Dưới góc độ nghiên của tâm lý học trí tuệ, hiện nay có nhiều mô hình cấu trúc về trí tuệ. Trong đó, mô hình cấu trúc đa trí tuệ được Howard Gardner nhà tâm lý học đương đại Mĩ công bố năm 1983 là một lí thuyết khá toàn diện và sâu sắc. Khác so với các nhà tâm lý học phương tây khi đề cao vai trò của trắc nghiệm và sử dụng phương pháp phân tích nhân tố để xác định các phân tử trong cấu trúc trí tuệ. Trong công trình nghiên cứu của mình, H.Gardner tiếp cận trí tuệ theo phương pháp phân tích đơn vị khi đưa ra nhiều loại hình trí tuệ có trong mỗi cá nhân; đồng thời quá trình hình thành trí tuệ luôn được ông đặt trong các bối cảnh xã hội, giáo dục xác định. Mô hình cấu trúc đa trí tuệ của H. Gardner đã ảnh hưởng sâu rộng đến phương pháp dạy và học trên toàn thế giới. Thực tế, đã chứng minh...
Trang 1MỞ ĐẦU
Trí tuệ là một trong những nhân tố quan trọng trong cuộc sống của con
người, có ảnh hưởng trực tiếp đến thành công của mỗi người."Bộ lông làm đẹp con công, trí tuệ làm đẹp con người" (Ngạn ngữ Nga) Vấn đề trí tuệ là một nội
dung phức hợp, đòi hỏi phải có sự nỗ lực tham gia của nhiều chuyên ngành khoahọc Việc nghiên cứu bản chất các quy luật phát sinh, phát triển của trí tuệ trongđời sống và hoạt động tâm lí con người cần phải dựa trên cơ sở mô hình cấu trúccủa nó Bởi vì, các mô hình cấu trúc trí tuệ có tác động ảnh hưởng mạnh mẽ tớiviệc phân tích và hình thành các phương pháp chẩn đoán trí tuệ
Dưới góc độ nghiên của tâm lý học trí tuệ, hiện nay có nhiều mô hình cấutrúc về trí tuệ Trong đó, mô hình cấu trúc đa trí tuệ được Howard Gardner -
nhà tâm lý học đương đại Mĩ công bố năm 1983 là một lí thuyết khá toàn diện
và sâu sắc Khác so với các nhà tâm lý học phương tây khi đề cao vai trò củatrắc nghiệm và sử dụng phương pháp phân tích nhân tố để xác định các phân tửtrong cấu trúc trí tuệ Trong công trình nghiên cứu của mình, H.Gardner tiếpcận trí tuệ theo phương pháp phân tích đơn vị khi đưa ra nhiều loại hình trí tuệ
có trong mỗi cá nhân; đồng thời quá trình hình thành trí tuệ luôn được ông đặttrong các bối cảnh xã hội, giáo dục xác định
Mô hình cấu trúc đa trí tuệ của H Gardner đã ảnh hưởng sâu rộng đếnphương pháp dạy và học trên toàn thế giới Thực tế, đã chứng minh, khi đượctác động đến nhiều vùng thông minh, người học vừa có cơ hội phát huy những
sở trường của bản thân, lại vừa có môi trường học tập những môn học vốnkhông phải là điểm mạnh của mình một cách tốt hơn, hứng thú hơn
Với ý nghĩa đó, tôi chọn chủ đề: “Mô hình cấu trúc đa trí tuệ của H Gardner, vận dụng vào dạy học ở nhà trường quân đội hiện nay” làm nội dung
viết tiểu luận
Trang 2I GIỚI THIỆU VỀ MÔ HÌNH CẤU TRUC ĐA TRÍ TUỆ CỦA H GARDNER
1 Vài nét về tiểu sử của H Gardner
Howard Gardner sinh ra tại Scranton, Pennsylvania vào năm 1943 Cha
mẹ ông đã chuyển từ Nurnberg Đức đến Mỹ năm 1938 với đứa con 3 tuổi,Eric Ngay trước khi Howard Gardner ra đời, Eric đã thiệt mạng trong mộttai nạn trượt tuyết Hai sự kiện này
không được nhắc đến trong tuổi thơ
của Gardner, nhưng lại có ảnh hưởng
rất lớn đến suy nghĩ và sự phát triển
của ông
Ông không được tham gia nhiều
hoạt động thể chất nguy hiểm nhưng lại
được khuyến khích theo đuổi các ý
tưởng sáng tạo và tri thức Khi Howard
bắt đầu phát hiện ra lịch sử bí mật của
gia đình (và nguồn gốc Do Thái) ông
bắt đầu nhận thức rằng ông khác với cha mẹ và các bạn đồng trang lứa
Cha mẹ đã gửi Howard Gardner đến Phillips Academy tại AndoverMassachusetts, nhưng ông từ chối Ông đến học ở một trường Trung học Dânlập tại Kingston, Pennsylvania Howard Gardner đã nắm được cơ hội ở đây và
có được sự ủng hộ cũng như quý mến của nhiều giáo viên tốt Sau đó ông đã họctại Đại học Havard để học Lịch sử và sẵn sàng theo nghề luật.Tuy nhiên, ôngmay mắn được làm học trò của Eric Erikson Theo Howard Gardner, Erikson có
lẽ đã “gắn xi” lên hoài bão trở thành học giả của ông
H Gardner từng nói: “Trí óc tôi thực sự được mở rộng khi tôi tới Harvard
và có cơ hội làm học trò của nhà phân tâm học Eric Erikson, nhà xã hội họcDavid Riesman và nhà tâm lý và nhận thức học Jerome Bruner Tôi đã họckhóa học về nghiên cứu bản năng của con người, đặc biệt con người suy nghĩnhư thế nào.”
Howard Gardner -“cha đẻ” của Học thuyết đa trí tuệ
Trang 3Ông đã hoàn thành giáo dục sau trung học của mình tại đại học Harvard,lấy bằng đại học năm 1965 với bằng Cử nhân Nghệ thuật trong quan hệ xã hội.Ông lấy bằng tiến sĩ năm 1971.
Sau khi dành thời gian làm việc với hai nhóm khác nhau: Trẻ em bìnhthường và có năng khiếu, người lớn nhưng có vấn đề về trí não, Gardner đã bắtđầu phát triển một lý thuyết để tổng hợp lý thuyết và khảo sát của mình Năm
1983, ông nêu ra lý thuyết về “Trí thông minh đa dạng” trong cuốn sách “Cơ
cấu trí khôn”
2 Cơ sở khoa học của mô hình cấu trúc đa trí tuệ của H Gardner
a, Những nghiên cứu về trí thông minh trước H Gardner
Năm 1905, nhà Tâm lý học người Pháp Alfred Binet lần đầu tiên đưa ramột bảng test làm thước đo về độ thông minh, với mục đích phân loại học sinhthành những nhóm tương đương về trí tuệ để thuận tiện cho việc đào tạo
Năm 1912, nhà Triết học và Tâm lý học người Đức William Stern cho rađời thuật ngữ IQ (intelligence quotient) Ông đã sử dụng thương số giữa Tuổi trítuệ (phản ánh mức độ phát triển trí tuệ của một người) với Tuổi sinh học (tuổithực tế của người đó) để tính toán sự phát triển trí tuệ của một cá nhân
Năm 1916, Lewis M Terman, một nhà Tâm lý học ở trường ĐH Stanford
đã cải tiến cách tính này, bằng việc nhân thương số trên với 100 để bỏ bớt số lẻsau dấu thập phân
Công thức tính chỉ số thông minh của ông: IQ=Tuổi trí tuệ*100/Tuổi sinhhọc đã được công nhận và sử dụng rộng rãi
Ông cũng hoàn thiện thêm từ bảng test của Binet để tạo nên bản trắcnghiệm Stanford-Binet được coi là bản gốc cho nhiều bài test IQ hiện nay
b, Cơ sở cho mô hình cấu trúc đa trí tuệ của H Gardner
Howard Gardner phản bác quan niệm truyền thống về khái niệm thông minh,
vốn thường vẫn được đồng nhất và đánh giá dựa trên các bài trắc nghiệm IQ Ôngcho rằng khái niệm này chưa phản ánh đầy đủ các khả năng tri thức đa dạng củacon người Theo ông, ở trường, một học sinh giải quyết dễ dàng một bài toánphức tạp chưa chắc đã thông minh hơn đứa trẻ khác loay hoay làm mãi không
Trang 4xong bài toán đó Cậu học sinh thứ hai rất có thể sẽ giỏi hơn trong các “dạng”thông minh khác.
Lý thuyết “đa trí tuệ” của ông cho rằng, mỗi cá nhân hầu như đều đạt đếnmột mức độ nào đó ở từng “phạm trù” trong hệ thống các dạng thông minh Mức
độ này thấp hay cao thể hiện hạn chế hay ưu thế của cá nhân đó trong lĩnh vựcnày Đặc biệt, mức độ này không phải là “hằng số” trong suốt cuộc đời của họ
mà sẽ có thể thay đổi (nâng cao hay giảm
đi) tùy vào điều kiện trau dồi
Thuyết đa trí tuệ của H Gardner lấy
cơ sở từ những nghiên cứu của nhà phân
tâm học Eric Erikson, nhà xã hội học David
Riesman và nhà tâm lý và nhận thức học
Jerome Bruner Ông đã học khóa học về
nghiên cứu bản năng của con người, đặc
biệt con người suy nghĩ như thế nào
Trong học thuyết trí thông minh đa dạng, H Gardner đã thiết lập được cácyêu cầu cần thiết đặc trưng mà mỗi loại trí thông minh phải đạt được để có đủđiều kiện xác định đó là một loại trí thông minh Sau đây là 4 đặc điểm ông đưa
ra khi nghiên cứu các loại trí tuệ ở con người:
Đặc điểm 1: Mỗi trí thông minh có khả năng được biểu tượng hoá.
Thuyết trí thông minh đa dạng đã đưa ra một khía cạnh về khái niệm tríthông minh, cho rằng khả năng biểu tượng hoá trong tư duy con người hay khảnăng diễn đạt những ý tưởng, kinh nghiệm thông qua sự miêu tả các hình ảnh,con số và các từ ngữ, là dấu hiệu để xác nhận đó là trí thông minh của conngười
Thuyết trí thông minh đa dạng cho rằng, có nhiều cách khác nhau mà mỗiloại trí thông minh có thể sử dụng để biểu tượng hoá Những người có tư duy lô-gic toán học sử dụng các con số và các chữ số Hy Lạp, trong số các loại ký hiệukhác, để đáp ứng các tư duy và nhu cầu có tính lý trí của họ
Trang 5Ở một mặt khác, những nhà soạn nhạc hoặc nhạc sĩ lại thường hay sử dụngcác nốt nhạc trầm bổng để biểu tượng hóa các giai điệu và tiết tấu của họ.Marcel Marcean lại sử dụng các cử chỉ động tác phức tạp và sự diễn giải bằngcác dấu hiệu của vận động thân thể để biểu diễn các khái niệm như sự tự do vàtrạng thái cô đơn Ngoài ra cũng còn các ký hiệu mang tính xã hội, chẳng hạnnhư cái vẫy tay chào tạm biệt và những ký hiệu của cái tôi, như đã biết, thí dụnhư các hình ảnh của giấc mơ vào buổi sáng sớm.
Đặc điểm 2: Mỗi trí thông minh đều có một lịch sử phát triển của riêng nó.
Trí thông minh không phải là một điều gì lạ thường có tính tuyệt đối nhưnhững người trung thành với quan niệm về trí thông minh theo kiểu chỉ số IQ.Những người này cho rằng trí thông minh được sinh ra rồi được duy trì ổn định,bền vững trong suốt cả chiều dài cuộc đời của mỗi người
Theo mô hình cấu trúc đa trí tuệ, mỗi loại trí thông minh biểu hiện ra vàomột thời điểm xác định trong thời thơ ấu, chúng đều có một chu kỳ bộc lộ vàphát triển tiềm năng rực rỡ trong chiều dài cuộc đời, và bao gồm cả việc mỗiloại có một hình mẫu duy nhất về quá trình suy giảm nhanh chóng hay từ từ khimột người bị già đi Nhà soạn nhạc vĩ đại Mozart đã sáng tạo ra những âm điệuđơn giản từ khi lên 3 tuổi và viết được những bản giao hưởng vào năm lên 9tuổi Những tài năng âm nhạc vẫn được duy trì và còn tương đối lớn mạnh cảkhi tuổi đời đã cao, bằng chứng trong cuộc sống thực tế là những nhà sáng tácnhư Pablo Casals, Igor Stravinsky và George Friedrich Handel
Loại tư duy lô-gic toán học, một mặt khác, lại có kiểu mô hình phát triểnkhác với loại trên Loại này xuất hiện hơi muộn một chút trong thời thơ ấu, pháttriển đạt đến đỉnh cao vào thời thanh niên, sau đó suy giảm muộn hơn trongcuộc đời của con người
Nhìn vào lịch sử của tư duy toán học, ta nhận thấy có một số khám phá lớntrong toán học do những nhà bác học có tuổi đời ngoài 40 tuổi Sự thực là, nhiềukhám phá quan trọng là của những người còn ở độ tuổi niên thiếu, chẳng hạnnhư Blaise Pascal và Evaiste Galois Thậm chí Albert Einstein đã đạt đượcnhững hiểu biết sâu sắc ban đầu về thuyết tương đối khi ông mới 16 tuổi
Trang 6Tương tự như vậy, mỗi loại trí thông minh có một mô hình tăng trưởng,phát triển và suy giảm theo cách riêng của mình, trong vòng đời của con người.
Đặc điểm 3: Mỗi trí thông minh đều sẽ tổn thương và biến mất khi có các tác động xâm phạm và gây hại đến những vùng đặc trưng riêng biệt của nó trong
bộ não người
Mô hình cấu trúc đa trí tuệ tiên đoán rằng trong thực tế, trí thông minh cóthể bị cô lập khi bộ não bị tổn thương Gardner đã đưa ra ý kiến là: Nhằm mụcđích được công nhận và có thể tồn tại, bất kỳ một lý thuyết nào về trí thôngminh đều phải dựa trên cơ sở sinh học, nghĩa là được bắt nguồn từ cấu trúc vậtchất của não bộ Với vai trò là một nhà tâm lý học thần kinh ở Ban quản lý cựuchiến binh Boston, Gardner đã làm việc với những bệnh nhân bị tổn thương não,một phần nào đó trong 7 loại trí thông minh của họ bị ảnh hưởng, thí dụ như:Một người có thương tích ở thuỳ trước trán trong bán cầu não trái thì không thểnói và viết bình thường được nhưng vẫn có thể hát, vẽ, và nhảy múa không hề
có một chút khó khăn nào Trong trường hợp này thì trí thông minh về ngôn ngữcủa anh ta đã bị suy giảm, hư hại một phần Mặt khác, những người bị thương ởthuỳ thái dương bên phải có thể khó khăn khi thực hiện những công việc mangtính chất âm nhạc, nhưng anh ta có thể nói, đọc và viết một cách dễ dàng.Những bệnh nhân bị thương ở thuỳ chẩm của bán cầu não bên phải có thể bị suygiảm đáng kể những khả năng về nhận biết gương mặt, khả năng quan sát hoặcnhận biết những chi tiết trực quan
Lý thuyết về trí thông minh còn đang tranh luận về việc có tồn tại haykhông 7 hệ thống của não bộ hoạt động một cách tương đối độc lập Trí thôngminh ngôn ngữ xem ra như là một chức năng chính của bán cầu não trái ở đa sốmọi người, trong khi trí thông minh về âm nhạc, không gian và năng lực tươngtác có xu hướng tập trung tại bán cầu não phải nhiều hơn Trí thông minh vềnăng lực vận động thân thể gồm có vỏ não vận động, những hành thần kinh cơ
sở và bộ phận trước não
Thuỳ trước trán là đặc biệt quan trọng đối với trí thông minh của con người
Bộ não là một tổ hợp phức tạp lạ thường đến mức khó tin nên không thể phân
Trang 7chia ra được một cách rõ ràng thành 7 khu vực có ranh giới như bản đồ Tuynhiên, lý thuyết về trí thông minh đa dạng đã tổng hợp những kết quả đã đượckhám phá trong hơn 20 năm qua trong lĩnh vực tâm lý học thần kinh theo mộtcách riêng biệt đáng được chú ý.
Đặc điểm 4: Mỗi loại trí thông minh có những nền tảng giá trị văn hoá riêng của nó
Mô hình cấu trúc đa trí tuệ cho rằng, những biểu lộ của trí thông minhđược đánh giá một cách tốt nhất bằng việc nhìn vào những khả năng đóng gópcao nhất của nó đối với xã hội, chứ không phải là việc giành được kết quả tốthay không trong các cuộc kiểm tra Những kỹ năng tiêu biểu cho việc kiểm trachỉ số IQ, chẳng hạn như khả năng lặp lại những con số ngẫu nhiên theo chiềuthuận hoặc chiều ngược, hay năng lực để giải quyết những vấn đề nào đó cótính chất tương tự như vậy, là làm hạn chế những giá trị văn hoá có trong tríthông minh của con người
Trên một phương diện khác, điều gì đã đem lại những thành tựu và tiến bộ
xã hội của chúng ta, từ thế hệ này đến thế hệ khác như những truyện cổ tích,truyện thần thoại, tác phẩm văn học, âm nhạc, những môn nghệ thuật lớn, nhữngkhám phá khoa học và những kỹ năng vật lý
Thuyết trí thông minh đa dạng cho rằng, cách tốt nhất để chúng ta có thểhọc được những điều thông minh là nghiên cứu, học tập những thí dụ về cáccông trình văn hoá có ích nhất cho xã hội chúng ta, đối với từng loại trong số 8lĩnh vực, chẳng hạn: Tác phẩm Moby Dick của Herman Melville tốt hơn lànhững âm tiết vô nghĩa trong cẩm nang tra cứu tâm lý; Guernica của PabloPicasso tốt hơn những thiết kế hình học trong những bài kiểm tra tính suy luậnkhông gian; tác phẩm Magna Carta hay Sermon trên núi tốt hơn là “thước đoVineland” về tính trưởng thành xã hội
Ở một mức độ xa hơn nữa, mô hình cấu trúc đa trí tuệ tán thành và ca ngợitính đa dạng trong cách mà trí thông minh được thể hiện ở những nền văn hoákhác nhau Ở đây không coi các khám phá về từ ngữ và toán học của nhữngngười châu Âu da trắng như đỉnh cao của trí thông minh (mà nếu theo quan
Trang 8niệm này, một lần nữa sự kiểm tra trí tuệ bằng chỉ số IQ lại được ủng hộ và duytrì), thuyết trí thông minh đa dạng cung cấp một phạm vi quan niệm rộng lớn vềtrí thông minh của con người Trong biểu đồ về trí thông minh này, các loại khảnăng về trí tuệ của con người đều được ca ngợi và tôn trọng như nhau, đó là tàinăng tìm đường của những người dân Himalaya, phương pháp phân loại phứctạp của thổ dân Nam Phi tộc Kalahan, những thiên tài âm nhạc của nền văn hoáArang ở đất nước Nigieria, các hệ thống vẽ bản đồ độc nhất vô nhị của nhữngngười đi biển dân tộc Polynesia, và những khả năng đặc biệt của nhiều ngườikhác trên khắp thế giới.
Bổ sung thêm vào các đặc điểm nội dung trên, mô hình còn đưa ra ý kiến
là mỗi loại thông minh có một quá trình xử lý nhận thức riêng biệt của mìnhtrong các hoạt động của trí nhớ, sự tập trung, tri giác và cách giải quyết vấn đề.Thậm chí 8 loại trí thông minh còn có cả lịch sử tiến hoá riêng của mỗi loại Trí thông minh về âm nhạc có một phần hàm chứa tiếng hót của chim muông,trong khi trí thông minh về vận động thân thể xuất hiện từ những hoạt động sănbắn trong những giai đoạn sơ khai đầu tiên của lịch sử loài người Những aimuốn thấy các số liệu có thể định lượng được về những vấn đề trên thì chínhcác kết quả kiểm tra tâm lý và nghiên cứu thực nghiệm sẽ là một sự ủng hộ vàkhẳng định Mô hình cấu trúc đa trí tuệ không chỉ là một ý kiến đơn thuần Nóđược lập nên từ việc tổng hợp các kết quả nghiên cứu mới nhất của những đềtài khoa học về trí thông minh đang hiện hành
3 Một số luận điểm cơ bản trong mô hình cấu trúc
đa trí tuệ của H Gardner
Theo Giáo sư H Gardner, trí thông minh được hiểu như sau:
Thứ nhất: Khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà
các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều nền văn hóa;
Thứ hai: Một tập hợp các kỹ năng mà làm cho nó có thể cho một người để
giải quyết các vấn đề trong cuộc sống;
Thứ ba: Tiềm năng cho việc tìm kiếm hoặc tạo ra các giải pháp cho các vấn
đề, trong đó có việc thu thập kiến thức mới
Trang 9Định nghĩa này dẫn chúng ta đến câu hỏi cho chính chúng ta: khi con cái củachúng ta có khả năng “giải quyết vấn đề” và khả năng “tạo ra” nhưng mà không cógiá trị thiết thực cho xã hội thì liệu con cái chúng ta có thông minh thật không?
Để làm rõ vấn đề này, trong phạm vi nghiên cứu của tiểu luận, bản thân tậptrung đề cập một số luận điểm chính mà ông nêu ra trong thuyết đa trí tuệ của mình
a, Mỗi người đều có đủ 8 trí tuệ
Mô hình cấu trúc đa trí tuệ không phải loại “thuyết điển hình” để xác địnhmột loại trí tuệ thích ứng Đây là một loại mô hình về nhận thức đề nghị tathừa nhận mỗi chúng ta đều có năng khiếu trong tất cả 8 dạng trí tuệ Tấtnhiên, 8 dạng trí tuệ ấy hoạt động phối hợp theo những thể thức duy nhất đốivới từng người Vài người dường như có những mức độ hoạt động cực kỳ caođối với tất cả hoặc hầu hết 8 dạng trí tuệ, chẳng hạn như nhà thơ- nhà hoạtđộng chính trị- nhà khoa học- nhà tự nhiên học - nhà triết học người ĐứcJohann Wolfgang Von Goethe Nhiều người khác, như các bệnh nhân nặngtrong các trung tâm cho người bị người khuyết tật về mặt phát triển, hình nhưlại thiếu tất cả, trừ vài dạng trí tuệ thô sơ nhất Đa số chúng ta nằm trong ranhgiới giữa hai thái cực đó và thuộc hạng người phát triển ở mức độ cao về cáctrí tuệ này, phát triển ở mức “sàng lọc bậc trung” về các trí tuệ khác và cảphát triển ở mức thấp (kém phát triển) về các trí tuệ còn lại
b, Đa số chúng ta có thể phát triển mỗi dạng trí tuệ tới một mức độ thích đáng
Nhiều người có thể than vãn về sự kém cỏi của họ trong một lĩnh vực nào
đó và xem vấn nạn ấy như một khuyết tật bẩm sinh, không chữa được, cònGardner thì lại gợi ý rằng, về mặt lý thuyết thì mọi người đều có khả năng pháttriển cả 8 trí tuệ tới một mức độ thích đáng nếu được động viên, khuyến khích,
hỗ trợ và học hành đầy đủ
H Gardner chỉ rõ Chương trình Giáo dục Nhân tài của hãng Suzuki là một
ví dụ minh họa cách thức những người có trí tuệ về âm nhạc tương đối khiêmtốn đã phấn đấu như thế nào để đạt được một trình độ đáng nể về khả năng chơiđàn vĩ cầm hay dương cầm nhờ một kết hợp hài hòa các tác động môi trường,
Trang 10như nhiệt tình của phụ huynh, cơ may được tiếp xúc từ nhỏ với nhạc cổ điển và
sự dạy dỗ, rèn luyện từ thuở ấu thơ
c, Các dạng trí tuệ thường cùng làm việc với nhau theo những thể thức phức tạp
H Gardner cho rằng: Mỗi trí tuệ như đã được mô tả ở đây thật ra là một
“tưởng tượng” Không có trí tuệ nào tồn tại đơn lẻ trong đời (có lẽ trừ một sốtrường hợp rất hiếm hoi các nhà bác học chuyên sâu hoặc người bị tổn thươngnão) Các dạng trí tuệ luôn tương tác với nhau Để nấu một bữa ăn, ta phải đọcbản hướng dẫn cách chế biến món ăn (trí tuệ ngôn ngữ), có thể phải nhân đôicông thức (trí tuệ logic- toán học), xây dựng thực đơn để thỏa mãn yêu cầu riêng
tư của từng thành viên trong gia đình (trí tuệ giao tiếp) và làm giảm bớt sự thèm
ăn của ai đó (trí tuệ nội tâm) Cũng như vậy, khi một đứa trẻ chơi đá bóng, nócần có trí tuệ hình thể - động năng (chạy, đá, đón bóng), trí tuệ không gian (đểđịnh hướng trong sân bóng và tiên đoán đường bay của bóng), các trí tuệ ngônngữ và giao tiếp để tranh cãi giành điểm khi có tranh chấp trong khi chơi
Các dạng trí tuệ được tách riêng trong mô hình cấu trúc đa trí tuệ, chỉ đểphân tích các đặc trưng cơ bản của chúng, nhằm tìm cách sử dụng chúng mộtcách hữu hiệu Ta phải luôn nhớ đặt chúng trở lại trong bối cảnh thực tế khi hoàntất quá trình nghiên cứu chính quy
d, Có nhiều cách biểu lộ trí thông minh trong từng lĩnh vực
Chẳng có một bộ chuẩn mực nào mà một người phải thỏa mãn để được xem làthông minh trong một lĩnh vực xác định Ông viết: “ Một người có thể “mù chữ”
mà vẫn được xem là có trí tuệ ngôn ngữ cao vì có thể kể rất hấp dẫn một chuyệnkinh dị, hoặc sở hữu một vốn từ vựng nói đặc biệt phong phú Cũng như vậy, mộtngười có thể chơi rất tồi tệ trên sân cỏ mà vẫn được xem như có trí tuệ hình thể -động năng anh ta có thể nếu dệt một tấm thảm hoặc tạo ra một bàn cờ khảm sắc.”
Mô hình cấu trúc đa trí tuệ nhấn mạnh đến tính đa dạng, phong phú của cácphương thức biểu lộ năng khiếu trong hoặc giữa các trí tuệ khác nhau
4 Các loại trí thông minh trong mô hình cấu trúc đa trí tuệ của H Gardner
Trang 11Năm 1983 Howard Gardner đưa ra học thuyết về Trí thông minh đa dạnggồm 7 trí thông minh Năm 1996 ông tiếp tục đưa ra thêm Trí thông minh về tựnhiên Theo Howard Gardner, trí thông minh của mình theo 8 cách khác nhau
và học theo cách tốt nhất như thế nào Hiện tại đang xem xét kết nạp thêm dạngthông minh thứ 9: Thông minh Sinh tồn (Existentialist Intelligence)
Trong phạm vi nghiên cứu của tiểu luận có nêu lên 8 loại hình trí thôngminh được vận dụng nhiều vào giáo dục
a, Thông minh ngôn ngữ
Thông minh ngôn ngữ bao
gồm khả năng nói và viết, khả
năng học ngôn ngữ và sử dụng
ngôn ngữ để đạt được mục tiêu Trí
thông minh này bao gồm cả khả
năng sử dụng ngôn ngữ hiệu quả
để thể hiện bản thân bằng hùng
biện hoặc qua thi ca; hoặc có thể dùng ngôn ngữ để nhớ thông tin Các nhàvăn, nhà thơ, luật sư và diễn giả là những người mà theo Howard Gardner cótrí thông minh ngôn ngữ tốt
b, Thông minh logi-toán học
Thông minh logi-toán học bao gồm khả năng phân tích các vấn đề một cáchlogic, thực hiện các hoạt động liên quan đến toán học tốt, xem xét các vấn đề rấtkhoa học Theo Howard Gardner thì những người có trí thông minh này có khảnăng phát hiện, suy diễn ra các trình tự, lý do và tư duy logic tốt, cách tư duytheo dạng nguyên nhân-kết quả Trí thông minh này có mối liên quan chặt chẽvới những ý tưởng khoa học và toán học, khả năng sáng tạo các giả thuyết, tìm
ra các mô hình số học hoặc quy tắc dựa trên các khái niệm, đồng thời yêu thíchcác quan điểm dựa trên lý trí trong cuộc sống nói chung
c, Thông minh về âm nhạc
Thông minh về âm nhạc bao gồm các kỹ năng biểu diễn, sáng tác, và cảm
nhận âm nhạc Thông minh âm nhạc thúc đẩy khả năng nhận biết và sáng tác âm
Trang 12điệu, cao độ và nhịp điệu Theo Howard Gardner thông minh âm nhạc song songvới thông minh về ngôn ngữ Ngoài ra, trí thông minh về âm nhạc còn có trongtiềm thức của bất cứ cá nhân nào, miễn là người đó có khả năng nghe tốt, có thểhát theo giai điệu, biết dành thời gian cho âm nhạc và nghe được nhiều tiết mục
âm nhạc khác nhau với sự chính xác và sáng suốt của các giác quan
d, Thông minh về thể chất
Thông minh về thể chất là khả năng sử dụng cơ thể hoặc một phần cơ thểcon người để giải quyết vấn đề, bao gồm cả khả năng của trí não điều khiểncác hoạt động đó Howard Gardner thấy rằng có sự liên hệ giữa hoạt động củatrí óc và hoạt động thể chất Các vận động viên thể thao, những người làmnghề thủ công, những thợ cơ khí và các bác sĩ phẫu thuật là những người sởhữu khả năng này của tư duy Những người thuộc loại tài năng này rất khéoléo và thành công trong nghề thêu may, nghề thợ mộc hay nghề tạo mẫu.Hoặc họ có thể ham thích và theo đuổi những hoạt động của cơ thể như đi bộđường dài, khiêu vũ, chạy bộ, cắm trại, bơi lội hoặc đua thuyền Họ là nhữngngười thực hành, nhạy cảm, thường xuyên muốn vận động cơ thể của họ và
có “phản ứng bản năng” với các tình huống, sự vật
e, Thông minh về không gian
Thông minh về không gian có liên quan đến suy nghĩ bằng hình ảnh, hình
tượng và khả năng cảm nhận, chuyển đổi và tái tạo lại những góc độ khác nhaucủa thế giới không gian trực quan Những người sở hữu loại trí thông minh vềkhông gian ở mức độ cao thường có sự nhạy cảm sắc bén với những chi tiết cụthể trực quan và có thể hình dung được một cách sống động, vẽ ra hay phác họanhững ý tưởng của họ dưới dạng hình ảnh, đồ họa, cũng như họ có khả năng tựđịnh hướng bản thân trong không gian 3 chiều một cách dễ dàng
g, Thông minh về giao tiếp xã hội
Đây là năng lực hiểu và làm việc được với những người khác Đặc biệt là
có khả năng cảm nhận và dễ chia sẻ với tâm trạng, tính cách, ý định và mongmuốn của những người khác Một cá nhân có trí thông minh về giao tiếp có thểrất giàu lòng trắc ẩn và đầy tinh thần trách nhiệm đối với xã hội, hoặc là người