạn và thị trường chứng khoán
1.2.2.4 Phân chia thị trường tài chính theo các chủ thể tham gia thị trường, thì thị trường tài chính bao gồm:
+ Thị trường vay và cho vay của chính phủ: bao gồm các khoản vay trựctiếp, khoản cho vay trực tiếp, các khoản phát hành trái phiếu, tín phiếu và cáckhoản mua trái phiếu, tín phiếu…
+ Thị trường vay và cho vay của các trung gian tài chính: bao gồm cáckhoản vay huy động vốn, vay và cho vay của các ngân hàng, các tổ chức tàichính phi ngân hàng và các tổ chức tài chính khác
+ Thị trường vay và cho vay của các doanh nghiệp: bao gồm các khoảnvay trực tiếp, phát hành trái phiếu, cổ phiếu…và các khoản đầu tư, các khoảnmua trái phiếu, cổ phiếu và các khoản đầu tư khác…
Trang 33+ Thị trường vay và cho vay của các cá nhân: bao gồm các khoản cánhân vay trực tiếp, các khoản gửi vốn vào các định chế tài chính, đầu tư muatrái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu của chính phủ, của các trung gian tài chính, cácdoanh nghiệp, các cá nhân…
1.2.2.5 Căn cứ vào đặc điểm hoạt động của thị trường
Thị trường tài chính được phân chia thành thị trường tiền tệ và ngânhàng, thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm Đây là phương pháp phânchia phù hợp với trọng tâm nghiên cứu của Đề tài luận án Tiến sĩ
+ Thị trường tiền tệ và ngân hàng là nơi giao dịch ngắn hạn, trung hạn
và dài hạn về vốn Thị trường tiền tệ và ngân hàng bao gồm:
- Thị trường huy động vốn và cho vay của tổ chức tín dụng đối với tổ chứckinh tế, dân cư, các tổ chức, các cá nhân khác (thường gọi là thị trường một)
- Thị trường vay và cho vay lẫn nhau giữa các tổ chức tín dụng (thườnggọi là thị trường hai);
- Thị trường vay, mua, bán giữa ngân hàng trung ương và các tổ chức tíndụng (thường gọi là thị trường ba)
+ Thị trường chứng khoán là thị trường mà ở đó diễn ra các hoạt động giaodịch và mua bán chứng khoán Xét về mặt bản chất thì thị trường chứng khoán
là nơi phân phối lại các nguồn vốn từ chủ thể dư thừa vốn với các chủ thể cónhu cầu về vốn trong nền kinh tế thị trường tập trung, thị trường phi tập trung.+ Thị trường bảo hiểm là thị trường diễn ra quá trình mua, bán các sảnphẩm bảo hiểm Thị trường bảo hiểm bao gồm thị trường bảo hiểm nhân thọ
và thị trường bảo hiểm phi nhân thọ [16, 17, 18, 20, 21, 22, 23]
1.2.3 Mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành thị trường tài chính.
Các thị trường cấu thành thị trường tài chính có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau Nhất là hai thị trường chủ yếu của thị trường tài chính là thị trường tiền
tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán
Trang 34Thị trường tiền tệ và ngân hàng ngày càng thống nhất với thị trường vốntrong hoạt động của thị trường tài chính quốc gia, ngày càng mang tính toàncầu Những biến động trong nền kinh tế sẽ ảnh hưởng đến thị trường này sau
đó sẽ tác động ngay đến thị trường khác Chẳng hạn khi lãi suất tăng và giáthay đổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khoán bằng cách tácđộng vào dòng vốn ngắn hạn, dòng vốn dài hạn, tác động vào dòng vốn đầu tưtrong nước và dòng vốn đầu tư từ nước ngoài Điều này thấy rất rõ khi thắtchặt thị trường tiền tệ và ngân hàng, thì thị trường chứng khoán cũng sẽ khókhăn về thanh khoản và chỉ số chứng khoán khó có khả năng tăng mà còn cóchiều hướng đi xuống…
Ngày nay, theo phát triển của kinh tế toàn cầu, hoạt động thị trường tàichính ngày càng tinh vi, phức tạp, các loại công cụ tài chính có quan hệchặt chẽ với nhau, các thị trường hoạt động quan hệ qua lại tác động trựctiếp lẫn nhau, ranh giới phân chia các loại thị trường chỉ mang tính tươngđối, các công cụ tài chính được lưu thông đan xen giữa các thị trường,chuyển hoá lẫn nhau Các công cụ mới, công cụ hỗn hợp của các thị trườngngày càng nhiều Thị trường tài chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trongviệc khuyến khích tiết kiệm, khuyến khích đầu tư, và quá trình vốn hoátrong nền kinh tế ngày càng diễn ra phức tạp Các tổ chức trung gian tàichính huy động một khối lượng rất lớn nguồn vốn trong xã hội đầu tư pháttriển kinh tế đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn
Thị trường tài chính là đối tượng trực tiếp chịu tác động của chính sáchtài chính, chính sách tiền tệ nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế Tất
cả các chính sách đều tác động đến các bộ phận của thị trương tài chính theocác phương thức khác nhau Thị trường tài chính phát triển ở mức càng cao,các mối liên hệ càng nhiều, các tổ chức trung gian tài chính phát triển, công
cụ tài chính ngày càng đa dạng thì tính nhạy cảm với các công cụ, biện phápcủa chính sách càng cao, càng chịu tác động mạnh mẽ [22, 23, 30]
Trang 351.2.4 Công cụ của thị trường tài chính.
Mặc dù có rất nhiều loại công cụ của thị trường tài chính khác nhaunhưng nhìn chung, có các loại: tiền, công cụ góp vốn (chứng khoán vốnchủ sở hữu) và chứng khoán cho vay hay chứng khoán nợ, công cụ tàichính phái sinh
+ Tiền: trong nền kinh tế tiền tệ, bất cứ tài sản tài chính nào được thừanhận một cách rộng rãi như một phương tiện thanh toán hàng hoá, dịch vụ,hoặc để thanh toán nợ nần đều được gọi là tiền
Theo truyền thống, phần lớn các nhà kinh tế đã định nghĩa tiền là tất cảcác loại tiền giấy, tiền kim loại do công chúng nắm giữ, tiền gửi không kỳ hạntại các ngân hàng thương mại và các định chế nhận tiền gửi khác Tài sản tàichính quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường là tiền, tiền tự bản thân nó
là một tài sản tài chính thật sự
+ Các chứng khoán nợ bao gồm các loại trái phiếu, tín phiếu, thươngphiếu và các khoản phải thu khác Chứng khoán nợ được chia thành hai loạilà: chứng khoán nợ có thể chuyển nhượng được và chứng khoán nợ khôngchuyển nhượng được.Người nắm giữ trái phiếu hay một tài sản tài chính dochính phủ, hay chính quyền địa phương phát hành chỉ là nắm giữ một tráiquyền đòi nợ mà không có quyền sở hữu tài sản tương ứng của chính phủ, củachính quyền địa phương Người nắm giữ công cụ nợ như kỳ phiếu, trái phiếucủa các ngân hàng hay các tổ chức phát hành khác không có quyền sở hữu tàisản tương ứng của tổ chức phát hành mà chỉ có quyền nhận lại số tiền gốc vàlãi hoặc trao đổi lấy một công cụ tài chính khác ghi trên công cụ nợ theo thờihạn đã thoả thuận
+ Chứng khoán vốn thường được gọi là cổ phiếu, tương đương chonhững cổ phần sở hữu trong một doanh nghiệp Đó là những trái quyền đối
Trang 36với tài sản và lợi nhuận của doanh nghiệp Giữ một chứng khoán góp vốn,điều đó có nghĩa là người giữ chứng khoán sở hữu một phần tài sản của mộtcông ty [18, 45, 47]
1.3 An ninh tài chính đ i v i ho t đ ng c a th tr ố ớ ạ ộ ủ ị ườ ng tài chính
An ninh tài chính cho thị trường tài chính là một khái niệm cơ bản chỉmột tình trạng của thị trường tài chính ổn định, an toàn, phát triển và khả năngchống đỡ được tác động của các cuộc khủng hoảng
An ninh tài chính của thị trường tài chính là an ninh tài chính cho các thịtrường cấu thành của thị trường tài chính như: thị trường tiền tệ và ngân hàng
và ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm
Bốn nhân tố đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tài chính là tính ổnđịnh, tính an toàn, tính phát triển và khả năng chống đỡ sự tác động của cáccuộc khủng hoảng Trong các thị trường cấu phần tạo thành thị trường tàichính cũng được đảm bảo bởi bốn nhân tố quyết định chung như thị trường tàichính Đó là tính ổn định, tính an toàn, tính phát triển và khả năng chống đỡkhủng hoảng của thị trường tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán, thịtrường bảo hiểm Ngoài ra các nhân tố tác động mạnh mẽ đến thị trường tàichính đó là ảnh hưởng của nợ công, đáp ứng các tiêu chuẩn về phòng, chốngrửa tiền của các quốc gia, của các tổ chức tài chính
1.3.1 An ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng
1.3.1.1 Khái niệm về an ninh tài chính cho thị trường tiền tệ và ngân hàng
Thị trường tiền tệ và ngân hàng là nơi giao dịch ngắn hạn, trung hạn vàdài hạn về vốn, là thị trường phát hành và mua bán các công cụ tài chính, nhưtín phiếu kho bạc, khoản vay giữa các ngân hàng, thoả thuận mua lại, chứngchỉ tiền gửi, thương phiếu…Hay nói cách khác, thị trường tiền tệ và ngân
Trang 37hàng là thị trường mà ở đó người ta chuyển giao các khoản vốn giữa các chủthể nhằm thoả mãn nhu cầu thanh khoản và đầu tư Theo nghĩa rộng, thịtrường tiền tệ và ngân hàng là thị trường vay và cho vay vốn ngắn hạn, trunghạn và dài hạn giữa các tổ chức tài chính và khách hàng của họ
Ngày nay, thuật ngữ mà các ngân hàng trung ương hay dùng để chỉ thịtrường tiền tệ và ngân hàng là thị trường một, thị trường hai và thị trường ba Thị trường một là thị trường tiền tệ và ngân hàng, ở đó các ngân hàngthương mại, các tổ chức tài chính phi ngân hàng huy động vốn và cho vay các
tổ chức kinh tế, dân cư, các tổ chức khác
Thị trường hai là thị trường tiền tệ và ngân hàng, ở đó các ngân hàngthương mại, các tổ chức tài chính phi ngân hàng vay và cho vay lẫn nhau.Thị trường ba là thị trường tiền tệ và ngân hàng, ở đó ngân hàng trungương cho vay và mua, bán với các tổ chức tín dụng
Như vậy, để nghiên cứu về an ninh tài chính cho thị trường tiền tệ vàngân hàng, chủ yếu tập trung vào nghiên cứu thị trường huy động và cho vaycủa các tổ chức tín dụng như: ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công
ty cho thuê tài chính, các loại hình tổ chức tín dụng khác; hoạt động vay vàcho vay giữa các tổ chức tín dụng, hoạt động vay mượn và mua bán với ngânhàng trung ương của các tổ chức tín dụng
+ Đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ và ngânhàng và ngân hàng, chính là bảo đảm an ninh tài chính cho hoạt động của baloại thị trường:
* Thị trường huy động vốn và cho vay của tổ chức tín dụng với các cánhân, tổ chức kinh tế, các tổ chức khác (thị trường một)
* Thị trường vay và cho vay lẫn nhau giữa các tổ chức tín dụng (thịtrường hai)
Trang 38* Thị trường cho vay và mua, bán giữa ngân hàng trung ương và các tổchức tín dụng (gọi là thị trường ba)
Ngoài ra còn có một số hoạt động khác, tuy nhiên, những tác động của
nó là không đáng kể đối với thị trường tiền tệ và ngân hàng
Mặc dù phân chia như vậy, nhưng ba loại của thị trường tiền tệ và ngânhàng luôn luôn liên thông với nhau, ảnh hưởng và tác động qua lại, chẳng hạnkhi các tổ chức tín dụng thiếu vốn có thể tăng huy động từ thị trường một hoặc
đi vay trên thị trường hai hoặc có thể đi vay ngân hàng trung ương Khi tổ chứctín dụng thừa vốn có thể mở rộng cho vay, đầu tư khác, hạn chế huy động vốnhoặc cho tổ chức tín dụng khác vay, mua giấy tờ có giá của ngân hàng trungương…
Mục tiêu chủ yếu của các tổ chức tín dụng tham gia thị trường một làmục tiêu thu được nhiều lợi nhuận
Mục tiêu chủ yếu của các tổ chức tín dụng tham gia thị trường hai với tưcách là người cho vay là mục tiêu thu được nhiều lợi nhuận và mục tiêu của tổchức tín dụng đi vay là mục tiêu thanh khoản
Ngân hàng trung ương tham gia thị trường với mục tiêu chủ yếu là thựchiện chính sách tiền tệ quốc gia
An ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng làmột khái niệm cơ bản chỉ một trạng thái ổn định, an toàn, phát triển và không
bị khủng hoảng trong hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng
Tính chất và nội dung của ổn định, an toàn, phát triển và không bị khủnghoảng sẽ được xác định ở ba loại thị trường là: thị trường một, thị trường hai
và thị trường ba [39, 40, 44, 46]
Trang 391.3.1.2 Nhân tố ảnh hưởng và các chỉ tiêu của an ninh tài chính cho hoạt động thị trường tiền tệ và ngân hàng
Như vậy, thực chất ổn định thị trường một là ổn định hoạt động của hệthống các ngân hàng thương mại, ổn định hoạt động của các công ty tài chính,
ổn định hoạt động của các công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tài chínhphi ngân hàng khác Muốn ổn định được hoạt động của các tổ chức này đòihỏi phải ổn định được nguồn vốn và ổn định sử dụng vốn
+ Ổn định nguồn vốn: huy động trong dân cư, huy động từ các tổ chứckinh tế, các tổ chức khác Đặc biệt các nguồn vốn giảm, thậm chí giảm nhanh
Trang 40điều đó là bất ổn, gây khó khăn cho duy trì tính ổn định của cả hệ thống.
+ Ổn định sử dụng vốn: các khoản đầu tư vốn, khoản cho vay đều phảiphù hợp với tốc độ tăng, giảm của nguồn vốn, đồng thời các khoản đầu tư,cho vay ít phát sinh nợ xấu, nợ quá hạn, nợ khó đòi, tỷ lệ nợ xấu duy trì ởmức cho phép trong hệ số an toàn
Tính ổn định của thị trường một, ngoài ảnh hưởng trực tiếp của chínhsách quản trị, thực thi chính sách quản trị, an toàn và ổn định của các ngânhàng thương mại, các tổ chức tài chính phi ngân hàng, chính sách vĩ mô củanhà nước, đặc biệt chính sách tiền tệ quốc gia, ảnh hưởng trực tiếp đến tính ổnđịnh của thị trường một là hết sức lớn như: chính sách lãi suất, tỷ giá, chínhsách tín dụng, chính sách an toàn, mục tiêu điều hành chính sách, điều hànhtiền cung ứng…Ngoài ra nó còn chịu tác động của chính sách tài khoá quốcgia, chính sách đầu tư…
*) Ổn định hoạt động của thị trường hai
Thị trường hai là thị trường vay, cho vay giữa các ngân hàng thươngmại, các tổ chức tài chính phi ngân hàng khi thiếu vốn, thanh khoản Các ngânhàng, tổ chức tài chính phi ngân hàng có thể mở rộng huy động trên thịtrường một để bù đắp hoặc đi vay các ngân hàng khác hoặc vay ngân hàngtrung ương Ngược lại các ngân hàng, tổ chức tài chính phi ngân hàng khithừa vốn có thể giảm huy động nguồn từ thị trường một, hoặc tăng cường đầu
tư, cho vay, hay cho ngân hàng, tổ chức tài chính phi ngân hàng khác vay,cũng có thể mua giấy tờ có giá của ngân hàng trung ương…
Ổn định hoạt động của thị trường hai là ổn định hoạt động vay mượn vàcho vay lẫn nhau giữa các ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng.Tuy nhiên, do tính liên thông của thị trường một, thị trường hai, thịtrường ba, do đó ngân hàng trung ương có vai trò hết sức quan trọng để điềuhành thị trường tiền tệ và ngân hàng, đặc biệt điều hành lượng tiền cung ứnghàng năm, điều hành chính sách lãi suất thị trường, lãi suất tái cấp vốn, lãi