2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3-6Sử dụng các tình huống thực tế và tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm để tự nhận thức được tình cảm, ý nghĩ, kỹ năng và hành v
Trang 12.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3-6
Sử dụng các tình huống thực tế và tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm để tự nhận
thức được tình cảm, ý nghĩ, kỹ năng và hành vi của chúng trong các hoạt
2.3.2 Củng cố tri thức của trẻ về tên gọi, vị trí của các giác quan, các bộ phận cơ
2.3.3 Hình thành khả năng hiểu ý nghĩa của các giác quan và các bộ phận cơ thể. 13-162.3.4 Hình thành ở trẻ mong muốn, khả năng quan tâm, chăm sóc các giác quan và
DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SKKN ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT , CẤP SỞ GD&ĐT ĐÁNH
Trang 21.1 Lý do chọn đề tài:
“Tôi là ai? Tôi có thể làm được điều gì? Tôi có những điểm mạnh, điểmyếu như thế nào?” – Những câu hỏi được rất nhiều người từng đặt ra và luôn trăntrở để đi tìm câu trả lời đúng cho mình “Nhận thức về bản thân của một người là
cơ sở nhân cách của người đó Nó ảnh hưởng đến mọi phương diện đời sống củacon người: khả năng học hỏi, khả năng trưởng thành và thay đổi, sự nghiệp vàbạn đời Không quá đáng khi nói rằng, nhận thức đúng về bản thân là sự chuẩn bịkhả dĩ và tốt nhất cho những thành công trong cuộc sống”[1]
Xã hội ngày càng phát triển, kéo theo sự phát triển bùng nổ của khoa học
và công nghệ đã một phần nào đó làm ảnh hưởng khá lớn tới giới trẻ hiện nay,đặc biệt là trẻ nhỏ với đặc tính thích khám phá và tìm tòi Sự lệ thuộc quá nhiềuvào công nghệ của đồ chơi, điện thoại, máy tính, máy tính bảng… làm cho không
ít trẻ thiếu những kỹ năng sống cơ bản để thích nghi và tồn tại với với cuộc sống
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, làgiai đoạn quan trọng đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ
và chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông Với mục tiêu chăm sóc giáo dục trẻ là:
“…Trẻ thông minh, ham tìm hiểu, thích khám phá tìm tòi, tự tin, tự lực, độc lậpsáng tạo, linh hoạt dễ hoà nhập, dễ chia xẻ…”, trường mầm non là nơi thuận lợinhất để tạo ra những tiền đề đầu tiên cho việc hình thành tư cách con người mớinói chung và hình thành khả năng tự nhận thức bản thân cho trẻ nói riêng Tự
nhận thức là một kỹ năng sống rất cơ bản của con người, là nền tảng để con
người giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác Trước hết là nhữngngười thân yêu trong gia đình, trong lớp học, trong cơ quan và sau đó là conngười trong cộng đồng, xã hội [2]
Ngay từ lứa tuổi mầm non, trẻ đã có nhu cầu nhận thức sự vật, hiện tượngxung quanh và đặc biệt trẻ sớm có hứng thú nhận thức đối với bản thân và dầndần ý thức được sự phụ thuộc của bản thân vào môi trường xung quanh Nhờ đó,trẻ có niềm tin vào bản thân khi tham gia hoạt động cũng như trong quan hệ giatiếp với mọi người Đến 4 tuổi, khả năng nhận thức nói chung, tự nhận thức nóiriêng của trẻ đã có những điều kiện thuận lợi nhất để phát triển Nhờ vậy, trẻ có ýthức hơn trong các hoạt động và sinh hoạt, biết được những khả năng và giới hạncủa mình
Với những lý do trên tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “ Một số giải pháp phát triển kỹ năng tự nhận thức bản thân cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi ở trường mầm non Vĩnh Long”.
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Với mục đích phát triển khả năng tự nhận thức bản cho trẻ mẫu giáo 4-5tuổi, Chúng ta hướng trẻ vào một tiến trình nhận thức tài năng, sự khéo léo cũngnhư khó khăn và hạn chế của trẻ Tiến trình này giúp trẻ thể hiện tốt hơn nhu cầucủa trẻ, để trẻ không thu mình lại, không chạy trốn hiện thực Trẻ có thể dần trởnên khéo léo trong những mối quan hệ xã hội, khám phá ra mình là một cá thểduy nhất trong xã hội và dần có thể nhận thức về những người xung quanh tự
Trang 3nhận biết, tự đánh giá về những đặc điểm, tính cách, khả năng, hạn chế, nhu cầumong muốn của bản thân Biết tên, tuổi, giới tính, đặc điểm bên ngoài, sở thíchcủa mình, hay là những điều mình thích và không thích [3]… Nhận thức đượcvai trò, trách nhiệm của bản thân trong gia đình và lớp học Có những suy nghĩtích cực về bản thân Qua cách trẻ thể hiện bản thân như: Mạnh dạn, tự tin, phátbiểu ý kiến, đặt câu hỏi và bày tỏ ý kiến của mình, truyền đạt những kinh nghiệmcủa mình cho các bạn Biết chịu trách nhiệm với những việc xảy ra xung quanh.Nhận thức đúng, sai một cách thực tế và đúng đắn…
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu các kỹ năng biết tự nhận thức giá trị bản thân giúp trẻ hiểu rõbản thân;
- Nghiên cứu “Một số giải pháp phát triển kỹ năng tự nhận thức bản thâncho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi ở trường mầm non Vĩnh Long”
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
Phương pháp này nhằm sưu tầm, thu thập các tài liệu, sách báo có liênquan đến vấn đề phát triển kỹ năng tự nhận thức bản thân cho trẻ mẫu giáo 4-5tuổi
+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp khảo sát và điều tra thực tế
- Phương pháp quan sát: để quan sát các hoạt động của trẻ 4 – 5 tuổi vềnhận thức bản thân hàng ngày tại lớp
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp tài liệu tham khảo
- Phương pháp thống kê và xử lí các số liệu thu thập được
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Kỹ năng biết tự nhận thức giá trị bản thân giúp trẻ hiểu rõ bản thân mình:Đặc điểm, tính cách, thói quen, thái độ, ý kiến, cách suy nghĩ, cảm xúc, nhu cầucủa chính mình, các mối quan hệ xã hội cũng như những điểm tích cực và hạnchế của bản thân Xác định giá trị bản thân một cách đúng đắn, sẽ giúp trẻ tựnhận thức rõ giá trị, vị trí của chính bản thân mình trong cuộc sống, ngoài ra giúptrẻ xác định được rõ những ưu điểm, khuyết điểm của bản thân từ đó nhận rađược những khả năng tiềm ẩn của trẻ trong những lĩnh vực khác nhau như: khoahọc, văn hóa, nghệ thuật…Đồng thời, trẻ biết học cách sống tích cực hơn tránh xathói sống tiêu cực, biết rõ đâu là điểm dừng tốt nhất cho bản thân, và đặc biệt biết
tự đặt ra những mục tiêu thiết thực phấn đấu cho tương lai sau này.[4] Đối vớiChủ đề “Bản thân” trong chương trình Giáo dục Mầm non được thực hiện dướinhiều dạng hoạt động khác nhau trong đó có hoạt động tìm hiểu MTXQ, nhằmgiúp trẻ nhận thức đúng về mình, về vị trí của chúng trong mối quan hệ với mọingười xung quanh nhằm giúp trẻ dễ dàng thích nghi với MTXQ, có những hành
vi ứng xử, giao tiếp phù hợp [3]
Như vậy, có thể thấy khả năng tự nhận thức của trẻ mẫu giáo bao gồm cácyếu tố sau:
Trang 4- Có hứng thú và nhu cầu tự nhận thức (Lòng mong muốn tìm hiểu, khámphá bản thân mình).
- Có kỹ năng, năng lực tự nhận thức, biết vận dụng những điều đã biết vàotrong điều kiện mới, hoàn cảnh mới để khám phá bản thân Biết sử dụng một sốthao tác tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá ) để giải quyếtnhiệm vụ nhận thức về bản thân
- Có thái độ tích cực đối với việc nhận thức bản thân
Một trong những hình thức đánh giá sự tư duy và sự phát triển kỹ năng tựnhận thức của trẻ là thông qua các hành động của các trẻ: ngôn ngữ hình ảnh và
cử chỉ Ví dụ như các tác phẩm nghệ thuật hay những bức tranh vẽ của các em từnhững năm đầu đời thể hiện rất rõ rệt về sự nhận thức của từng trẻ và tâm tư, sựphát triển về cảm xúc của trẻ có tích cực hay không tích cực Những kỹ năng cần
có để phát triển kỹ năng tự nhận thức của trẻ cần có kỹ năng thu nhận thông tin từmôi trường xung quanh: quan sát, chú ý lắng nghe và nhận biết hình ảnh từnhững môi trường xung quanh đó đòng thời có khả năng ghi nhớ những hình ảnh, màu sắc Ngoài ra trẻ còn có khả năng thực hiện các hành động, công việc theochỉ dẫn và khả năng sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ và điệu bộ đê thực hiện các hoạtđộng giao tiếp, và thực hiện các hoạt động học tập, giao lưu với các bạn
Khi trẻ có các kỹ năng tự nhận thức tốt, trẻ sẽ:
+ Có cái nhìn thực tế và khách quan về ưu – nhược điểm của mình
+ Xác định được những việc cần làm để hoàn thành một nhiệm vụ
+ Cố gắng thay đổi và hoàn thiện bản thân
+ Có thể dễ dàng tâm sự, bộc lộ nội tâm
+ Nhận ra nhu cầu và cảm xúc của người khác
+ Thấy được mức độ tác động từ những hành vi của mình đến những ngườikhác
+ Có những hành vi và cách ứng xử phù hợp với mọi người xung quanh.+ Đưa ra những quyết định, lựa chọn đúng đắn cho bản thân
Với cơ sở như vậy, là một giáo viên đứng lớp 4-5 tuổi lâu năm, tôi luôntrăn trở với những lý do trên nên tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp thích hợp
để từng trẻ trong trường, trong lớp tôi có được những kỹ năng tự nhận thức vềbản thân nhằm góp phần phát triển toàn diện cho trẻ
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
2.2.1 Đặc điểm tình hình:
Trường mầm non Vĩnh Long gồm có có 25 nhóm lớp Trong đó có: 17 lớp
mẫu giáo và 8 nhóm trẻ Nhà trường có đội ngũ giáo viên đạt trình độ chuẩn vàtrên chuẩn 100%, có lòng yêu nghề, mến trẻ, có trình độ chuyên môn vững vàng.Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
Năm học 2020 – 2021, tôi được phân công phụ trách lớp 4-5 tuổi với số trẻlad 30 cháu
2.2.2 Thuận lợi, khó khăn:
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
* Thuận lợi:
Trang 5- Đội ngũ cán bộ, giáo viên, trường Mầm non Vĩnh Long có tinh thần,nhiệt huyết trong công tác chăm sóc - giáo dục trẻ.
- Ban giám hiệu thường xuyên tổ chức dự giờ, thăm lớp Qua đó xây dựng
và nhân điển hình cá nhân, tập thể lớp thực hiện tốt công tác chăm sóc và giáodục trẻ, từ đó tôi có dịp trau dồi thêm nhiều kinh nghiệm trong công tác chămsóc, giáo dục trẻ cho bản thân
- Trường thực hiện mô hình bán trú với các nhóm lớp phân theo độ tuổinên thuận tiện cho việc giảng dạy và chăm sóc Số trẻ ăn bán trú tại lớp là 100%
- Khuôn viên trường rộng, có nhiều cây xanh, tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúcvới thiên nhiên, là môi trường tốt cho trẻ phát triển
Đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho việc học tập và vui chơi của trẻ ngày càngđược nâng cao hơn
Đa số các bậc phụ huynh có hiểu biết về tầm quan trọng của việc chăm
sóc-Giáo dục trẻ nên đã đưa trẻ đến trường đúng độ tuổi 100% Nhiệt tình ủng hộ
tôi trong việc dạy dỗ các cháu
Các cháu đều khỏe mạnh, nhanh nhẹn và ngoan ngoãn, rất ham hiểu biếtthích khám phá thế giới xung quanh
Về bản thân tôi luôn yêu nghề mến trẻ, đối xử công bằng với trẻ, coi việcchăm sóc giáo dục trẻ là việc quan trọng hàng đầu Ngay từ đầu năm học tôithường xuyên được ban giám hiệu dự giờ, góp ý để nâng cao chất lượng giờ dạy,được dự nhiều tiết dạy chuyên đề, tiết dạy mẫu, nhiều giờ sinh hoạt chuyên môn
và điều quan trọng đó là bản thân tôi luôn ham học hỏi trau dồi kiến thức, thamkhảo tài liệu để nâng cao kiến thức, kỹ năng sư phạm cho bản thân mình về chămsóc - giáo dục trẻ và đặc biệt là việc phát triển khả năng nhận thức bản thân chotrẻ
* Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản song vẫn còn một số tồn tại đó là, độingũ giáo viên trình độ chuyên môn năng lực có phần còn hạn chế trong việc thựchiên các chuyên đề phương pháp dạy học và tổ chức các hoạt động
Khuôn viên nhà trường tuy đã được đầu tư xây dựng nhưng chưa đượcnhư momg muốn, bồn hoa cây cảnh, các nguyên vật liệu thiên nhiên… đã cónhưng chưa thật sự phong phú và hấp dẫn đối với trẻ, nên phần nào hạn chế sựtrải nghiệm của trẻ
Ở lớp tôi phụ trách trẻ nhận thức còn chậm, chưa mạnh dạn, chưa tích cựckhi trải nghiệm, còn e dè… nên còn gặp khó khăn trong việc cho trẻ thực hànhtrải nghiệm Vì vậy việc phát triển kỹ năng nhận thức bản thân đạt kết quả chưacao
Trang 6Nhiều trẻ cả 3 mặt trên đều chưa đạt ở mức độ “thấp” và mức độ “rấtthấp”, nguyên nhân là do việc giáo dục chưa được thường xuyên, chưa có hệthống, phương pháp giáo dục chưa phù hợp với lứa tuổi nên hiệu quả thực tiễncòn thấp.
* Thực trạng về mức độ sử dụng các nội dung hình thành khả năng tự nhận thức bản thân cho trẻ 4 - 5 tuổi:
TT Nội dung Các yêu cầu cụ thể
Mức độ sử dụng %
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm khi
1 Làm quenvới cơ thể
- Có hiểu tượng về bản thân như một thực thể tự nhiên (tên gọi, các
- Biết sử dụng các giác quan và cơ thể để thể hiện tình cảm, suy nghĩ, hành vi, (Biết đưa ra tình cảm, suy nghĩ của người khác, biết lắng nghe, hiểu ý nghĩ của người khác
- Có hứng thú với quá trình suy nghĩ Tôn trọng suy nghĩ, tình cảm của người khác
đồ vật trong gia đình, mối quan hệ giữa các thành, dòng họ)
Qua việc quan sát và phân tích thực trạng hình thành khả năng tự nhậnthức bản thân cho trẻ 4-5 tuổi trong hoạt động tìm hiểu môi trường xung quanh,tôi nhận thấy có một số nguyên nhân sau:
Trang 7- Giáo viên coi việc hình thành khả năng tự nhận thức bản thân cho trẻ làmột việc làm quan trọng nhưng không thể hiện nó trong thực tế tổ chức các hoạtđộng tìm hiểu môi trường xung quanh.
Thực tế, giáo viên chưa thực sự chú ý đến việc hình thành khả năng tựnhận thức bản thân cho trẻ trong hoạt động tìm hiểu môi trường xung quanh bởi
có lẽ do chưa hiểu rõ bản chất khái niệm và quá trình hình thành khả năng tựnhận thức bản thân của trẻ mầm non nên việc xác định nội dung chưa rõ, chưađầy đủ và đặc biệt là chưa có biện pháp thích hợp để giáo dục trẻ nên hiệu quảgiáo dục nhằm hình thành khả năng tự nhận thức bản thân của trẻ chưa cao
- Cách tổ chức của giáo viên chưa tạo điều kiện, chưa gây được hứng thúcho trẻ chủ động trong quá trình hoạt động và nhận thức Cụ thể: phần lớn giáoviên đã lựa chọn một số phương pháp, biện pháp tổ chức các hoạt động tìm hiểumôi trường xung quanh thiếu sự linh hoạt, sáng tạo mà chủ yếu vẫn dựa quánhiều vào tài liệu hướng dẫn
- Giáo viên chưa linh hoạt trong cách sử dụng kết hợp các phương pháp,biện pháp nhằm giúp trẻ phát huy tốt được khả năng tự nhận thức được bản thâncủa mình Họ quá đề cao một số biện pháp truyền thống và sử dụng nó một cáchlạm dụng; chưa chú ý đến một số biện pháp có vai trò rất lớn đối với việc hìnhthành khả năng tự nhận thức bản thân cho trẻ (Trải nghiệm, thí nghiệm, luyệntập, kết hợp các biện pháp khác )
Trong khi tổ chức đàm thoại cho trẻ, giáo viên chưa chú ý đến việc pháthuy khả năng nhận thức của trẻ Mới chỉ chú trọng đến việc đặt câu hỏi cho trẻ vàyêu cầu trẻ trả lời, chưa tạo tình huống, cơ hội kích thích trẻ tích cực nhận thứcbằng cách hứng thú tìm hiểu, khám phá, đặt câu hỏi đối với cô
Từ thực trạng trên để nâng cao chất lượng giáo dục trong việc rèn luyện chotrẻ các kỹ năng nhận thức bản thân tôi mạnh dạn đưa ra “Một số biện pháp pháttriển kỹ năng tự nhận thức bản thân cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi ở trường mầm nonvĩnh Long”
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.3.1 Sử dụng các tình huống thực tế và tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm
để tự nhận thức được tình cảm, ý nghĩ, kỹ năng và hành vi của chúng trong các hoạt động hấp dẫn.
Tự nhận thức về tình cảm, ý nghĩ, kỹ năng, hành vi là một nội dung quantrọng không thể thiếu trong quá trình hình thành khả năng tự nhận thức bản thâncho trẻ Giáo viên cần hình thành ở trẻ khả năng nhận biết những biểu hiện củacon người và so sánh những biểu hiện đó giữa người này với người khác, giữa trẻ
em với người lớn, giữa con người và động vật
Để giải quyết được vấn đề này, giáo viên phải xây dựng được các biệnpháp giáo dục nhằm hình thành biểu tượng về bản thân như một thực thể đangtồn tại, có khả năng tự suy nghĩ, biết lập kế hoạch hành động, hành vi của mình
và nói về điều đó Trong quá trình giải quyết nhiệm vụ sẽ tạo ra sự hứng thú vớiquá trình “suy nghĩ”,những cố gắng về trí tuệ và kết quả đạt được Hình thành ởtrẻ biểu tượng rằng mọi người đều biết suy nghĩ và ý nghĩ của họ có thể khônggiống trẻ, điều quan trọng là phải tôn trọng và chú ý đến suy nghĩ của người
Trang 8khác; biết lắng nghe và cố gắng hiểu họ Giáo viên cũng cần xác định rõ: liệu trẻ
có biết “đọc” suy nghĩ, tình cảm của người khác để hiểu tâm trạng của họ không,sau đó nghe trẻ nói về tình cảm của chúng
Việc so sánh cảm xúc của người và động vật thường gây được hứng thúcủa trẻ Cần phải làm cho trẻ hiểu bản chất của vấn đề là con người không nhữngbiết thể hiện cảm xúc của mình mà còn biết điều khiển tình cảm của mình- Đó là
sự khác nhau giữa con người và động vật
Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả là hình thành ở trẻ biểu tượng về đặcđiểm nổi bật của con người là một thực thể biết suy nghĩ ( “ Tôi là một con người
vì tôi biết suy nghĩ và có thể nói về những điều tôi nghĩ”)
* Hình thành ở trẻ biểu tượng về bản thân như một thực thể đang tồn
Sự trải nghiệm thực tế này giúp trẻ hiểu rằng ai cũng phải nghĩ để làm việc, chơi
có hiệu quả
- Tổ chức cho trẻ đàm thoại
Sau khi trẻ đã tham gia các hoạt động (vui chơi, lao động, học tập…) cần
tổ chức cho trẻ đàm thoại về các hoạt động đó Tuy nhiên, nội dung đàm thoạiliên quan đến việc làm rõ tác dụng của việc suy nghĩ với kết quả hoạt động
Do vậy, phải đặt ra các câu hỏi định hướng nội dung đàm thoại của trẻ Cóthể sử dụng các loại câu hỏi:
- Câu hỏi: làm rõ hoạt động trẻ vừa thực hiện “Con vừa làm gì?”
- Câu hỏi: ảnh hưởng của hoạt động tới cơ thể “Con có mệt không?”
- Câu hỏi: cảm nghĩ của trẻ về quá trình hoạt động “Con có thích làmkhông? tại sao?”
- Câu hỏi: đánh giá kết quả hoạt động “Bạn A làm tốt? tại sao?”, “Cháu đãlàm như thế nào?”
Trả lời các câu hỏi này giáo viên giúp trẻ rút ra kết luận: nếu làm gì đó màsuy nghĩ thì kết quả sẽ tốt hơn
- Giáo viên nhận xét, bổ sung câu trả lời của trẻ Cần nhấn mạnh vào việchình thành ở trẻ biểu tượng về bản thân như một thực thể đang tồn tại
Với tư cách là người điều khiển quá trình đàm thoại, giáo viên phải biết sửdụng các câu hỏi định hướng phù hợp với nội dung chủ đề và khả năng nhận thứccủa trẻ để giúp trẻ tích cực huy động tới mức tối đa những hiểu biết của mìnhnhằm xây dựng biểu tượng đúng về bản thân như một thực thể đang tồn tại, dồngthời duy trì được hứng thú của trẻ trong suốt quá trình đàm thoại
Ví dụ:
* Tổ chức cho trẻ chơi “ Bé tập làm họa sĩ”
Trang 9Giáo viên chuẩn bị bút chì, giấy, sáp màu…gây hứng thú, yêu cầu trẻ suynghĩ, tưởng tượng và vẽ về những gì trẻ thích Trong khi trẻ vẽ, giáo viên gợi ý,hỏi ý tưởng của trẻ về bức tranh của mình, Sau khi trẻ vẽ xong,giáo viên yêu cầutrẻ nói về bức vẽ đó Nhận xét những bài vẽ đẹp và nhấn mạnh rằng, chỉ có thể vẽđẹp nếu chúng cố gắng suy nghĩ, tưởng tượng- đó là một việc làm có ích và hấpdẫn.
* Tổ chức cho trẻ đàm thoại
Trẻ được tham gia vào đàm thoại theo chủ đề kết hợp với việc sử dụngtranh ảnh Bằng những câu hỏi định hướng của giáo viên, giúp trẻ hiểu được tìnhcảm của người khác, hiểu được tâm trạng của họ:
+ Con thử đoán xem, điều gì đã xảy ra với bạn?
+ Con sẽ làm gì khi thấy bạn vui?
Sau đó nghe trẻ phân tích tình cảm của bản thân:
+ Con sẽ làm gì khi cảm thấy vui?
Giúp trẻ biết so sánh cảm xúc của con người với động vật bằng các câu hỏikhác nhau:
+ Con người và con vật khác nhau ở điểm gì?
+ Khi vui ( buồn), con vật có biết thể hiện cảm xúc không? Nó thể hiệnnhư thế nào?
Giáo viên cần làm cho trẻ hiểu bản chất của vấn đề là: con người khôngnhững biết thể hiện xúc cảm của mình mà còn biết điều khiển tình cảm của mình(con người có thể cố nín không khóc hoặc không cười nếu lúc đó không nên làmnhư vậy)- đó là sự khác nhau giữa con người và con vật Sau đó yêu cầu trẻ kiểmtra lại bản thân chúng
Thông qua các hoạt động trên, những trẻ thể hiện rõ tính độc lập, tích cựcsuy nghĩ sẽ được đánh giá cao Kết quả của công việc này được thể hiện bằng sựhứng thú của trẻ đối với hoạt động trí tuệ và hiểu rằng trẻ cũng giống mọi người-đều biết suy nghĩ, có tình cảm, có kỹ năng và hành vi trong các hoạt động
- Hình thành ở trẻ biểu tượng- mọi người đều biết suy nghĩ
Để hình thành ở trẻ biểu tượng là “ mọi người đều biết suy nghĩ và suynghĩ của mỗi người có thể khác nhau; cần tôn trọng và hiểu suy nghĩ của họ”:
- Tổ chức cho trẻ quan sát sự vật, hiện tượng xung quanh Sau đó tiến hànhđàm thoại tạo điều kiện cho trẻ phân tích suy nghĩ của chúng
Ví dụ:
* Tổ chức cho trẻ quan sát thực vật:
Khi tổ chức hoạt động ngoài trời, dạo chơi, trong khuôn viên nhà trường,giáo viên yêu cầu trẻ quan sát một loại cây nào đó Yêu cầu mọi trẻ cùng quansát, tìm hiểu về cây đó Sau đó giáo viên tạo điều kiện để trẻ có thể nói lên suynghĩ của mình về đối tượng trẻ vừa được quan sát (Tên gọi, đặc điểm, hình dáng,cấu tạo,ích lợi, cách chăm sóc…) Mỗi trẻ đều suy nghĩ và nói nhận xét của mình
Có thể cho trẻ quan sát khung cảnh sân trường, quan sát vườn hoa củatrường, quan sát các đồ chơi ngoài trời…Dùng các câu hỏi giúp trẻ nhận ra rằngchúng đã nói về những gì chúng nhìn thấy theo nhiều cách khác nhau và đó làđiều tốt vì càng có nhiều người càng được nghe nhiều ý kiến khác nhau Giáoviên cần nhấn mạnh ý tưởngvề ý nghĩa của các ý kiến khác nhau đó
Trang 10- Giáo viên tạo tình huống giúp trẻ nói lên suy nghĩ của mình trong quátrình quan sát, cố gắng giúp trẻ thể hiện được “chính kiến” của mình bằng cáchbiết thể hiện sự không đồng tình về một vấn đề nào đố mà không phải phụ thuộcvào ý kiến của bạn khác Giáo viên yêu cầu những lời nói cụ thể, thể hiện sựkhông đồng tình ý kiến một cách tôn trọng Giáo viên có thể kết hợp cho trẻ thamquan phòng triển lãm tranh của nhà trường Trẻ được quan sát các tác phẩm nghệthuật, “đánh giá” chúng theo ý kiến riêng của từng trẻ.
* Tổ chức cho trẻ đàm thoại:
Sau mỗi buổi dạo chơi, hoạt động ngoài trời giáo viên cùng trẻ trò chuyện,trao đổi về những điều trẻ nhìn thấy, cảm nhận, ấn tượng với đối tượng quan sát.Hỏi trẻ vè các sự vật, hiện tượng mà trẻ đã nhìn thấy, dẫn dắt trẻ suy nghĩ và trảlời theo cách hiểu của mình Sau đó giáo viên giúp trẻ thấy rằng suy nghĩ của mọitrẻ có thể giống hoặc khác nhau
2.3.2 Củng cố tri thức của trẻ về tên gọi, vị trí của các giác quan, các bộ phận cơ thể con người, bản thân trẻ.
Trong quá trình hình thành khả năng tự nhận thức về bản thân cho trẻ,chúng ta thấy “Làm quen với cơ thể” là một nội dung rất quan trọng Nó là cơ sở
để trẻ lĩnh hội những biểu tượng về bản thân Muốn có biểu tượng về bản thânmột cách đầy đủ và chính xác, trước hết trẻ phải được làm quen với cơ thể, cóbiểu tượng về bản thân như một thực thể tự nhiên: nhận biết về cơ thể, biết têngọi, vị trí của các giác quan, các bộ phận, hiểu ý nghĩa của chúng Từ sự hiểu biết
về cơ thể, trẻ sẽ có nhu cầu và kỹ năng quan tâm đến cơ thể
Bản thân tôi tiến hành các chủ đề trên dưới nhiều hình thức khác nhau:Thông qua tiết học, hoạt động vui chơi, hoạt động chiều, hoạt động ngoài trời…Cho trẻ được quan sát trực tiếp, hoặc sử dụng các phương tiện trực quan nhưtranh ảnh, đồ vật, đồ chơi…, trẻ được hoạt động với đối tượng; Tham gia vàođàm thoại, được thể hiện sự hiểu biết của chúng; Trẻ được hoạt động thực hành:
vẽ, nặn, cắt dán…Điều quan trọng là sự thay đổi các hình thức giáo dục này giúptrẻ ngày càng có hiểu biết đầy đủ về MTXQ nói chung và về bản thân nói riêng,bên cạnh đó còn tạo điều kiện cho trẻ có thể huy động ở mức cao nhất những hiểubiết, kinh nghiệm đã có để giải quyết những vấn đề do giáo viên đưa ra nhằmgiúp cho quá trình hình thành khả năng tự nhận thức về bản thân của trẻ ngàycàng đầy đủ hơn Có thể phối hợp các phương pháp sau đây trong các hoạt độngcủa trẻ:
* Tổ chức cho trẻ quan sát:
Quan sát là biện pháp cơ bản để trẻ tiếp nhận thông tin về MTXQ và bảnthân Nhờ quan sát và chỉ qua quan sát chúng ta mới có tri về thế giới xungquanh Các cơ quan cảm giác như thị giác, khứu giác, xúc giác, vị giác là nhữngphương tiện để não thu nhận thông tin và giúp chúng ta mô tả một sự vật, hiệntượng nào đó Khi trẻ sử dụng các giác quan của mình trong các hoạt động khámphá trực tiếp, thì nó cũng làm quen với kỹ năng mà các nhà khoa học dùng để tìmhiểu về thế giới Thông qua quan sát, giáo viên nhận ra khả năng của trẻ, biết trẻ
có ứng dụng được những điều học được để giải quyết các vấn đề trong hoạt độngthực tế hay không
Kết quả chỉ có thể đạt được nếu giáo viên phải linh hoạt, sáng tạo trongquá trình tổ chức cho trẻ quan sát Để giúp trẻ củng cố tri thức về tên gọi, vị trí
Trang 11của các giác quan, các bộ phân cơ thể của con người, của bản thân trẻ và độngvật, trước hết giáo viên cần tổ chức cho trẻ được quan sát những đối tượng gầngũi với trẻ như: những người xung quanh, bạn cùng nhóm, cùng lớp, các con vật,sau đó cho trẻ được quan sát chính bản thân trẻ qua gương, qua tranh ảnh.Trongquá trình quan sát, giáo viên cần hướng trẻ tới những kiến thức cần cung cấp,củng cố và bổ sung cho trẻ bằng các câu hỏi định hướng của mình, để từ đó quátrình hình thành khả năng tự nhận thức bản thân của trẻ sẽ thuận lợi hơn.Thôngqua hoạt động quan sát, trẻ sẽ tự nhận biết được về bản thân mình: Tên gọi, vị trícủa các giác quan, các bộ phận của cơ thể, ý nghĩa và mối liên hệ của chung vớinhau, với bản thân trẻ Khi cho trẻ quan sát, giáo viên cần hướng trẻ tới nhữngvấn đề chính: yêu cầu trẻ chỉ vào các bộ phận cơ thể trong tranh, nói tên tươngứng; ý nghĩa, cách sử dụng; tác dụng của chúng Nếu trẻ không thưc hiện được,giáo viên có thể “hỗ trợ” bằng cách gợi ý, hoặc có thể sử dụng các dạng bài tậpđơn giản: “Hãy nhắm mắt lại”, “Hãy cho xem lưỡi”, “Hãy dấu mũi đi cho đỡlạnh”, “Hãy cho xem các ngón tay” …nhằm hướng sự chú ý của trẻ lên các giácquan, các bộ phận cơ thể và củng cố các kiến thức tương ứng Giáo viên có thể sửdụng các câu hỏi hay gợi ý như: “Cho cô biết con nhìn thấy những gì?”, “Con thử
tả cho các bạn xem nó như thế nào?”, “Theo con, nó được dùng để làm gi?”,
“Nếu thiếu nó, con sẽ cảm thấy như thế nào?”…
* Tổ chức cho trẻ đàm thoại:
Trong thực tế, khi tổ chức cho trẻ quan sát, giáo viên đã kết hợp sử dụngcác câu hỏi để định hướng quan sát của trẻ Tuy nhiên, sau quan sát, đàm thoạicũng là một biện pháp quan trọng, không thể thiếu trong việc cho trẻ tìm hiểuMTXQ nói chung và hình thành ở trẻ khả năng tự nhận thức về bản thân nóiriêng
Khi tổ chức cho trẻ tham gia vào quá trình đàm thoại, giáo viên cần tạođiều kiện cho trẻ được thể hiện và bày tỏ sự hiểu biết của mình về tên gọi, vị trícủa các giác quan, các bộ phận cơ thể của con người, bản thân trẻ và động vật…bằng cách đặt câu hỏi một cách tuần tự trong quá trình quan sát và sau khi quansát
Trình tự các câu hỏi theo nội dung thông tin cần khai thác Để củng cố trithức của trẻ về tên gọi, vị trí các giác quan, các bộ phận cơ thể…, giáo viên cầnxây dựng câu hỏi theo trình tự sau đây:
+ Câu hỏi nhận biết đối tượng ( “Các con hãy nhìn xem xung quanh cáccon có những ai?”, “Các bạn xung quanh con giống nhau ở điểm gì?”, “Các connhìn thấy gì trong bức tranh?”, “Bạn trong ảnh là ai?”, “Tại sao con lại nghĩ nhưvây?”…)
+ Câu hỏi so sánh bản thân với những người xung quanh (Cho trẻ soigương, xem ảnh của chính bản thân trẻ và yêu cầu trẻ so sánh, nhận xét xem bảnthân trẻ có đặc điểm gì giống và khác các bạn…)
+ Câu hỏi xác định vị trí của các giác quan, bộ phận cơ thể
Khi tổ chức cho trẻ đàm thoại, giáo viên cần tạo ra các tình huống có vấn
đề, tạo điều kiện cho trẻ có cơ hội huy động tới mức tối đa những hiểu biết, kinhnghiệm đã có của mình vào việc giải quyết các vấn đề do giáo viên đặt ra
Với tư cách là người điều khiển đàm thoại của trẻ, giáo viên phải biết sửdụng các câu hỏi định hướng phù hợp với nội dung chủ đề và khả năng nhận thức
Trang 12của trẻ, tuỳ theo diễn biến của quá trình đàm thoại, giúp trẻ tích cực trong việccủng cố tri thức của mình về tên gọi, vị trí của các giác quan, các bộ phận cơ thểcủa con người, bản thân trẻ và động vật Đồng thời, phải duy trì hứng thú của trẻtrong suốt quá trình đàm thoại.
* Tổ chức cho trẻ thực hành:
Sau khi trẻ được quan sát và tham gia quá trình đàm thoại, để củng cố vàkhắc sâu kiến thức của trẻ vừa lĩnh hội được, giáo viên cần tổ chức cho trẻ đượchoạt động thực hành: Vẽ, nặn, xé dán…(về những người thân xung quanh: côgiáo, bạn cùng nhóm lớp, về những con vật gần gũi, thân thuộc với trẻ và chínhbản thân trẻ Giáo viên cần hướng trẻ tập trung vào những nội dung chính trongbức tranh mà trẻ thể hiện nhằm giúp trẻ củng cố và khắc sâu được tri thức củamình
Cho trẻ tự trình bày và nhận xét “sản phẩm “ của mình, căn cứ vào nộidung, yêu cầu cụ thể và khuyến khích trẻ đưa ra những nhận xét, đánh giá “sảnphẩm” và ý kiến của các bạn trong lớp Giáo viên hướng trẻ tới việc đánh giáđúng Giáo viên tổng hợp ý kiến đánh giá của trẻ, đưa ra nhận xét chung và đánhgiá đúng đắn nhất, tạo sự tự tin và tâm thế cho trẻ trong các hoạt động tiếp theo
Ví dụ: Chủ đề “Cơ thể của bé”.
Mục đích: Giúp trẻ biết, hiểu và củng cố cho trẻ về tên gọi, vị trí của các
giác quan, các bộ phận cơ thể của con người nói chung và của bản thân trẻ
Chuẩn bị: Gương, tranh ảnh ( ảnh chụp của trẻ, tranh vẽ bé trai, bé gái
đang có các cử chỉ hành động khác nhau…), giấy A4, bút chì, bút màu, tranh cắtdời, giấy tôki, hồ dán…
- Giáo viên cho từng trẻ quan sát các bạn cùng nhóm, lớp
- Cho trẻ quan sát bức tranh to vẽ về bé trai, bé gái ( giúp trẻ nhận biếtđược những bộ phận, giác quan trên cơ thể và những đặc điểm riêng theo giớitính: đầu tóc, quần áo…) Yêu cầu trẻ vừa quan sát tranh, vừa so sánh với các bộphận, giác quan trên cơ thể mình (trẻ chỉ đầu- Tay đưa lên đầu; Trẻ chỉ tai- tay sờvào tai…)
- Cho trẻ quan sát chính bản thân mình qua gương, yêu cầu trẻ tự nhận xét
về bản thân ( giới thiệu tên, các bộ phận, giác quan trên cơ thể cùng vị trí các bộphận, giác quan đó
- Trẻ gọi tên và chỉ vào từng bộ phận, gíác quan trên cơ thể mình với sốlượng tương ứng (tôi tên là…: tôi có một cái đầu, tôi có hai cáí tai, tôi có hai conmắt…)
- Trẻ soi gương cùng bức tranh (bé trai, bé gái tương ứng), yêu cầu trẻ sosánh chính xác các bộ phận trên cơ thể trẻ với bức tranh
- Cho trẻ quan sát những bức tranh còn thiếu các bộ phận, giác quan Yêucầu trẻ phát hiện xem bức tranh đó thiếu bộ phận, giác quan gì và bổ sung bằngcách dán thêm những bộ phận còn thiếu vào các bức tranh đó