1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cấu trúc nhân cách, vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện nhân cách người quân nhân hiện nay

22 197 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 143,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghiên cứu nhân cách, vấn đề cấu trúc nhân cách luôn là vấn đề trung tâm, bởi nó chỉ ra những yếu tố mang tính chất đối ổn định trong tâm lý con người, và chỉ ra cách mà các yếu tố này liên kết với nhau, tác động qua lại với nhau và chi phối hành vi của con người.Trong tâm lí học có rất nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc tâm lí của nhân cách, mà nguyên nhân chủ yếu của sự khác nhau ấy là các cơ sở lí thuyết để xây dựng cấu trúc, mỗi mô hình đó đều gắn với mục đích và nhiệm vụ cụ thể mà nhà nghiên cứu giải quyết. Nghiên cứu, làm rõ cấu trúc của nhân cách là cơ sở để các nhà nghiên cứu đưa ra các định hướng, chiến lược và biện pháp can thiệp, tạo ra những thay đổi trong tâm lý và hành vi cá nhân. Đối với hoạt động quân sự, nghiên cứu làm rõ cấu trúc nhân cách con người mà cụ thể là các thuộc tính tâm lý cũng như vai trò mối quan hệ giữa các thuộc tính trong cấu trúc nhân cách, là cơ sở ...

Trang 1

MỞ ĐẦU

Nhân cách là tổng hòa các phẩm chất xã hội, được cá nhân lĩnh hội trong hoạt động và giao tiếp, phản ánh giá trị xã hội của cá nhân trong cộng đồng.Nhân cách là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng mối quan hệ giữa con người với con người.Trong cuộc sống, nhân cách tạo nên tư cách chủ thể của cá nhân trong hoạt động và quan hệ xã hội, nhân cách là đặc trưng của từng

cá nhân, là bản chất thực của con người Nhân cách càng phát triển thì con người càng có khả năng hoạt động một cách độc lập, chủ động và mở rộng các quan hệ xã hội

Trong nghiên cứu nhân cách, vấn đề cấu trúc nhân cách luôn là vấn đề trungtâm, bởi nó chỉ ra những yếu tố mang tính chất đối ổn định trong tâm lý con người,

và chỉ ra cách mà các yếu tố này liên kết với nhau, tác động qua lại với nhau và chiphối hành vi của con người.Trong tâm lí học có rất nhiều quan niệm khác nhau vềcấu trúc tâm lí của nhân cách, mà nguyên nhân chủ yếu của sự khác nhau ấy là các

cơ sở lí thuyết để xây dựng cấu trúc, mỗi mô hình đó đều gắn với mục đích vànhiệm vụ cụ thể mà nhà nghiên cứu giải quyết Nghiên cứu, làm rõ cấu trúc củanhân cách là cơ sở để các nhà nghiên cứu đưa ra các định hướng, chiến lược vàbiện pháp can thiệp, tạo ra những thay đổi trong tâm lý và hành vi cá nhân

Đối với hoạt động quân sự, nghiên cứu làm rõ cấu trúc nhân cách con người

mà cụ thể là các thuộc tính tâm lý cũng như vai trò mối quan hệ giữa các thuộc tínhtrong cấu trúc nhân cách, là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện mô hình nhân cáchcủa người quân nhân cách mạng đáp ứng với yêu câu của sự nghiệp xây dựng, bảo

vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Với những ý nghĩa đó, tôi chọn chủ đề:“Một số quan điểm tâm lý học về cấu trúc nhân cách, vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện nhân cách người quân nhân hiện nay” làm nội dung viết thu hoạch.

I Một số quan điểm tâm lý học về cấu trúc nhân cách

Trang 2

Xuất phát từ quan điểm, cách thức tiếp cận khác nhau mà các nhà tâm lý học

đề xuất các mô hình cấu trúc nhân cách khác nhau Trong đó, các nhà tâm lý họcphương Tây có xu hướng cụ thể hóa trong xác định các mô hình nhân cách, thườnggắn liền các yếu tố, các phẩm chất cụ thể Ngược lại, các mô hình cấu trúc nhâncách trong tâm lý học Xô Viết thường mang tính tổng thể, hệ thống và mối quan hệgiữa các yếu tố trong hệ thống, cụ thể là:

1 Quan điểm của tâm lý học ngoài Mác xít về cấu trúc nhân cách

* Quan điểm của Hippocrate: Con người có 4 thể dịch cơ bản (máu, đờm dãi, mật đen và mật vàng) tương ứng với 4 loại tính khí (khí chất) Nhân cách của một người tùy thuộc vào tính khí (khí chất) nào chiếm ưu thế, có nghĩa là tùy thuộc vào lượng thể dịch nào trong cơ thể chiếm tỷ lệ nhiều nhất.

Khí chất Hăng hái Điềm đạm Nóng nảy Ưu tư

Biểu hiện Vui vẻ, chủ động Vô cảm, uể oải Cáu kỉnh và

hưng phấn Buồn rầu, ủ rũ

* Thuyết nhân cách của H.J.Eysenck

Theo H.J.Eysenck, nhân cách có 3 bình diện: hướng ngoại, nhiễu tâm (ổnđịnh hay không ổn định và loạn tâm (tư duy thực tiễn hay không thực tiễn) Sựkhác biệt nhân cách dựa trên 3 bình diện này là do sự khác biệt về gien sinh họccủa mỗi người

* Quan điểm của Sigmund Freud

Cấu trúc: Theo ông tâm lý con người được tạo bởi ba khối: Vô thức, ý thức vàsiêu thức (Khối vô thức là khối bản năng, trong có bản năng tình dục giữ vị trítrung tâm) Ứng với 3 khối đó là cái ấy, tôi, siêu tôi Sự tác động lẫn nhau giữa 3khối này tạo nên nhân cách, nói cách khác nhân cách gồm 3

Cái "ấy" là con người bản năng, hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn

Cái "tôi" là con người của hiện thực, được hình thành do áp lực thực tại bên ngoài, đến toàn bộ khối bản năng Nó bảo đảm các chức năng tâm lý như chú ý, trí nhớ Hoạt động của cái tôi theo nguyên tắc thực tại

Trang 3

Cái "siêu tôi": là con người xã hội, là những chế ước xã hội: đạo đức, nghệthuật, giáo dục, tôn giáo… Siêu tôi hoạt động theo nguyên tắc kiểm duyệt

Cả 3 khối này theo nguyên tắc chung là ở trạng thái thăng bằng tương đối.Con người lúc ấy ở trạng thái bình thường Nhưng cả 3 khối này luôn luôn xungđột với nhau, sự xung đột này là cơ chế của hoạt động tâm thần Từ đó Freud nêu

ra cơ chế hoạt động tâm lý của con người Đó là cơ chế kiểm duyệt, chèn ép, cơchế biến dạng, cơ chế siêu thăng, cơ chế suy thoái

Động lực: động lực của sự phát triển nhân cách là mâu thuẫn xung đột nộitâm, tuy chưa đưa ra khái niệm động cơ

Các giai đoạn: Ông cũng là người đưa ra 5 giai đoạn phát triển nhân cách theolứa tuổi

Miệng: Sơ sinh đên 1 tuổi

Hậu môn: 1 - 3 tuổi

do Tuy nhiên tuyệt đối hóa vô thức, sinh lý và không quan tâm gì đến yếu tố xãhội, không thấy được bản chất xã hội lịch sử của tâm lý người Con người ở đây làcon người sinh vật

* Quan điểm Phân tâm học mới

Do hạn chế mà những người cộng tác và học trò của ông đã rời bỏ F và hìnhthành nên những học thuyết phân tâm học mới theo các hướng khác nhau, tiêu biểulà: K.Jung; A.Adler; Erich Fromm… Theo những hướng này, có cả yếu tố ý thức,

xã hội… song về cơ bản vẫn là phân tâm

* Quan điểm của Karl Jung về nhân cách.

Trang 4

Về vô thức: ông phê phán lập trường của Freud về vô thức Ông cho rằnghành vi con người được điều chỉnh bằng vô thức cả ý thức Đó là quá trình điềuchỉnh tổng hợp, là một hệ thống tự điều chỉnh.Ý thức được hiểu là mối quan hệ củanội dung cái tôi Ý thức không đồng nhất với tâm lý mà còn có vô thức nữa Vôthức là hiện tượng được thể hiện ở sự quên, những kinh nghiệm đã được xác địnhtrước đây bị ức chế, che lấp chưa trở về được với ý thức.

Jung không thừa nhận bản năng tình dục của Freud là quyết định tâm lý conngười Nhưng ông lại thừa nhận trong con người có vô thức như Freud đã quanniệm Vì vậy, về bản chất học thuyết của Jung vẫn là học thuyết phân tâm được cảibiên thành học thuyết phân tâm học mới

Cấu trúc nhân cách theo Jung:

-Thế giới bên ngoài

Qua cấu trúc này, cái tôi là trung tâm của ý thức Nhân cách là người mẹ của

ý thức và vô thức là mẹ của tâm lý tập thể và tâm lý cá nhân

Về nhân cách Jung cho rằng con người có 3 lớp vô thức Những vô thức nàychi phối số phận con người trong việc chọn lựa tình yêu, bạn bè, nghề nghiệp,trong ốm đau, chết chóc

Lớp thứ nhất là vô thức cá nhân thể hiện trong cuộc sống hàng ngày

Lớp thứ hai là vô thức gia đình thể hiện trong động lực gây ra đồng tính luyến

ái vô thức và sự trỗi dậy của bản năng

Trang 5

Lớp thứ ba là vô thức tập thể xuất phát từ hình tượng cổ sơ có nguồn gốc vănhóa chủng tộc.

Quan điểm của Jung về nhân cách còn gọi là lý luận nhân cách tầng sâu Lýluận nhân cách tầng sâu xuất phát từ quan niệm vô thức Vô thức được xác địnhbằng những sự kiện của hành vi Những nét nhân cách và sự hư hỏng nhân cách là

do xung đột có tính chất bản năng của hành vi Đó là những bản năng trực tiếp vàbản năng tức thời Lý luận nhân cách tầng sâu là một khám phá mới về vô thức.Song điều này chưa đủ để nói lên bộ mặt nhân cách con người Nhân cách con ngườicòn thể hiện ở những phẩm chất khác như năng lực, khí chất cũng như bộ mặt đạođức trong nhân cách con người Những cái này Jung chưa đi sâu nghiên cứu

* Quan điểm của Alfred Adler (1870 - 1937:

Ông cho rằng tất cả hành vi của con người đều chịu ảnh hưởng của xã hội.Nhân cách thống nhất với hoàn cảnh và môi trường xã hội Trong tư tưởng cơ bảncủa ông vẫn là vô thức bản năng hay là năng lượng tâm hồn là những cơ chế củatính tích cực, của xung đột và là cơ chế bảo vệ Về quan niệm nhân cách, ông chorằng "Đời sống tâm hồn của con người là mục đích đã vạch sẵn"

Tính mục đích có các hình thức sau đây: Tính sinh vật có chức năng bẩmsinh Tính xã hội là hiện tượng đời sống có ảnh hưởng đến cộng đồng, mang tìnhcảm xã hội Tính hợp lý đối với ý thức đối với hành động có kế hoạch của conngười Những mục đích này định hướng hành vi hoạt động của con người Trong

đó chức năng tâm hồn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nhân cách Nó

là cơ quan bảo đảm sự thích ứng của con người trong xã hội

Ông đề ra nhân cách kém cỏi và sự cố gắng bù trừ Theo ông con người baogiờ cũng cảm thấy mình kém cỏi có những thiếu sót và phải cố gắng bù đắp nhữngthiếu sót đó Trong cuộc sống con người luôn luôn muốn mình hơn người khác: cốgắng vươn lên Sự cố gắng vươn lên đó có người vượt quá mức tạo thành siêu việthơn người Con người còn có sự bù trừ siêu đẳng Khi có nhược điểm trong lĩnhvực này lại thành siêu đẳng trong lĩnh vực khác Ví dụ một cô gái kém cỏi về nhansắc thì lại bù trừ trong lĩnh vực học hành Cơ chế bù trừ của Adler khác với cơ chế

bù trừ ở Freud là ở chỗ sự bù trù trong quan niệm của Freud xuất phát từ động cơ

Trang 6

tình dục, còn bù trừ của Adler xuất phát từ động cơ xã hội Sự bù trừ là có thật trongđời sống con người Nhưng sự bù trừ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố

xã hội có tính chất quyết định Ở đây Adler quá thổi phồng tính chất bù trừ trong đờisống con người, mà không thấy vai trò hoạt động con người trong xã hội

* Quan điểm của Erich Fromm.

Một trong những nhà tâm lý học nổi tiếng hiện nay theo xu hướng Freud mới

là Erich Fromm (1901) E.Fromm sinh ở Phrăngphuốc (đầu thế kỷ 20) sau sang

Mỹ, trở thành nhà phân tâm học Mỹ Ông có ý đồ pha trộn phân tâm học của Freud

và học thuyết xã hội học của Mác vào nhau là xây dựng nên lý thuyết "chủ nghĩanhân đạo mới" Ông cho rằng Mác và Freud đều vẽ nên một mẫu người trong xãhội tư bản Trong xã hội này con người làm ra máy móc, và đồng thời con ngườicũng hoạt động như một cái máy Chính vì vậy trong xã hội đó con người không cónguồn vui thật sự, con người không có tình cảm, không có lý trí và không có tìnhyêu Ông tìm thấy con người tự do trong nhân cách của Freud và con người tự dotrong xã hội của Mác Về tâm lý học, Froom cho rằng cơ chế tự nhiên và xã hộitrong con người là vô thức, đó là cái phi lý, hạt nhân của nhân cách Nó biểu hiện

sự mong muốn vươn tới cái hài hòa toàn diện của con người Ông cho rằng nhucầu tạo ra cái tự nhiên trong con người Những nhu cầu đó là:

- Nhu cầu quan hệ giữa người và người;

- Nhu cầu tồn tại "cái tâm" con người;

- Nhu cầu về sự bền vững và hài hòa;

- Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, với giai cấp, với tôn giáo;

- Nhu cầu nhận thức, nghiên cứu

Những nhu cầu này là thành phần tạo nên nhân cách Bên cạnh thừa nhận cái

tự nhiên trong con người, ông còn nói đến yếu tố xã hội Song trong xã hội có cácnhóm, các thành phần song song với nhau Ví dụ, gia đình song song với xã hội,nhân cách song song với tiến bộ xã hội Chính vì vậy ông cho rằng tiến bộ xã hội

là do tâm lý con người

Ông không chỉ nghiên cứu về con người mà còn nghiên cứu môi trường xã

Trang 7

hội Nhưng lý luận xã hội của ông đã trở thành lý luận không tưởng Ông vẽ ra môhình con người mới giữa các đặc điểm sau: Con người mới phải từ bỏ vật chất đểsống thanh thản Con người phải làm cho cuộc đời có ý nghĩa Phải có lòng yêuthương và trân trọng cuộc sống Phải trau dồi tình yêu thương vốn có Phải khắcphục được tính tự yêu mình và chấp nhận tính chất hạn chế trong cuộc sống conngười Tất cả những đặc điểm này thật đáng quý nhưng đó chỉ là con người trừutượng chung chung không thể thực hiện trong xã hội tư bản.

Cái sai của Fromm là dung hòa giữa chủ nghĩa Freud và chủ nghĩa Mác Sựthật không thể có cơ sở tự nhiên nào do Freud tạo ra làm cơ sở cho chủ nghĩa Mác.Đồng thời sự tiến bộ xã hội do động lực kinh tế quyết định chứ không do yếu tốtâm lý nào như Fromm đã giải thích

* Quan điểm của Tâm lý học nhân văn

Tâm lý học nhân bản ra đời ở Mỹ như là một khuynh hướng đối lập với tâm

lý học hành vi và phân tâm học Nếu tâm lý học hành vi và phân tâm tuyệt đối hóayếu tố môi trường, sinh vật, quan niệm con người như những chiếc máy, khôngphân biệt con người hay con vật thì Tâm lý học nhân văn tiếp cận nghiên cứu nhâncách một cách nhân văn hơn Trường phái này là sự tổng hợp nhiều khuynh hướngmới và nhiều trường phái tư tưởng khác nhau Nhưng những nhà tâm lý nhân vănđều có chung những tư tưởng là tôn trọng con người, tôn trọng giá trị sáng tạo, vàtrách nhiệm con người, tôn trọng các phẩm giá cá nhân con người

Tiêu biểu là Maslow - chủ tịch hội tâm lý nhân văn đầu tiên ở Mỹ

Về nhân cách ông đưa ra hệ thống nhu cầu, quá trình nhận thức, triệu chứngnhân cách và năng lực Tất cả những yếu tố này tạo nên động lực thúc đẩy hành vicon người Động cơ thúc đẩy mạnh mẽ nhất là nhu cầu Theo ông có thể chia ranăm loại nhu cầu:

Nhu cầu sinh lý: như nhu cầu thỏa mãn đói, khát, sinh dục, những nhu cầunày có tính chất bản năng, có cả ở động vật

Nhu cầu an toàn: nhu cầu về sự yên ổn, trật tự và an ninh

Nhu cầu yêu thương, nhu cầu lệ thuộc

Nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu thành đạt, kết quả, nhu cầu về niềm tin

Trang 8

Nhu cầu tự khẳng định, tự thực hiện như nhu cầu sáng tạo, nhu cầu hiểu biết,nhu cầu tri thức, nhu cầu nghệ thuật.

Các loại nhu cầu này được chia làm nhu cầu cấp thấp và nhu cầu cấp cao.Những nhu cầu này xuất hiện theo thứ tự trong quá trình phát triển chủng loài,cũng như phát triển của cá nhân Đồng thời đây cũng là thứ tự thỏa mãn các nhucầu đó Nếu nhu cầu cấp thấp không thỏa mãn thì nhu cầu cấp cao cũng không thểthực hiện được Nhu cầu tự thực hiện là nhu cầu cao nhất nhằm phát triển tiềmnăng của cá nhân

Nhu cầu này khác nhau ở mỗi người bởi vì mỗi người đều có tiềm năng riêngkhác nhau Có người có nhu cầu tự thực hiện trên lĩnh vực văn chương, người khácthì có nhu cầu lãnh đạo, v.v Những nhu cầu này không bị sự kiểm soát của xãhội Nhưng không phải ai cũng thực hiện được nhu cầu này, bởi vì còn những nhucầu khác chưa thực hiện được

Maslow cho rằng tính xã hội nằm trong bản năng của con người Các nhu cầuđều dựa trên cơ sở di truyền nhất định Chính vì vậy, học thuyết nhu cầu củaMaslow có điểm giống học thuyết S Freud

2 Quan điểm của tâm lý học Mác xít về cấu trúc nhân cách

* Quan điểm của A.N.Leonchiev

Nhà tâm lý học Nga kiệt xuất đã từng giữ chức Phó chủ tịch hội Tâm lý thếgiới Ông đã đưa ra lý thuyết hoạt động để giải quyết vấn đề tâm lý học, được giớitâm lý học đánh giá cao Về mặt nhân cách ông cũng có những quan điểm mới mẻ.A.N Leonchiev coi nhân cách như một cấu tạo tâm lý mới, được hình thành trong

các quan hệ sống của cá nhân do kết quả hoạt động cải tạo của người đó Nó là một

cấu tạo đặc biệt có tính trọn vẹn Nhân cách là sản phẩm tương đối muộn của sựphát triển xã hội lịch sử và của sự tiến hóa cá thể của con người Nó là kết quả củaquá trình chín muồi của những nét bẩm sinh dưới tác động của môi trường xã hội.Khái niệm nhân cách thể hiện tính chỉnh thể của chủ thể cuộc sống

Hoạt động là cơ sở của nhân cách Ông cho rằng muốn hiểu nhân cách phảidựa vào hoạt động của chủ thể để phân tích.Việc nghiên cứu nhân cách phải xuấtphát từ sự phát triển của hoạt động, những loại hình cụ thể của hoạt động và mối

Trang 9

liên hệ của nhân cách đó với những người khác Nền tảng của nhân cách là sựphong phú của mối quan hệ giữa cá nhân vơi thế giới.Trong mối quan hệ này conngười phải hoạt động bao gồm hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn.

Nhu cầu và động cơ: Hoạt động - Nhu cầu - Hoạt động A N Leonchiev chia

ra 2 loại động cơ: Động cơ tạo ý và động cơ kích thích - Động cơ tạo ý gắn liền vớinhân cách Cấu trúc của nhân cách là một chỉnh thể tương đối ổn định bao hàmtrong mình một hệ thống thứ bậc các động cơ chủ yếu Các tiểu cấu trúc của nhâncách bao gồm: tính khí (khí chất), nhu cầu, ý hướng, rung cảm và hứng thú, tâmthể, kỹ xảo, thói quen, phẩm chất đạo đức Hình thành nhân cách là một quá trìnhgiáo dục có định hướng và tương ứng với quá trình giáo dục đó là hành động chủthể Sự hình thành nhân cách là một quá trình liên tục gồm các giai đoạn tuần tựthay thế nhau, làm thay đổi tiến trình sự phát triển tâm lý sau này Trước hết, đó là

sự cải tổ phạm vi quan hệ với những người khác, với xã hội và kèm theo đó là sựcải tổ thứ bậc động cơ Sự hình thành nhân cách là một quá trình riêng không trùngkhớp với quá trình biến đổi các thuộc tính tự nhiên của cơ thể Con người trở thànhnhân cách khi là chủ thể của các mối quan hệ nhân cách

* Quan điểm của X.L Rubinstein

Nhân cách là cá nhân cụ thể lịch sử sinh sống gắn với quan hệ thực tế trongthế giới hiện thực Nhân cách ở đây được hiểu là các đặc điểm cá thể riêng từngngười Rubinstêin coi nhân cách là bộ máy điều chỉnh toàn bộ hệ thống thân thểcon người nói chung, gắn liền với khái niệm đường đời Nhân cách cũng được hiểu

là khả năng con người điều khiển các quá trình hay thuộc tính tâm lý của bản thân,hướng chúng vào giải quyết các nhiệm vụ đặt ra cho bản thân Từ đó muốn hiểunhân cách là gì phải xem con người mang nhân cách ấy có xu hướng gì, có khảnăng đáp ứng mong muốn đó không X.L.Rubinstein khẳng định: con người chỉ lànhân cách khi có ý thức xác định các quan hệ đối với môi trường của mình, khi cómột diện mạo riêng

Cấu trúc: Gồm ý thức của chủ thể và các thái độ: thái độ đối với thế giới xungquanh, thái độ đối với người khác và thái độ đối với bản thân Cụ thể là những thànhphần: hứng thú, sự đam mê, tâm thế tạo nên các xu hướng, lý tưởng của nhân cách

Trang 10

Vì vậy, ông cho rằng, nghiên cứu nhân cách là nghiên cứu tự ý thức của nhân cách,nghiên cứu “cái tôi” như là chủ thể nắm lấy tất cả cái gì con người làm ra, có tráchnhiệm của bản thân đối với tất cả các sản phẩm vật chất mà mình tạo ra Ru đi từcác phạm trù tinh thần, ý thức, chủ thể… đến phạm trù nhân cách, coi nhân cách làcác trải nghiệm và đi vào vấn đề hình thành, phát triển nhân cách trong hoạt động.Rubinstein đã nhấn mạnh tính chất sđặc thù của riêng từng nhân cách, nói lên xuhướng riêng của người ấy, bao gồm ý hướng, ý muốn của từng người, năng lực củatừng người, bản tính của nó.

Quan điểm của B.G Ananhiep

B G Ananiev là nhà tâm lý học xuất sắc của Liên Xô đã có nhiều đóng gópcho sự phát triển tâm lý học B.G.Ananhiep đã xuất phát từ những khái niệm cáthể, chủ thể, khách thể, hoạt động, cá nhân để giải quyết vấn đề nhân cách Ôngcho rằng nhân cách là cá thể có tính chất xã hội, là khách thể và chủ thể của từngbước tiến lịch sử Nhân cách không tồn tại ngoài xã hội, không tồn tại ngoài lịch

sử Vì thế việc nghiên cứu nhân cách phải nghiên cứu lịch sử cá nhân Con đường

cơ bản của việc nghiên cứu nhân cách là nghiên cứu tính chất lịch sử, tính chất xãhội, tính chất tâm lý - xã hội của nhân cách Sự phong phú của mối quan hệ xã hộicủa cá nhân đã tạo nên những đặc điểm của nhân cách

Cấu trúc nhân cách được dần dần hình thành trong quá trình cá nhân hoạtđộng trong mối quan hệ xã hội Ông đưa ra cấu trúc nhân cách theo hai nguyên tắc:Nguyên tắc thứ bậc và nguyên tắc phối hợp Nguyên tắc thứ bậc là sự sắp xếp đặcđiểm xã hội chung nhất quy định những đặc điểm tâm sinh lý Nguyên tắc phốihợp là sự tác động qua lại giữa các thành phần độc lập tương đối và thành phầnphụ thuộc Theo B.G.Ananhiep, để nghiên cứu con người với tư cách là nhân cáchphải nghiên cứu xu hướng, tính cách, hành vi xã hội, động cơ hành vi, cấu trúcnhân cách, vị thế nhân cách, con đường sống của nhân cách trong xã hội Điều nàyđòi hỏi các nhà khoa học, tâm lý học, xã hội học, giáo dục học, đạo đức học phảiquan tâm nghiên cứu

Ananhiep coi con người là tiểu vũ trụ Điều này rất tương đồng với quan niệmphương Đông về con người Con người là tinh hoa của vũ trụ, trong con người có

Trang 11

đại diện của quy luật vũ trụ Luận điểm nghiên cứu nhân cách là tổng hợp các khoahọc nghiên cứu về con người là một đóng góp quan trọng trong việc chỉ hướngnghiên cứu nhân cách Nghiên cứu nhân cách không tách rời việc nghiên cứu conngười và các khoa học khác nghiên cứu về con người.

* Quan điểm của K.K Platonov

K.K Platonov là nhà tâm lý học nổi tiếng ở Liên Xô (cũ) Về tâm lý học ông

có những đóng góp xuất sắc Về khái niệm nhân cách: Trên cơ sở nhận xét và phêphán các định nghĩa về nhân cách ông đưa ra định nghĩa nhân cách như sau: "Nhâncách đó là một con người cụ thể như là một chủ thể cải tạo thế giới trên cơ sở nhậnthức, thể nghiệm thế giới, trên cơ sở quan hệ với thế giới đó" Ta có thể diễn đạt tưtưởng đó ngắn gọn hơn, "Nhân cách đó là con người mang ý thức" Ý thức khôngphải là một thực thể thụ động mà là một hình thức phản ánh bậc cao chỉ có ởngười Đứa trẻ mới ra đời chưa có ý thức và chưa có nhân cách Nhân cách sẽ hìnhthành trong giao tiếp với người khác Ông cho rằng không thể xác định được lúcnào thì con người hình thành nhân cách

Phân loại: Có nhân cách tiến bộ và nhân cách phản động, nhân cách lànhmạnh và nhân cách ốm yếu

Cấu trúc: Ông đưa ra cấu trúc tâm lý chức năng cơ động của nhân cách gồmbốn tiểu cấu trúc:

Tiểu cấu trúc thứ nhất là xu hướng (lý tưởng, thế giới quan, niềm tin…)

Tiểu cấu trúc 2 là kinh nghiệm (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen) do GDTiểu cấu trúc thứ 3 cấu trúc nhỏ thứ ba là các quá trình tâm lý, do luyện tập.Tiểu cấu trúc thứ 4 là các thuộc tính sinh học quy đinh nhân cách (khí chấtgiới tính, lứa tuổi, bệnh lý…)

Ngoài 4 cấu trúc nhỏ trên còn có 2 cấu trúc nằm trên 4 cấu trúc đó là tính cách

và năng lực Cấu trúc này có tính cơ động vì nó không cố định ở một nhân cách cụthể, nó thay đổi từ lúc đứa trẻ có nhân cách đến chế Tính cách cũng như năng lực

là tổng hoà các thuộc tính cá nhân trong 4 tiểu cấu trúc Tính cách và năng lực cánhân tương hỗ với nhau Trong một mức độ nào đó, năng lực biểu hiện ra và trởthành tính cách

Ngày đăng: 30/03/2021, 09:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w