Căn cứ vào quy định trên quyền tác giả được hiểu theo hai phương diện: Theo phương diện khách quan: Quyền tác giả là tổng hợp các quy định của pháp luật về những điều mà tác giả, chủ sở
Trang 1MỞ ĐẦU
Ngày nay, việc tiếp cận đến các tác phẩm giá trị không còn là khó khăn với công chúng, những người ham muốn tìm kiếm những thông tin sáng tạo thông qua các loại hình tác phẩm Điều này cũng thể hiện những quy định pháp luật bên cạnh trao độc quyền cho chủ thể quyền cũng cố gắng dành lại những quyền lợi cơ bản cho công chúng Những hạn chế quyền tác giả được thể hiện rất rõ về thời gian, về không gian và cả về phạm vi sử dụng các tác phẩm Giới hạn quyền tác giả là một khía cạnh thể hiện cho nguyên tắc hài hòa lợi ích giữa chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và lợi ích công chúng Điều này đã được thể hiện rõ trong quy định của Luật
Bài tiểu luận sau của em nghiên cứu về “Phân tích và nêu ví dụ các trường hợp giới hạn quyền tác giả theo quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam” và phân tích, nêu quan điểm về tình huống
Với kiến thức chưa cao, bài làm sẽ còn nhiều thiếu sót Em mong thầy cô sẽ góp ý sửa chữa để em hoàn thiện kiến thức hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 2NỘI DUNG
I Phân tích và nêu ví dụ các trường hợp giới hạn quyền tác giả theo quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam?
1 Quyền tác giả là gì ?
Theo Khoản 2, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ : “Quyền tác giả là quyền của tổ
chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” Căn cứ vào quy định trên quyền tác giả được hiểu theo hai phương diện:
Theo phương diện khách quan: Quyền tác giả là tổng hợp các quy định của pháp luật về những điều mà tác giả, chủ sở hữu được làm đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Các quy phạm này nhằm xác lập và bảo vệ quyền của tác giả, của chủ sở hữu quyền tác giả, xác định các nghĩa vụ của các chủ thể trong việc sáng tạo và sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học Quy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền đó khi có hành vi xâm phạm
Về phương diện chủ quan: Quyền tác giả là quyền dân sự cụ thể, bao gồm quyền tài sản và quyền nhân thân của chủ thể với tư cách là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với một tác phẩm văn học, nghệ thuật, công trình khoa học và quyền khởi kiện, khiếu nại, tố cáo khi quyền của mình bị xâm phạm Ngoài ra, quyền tác giả còn được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả với các chủ thể khác trong xã hội thông qua tác phẩm, dưới sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật, quan hệ giữa các chủ thể nêu trên có thể hình thành, thay đổi hoặc chấm dứt
2 Đặc điểm quyền tác giả
Đối tượng của quyền tác giả luôn mang tính sáng tạo, được bảo hộ không phụ thuộc vào giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật
Đối tượng của quyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học Tác phẩm là thành quả lao động sáng, tạo của tác giả được thể hiện dưới hình thức nhất định Mọi cá nhân đều có quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật, khoa học và khi cá nhân tạo ra tác phẩm trí tuệ, không phụ thuộc vào giá trị nội
Trang 3dung và nghệ thuật đều có quyền tác giả đối với tác phẩm Pháp luật về quyền tác giả không bảo hộ hình thức thể hiện dưới dạng nào đó mà không phản ánh hay không chứa đựng nội dung nhất định Tác phẩm phải do tác giả trực tiếp thực hiện bằng lao động trí tuệ của mình mà không phải sao chép từ tác phẩm của người khác
Quyền tác giả thiên về việc bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm
Pháp luật về quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức chứa đựng tác phẩm khi nó được tạo ra và thể hiện dưới hình thức nhất định mà không bảo hộ nội dung sáng tạo tác phẩm Quyền tác giả đối với tác phẩm chỉ được giới hạn trong phạm vi thể hiện cụ thể của tác phẩm mà không bao gồm ý tưởng của tác giả thể hiện trong tác phẩm bởi vì không một ai có thể biết được một vấn đề đang nằm trong suy nghĩ của người khác Những ý tưởng, kể cả cách sắp xếp, trình bày đã “có” trong suy nghĩ của tác giả nhưng chưa được thể hiện ra bên ngoài bằng hình thức nhất định thì không có căn cứ để công nhận và bảo hộ nhũng điều chưa được bộc lộ ra bên ngoài đó Sự sáng tạo của tác giả không chỉ đem lại cho tác giả quyền tác giả đối với tác phẩm mà còn nhằm chống lại sự sao chép nó hoặc lấy và sử dụng hình thức trong tác phẩm gốc đã được thể hiện Pháp luật về quyền tác giả không quy định điều kiện về nội dung đối với tác phẩm được bảo hộ, tronq khi đó quyền sở hữu công nghiệp bảo hộ nội dung của đối tượng Đối tượng sở hữu công nghiệp phải đáp ứng được các điều kiện nhất định Điều này lí giải nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học
có cùng nội dung nhưng có sự sáng tạo trong hình thức thể hiện đều được pháp luật bảo vệ
Hình thức xác lập quyền theo cơ chế bảo hộ tự động
Quyền tác giả được xác lập dựa vào chính hành vi tạo ra tác phẩm của tác giả, không phụ thuộc vào thể thức, thủ tục nào Nhưng đối với quyền sở hữu công nghiệp, được xác lập dựa trên quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua việc xét và cấp văn bằng bảo hộ cho chủ sở hữu các đối tượng đó (trừ các đối tượng sở hữu công nghiệp được xác lập một cách tự động)
Trang 4Từ thời điểm tạo ra tác phẩm, tác giả được bảo hộ về mặt pháp lí và có các quyền của người sáng tạo mà không phụ thuộc vào thể thức, thủ tục đăng kí nào Quyền tác giả phát sinh một cách mặc nhiên và nó được thiết lập từ thời điểm tác phẩm đó được thể hiện dưới hình thức khách quan mà người khác có thể nhận biết được Luật bảo hộ quyền tác giả của các nước đều quy định về việc bảo hộ tự động (bảo hộ không phụ thuộc vào thủ tục đăng kí) Như vậy, pháp luật về quyền tác giả không quy định bắt buộc đối với các tác giả nghĩa
vụ đăng kí và nộp đon yêu cầu bảo hộ quyền tác giả, bởi quyền này là một loại quyền “tuyên nhận”, quyền tự động phát sinh khi ý tưởng, của tác giả đã được thể hiện dưới hình thức nhất định – tác phẩm Việc đăng kí quyền tác giả không phải là căn cứ làm phát sinh quyền tác giả, mà chỉ có giá trị là chứng cứ chứng minh của đương sự khi có tranh chấp về quyền tác giả và một bên khởi kiện tại toà án nhân dán hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết
Quyền tác giả không được bảo hộ một cách tuyệt đối
Đối với các tác phẩm đã được công bố, phổ biến và tác phẩm không bị cấm sao chụp thì cá nhân, tổ chức được phép sử dụng tác phẩm của người khác nêu việc sử dụng đó không nhằm mục đích kinh doanh, không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng, khai thác bình thường của tác phẩm, không xâm hại đến các quyền, lợi ích hợp pháp khác của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả, chẳng hạn như việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích tuyên truyền, cổ động; phục
vụ cho chính sách kinh tế, văn hóa, chính trị cho người dân ở vùng sâu, vùng xa; cá nhân đọc truyện, nghe nhạc, xem phim để thưởng thức nghệ thuật, âm nhạc, hiểu biết khoa học, cuộc sống v.v thì không bị coi là hành vi xâm phạm quyền của tác giả và của chủ sở hữu quyền tác giả
3 Các trường hợp giới hạn quyền tác giả theo quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Các quyền tài sản mang lại cho chủ thể sở hữu quyền được hưởng lợi ích vật chất khi người khác khai thác, sử dụng tác phẩm, họ giữ độc quyền cho phép người khác khai thác, sử dụng tác phẩm của mình Điều này tạo nên bất lợi
Trang 5cho bên khai thác, sử dụng tác phẩm Việc dự liệu cho những quy định giới hạn quyền tác giả nhằm cân đối giữa một bên là bảo hộ quyền tác giả và một bên là quyền thụ hưởng của công chúng Bản chất của việc giới hạn quyền tác giả là hạn chế một số quyền lợi vật chất của tác giả hay là quyền được sử dụng hợp lý tác phẩm của người khác trong một số trường hợp nhất định mà không phải xin phép, không phải trả thù lao, đảm bảo cân bằng lợi ích của tác giả, người sử dụng tác phẩm và công chúng Cùng với Công ước Berne, pháp luật các nước khác trên thế giới đều có quy định về giới hạn quyền tác giả Quyền tác giả nằm trong quyền sở hữu trí tuệ nói chung nên bị giới hạn chung về quyền sở hữu trí tuệ, theo đó tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả cũng chỉ được thực hiện quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của Luật này Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan Điều đó có nghĩa việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ nằm trong khuôn khổ và không được làm thiệt hại đến lợi ích của bên thứ ba Trường hợp giới hạn quyền tác giả theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam có những trường hợp sau:
* Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép,
không phải trả tiền nhuận bút, thù lao.
Tổ chức, cá nhân muốn sử dụng tác phẩm thuộc trường hợp này thì phải trong khuôn khổ không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm Tuy nhiên, mọi người không thể áp dụng quyền này đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính
Theo quy định tại Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ, các trường hợp sử dụng dụng các phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:
Trang 6- Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân (trừ tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính)
- Trích dẫn hợp lí tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình
- Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại
- Sao chép 1 bản tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu (trừ tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính)
- Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kì hình thức nào
- Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy
- Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó
- Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị
- Nhập khẩu một bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng
Trong các trường hợp này cần lưu ý việc "Sao chép tác phẩm" là nhằm mục
đích ngiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân hoặc sao chép để lưu trữ trong thư viện Việc sao chép không quá một bản và không áp dụng đối với tác phẩm tạo hình và chương trình máy tính Thư viện không được sao chép nhiều bản nhưng người mượn sao chép nhiều bản để phục vụ việc ngiên cứu giảng dạy thì được phép
Theo quy định điều luật này, ngoại lệ chỉ dành cho một số trường hợp sử dụng tác phẩm, sử dụng quyền liên quan đáp ứng được ba điều kiện sau:
Thứ nhất, việc sử dụng hoàn toàn vào mục đích phi thương mại như: nghiên cứu khoa học, giảng dạy, sử dụng riêng hay để cung cấp thông tin;
Trang 7Thứ hai, việc sử dụng không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi, chương trình phát sóng, không gây phương hại đến quyền tác giả và quyền liên quan;
Thứ ba, khi sử dụng phải tôn trọng các quyền của tác giả, chủ thể của quyền liên quan (như: thông tin về tác giả, tác phẩm, người biểu diễn ) Quy định
về giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan trong Luật sở hữu trí tuệ đã tạo cơ chế pháp lí để giải quyết mối quan hệ giữa chủ thể của quyền tác giả, quyền liên quan với các chủ thể khác trong việc sử dụng tác phẩm, quyền liên quan
Ví dụ: Năm 2005, ông A có cuốn sách được NXB Hội nhà văn xuất bản Sau
đó cuốn sách này được tái bản năm 2007 Trong cuốn sách này, ông A đã trích dẫn nguyên văn bài viết của ông B đã được in ở số báo trước đó để nghiên cứu, bình luận Tuy nhiên, ông B cho rằng ông A đã vi phạm quyền tác giả khi sử dụng các tác phẩm của ông để xuất bản mà không xin phép và không trả tiền Sau đó ông B đã khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội Tuy nhiên, tòa án cho rằng việc ông A trích dẫn bài viết đã công bố của ông B trong cuốn sách của mình là hợp pháp vì mục đích nghiên cứu, thảo luận chứ không vì mục đích kinh doanh
* Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao.
Theo quy định tại Điều 26, Luật Sở hữu trí tuệ, các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:
Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kì hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút hoặc thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng
Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kì hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể
từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ
Trang 8Đây là ngoại lệ dành riêng cho những trường hợp mà do đặc thù của lĩnh vực hoạt động, những chủ thể này thường xuyên sử dụng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình để phục vụ nhu cầu giải trí của công chúng như: các tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm, bản ghi để phát sóng; các chủ thể sử dụng bản ghi âm trong hoạt động kinh doanh, thương mại như vũ trường, nhà hàng, khách sạn, quán karaoke, các trang web nhạc Để tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể này trong quá trình sử dụng tác phẩm, quyền liên quan, pháp luật quy định họ không phải xin phép tác giả, chủ thể của quyền liên quan nhưng vẫn phải trả nhuận bút, thù lao khi sử dụng
II.Ông Nam là tác giả hai bài báo phân tích về tính " thanh thanh tục tục"
trong thơ Hồ Xuân Hương được đăng trên Tạp chí Văn Nghệ số ngày
03/06/2015 và ngày 03/08/2015 Ông Quân là tác giả cuốn sách " Bình
luận Thơ Hồ Xuân Hương" xuất bản ngày 20/11/2017 Trong cuốn sách
của mình, ông Quân đã tự ý trích dẫn nguyên văn hai bài báo của ông Nam, có đề tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm rõ ràng, sau đó phân tích
và chỉ ra 20 điểm không hợp lý của ông Nam khi phân tích về thơ Hồ Xuân Hương Ông Nam cho rằng ông Quân có hành vi xâm phạm quyền tác giả của mình khi sử dụng tác phẩm mà không xin phép, không trả tiền Tuy nhiên, ông Quân cho rằng ông trính dẫn hợp lý tác phẩm nên không cần xin phép và trả tiền cho ông Nam Anh chị hãy phân tích và đưa ra quan điểm cá nhân trong vụ việc nói trên.
Phân tích tình huống
Xác định: Trong vụ việc trên, chúng ta thấy ông Quân đã sử dụng nguyên văn tác phẩm của ông Nam để phân tích và chỉ ra điểm không hợp lý Ông Nam cho rằng ông Quân có hành vi xâm phạm quyền tác giả của mình khi sử dụng tác phẩm mà không xin phép, không trả tiền Tuy nhiên, ông Quân cho rằng ông trính dẫn hợp lý tác phẩm nên không cần xin phép và trả tiền cho ông Nam
Hành vi xâm phạm quyền tác giả được quy định tại Điều 28 Luật sở hữu trí tuệ như sau:
Trang 9“Hành vi xâm phạm quyền tác giả:
1 Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
2 Mạo danh tác giả.
3 Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả.
4 Công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó.
5 Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
6 Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật này.
7 Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 25 của Luật này.
8 Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật này.
9 Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.
10 Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số
mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
11 Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
12 Cố ý huỷ bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.
13 Cố ý xoá, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm.
14 Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện
Trang 10pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.
15 Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo.
16 Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.”
Và căn cứ vào Khoản 1 Điều 25 Luật sở hữu trí tuệ có quy định:
“Điều 25 Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao
1 Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:
a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của
cá nhân;
b) Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình;
c) Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu; d) Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại;
đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu; e) Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;
g) Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;
h) Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;
i) Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị; k) Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng.”