1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng công tác xã hội hóa chăm sóc Người có công tại phường Đề Thám Thị xã Cao Bằng Tỉnh Cao Bằng

113 3K 21
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng công tác xã hội hóa chăm sóc Người có công tại phường Đề Thám Thị xã Cao Bằng Tỉnh Cao Bằng
Tác giả Hoàng Thúy Hằng
Người hướng dẫn Th.sỹ Nguyễn Thị Vân
Trường học Trường Đại học Lao động Xã hội
Chuyên ngành Công tác xã hội
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Cao Bằng
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. LỜI MỞ ĐẦU1. Lý do lựa chọn đề tàiLịch sử Việt Nam trải qua hàng ngàn năm chống giặc ngoại xâm để dựng nước và giữ nước. Trong các cuộc đấu tranh cách mạng ấy có biết bao người con đất Việt đã anh dũng chiến đấu không quản gian khó hi sinh một phần xương máu và thậm chí là cả cuộc đời mình để viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc và bảo vệ cho tổ quốc.Cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước đã lùi sâu vào quá khứ nhưng những hậu quả để lại cho đất nước, cho người dân Việt Nam là quá lớn. Nó không chỉ tàn phá nặng nề nền kinh tế vốn đã nghèo nàn và lạc hậu của nước ta, mà những vết tích của chiến tranh vẫn còn theo mãi với những người con ưu tú của dân tộc. Đó là những thương tật, bệnh tật mà họ sẽ phải sống và mang trên mình suốt phần đời còn lại, nó ảnh hưởng đến mọi khía cạnh đời sống của những người có công. Tuy nhiên, những tổn hại về kinh tế - xã hội vẫn có thể vựng dậy sau chiến tranh, nhưng những nỗi đau của con người thì không gì có thể bù đắp hết. Bởi nhiều gia đình đã khó khăn nay lại càng khó khăn hơn khi mất đi người thân, người trụ cột trong gia đình, họ ra đi và mãi mãi không bao giờ có thể trở lại, và còn nỗi đau nào hơn khi hàng ngày phải chứng kiến những đứa con thân yêu quoằn quoại trong nỗi đau thể xác, đó là những đứa trẻ bị tật nguyền dị dạng, dị tật, những nạn nhân chất độc màu da cam… Công lao của những người đã quyên mình vì nước ấy sẽ mãi mãi được lưu danh, ghi nhớ. Bởi vậy, Chăm lo mọi mặt đời sống người và gia đình người có công với cách mạng vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ của Đảng, Nhà nước vừa là trách nhiệm, tình cảm của nhân dân ta.Trong công cuộc đổi mới hiện nay, dù nền kinh tế xã hội đã có nhiều đổi thay nhanh chóng nhưng công tác ưu đãi người có công luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo thực hiện đạt nhiều kết quả. Hiện tại cả nước đã có hơn 8 triệu người có công với cách mạng được hưởng chế độ ưu đãi một lần và hàng tháng. Trong đó, khoảng 1,5 triệu người hưởng trợ cấp hàng tháng, hàng chục nghìn con thương binh, con liệt sỹ được hưởng chế độ ưu đãi về giáo dục đào tạo, chăm sóc y tế, hơn 1000 cán bộ lão thành cách mạng được hỗ trợ cải thiện nhà ở… Cùng với các chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà nước còn có sự quan tâm hỗ trợ của cộng đồng và đặc biệt quan trọng nhất vẫn là sự nỗ lực vươn lên của đối tượng. Bởi vậy hiện nay 90% người có công với cách mạng đã có mức sống bằng hoặc cao hơn so với mặt bằng mức sống nơi cư trú. Chăm lo đời sống cho người và gia đình người có công với cách mạng cùng với nguồn kinh phí của nhà nước, các phong trào đền ơn đáp nghĩa với 5 chương trình cụ thể: chương trình xây dựng nhà tình nghĩa; tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa; chăm sóc bố, mẹ, vợ liệt sỹ già yếu con liệt sỹ mồ côi không nơi nương tựa; xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, và chương trình ổn định đời sống thương bệnh binh đã tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội. Cả nước đã cùng chia sẻ với những khó khăn chung của những người có công với cách mạng đạt nhiều kết quả, hàng năm “Qũy đền ơn đáp nghĩa” được đóng góp, xây dựng hàng tỷ đồng, hàng nghìn sổ tiết kiệm đã được trao tặng cho các gia đình chính sách còn khó khăn, hàng trăm ngôi nhà tình nghĩa được xây mới và sửa chữa... Những việc làm tình nghĩa đó đã phần nào bù đắp những mất mát hy sinh, góp phần cải thiện chất lượng đời sống cho người và gia đình người có công với cách mạng được tốt hơn.Đề Thám là một phường thuộc thị xã Cao Bằng Tỉnh Cao Bằng với số lượng dân cư tập trung tương đối đông 9.801 người, trong đó số lượng người có công là 165 người chiếm tỷ lệ 1,68%. Người dân nơi đây không chỉ kiên cường, anh dũng trong đấu tranh giải phóng dân tộc bảo vệ tổ quốc mà còn giàu truyền thống cần cù, chịu khó, biết đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, có tình nghĩa thủy chung, biết ơn những người đã “Vì nước quên thân vì dân phục vụ”. Trong những năm gần đây chính quyền, đảng bộ và nhân dân Đề Thám đã có nhiều cố gắng trong việc quan tâm, chăm lo mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần đối với người có công với cách mạng và gia đình của họ bằng nhiều việc làm thiết thực. Do vậy, đời sống của nhiều gia đình chính sách đã phần nào được ổn định và cải thiện. Song, với điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn bởi vậy việc chăm sóc, giúp đỡ mới chỉ có thể đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của người có công mà chưa thể đáp ứng những nhu cầu đa dạng khác. Do đó đẩy mạnh phong trào toàn dân chăm sóc Người có công trên địa bàn Đề Thám có ý nghĩa rất quan trọng góp phần nâng cao đời sống của người có công trên mọi phương diện. Vì những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Thực trạng công tác xã hội hóa chăm sóc Người có công tại phường Đề Thám Thị xã Cao Bằng Tỉnh Cao Bằng” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình.2. Mục đích nghiên cứu- Tìm hiểu thực trạng công tác xã hội hóa chăm sóc Người có công tại phường Đề Thám thị xã Cao Bằng Tỉnh Cao Bằng. Từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa chăm sóc Người có công.3. Khách thể nghiên cứu- Người có công với cách mạng.- Cán bộ thực hiện công tác Thương binh - xã hội- Các cán bộ cơ sở địa phương, các ban nghành đoàn thể của phường trong việc tham gia công tác xã hội hóa chăm sóc người có công.4. Đối tượng nghiên cứuNghiên cứu thực trạng công tác xã hội hóa chăm sóc Người có công với cách mạng tại phường Đề Thám thị xã Cao Bằng.5. Phạm vi nghiên cứu- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 – 2011.- Địa bàn nghiên cứu: Tại Phường Đề Thám Thị xã Cao Bằng Tỉnh Cao Bằng.- Khách thể nghiên cứu: + 30 người có công với cách mạng; + 5 cán bộ UBND phường; + 3 cán bộ tổ trưởng tổ khu phố.6. Phương pháp nghiên cứu- Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu: Các tài liệu, các nghị định, chính sách ưu đãi người có công, các tài liệu có liên quan đến công tác xã hội hóa chăm sóc người có công với cách mạng. phân tích các tài liệu, văn bản, các thông tin đã thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau. Phân tích và tổng hợp các thông tin trên cơ sở đó đưa ra các nhận xét, đánh giá.- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn sâu đối với cán bộ thương binh xã hội của phường, các cán bộ địa phương, phỏng vấn sâu đối với 1 số NCC với cách mạng tại phườngA. LỜI MỞ ĐẦU11. Lý do lựa chọn đề tài12. Mục đích nghiên cứu33. Khách thể nghiên cứu34. Đối tượng nghiên cứu35. Phạm vi nghiên cứu36. Phương pháp nghiên cứu37. Kết cấu của khóa luận4B. NỘI DUNG5Chương I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HÓA CHĂM SÓC NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG51. Khái niệm Người có công với cách mạng và các khái niệm có liên quan51.1 Khái niệm Người có công với cách mạng51.1.1. Khái niệm người có công với cách mạng theo nghĩa rộng51.1.2. Khái niệm người có công với cách mạng theo nghĩa hẹp51.2 Khái niệm xã hội hóa chăm sóc người có công với cách mạng61.2.1 Khái niệm xã hội hóa.61.2.2. Xã hội hóa chăm sóc người có công với cách mạng71.3. Các khái niệm liên quan81.3.1. Chính sách xã hội81.3.2. An sinh xã hội91.3.3. Ưu đãi xã hội102. Đặc điểm tâm lý, nhu cầu của người có công với cách mạng112.1 Đặc điểm tâm lý122.2 Nhu cầu113. Chính sách Ưu đãi xã hội đối với người có công với cách mạng134. Ý nghĩa của công tác xã hội hóa chăm sóc Người có công với cách mạng.155. Quan điểm của Đảng và Nhà Nước về công tác XHH chăm sóc Người có công17KẾT LUẬN CHƯƠNG20CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA CHĂM SÓC NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI ĐỀ THÁM - THỊ XÃ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG21I. TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU211. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội của Đề Thám ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách đối với người có công212. Một số nét đặc trưng về người có công với cách mạng tại Đề Thám242.1 Qui mô, cơ cấu đối tượng242.2 Thực trạng đời sống người có công272.2.1. Thực trạng về sức khỏe282.2.2. Thực trạng về việc làm322.2.3. Thực trạng về thu nhập342.2.4. Thực trạng về hoàn cảnh sống36II. Tình hình công tác xã hội hóa chăm sóc Người có công với cách mạng tại Phường Đề Thám Thị xã Cao Bằng381. Những hoạt động xã hội hóa chăm sóc người có công ở Phường381.1Tình hình thực hiện 5 chương trình chăm sóc, trợ giúp NCC trên địa bàn Phường391.1.1 Chương trình xây dựng nhà tình nghĩa411.1.2 Chương trình ổn định đời sống thương, bệnh binh471.1.3 Chương trình xây dựng “Quỹ đền ơn đáp nghĩa”531.1.4 Chương trình tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa571.1.5 Chương trình chăm sóc bố, mẹ, vợ liệt sỹ gìa yếu cô đơn, phụng dưỡng Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, đỡ đầu con liệt sỹ mồ côi611.2 Một số hình thức chăm sóc khác641.2.1 Mô hình vườn cây ao cá tình nghĩa641.2.2 Lồng ghép việc chăm sóc NCC với việc triển khai các chương trình dự án661.2.3 Công tác giữ gìn, bảo vệ, tu bổ các nghĩa trang Liệt sỹ, đài tưởng niệm, các di tích lịch sử cách mạng.691.2.4 Hoạt động thăm hỏi, động viên gia đình chính sách.701.2.5 Các tổ, thôn, xóm, với công tác chăm sóc người có công với cách mạng.711.3 Các ngành, đoàn thể địa phương trong công tác XHH chăm sóc NCC.........701.3.1 Nghành y tế721.3.2 Nghành giáo dục731.3.3 Các đoàn thể hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, nội nông dân tập thể, hội thanh niên học sinh732. Nguyên nhân đạt được những kết quả trên763. Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân763.1 Những vấn đề còn tồn tại763.2 Nguyên nhân78KẾT LUẬN CHƯƠNG81Chương III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC XHH CHĂM SÓC NCC Ở ĐỀ THÁM THỊ XÃ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG.82I. Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa chăm sóc NCC.821. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động832. Các ngành đoàn thể địa phương cần đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động chăm sóc người có công863. Học hỏi và nhân rộng các mô hình chăm sóc người có công với cách mạng có hiệu quả trong và ngoài Tỉnh874. Cần đẩy mạnh phong trào xã phường làm tốt công tác chăm sóc người có công với cách mạng895. Tăng cường công tác lãnh đạo của các cấp chính quyền địa phương đối với việc chăm sóc người có công906. Nâng cao năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức cho các cán bộ làm công tác TBXH91II. Một số kiến nghị đề xuất921. Kiến nghị với Sở Lao động thương binh và xã hội Tỉnh Cao Bằng922. Kiến nghị với phòng LĐTB&XH Thị xã Cao Bằng933. Kiến nghị với UBND phường Đề Thám934. Kiến nghị đối với bản thân người có công với cách mạng93C.KẾT LUẬN95DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………….......………..97

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi;

các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị tôi nghiên cứu./.

Tác giả khóa luận

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài Khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Công tác xã hội, các thầy cô giáo bộ môn đã giảng dạy suốt 4 năm học trên giảng đường Đại học Đặc biệt, trong thời gian làm khóa luận này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô giáo Th.s Nguyễn Thị Vân – phó trưởng khoa công tác xã hội đã dành nhiều thời gian, tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho em từ khi bắt đầu cho đến khi hoàn thành bài khóa luận.

Qua đây, em xin chân thành cám ơn đến các cán bộ lãnh đạo UBND phường Đề Thám, Anh Đinh Ngọc Khuya cán bộ phụ trách công tác thương binh xã hội của Phường đã cho phép và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em đi sâu tìm hiểu nghiên cứu về công tác xã hội hóa chăm sóc người có công ở phường.

Em cũng xin chân thành cám ơn các Bác, các Cô, các Chú bên các nghành đoàn thể địa phương, các gia đình chính sách người có công với cách mạng tại phường, thương bệnh binh, gia đình liệt sỹ đã hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi cho em nghiên cứu và hoàn thành bài khóa luận.

Dù đã nỗ lực cố gắng và say mê tìm hiểu nghiên cứu nhưng do kiến thức, kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế, khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp và sự chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn.

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2012

Sinh viên thực hiện

Hoàng Thúy Hằng

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 LĐTB&XH Lao động Thương binh và Xã hội

15 ĐHLĐXH Trường Đại học Lao động Xã hội

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Qui mô, cơ cấu người có công phường Đề Thám 25Bảng 2 Vấn đề việc làm của người có công 32Bảng 3 Nguồn thu nhập khác của gia đình người có công 35Bảng 4 Tình hình xây dựng, sửa chữa nhà tình nghĩa phường

Trang 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 Tình trạng sức khỏe người có công 28Biểu đồ 2 Thái độ của các cán bộ y tế địa phương 30Biểu đồ 3 Hoàn cảnh gia đình người có công 37Biểu đồ 4 Các tổ chức cá nhân tham gia xây dựng sửa chữa nhà

Trang 6

A LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Lịch sử Việt Nam trải qua hàng ngàn năm chống giặc ngoại xâm để dựngnước và giữ nước Trong các cuộc đấu tranh cách mạng ấy có biết bao người conđất Việt đã anh dũng chiến đấu không quản gian khó hi sinh một phần xươngmáu và thậm chí là cả cuộc đời mình để viết nên những trang sử hào hùng củadân tộc và bảo vệ cho tổ quốc

Cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước đã lùi sâu vào quá khứ nhưng nhữnghậu quả để lại cho đất nước, cho người dân Việt Nam là quá lớn Nó không chỉtàn phá nặng nề nền kinh tế vốn đã nghèo nàn và lạc hậu của nước ta, mà nhữngvết tích của chiến tranh vẫn còn theo mãi với những người con ưu tú của dântộc Đó là những thương tật, bệnh tật mà họ sẽ phải sống và mang trên mình suốtphần đời còn lại, nó ảnh hưởng đến mọi khía cạnh đời sống của những người cócông Tuy nhiên, những tổn hại về kinh tế - xã hội vẫn có thể vựng dậy sauchiến tranh, nhưng những nỗi đau của con người thì không gì có thể bù đắp hết.Bởi nhiều gia đình đã khó khăn nay lại càng khó khăn hơn khi mất đi ngườithân, người trụ cột trong gia đình, họ ra đi và mãi mãi không bao giờ có thể trởlại, và còn nỗi đau nào hơn khi hàng ngày phải chứng kiến những đứa con thânyêu quoằn quoại trong nỗi đau thể xác, đó là những đứa trẻ bị tật nguyền dịdạng, dị tật, những nạn nhân chất độc màu da cam…

Công lao của những người đã quyên mình vì nước ấy sẽ mãi mãi được lưudanh, ghi nhớ Bởi vậy, Chăm lo mọi mặt đời sống người và gia đình người cócông với cách mạng vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ của Đảng, Nhà nước vừa làtrách nhiệm, tình cảm của nhân dân ta

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, dù nền kinh tế xã hội đã có nhiều đổithay nhanh chóng nhưng công tác ưu đãi người có công luôn được Đảng và Nhànước quan tâm chỉ đạo thực hiện đạt nhiều kết quả Hiện tại cả nước đã có hơn 8triệu người có công với cách mạng được hưởng chế độ ưu đãi một lần và hàngtháng Trong đó, khoảng 1,5 triệu người hưởng trợ cấp hàng tháng, hàng chụcnghìn con thương binh, con liệt sỹ được hưởng chế độ ưu đãi về giáo dục đàotạo, chăm sóc y tế, hơn 1000 cán bộ lão thành cách mạng được hỗ trợ cải thiệnnhà ở…

Trang 7

Cùng với các chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà nước còn có sự quan tâm

hỗ trợ của cộng đồng và đặc biệt quan trọng nhất vẫn là sự nỗ lực vươn lên củađối tượng Bởi vậy hiện nay 90% người có công với cách mạng đã có mức sốngbằng hoặc cao hơn so với mặt bằng mức sống nơi cư trú

Chăm lo đời sống cho người và gia đình người có công với cách mạngcùng với nguồn kinh phí của nhà nước, các phong trào đền ơn đáp nghĩa với 5chương trình cụ thể: chương trình xây dựng nhà tình nghĩa; tặng sổ tiết kiệmtình nghĩa; chăm sóc bố, mẹ, vợ liệt sỹ già yếu con liệt sỹ mồ côi không nơinương tựa; xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, và chương trình ổn định đời sốngthương bệnh binh đã tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội Cả nước đã cùngchia sẻ với những khó khăn chung của những người có công với cách mạng đạtnhiều kết quả, hàng năm “Qũy đền ơn đáp nghĩa” được đóng góp, xây dựnghàng tỷ đồng, hàng nghìn sổ tiết kiệm đã được trao tặng cho các gia đình chínhsách còn khó khăn, hàng trăm ngôi nhà tình nghĩa được xây mới và sửa chữa Những việc làm tình nghĩa đó đã phần nào bù đắp những mất mát hy sinh, gópphần cải thiện chất lượng đời sống cho người và gia đình người có công vớicách mạng được tốt hơn

Đề Thám là một phường thuộc thị xã Cao Bằng Tỉnh Cao Bằng với sốlượng dân cư tập trung tương đối đông 9.801 người, trong đó số lượng người cócông là 165 người chiếm tỷ lệ 1,68% Người dân nơi đây không chỉ kiên cường,anh dũng trong đấu tranh giải phóng dân tộc bảo vệ tổ quốc mà còn giàu truyềnthống cần cù, chịu khó, biết đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, có tìnhnghĩa thủy chung, biết ơn những người đã “Vì nước quên thân vì dân phục vụ”.Trong những năm gần đây chính quyền, đảng bộ và nhân dân Đề Thám đã cónhiều cố gắng trong việc quan tâm, chăm lo mọi mặt đời sống vật chất và tinhthần đối với người có công với cách mạng và gia đình của họ bằng nhiều việclàm thiết thực Do vậy, đời sống của nhiều gia đình chính sách đã phần nàođược ổn định và cải thiện Song, với điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khănbởi vậy việc chăm sóc, giúp đỡ mới chỉ có thể đáp ứng được những nhu cầuthiết yếu của người có công mà chưa thể đáp ứng những nhu cầu đa dạng khác

Do đó đẩy mạnh phong trào toàn dân chăm sóc Người có công trên địa bàn ĐềThám có ý nghĩa rất quan trọng góp phần nâng cao đời sống của người có côngtrên mọi phương diện

Trang 8

Vì những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Thực trạng công tác

xã hội hóa chăm sóc Người có công tại phường Đề Thám Thị xã Cao Bằng Tỉnh Cao Bằng” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình.

2 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng công tác xã hội hóa chăm sóc Người có công tạiphường Đề Thám thị xã Cao Bằng Tỉnh Cao Bằng Từ đó đưa ra một số giảipháp, kiến nghị nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa chămsóc Người có công

3 Khách thể nghiên cứu

- Người có công với cách mạng

- Cán bộ thực hiện công tác Thương binh - xã hội

- Các cán bộ cơ sở địa phương, các ban nghành đoàn thể của phườngtrong việc tham gia công tác xã hội hóa chăm sóc người có công

4 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng công tác xã hội hóa chăm sóc Người có công vớicách mạng tại phường Đề Thám thị xã Cao Bằng

5 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 – 2011

- Địa bàn nghiên cứu: Tại Phường Đề Thám Thị xã Cao Bằng Tỉnh CaoBằng

- Khách thể nghiên cứu:

+ 30 người có công với cách mạng;

+ 5 cán bộ UBND phường;

+ 3 cán bộ tổ trưởng tổ khu phố

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu: Các tài liệu, các nghị định,

chính sách ưu đãi người có công, các tài liệu có liên quan đến công tác xã hộihóa chăm sóc người có công với cách mạng phân tích các tài liệu, văn bản, cácthông tin đã thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau Phân tích và tổng hợp cácthông tin trên cơ sở đó đưa ra các nhận xét, đánh giá

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn sâu đối với cán bộthương binh xã hội của phường, các cán bộ địa phương, phỏng vấn sâu đối với 1

số NCC với cách mạng tại phường

Trang 9

- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Tiến hành phát phiếu hỏi cho 30 đốitượng người có công với cách mạng của phường Đề Thám.

- Phương pháp thống kê toán học

7 Kết cấu của khóa luận

A LỜI MỞ ĐẦU

B NỘI DUNG

Chương I Cơ sở lý luận

Chương II Thực trạng công tác xã hội hóa chăm sóc Người có công trên địa bànphường Đề Thám

Chương III Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa chăm sócNgười có công với cách mạng

C KẾT LUẬN

Trang 10

B NỘI DUNG

Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HÓA CHĂM SÓC NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG

1 Khái niệm Người có công với cách mạng và các khái niệm có liên quan

1.1 Khái niệm Người có công với cách mạng

1.1.1 Khái niệm người có công với cách mạng theo nghĩa rộng

Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước Họ có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc, phục vụ cho lợi ích của đất nước, của dân tộc (1)

Như vậy, theo khái niệm trên, người có công phải là người có đóng góp,cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc Những cống hiến đóng góp của họ

có thể là trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho tổ quốc và cũng cóthể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước

1.1.2 Khái niệm người có công với cách mạng theo nghĩa hẹp

Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời

kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận.(1)

Theo quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạngban hành ngày 29 tháng 6 năm 2005 đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi gồmngười có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng

1 Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945

2 Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trướcTổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945

3 Liệt sỹ

4 Bà mẹ Việt Nam anh hùng

5 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động

6 Thương binh, người hưởng chính sách như Thương binh

7 Bệnh binh

8 Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học

1 Giáo trình ưu đãi xã hội trường ĐHLĐXH – Th.S Bùi Thị Chớm, tr.6

Trang 11

9 Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tù đày

10 Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc vàlàm nghĩa vụ quốc tế

11 Người có công giúp đỡ cách mạng

Như vậy, Người có công bao gồm người tham gia hoặc giúp đỡ cáchmạng mà hy sinh xương máu hoặc một phần thân thể của mình hoặc cống hiến

cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng và được các cơ quan tổ chức cóthẩm quyền công nhận

Người có công được hưởng sự ưu đãi của xã hội và cộng đồng bởi họ lànhững người có thành tích hoặc đóng góp đặc biệt xuất sắc cho đất nước chodân tộc Nói cách khác, sự ưu đãi của cộng đồng và xã hội đối với người cócông có cơ sở là những cống hiến, hy sinh của họ cho đất nước Tuy nhiên,những đối tượng như nghệ sỹ nhân dân, nhà giáo nhân dân, thầy thuốc nhân dân,anh hùng lao động trong sự nghiệp xây dựng đất nước cũng là những người cóthành tích, đóng góp đặc biệt cho đất nước nhưng không phải là đối tượng chủyếu được hưởng Ưu đãi theo quy định của Pháp lệnh người có công Bởi, trongđiều kiện hiện nay đất nước ta còn nhiều khó khăn, nguồn kinh phí hạn hẹp chonên Pháp lệnh ưu đãi người có công chưa thể mở rộng phạm vi đối tượng đốivới những đối tượng này mà chỉ có thể tập trung chủ yếu vào các đối tượng đặcbiệt, đó là những người có công với cách mạng (hoặc thân nhân người có côngvới nước) đang còn chịu nhiều thiệt thòi về cả vật chất và tinh thần cần được bùđắp Hơn nữa đối với các nghệ sỹ nhân dân, nhà giáo nhân dân, hay thầy thuốcnhân dân họ cũng đã được hưởng những đãi ngộ nhất định của Nhà nước và xãhội những phần thưởng, danh hiệu vinh dự mà Nhà nước và xã hội trao tặng có

ý nghĩa, mang giá trị tinh thần nhiều hơn giá trị vật chất, mang tính suy tôn hơn

là thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ bù đắp của xã hội đối với họ

1.2 Khái niệm xã hội hóa chăm sóc người có công với cách mạng

1.2.1 Khái niệm xã hội hóa.

Xã hội hóa là một khái niệm của nhân loại học và xã hội học được định nghĩa là một quá trình tương tác xã hội kéo dài suốt đời, qua đó cá nhân phát triển khả năng con người và học hỏi các mẫu văn hóa của mình.(2)

2 Bách khoa toàn thư – Wikipedia Tiếng Việt

3 Theo nghị quyết 90/CP ban hành ngày 21 tháng 8 năm 1997

4 Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận, thực tiễn qua 20 năm đổi mới –NXB chính trị quốc gia 2005,

Trang 12

Xã hội hóa là thuật ngữ chỉ qúa trình chuyển hóa trên cơ sở cộng đồng trách nhiệm giữa Nhà nước và xã hội, theo đó Nhà nước tạo cơ chế hoạt động

tổ chức quản lý mới nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội bằng việc thu hút sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển một số lĩnh vực trong nền kinh tế xã hội của đất nước.(3)

Có thể thấy có nhiều quan điểm khác nhau về xã hội hóa và xã hội hóađược nhiều người nhìn nhận ở các khía cạnh lĩnh vực khác nhau Đây là một vấn

đề khi tổng kết thực tiễn 10 năm đổi mới Đảng ta đã khẳng định “Trên lĩnh vực văn hóa xã hội, con người về nhận thức chưa có một quan niệm thống nhất về vấn đề xã hội hóa các hoạt động dịch vụ, về công bằng và bình đẳng, về sự phân hóa giàu nghèo ở nước ta…”(4)

Từ một số quan điểm trên có thể hiểu xã hội hóa là quá trình vận động, tổchức sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, của toàn thể xã hội vào sựphát triển của một vấn đề nào đó, một việc nào đó và có sự tác động trở lại củađối tượng đó

1.2.2 Xã hội hóa chăm sóc người có công với cách mạng

Xã hội hóa chăm người có công với cách mạng là việc Nhà Nước huy

động toàn dân tham gia đền ơn đáp nghĩa, thực hiện các chính sách trợ giúp và

ưu đãi đặc biệt, cùng Đảng Nhà nước chăm lo mọi mặt đời sống người và giađình người có công Bên cạnh đó, việc toàn dân tham gia chăm sóc người cócông sẽ có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc trợ giúp từng hoàn cảnh, từng đốitượng cụ thể người có công trong chính sách ưu đãi mà Nhà nước với tính cách

là mặt bằng chung cho từng loại đối tượng không thể quán xuyến hết

Xã hội hóa chăm sóc người có công với cách mạng nhằm xây dựng cộng

đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo ra và phát triển mộtmôi trường kinh tế - xã hội lành mạnh cho các hoạt động chăm sóc người cócông Ở mỗi địa phương đây là cộng đồng trách nhiệm của Đảng bộ chínhquyền và đoàn thể, của quần chúng, của từng công dân Đồng thời cũng là tráchnhiệm nghĩa vụ, là tình cảm của các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp hỗ trợcho sự phát triển công tác đền ơn đáp nghĩa

Xã hội hóa công tác chăm sóc người có công với cách mạng là đa dạng

các hình thức chăm sóc, là đa dạng hóa các nguồn đầu tư cho sự phát triển, khaithác các nguồn lực đang tiềm ẩn trong cộng đồng xã hội Cùng với việc tăng dầnphần Ngân sách Nhà nước, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của

Trang 13

nhân dân, góp phần tạo điều kiện cho các hoạt động chăm sóc người có côngngày một phù hợp và hiệu quả hơn.

Xã hội hóa công tác chăm sóc người có công với cách mạng là huy động

mọi nguồn lực trong nhân dân, tuy nhiên không nên hiểu chỉ là biện pháp tạmthời hay là giải pháp tình thế trước mắt do Nhà nước thiếu kinh phí cho hoạtđộng chăm sóc NCC Trái lại cần phải hiểu xã hội hóa chăm sóc người có công

là một chính sách mang tính chất lâu dài, là một phương châm trong việc thựchiện chính sách ưu đãi xã hội của Nhà nước phát huy hiệu quả thế kiềng “Nhànước – cộng đồng – và người có công”, chăm lo tốt hơn đời sống vật chất cũngnhư tinh thần cho người và gia đình NCC

Thực hiện xã hội hóa chăm sóc người có công, vận động huy động sựđóng góp rộng rãi của các tầng lớp nhân dân vào công tác chăm sóc người cócông với cách mạng cũng là giải pháp quan trọng để thực hiện sự công bằng xãhội trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, đảm bảocho mọi thành viên trong xã hội được hưởng những quyền lợi xứng đáng với sự

hy sinh của họ

Thực hiện XHH chăm sóc NCC cũng cần lưu ý tới vấn đề công bằng xãhội trong việc huy động các nguồn lực của nhân dân vào các hoạt động chămsóc NCC không phải là chủ nghĩa bình quân, mà việc huy động và mức hỗ trợ

đó phải tùy thuộc theo các loại đối tượng phù hợp với điều kiện kinh tế và mứcthu nhập của họ

Như vậy, xã hội hóa chăm sóc người có công với cách mạng là tập hợpnhững hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, ban ngành, đoàn thể và của mọi cánhân trong cộng đồng với những mục tiêu cụ thể để giúp các gia đình chính sáchgiải quyết những nhu cầu bức xúc về đời sống kinh tế, hòa hợp trong tình làngnghĩa xóm đồng thời cũng tạo ra truyền thống đạo lý tốt đẹp cho con cháu thế hệsau noi theo

1.3 Các khái niệm liên quan

1.3.1 Chính sách xã hội

Chính sách xã hội là một hệ thống quan điểm, chủ trương, biện pháp dựa trên những tư tưởng, quan điểm của chủ thể lãnh đạo, được cụ thể hóa và thể chế hóa bằng pháp luật của Nhà nước để giải quyết các vấn đề xã hội phù hợp với bản chất chế độ xã hội (chính trị), phản ánh lợi ích, trách nhiệm của cộng đồng nói chung và của từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm mục đích thỏa mãn

Trang 14

những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, góp phần ổn định, an toàn xã hội, phát triển và tiến bộ xã hội.(5)3

Có thể hiểu chính sách xã hội là một hệ thống các quan điểm, chủ trương,phương hướng và biện pháp được Nhà nước thể chế hóa để giải quyết nhữngvấn đề xã hội nhất định (trước hết là những vấn đề gay cấn) nhằm góp phần ổnđịnh, an toàn xã hội, phát triển và tiến bộ xã hội

Chính sách đối với người có công với cách mạng là hệ thống công cụ củaĐảng, Nhà nước cầm quyền nhằm ghi nhận công lao, sự đóng góp, đáp ứngphần nào sự hy sinh của người có công cho sự nghiệp cách mạng như các chínhsách hỗ trợ về nhà ở, y tế hay giáo dục Như vậy, chính sách đối với người cócông với cách mạng là một vấn đề rộng lớn, mang tính định hướng Trên cơ sởcác chính sách đối với người có công được đưa ra, Nhà nước tổ chức thực hiệncác chính sách đó thông qua các hoạt động cụ thể như đưa ra các Nghị định,quyết định, thông tư hướng dẫn Và đặc biệt việc ban hành pháp luật ưu đãingười có công là sự thể chế hóa chính sách ưu đãi đối với người có công vớicách mạng trong đời sống xã hội

1.3.2 An sinh xã hội

An sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho họ suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hóa và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, thông qua các hệ thống

chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và trợ giúp đặc biệt.(6)4

3 5 Giáo trình ưu đãi xã hội trường ĐHLĐXH – Th.S Bùi Thị Chớm, tr.18

4 6 Giáo trình An sinh xã hội trường ĐHLĐXH, tr.20

Trang 15

Theo khái niệm trên thì:

Thứ nhất, an sinh xã hội không chỉ là chính sách, cơ chế của Nhà nước

mà còn bao gồm các giải pháp của cộng đồng nhằm bảo vệ các thành viên trong

xã hội trước các nguy cơ rủi ro

Thứ hai, đối tượng của an sinh xã hội là các thành viên trong xã hội, nhất

là khi họ gặp phải rủi ro trong cuộc sống có nguy cơ giảm hoặc mất nguồn thunhập do các cú sốc về kinh tế - xã hội hoặc do già cả, ốm đau, thai sản, tai nạnlao động, bệnh nghề nghiệp hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác như thiêntai bão lũ, hạn hán dẫn đến mất mùa…

Thứ ba, an sinh xã hội bao gồm 4 hợp phần cơ bản: Chính sách và chươngtrình Bảo hiểm xã hội; Chính sách và chương trình Bảo hiểm y tế; Chính sách

và chương trình trợ giúp xã hội; Chính sách và chương trình trợ giúp đặc biệt(chính sách ưu đãi xã hội)

Chính sách ưu đãi xã hội là một phần quan trọng trong chính sách an sinh

xã hội của nước ta, không chỉ là sự đãi ngộ của Nhà nước đối với những mấtmát hy sinh của họ mà còn nhằm đảm bảo cho các đối tượng người có công cómột cuộc sống tốt đẹp hơn, ngăn ngừa và phòng chống các vấn đề có thể sảy rađối với họ, hơn nữa cũng nhằm thực hiện việc ổn định và công bằng xã hội

1.3.3 Ưu đãi xã hội

Ưu đãi xã hội là một hệ thống chính sách quan trọng đặc biệt trong hệthống chính sách an sinh xã hội, là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và tinh thầncủa Nhà nước và xã hội nhằm ghi nhớ đền đáp công lao của các cá nhân, tổ chức

có cống hiến hy sinh đặc biệt cho tổ quốc

Ưu đãi xã hội góp phần ổn định thể chế chính trị, phát triển kinh tế - xãhội nhằm đưa đất nước đi lên ngày một phát triển và bền vững Thực hiện ưu đãigóp phần thực hiện chính sách con người của quốc gia Nó không chỉ là sự giúp

đỡ, chia sẻ mà còn là nghĩa vụ của mỗi công dân với Nhà nước Ưu đãi xã hộinhằm ghi nhận và tri ân những cá nhân hay tập thể đã có công, đã có nhữngcống hiến đặc biệt cho cộng đồng và đất nước Nhằm đảm bảo công bằng xãhội, tái sản xuất những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, giáo dục truyềnthống cho thế hệ tương lai, đảm bảo ổn định thể chế chính trị của Nhà nước

Trang 16

2 Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của người có công với cách mạng

2.1 Đặc điểm tâm lý

Đặc điểm tâm lý chung của người có công với cách mạng là họ luôn tựhào về quá khứ cống hiến của mình, về những hy sinh, đóng góp cho sự nghiệpđấu tranh giải phóng dân tộc Những tháng ngày chiến đấu oanh liệt ấy luôn lànhững kỉ niệm đẹp, là niềm tự hào của mỗi người lính Họ luôn có ý thức giữgìn truyền thống cách mạng, gương mẫu, lạc quan trong cuộc sống Chính vìvậy, người có công luôn có tâm lý muốn được mọi người tôn trọng, quan tâm,chăm sóc

Đối với những TB, BB họ cảm thấy mặc cảm về thương tật, tâm trạngthấy thua thiệt bạn bè, nếu làm tổn thương đến họ, họ cảm thấy bị xúc phạm vàrất dễ dẫn đến tâm lý bất mãn

Ngoài ra, một bộ phận nhỏ Người có công còn có tư tưởng công thần, ỷvào công lao cống hiến mà có những đòi hỏi quá đáng, không tự mình nỗ lựcvươn lên

Tuy nhiên, với mỗi người có công họ đều có những đặc điểm tâm lý riêngcủa mình và với từng đối tượng NCC trong từng thời kì cách mạng khác nhau

họ cũng có những nét đặc điểm tâm lý khác nhau

Thương binh, bệnh binh: Bên cạnh những đặc điểm tâm lý chung của

người có công thương, bệnh binh tại Đề Thám cũng có những đặc điểm tâm lýriêng, và trong từng thời kì cách mạng khác nhau họ cũng có những đặc điểmtâm lý khác nhau

Thương binh, bệnh binh thời kì kháng chiến chống Pháp: Hầu hết NCCtrong thời kì này độ tuổi đã gần 70tuổi, hơn nửa đời người cống hiến cho cáchmạng, sự nghiệp của đất nước Những đòi hỏi, nhu cầu về vật chất đối với họ trởthành bình thường nhưng nhu cầu về tinh thần lại rất cao, họ luôn có nhu cầuđược sống cùng con cháu để bù đắp những thiếu thốn về tình cảm trong nhữngngày chiến đấu gian nan Họ ham đọc sách, đọc báo, thích quan tâm theo dõitình hình thời sự, hay quan tâm tới tình hình phát triển kinh tế của đất nước, củađịa phương

Thương binh, bệnh binh thời kì kháng chiến chống Mỹ: Số lượng NCCtrong thời kỳ này nhìn chung chiếm tỷ lệ lớn, phần lớn các đối tượng này ở độtuổi trung niên 50, 60 tuổi, có trình độ văn hóa vì vậy họ có những hiểu biết nhất

Trang 17

định về tình hình đất nước, chính sách liên quan đến người có công Phần lớnnhững thương, bệnh binh trong thời kì này vẫn giữ được truyền thống cáchmạng và luôn là những tấm gương đi đầu ở địa phương, đặc biệt luôn quan tâmđến tình hình phát triển của địa phương Tuy nhiên, vẫn còn một số ít còn có tưtưởng công thần, thậm chí lợi dụng danh nghĩa thương, bệnh binh để làm tráipháp luật.

Thương binh, bệnh binh từ năm 1975 trở lại đây: Phần lớn TBB trong độtuổi này tuổi đời còn trẻ, trình độ văn hóa cao nhưng một số có cảm giác thuathiệt bạn bè, nhất là đối với những người có hoàn cảnh khó khăn hơn do đó họthường có tâm lý bi quan

Đối với thân nhân Liệt sỹ: Đối với thân nhân Liệt sỹ do sự mất mát

người thân nên họ thường nhớ lại những kỉ niệm, hình ảnh của người thân khicòn sống Họ cảm thấy tự hào về những cống hiến của mình cho cách mạng Đốivới thân nhân Liệt sỹ và người thờ cúng liệt sỹ họ luôn có tâm niệm muốn đưahài cốt người thân về quê nhà để tiện chăm nom, hương khói

Những mất mát về người thân luôn tạo cho họ sự thiếu hụt về tinh thần do

đó họ rất muốn được quan tâm, chia sẻ, động viên trong những ngày lễ tết, 27/7,đặc biệt trong ngày tết truyền thống của dân tộc

Đối với gia đình người có công với cách mạng: Bản thân họ luôn tự hào

về những cống hiến, đóng góp sức người, sức của cho cách mạng, họ luôn cómong muốn được chính quyền, xã hội quan tâm giúp đỡ nhiều hơn đến đời sốngcủa họ

2.2 Nhu cầu

Để đảm bảo sự sinh tồn và phát triển mỗi con người đều có những nhucầu cần được đáp ứng với những cách thức khác nhau, mỗi cá nhân tự đáp ứngcác nhu cầu đó Tuy nhiên, với một số NCC họ không thể tự mình đáp ứngnhững nhu cầu ấy ngay cả những nhu cầu tối thiểu nhất mà cần phải có sự chungtay, góp sức, giúp đỡ của cộng đồng và xã hội

Người có công với cách mạng trước hết cũng như bao con người bìnhthường khác, họ sống trong xã hội và đều có những nhu cầu cơ bản nhất baogồm về cả vật chất, tinh thần để có thể tồn tại và phát triển

Trang 18

Là người có công với cách mạng, đã có những đóng góp, những cốnghiến cho sự nghiệp của đất nước, họ đều có nhu cầu được mọi người tôn trọng,quan tâm, chăm sóc, động viên, giúp đỡ để vơi đi nỗi đau mất mát.

Người có công hầu hết tuổi đã cao, sức khỏe giảm sút do chiến tranh bệnhtật, tuổi già do đó nhu cầu được thăm khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏethường xuyên là điều tất yếu

Đối với thương binh, những mất mát một phần trong cơ thể, nhiều người

đã không còn được lành lặn như trước đây, họ có nhu cầu được trang cấp thiết bịchân, tay, mắt giả để trợ giúp trong sinh hoạt Đa số NCC đặc biệt là TB, BB,người HĐKC bị nhiễm CĐHH đều mong muốn được thăm khám sức khỏe định

kì, được giám định lại tình trạng thương tật, bệnh tật đánh giá đúng mức độcống hiến hy sinh

Đối với những người có công với cách mạng còn khả năng lao động, họ

có nhu cầu được học nghề, được hỗ trợ tìm kiếm việc làm phù hợp với trình độ

và khả năng lao động để có thêm thu nhập, họ mong muốn được hỗ trợ kinh phínguồn vốn để đầu tư sản suất, cải thiện chất lượng cuộc sống Đồng thời họcũng mong muốn con em của mình có được công ăn việc làm ổn định

Nhu cầu được tiếp tục cống hiến, xây dựng đất nước với những công việc,việc làm thiết thực

3 Chính sách Ưu đãi xã hội đối với người có công với cách mạng

Phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”,trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, chế

độ để chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của người có công với cách mạng,giải quyết những hậu quả những tồn đọng về chính sách sau chiến tranh Chínhsách ưu đãi đối với người có công với cách mạng là một chính sách lớn đượcĐảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng và được ban hành ngay sau khi đất nướcmới giành được độc lập

Chính sách ƯĐXH đối với người có công với cách mạng là chính sách

“Đền ơn đáp nghĩa”, là thực hiện nghĩa vụ công dân và công bằng xã hội khôngmang tính chất “Đền bù” Sự “Đền ơn đáp nghĩa” thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệmcủa Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là đạo lý, truyền thống nhân văn của dântộc, là lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc của nhiều thế hệ hôm nay và mai sau đốivới người có công với cách mạng

Trang 19

Thể chế chính sách ưu đãi xã hội bao gồm 2 lĩnh vực ưu đãi:

- Trợ cấp, phụ cấp ưu đãi thường xuyên, hàng tháng

Các chính sách ưu đãi trong các lĩnh vực khác: ưu đãi trong giáo dục đào tạo, chăm sóc y tế sức khỏe, ưu đãi về nhà ở, ưu đãi trong pháttriển kinh tế

-Một thành tựu nổi bật trong chính sách ưu đãi xã hội đối với người có côngvới cách mạng là chế độ trợ cấp ưu đãi xã hội đã có sự đổi mới căn bản Gắn liềnvới lộ trình cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, mức trợ cấp ưu đãi xãhội được điều chỉnh trên cơ sở mức tiêu dùng bình quân của toàn xã hội, phù hợpvới đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trợ cấp ưuđãi xã hội trong những năm qua đã có nhiều lần điều chỉnh Đây là một minhchứng rõ nét nhất sự quan tâm, trách nhiệm của Nhà nước, nỗ lực đảm bảo nguồnlực tài chính chi cho lĩnh vực này

Nhìn chung, chế độ ưu đãi người có công đã được xây dựng và thực hiệnkhá toàn diện, ngoài trợ cấp còn có chế độ chăm sóc sức khỏe, cải thiện nhà ở,

ưu đãi trong y tế, giáo dục đào tạo, sản xuất kinh doanh, tạo việc làm; chế độ ưuđãi đối với con của người có công đang theo học ở nhà trường thuộc hệ thốnggiáo dục quốc dân; người có công đang hưởng trợ cấp thường xuyên (hoặc đãmất) thì con của họ đang theo học ở nhà trường được hưởng chế độ trợ cấp mỗinăm một lần mua đồ dùng, sách vở, dụng cụ học tập, được miễn giảm học phí vàcác khoản đóng góp khác, học sinh học ở các trường chuyên nghiệp, dạy nghề,dân tộc nội trú được hưởng trợ cấp hàng tháng Người có công (đặc biệt là ngườihoạt động kháng chiến không hưởng lương, bảo hiểm xã hội - khoảng 2,1 triệungười) được Nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế với mức 3% lương tối thiểu.Nguồn ngân sách chi bảo hiểm y tế, ưu đãi trong giáo dục đào tạo đối với người

có công và thân nhân của họ mỗi năm lên tới trên 1.000 tỷ đồng Cùng với chế

độ trợ cấp thường xuyên hàng tháng, chế độ ưu đãi ngoài trợ cấp (về kinh tế xãhội) đã góp phần nâng cao mức sống người có công, đảm bảo tính toàn diện,đồng bộ trong ưu đãi xã hội

Tiếp nối truyền thống nhân ái của dân tộc, với đạo lý “Uống nước nhớnguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” bên cạnh các chính sách ưu đãi về trợ cấp, phụ cấp,những ưu đãi trong giáo dục, y tế hay việc làm nhiều phong trào của các địaphương, các tổ chức xã hội và cá nhân đã làm công tác thương binh, liệt sỹ trở

Trang 20

thành công việc thường xuyên của toàn xã hội Phong trào “Đón thương binh vềlàng” từ những năm chống thực dân Pháp đến phong trào “Chăm sóc thươngbinh nặng tại nhà” những năm gần đây đã giúp phần lớn thương binh nặng ổnđịnh cuộc sống, ổn định thương tật, bệnh tật Nhân dân đã góp tiền của, công sức

để xây dựng hệ thống nghĩa trang liệt sỹ và các công trình tưởng niệm liệt sỹ.Hàng chục vạn ngày công được nhân dân đóng góp vào việc tìm kiếm, qui tậphài cốt liệt sỹ Các cháu thiếu nhi với phong trào “Đi tìm địa chỉ đỏ” và cácphong trào “Đi tìm đồng đội” của các đơn vị quân đội, hội cựu chiến binh đã thểhiện tính nhân văn sâu sắc

Những năm gần đây dấy lên các phong trào chăm sóc người có công vớicách mạng như tặng nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, phụng dưỡng

bố mẹ liệt sỹ cô đơn, đỡ đầu con liệt sỹ mồ côi, phụng dưỡng bà mẹ Việt Namanh hùng Các phong trào đã phát triển nhanh, mạnh cả bề rộng và chiều sâu vàtrở thành các chương trình bền vững (5 chương trình chăm sóc người có côngvới cách mạng) góp phần cải thiện đời sống người có công

Như vậy, cùng với hệ thống chính sách ưu đãi của Nhà nước, việc huyđộng toàn dân chăm sóc người có công đã góp phần chăm lo tốt hơn đời sốngmọi mặt của những thương bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công, đúngvới qui định trong pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; việc quan tâmchăm sóc đời sống vật chất, tinh thần của người có công và gia đình người cócông là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội

4 Ý nghĩa của công tác xã hội hóa chăm sóc Người có công với cách mạng.

Xã hội hóa chăm sóc người có công với cách mạng là tập hợp các biệnpháp, các phương thức hành động của toàn dân, các cấp, các ngành cùng thamgia tổ chức thực hiện các chương trình hành động cụ thể nhằm nâng cao hiệuquả của việc chăm sóc người có công về cả vật chất lẫn tinh thần, để nâng caochất lượng đời sống người có công và điều quan trọng họ thấy rằng mình đượctôn trọng, được quan tâm, chia sẻ đặc biệt là họ thấy mình còn có ích cho xã hộicho đất nước

Phong trào toàn dân chăm sóc người có công với cách mạng bao gồmnhững hoạt động của nhiều người, nhiều tổ chức khác nhau trong xã hội vớitừng mục tiêu cụ thể, đảm bảo việc thực hiện về sức lao động, vốn, vật tư, haykinh nghiệm để giúp các gia đình chính sách giải quyết những yêu cầu bức xúc

Trang 21

trong cuộc sống và làm ăn có hiệu quả hơn nhằm ổn định và nâng cao mứcsống Chính vì vậy, xã hội hóa chăm sóc người có công với cách mạng là pháthuy đạo lý, truyền thống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ ngườitrồng cây” của dân tộc ta.

Xã hội hóa chăm sóc người có công chiếm một vị trí rất quan trọng trongchính sách Ưu đãi của Nhà nước Nhà nước có vai trò chủ đạo trong việc hoạchđịnh và chỉ đạo thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công, đảm bảonguồn lực để đưa các chính sách ưu đãi vào cuộc sống Nhưng những địnhhướng và qui định của Nhà nước sẽ trở thành động lực để đẩy mạnh phong tràotoàn dân chăm sóc người có công với cách mạng, và tạo điều kiện cho các giađình chính sách phát huy năng lực sở trường của mình Chính vì vậy, xã hội hóachăm sóc người có công đã tạo nên thế kiềng “Nhà nước – cộng đồng – bản thânđối tượng”

Ngân sách Nhà nước còn hạn chế trong khi số lượng người có công là rấtlớn, hơn nữa công tác ưu đãi xã hội đòi hỏi rất nhiều nguồn lực bởi vậy cần có

sự tham gia trợ giúp của toàn xã hội Cộng đồng có tiềm năng rất to lớn, nếuđược huy động sẽ góp phần cùng Nhà nước giải quyết những yêu cầu bức xúccủa người có công mà chính sách của Nhà nước, với tính cách là mặt bằngchung cho từng loại đối tượng không thể quán xuyến hết Hơn nữa, đa phầnngười có công sống trong cộng đồng, vì vậy cộng đồng chính là nơi gần gũinhất, trực tiếp nhất có thể phát hiện kịp thời và chia sẻ những khó khăn củangười có công

+ Đóng góp công lao động giúp gia đình chính sách sản xuất kịp thời vụ,xây dựng sửa chữa nhà ở

+ Vốn đóng góp để giúp đỡ các gia đình chính sách đầu tư cho sản xuấtdịch vụ để khỏi vay nặng lãi, thoát khỏi đói nghèo

+ Kinh nghiệm làm ăn giúp các gia đình chính sách sản xuất, kinh doanh,chăn nuôi

+ Chăm sóc gia đình chính sách neo đơn các công việc hàng ngày

+ Động viên họ tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng

+ Chăm sóc thương binh nặng, đỡ đầu con liệt sỹ, phụng dưỡng cha, mẹliệt sỹ, Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Trang 22

+ Việc cộng đồng chăm lo cho người có công còn góp phần giáo dụctruyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ, để thế hệ trẻ ngày nay và mai sau noi theotấm gương đạo đức cách mạng.

Như vậy, cùng với hệ thống chính sách Ưu đãi của Nhà nước, việc huyđộng toàn dân chăm sóc Người có công đã góp phần chăm lo tốt hơn đời sốngmọi mặt của những thương, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công vớicách mạng Tuy hình thức và mức độ có khác nhau nhưng ở thời kì nào nhândân ta cũng luôn giành cho người có công với cách mạng sự giúp đỡ thiết thực,đầy tình nghĩa, góp phần cùng nhà nước đem lại cho hàng triệu gia đình NCCmột cuộc sống ổn định và ngày càng nâng cao, góp phần phát huy thế mạnh

“Nhà nước – cộng đồng – bản thân đối tượng” giúp người và gia đình người cócông với cách mạng có cuộc sống tốt đẹp hơn

5 Quan điểm của Đảng và Nhà Nước về công tác XHH chăm sóc Người có công

Chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, NCC với cách mạngvừa là trách nhiệm của nhà nước, vừa là trách nhiệm tình cảm của toàn dân

Ưu đãi NCC và gia đình NCC với cách mạng là một bộ phận tư tưởngtrong tư tưởng Hồ Chí Minh, và chính người cũng là tấm gương mẫu mực vềtình thân ái thủy chung “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” Bác đã

dậy “Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, gia đình quân nhân là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân cho nên bổn phận của mỗi người chúng ta là phải quan tâm, thương yêu và giúp đỡ họ”(7)5 với tinh thần đó, HồChí Minh là người khởi nguồn cho quan điểm xã hội hóa chăm sóc người cócông Bác đã đề ra phương châm thực hiện công tác thương binh, liệt sỹ rõ ràng

và phù hợp với đạo lý truyền thống của dân tộc và hoàn cảnh đất nước “Đồng bào sẵn sàng giúp đỡ, chính phủ ra sức nâng đỡ, anh em có quyết tâm thì nhất định dần dần tự túc được” Từ lời dạy của Bác, theo sự phát triển của cách mạng

đã trở thành phương châm hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc người có công vớicách mạng và trở thành thế kiềng ba chân: Nhà nước – cộng đồng – và đốitượng nỗ lực vươn lên

Thấm nhuần tư tưởng đó, sau khi đất nước giành được chủ quyền độc lậpdân tộc Đảng, Nhà nước đặc biệt là nhân dân ta đã giành tất cả tình cảm quí

5 7 Những bài nói của Bác Hồ về công tác LĐTBXH –NXB LĐXH 2004, tr.246

Trang 23

trọng, quan tâm và giúp đỡ đối với các chiến sĩ, đồng bào đã hy sinh xương máu

để giành độc lập, giữ gìn tổ quốc với nhiều việc làm cụ thể và thiết thực Nhữngviệc làm hiếu nghĩa, bác ái, phong trào giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sỹđược phát động ở nhiều nơi trên mọi miền tổ quốc từ những phong trào như

“Hũ gạo tình nghĩa”, “Con gà, ao cá tình nghĩa”, phong trào“Đón thương binh

về làng” đã đánh dấu bước đi đầu tiên cho phong trào toàn dân chăm lo mọi mặt

đời sống người có công với cách mạng.Ngày nay, khi đất nước đã thống nhất,phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng, Nhà nước có điều kiện quantâm hơn đến mọi mặt đời sống người và gia đình người có công với cách mạng,các phong trào này đã được mở rộng ra cả nước và phát triển thành 5 chươngtrình chăm sóc người có công Để công tác xã hội hóa chăm sóc NCC được thựchiện có hiệu quả Nghị định số 91/1998/NĐ-CP ngày 19/11/1998 của chính phủ

đã ban hành điều lệ xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, việc ban hành nghị định đãxác định được mục đích, ý nghĩa xây dựng quỹ, các đối tượng tham gia, cơ chếquản lý, sử dụng quỹ nhằm huy động sự tham gia của cộng đồng xã hội gópphần cùng nhà nước chăm sóc tốt hơn cho người và gia đình người có công vớicách mạng Đồng thời ban Tư tưởng - văn hóa trung ương đã ban hành hướngdẫn tuyên truyền chỉ thị số 07 – CT/TW của Bộ chính trị về tăng cường lãnhđạo, chỉ đạo đối với công tác thương binh, liệt sỹ, người có công, phong tràođền ơn đáp nghĩa Nghị định số 45/2006/NĐ-CP ban hành ngày 28 tháng 4 năm

2006 ban hành điều lệ quản lý và sử dụng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” Gần đâynhất là việc chính phủ ban hành chỉ thị 12/CT-TTg Chính phủ, ban hành ngày

28 tháng 4 năm 2012 về việc tăng cường công tác chăm sóc người có công vớicách mạng và hoạt động đền ơn đáp nghĩa hướng tới kỉ niệm 65 năm ngàyThương binh – Liệt sỹ (27/7/1947 – 27/7/2012)

Kế thừa và phát huy truyền thống, đạo lý uống nước nhớ nguồn của dântộc Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chính sách hành động cụ thể để chăm lo đờisống vật chất và tinh thần của những người có công với nước Thực hiện côngtác xã hội hóa chăm sóc người có công phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” do Uỷban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động đã huy động được sức mạnh của toàn

xã hội tham gia với trách nhiệm và tình cảm sâu sắc Bằng những việc làm thiếtthực, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã và đang phát triển cả chiều rộng lẫnchiều sâu với nhiều hình thức phong phú, trở thành nét đẹp trong đời sống văn

Trang 24

hóa dân tộc Góp phần ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần củathương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công.

Điểm nổi bật trong thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác chăm sócngười có công là mối quan hệ tình nghĩa cộng đồng “Uống nước nhớ nguồn”

“Đền ơn đáp nghĩa” trong nhân dân đã trở thành truyền thống tốt đẹp của dântộc hòa quyện gắn bó dưới sự lãnh đạo của các cấp, của Đảng sự chỉ đạo của cáccấp chính quyền, góp phần đáng kể nâng cao đời sống tinh thần vật chất đối vớingười có công

Như vậy, có thể thấy rằng Đảng, Nhà nước ta luôn giành nhiều sự đãingộ, ưu tiên cho người có công và thân nhân của họ trong mọi lĩnh vực của đờisống Luôn quan tâm đến mọi mặt đời sống về vật chất cũng như tinh thần củangười có công bằng những việc làm, hành động thiết thực như việc ban hành cácvăn bản pháp luật liên quan đến người có công, phát động nhiều phong trào giúp

đỡ thiết thực có hiệu quả, quyết tâm thực hiện chăm lo mọi mặt đời sống người

có công và gia đình chính sách có một cuộc sống tốt hơn, bằng hoặc cao hơnmức sống của người dân nơi cư trú

Trang 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG

Người có công với cách mạng là những người đã có những cống hiến, hysinh cho nền Độc lập – Tự do của tổ quốc Với bề dày lịch sử đấu tranh với hàngngàn cuộc chiến xâm lược, biết bao người con đất Việt đã hy sinh, có nhữngngười may mắn sống sót hoặc những thân nhân của họ đang chịu nhiều thiệt thòi

về vật chất và tinh thần cần được bù đắp Tuy nhiên, có nhiều mất mát hy sinhchẳng vật chất nào có thể bù đắp nổi như tuổi trẻ, hay tính mạng, có nhiều người

đã hy sinh bỏ lại cha, mẹ, vợ, con khó khăn thiếu người phụng dưỡng, chăm sóc,dạy dỗ Có những người suốt đời sẽ phải chịu những đau đớn của vết thương vàbệnh tật thậm chí trong nhiều trường hợp cuộc sống của họ còn nhiều cực nhọchơn, vật chất còn thiếu thốn hơn, tinh thần còn đau khổ hơn khi phải chứng kiếnnhững thiệt thòi, sự đau đớn của người thân do hậu quả của chiến tranh để lại đó

là những người bị nhiễm chất độc hóa học, con đẻ của họ bị dị tật, dị dạng Bởivậy, công nhận và ghi nhận những cống hiến, hy sinh, tặng truy tặng nhữngdanh hiệu cao quí cho Người có công với cách mạng, thực hiện Ưu đãi Xã hội,chăm lo mọi mặt đời sống Người có công và thân nhân của họ không chỉ làtrách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà Nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội vàmỗi người dân cũng như của các thế hệ sau này

Trong chương I tác giả đã trình bầy các khái niệm về Người có công, kháiniệm về xã hội hóa chăm sóc người có công cũng như các khái niệm có liênquan an sinh xã hội; ưu đãi xã hội; chính sách xã hội Trình bày các quan điểmcủa Đảng, Nhà nước về công tác xã hội hóa chăm sóc người có công, những chủtrương quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với người có công

Từ đó có thêm cơ sở pháp lý để giúp cho quá trình nghiên cứu thực trạng côngtác xã hội hóa chăm sóc người có công

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA CHĂM SÓC NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI ĐỀ THÁM - THỊ XÃ CAO

BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Trang 26

I TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội của Đề Thám ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách đối với người có công

Điều kiện tự nhiên:

Đề Thám là một Phường thuộc thị xã Cao Bằng, Tỉnh Cao Bằng với đặcđiểm vị trí địa lý như sau:

- Phía Đông tiếp giáp Phường Sông Hiến thị xã Cao Bằng

- Phía Tây tiếp giáp xã Hưng Đạo thị xã Cao Bằng

- Phía Nam tiếp giáp xã Bạch Đằng huyện Hòa An

- Phía bắc tiếp giáp xã Vĩnh Quang huyện Hòa An, và Phường NgọcXuân thị xã Cao Bằng

Đề Thám bao gồm 10 xóm: Sông Máng, Bản Lằng, Nà Toàn, Nà Quác,Khau Sả, Bản Mới, Bản Lày, Nà Tanh, Vò Nhạn, Thâm Hoáng Từ khi ĐềThám chuyển thành phường các xóm trên cũng chuyển thành các tổ tương ứng

Đề Thám có sông Bằng chảy qua và tạo thành ranh giới phía Bắc Cáctuyến đường chính trên địa bàn là quốc lộ 3, tuyến tránh thị xã nối quốc lộ 3 vàquốc lộ 4, và tuyến tỉnh lộ 204 nối với huyện Hòa An và huyện Thông Nông vàkéo dài biên giới với Trung Quốc Là khu vực miền núi địa hình ở đây có đặcđiểm chủ yếu là đồi núi dốc chiếm 70%, địa hình bằng phẳng chiếm khoảng30% do đó các tuyến đường tại Đề Thám chủ yếu là đường bộ Những năm gầnđây đã được nâng cấp sửa chữa nhưng chỉ tập trung chủ yếu ở các tuyến đườngchính, một số tuyến đường liên thôn xóm vẫn còn khó khăn trong việc đi lại

Trên địa bàn Đề Thám có hai nhóm đất chính: Đất đỏ vàng trên đá sét vàđất nâu vàng trên đá vôi Tổng diện tích đất tự nhiên toàn Phường là 1.094,72ha.Trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 312,22ha; đất lâm nghiệp là 182,15ha; đấtphi nông nghiệp là 57,11ha; diện tích nuôi trồng thủy sản là 0,71ha; đất chưa sửdụng là 123,81ha

Với đặc điểm vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng giao thôngnhư hiện nay (vị trí địa lý gần khu vực trung tâm phát triển kinh tế của Tỉnh,giao thông đi lại thuận tiện) góp phần tạo điều kiện tốt cho ổn định phát triểnkinh tế, từng bước cải thiện nâng cao chất lượng cuộc sống người dân Đề Thámnói chung và người có công nói riêng

Điều kiện kinh tế:

Trang 27

Trước đây khi Đề Thám còn thuộc huyện Hòa An, kinh tế của phườngcòn chậm phát triển, tỷ lệ hộ nghèo còn nhiều Trong những năm trở lại đây, ĐềThám sát nhập về thị xã Cao Bằng, đặc biệt từ ngày 01 tháng 11 năm 2010 xã

Đề Thám chuyển thành Phường Đề Thám thuộc thị xã Cao Bằng tình hình kinh

tế của Đề thám đã có nhiều chuyển biến tích cực hơn

Cơ cấu kinh tế của Phường là:

Công nghiệp – xây dựng chiếm 18%

Dịch vụ chiếm 46%

Nông – lâm nghiệp chiếm 36%

Theo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo tại Đề Thám trong năm vừaqua 2011 cho biết tỷ lệ hộ nghèo tại Phường là 2,5%, hộ cận nghèo là 4,86%.Trong đó, hộ nghèo là người có công là 5 hộ

Tính đến hết nhiệm kì 2005 - 2010, theo báo cáo thị xã Cao Bằng giá trịsản lượng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp năm 2006 của toàn khu vực thị xãđạt 33,049 tỷ đồng Năm 2007 đạt 36,03 tỷ đồng; tổng mức lưu chuyển hànghóa và doanh thu dịch vụ đạt 560 tỷ đồng, năm 2010 ước đạt 1.200 tỷ đồng Sảnxuất nông – lâm nghiệp đạt 39,4 triệu đồng/ha/năm, tổng mức đầu tư ước đạttrên 1000 tỷ đồng Thu ngân sách địa phương năm 2010 ước đạt 76,874 tỷ đồng.Thị xã đã hoàn thành chương trình xóa nhà tranh tre, dột nát, tỷ lệ hộ nghèogiảm từ 899 hộ năm 2006 xuống còn 290 hộ năm 2009 chiếm 1,74% và năm

2010 ước giảm còn 1,25%, đời sống dân cư nơi đây được cải thiện rõ rệt, tăng

số hộ khá giàu

Trên địa bàn phường Đề thám có trường Cao Đẳng sư phạm Cao Bằng vàtrường Trung học phổ thông dân tộc nội trú tỉnh, trường Tiểu học Đề Thám vàtrường Trung học cơ sở Đề Thám Bên cạnh đó, có 8 doanh nghiệp tư nhânđóng trên địa bàn Phường, 1 xí nghiệp luyện gang, công ty giống cây trồng CaoBằng Đây chính là những nguồn lực dồi dào của cộng đồng, nếu biết khai thác

và sử dụng một cách hợp lý nguồn lực này thì công tác “Đền ơn đáp nghĩa”chăm sóc thương bệnh binh, người có công trên địa bàn Đề Thám đem lại nhiềuhiệu quả, đời sống người có công được chăm sóc tốt hơn

Đề Thám có 1 trung tâm y tế với đội ngũ cán bộ y bác sỹ bao gồm: 1 bácsỹ; 1 y sỹ; 2 y tá đảm bảo công tác khám chữa bệnh ban đầu cho người dân cũng

Trang 28

như công tác chăm sóc sức khỏe y tế cho người có công với cách mạng tạiPhường.

Văn hóa xã hội:

Phường Đề Thám thị xã Cao Bằng có tổng diện tích là 1.094,72 ha diệntích đất tự nhiên (10,95 km2), với 9.801 nhân khẩu, mật độ đạt 895 người/km2

(năm 2010) Trong đó có 165 đối tượng người có công với cách mạng, phường

Đề Thám dân cư tập trung chủ yếu là các đồng bào dân tộc thiểu số Tày, Nùngchiếm trên 90% còn lại là dân tộc kinh

Như vậy, với các đặc điểm kinh tế - xã hội này thì so với các xã, phườngkhác trong khu vực tỉnh, Đề Thám đang ngày càng có nhiều tiềm lực để tạo điềukiện tốt hơn cho công tác chăm sóc người có công Tuy nhiên, nền kinh tế củaphường vẫn chưa ổn định, hơn nữa sẽ có nhiều thay đổi lớn trong thời gian sắptới khi Cao Bằng triển khai xây dựng khu công nghiệp Đề Thám trở thành trọngtâm kinh tế của tỉnh Những thay đổi đó sẽ có ảnh hưởng trực tiếp không chỉ đếncuộc sống của người dân nói chung mà nó còn ảnh hưởng đến mọi mặt đời sốngcủa người và gia đình người có công tại phường

Là địa phương có điều kiện kinh tế tương đối phát triển trong hai năm trởlại đây, những thay đổi về mặt cơ cấu kinh tế cơ hội việc làm cho người có công

và con em của họ nhiều hơn, có điều kiện để ưu tiên cho người có công pháttriển kinh tế hộ gia đình, giành nhiều đãi ngộ cho người và gia đình người cócông chăm lo tốt hơn mọi mặt đời sống cho họ

Với đặc điểm văn hóa xã hội, đời sống dân cư, hầu hết nhân dân Đề Thámđều là người dân tộc thiểu số Tày Nùng nét đẹp văn hóa, phong cách, lối sống,phong tục tập quán không có nhiều khác biệt Hơn nữa người dân nơi đây có đặcđiểm chịu khó, chất phác, tinh thần cố kết cộng đồng cao, điều đó là tiền đềquan trọng cho công tác xã hội hóa chăm sóc người có công được thực hiệnđồng bộ và hiệu quả hơn

Nằm ngay gần trung tâm phát triển với nhiều khối cơ quan ban nghànhđịa phương, các nhà máy xí nghiệp như: xí nghiệp gang thép Cao Bằng, nhàmáy xi măng Cao Bằng, công ty giống cây trồng vật nuôi, các trường học, trungtâm đào tạo nghề đều là những đoàn thể những mắt xích quan trọng thúc đẩycông tác XHH chăm sóc thương bệnh binh, liệt sỹ, gia đình có công với cách

Trang 29

mạng, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” cùng với chính quyền địa phương chăm

lo tốt hơn đời sống vật chất, tình cảm người có công

Không những vậy, những yếu tố trên còn là động lực tạo đà thúc đẩy khảnăng tự lực vươn lên trong cuộc sống của người có công Bởi, sự giúp đỡ củacộng đồng hoặc trợ cấp của Nhà nước là quan trọng nhưng cũng chỉ tạo nênnhững cú huých ban đầu, nếu không có sự nỗ lực vươn lên bản thân người cócông với cách mạng thì sự giúp đỡ có nhiều đến đâu cũng trở nên vô nghĩa,nhưng để làm được điều đó thì Nhà nước và cộng đồng cũng cần tạo mọi điềukiện để NCC với cách mạng phát huy một cách tốt nhất tinh thần tự lực, tựcường “Thương binh tàn nhưng không phế”

Bên cạnh những mặt tích cực của các điều kiện tự nhiên kinh tế xã hộicủa phường, sự thay đổi nhanh chóng về mặt cơ cấu kinh tế trong những năm tớiđây đã thổi một luồng sáng mới cho nền kinh tế vốn kém phát triển này, đồngthời đó cũng là những khó khăn thử thách mới cho chính quyền và người dânđịa phương trên mọi lĩnh vực trong đó có công tác chăm sóc người có công vàgia đình người có công với cách mạng

Như vậy, để công tác chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ,gia đình có công với cách mạng tại Đề Thám thực sự đem lại hiệu quả thì khôngchỉ nhạy bén, nắm bắt kịp thời tình hình kinh tế - xã hội mà cán bộ làm công tácTBXH ở phường cần phải nắm bắt rõ tình hình mọi mặt của người có công vớicách mạng trên địa bàn về số lượng, tình trạng thương tật, bệnh tật, tuổi tác, đờisống tâm tư, nguyện vọng, hoàn cảnh sống của họ từ đó có sự điều chỉnh, lên kếhoạch và thực hiện một cách phù hợp chính xác và hiệu quả hơn

2 Một số nét đặc trưng về người có công với cách mạng tại Đề Thám

2.1 Qui mô, cơ cấu đối tượng

Chăm lo mọi mặt đời sống cho người có công và thân nhân người có côngvới cách mạng thể hiện sự biết ơn sâu sắc của Đảng, Nhà nước, Chính quyền vàNhân dân Tính đến tháng 12 năm 2011 Phường Đề Thám thị xã Cao Bằng quản

lý và thực hiện các chế độ chính sách cho 165 người có công và thân nhân người

có công với cách mạng trên địa bàn phường Cơ cấu, số lượng người có côngcủa Phường được thể hiện dưới dạng bảng sau

Trang 30

Bảng 1: Qui mô, cơ cấu người có công với cách mạng phường Đề Thám

Số lượng (Người) Cơ cấu (%)

3

Thương binh, người hưởng chính sách

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp đối tượng người có công phường Đề Thám năm 2011).

Bảng số liệu trên cho thấy, tổng số người hưởng trợ cấp ưu đãi đối vớingười có công ở Đề Thám là 165 người chiếm 1,68% dân số toàn phường.Trong đó chiếm tỷ lệ nhiều nhất là thương binh và người hưởng chính sách nhưthương binh 45 người chiếm 27,3%, người thờ cúng liệt sỹ 46 người chiếm27,87% Tiếp theo là bệnh binh với số lượng là 33 người, chiếm 20% Chiếm tỷ

lệ thấp nhất là người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học 2 ngườichiếm 1,21% là Ông Nông Văn Ang ở tổ 3 (xóm Bản Mới) và Ông Hoàng Ân tổ

1 (Xóm Nà Tanh) còn lại là những đối tượng khác

Đối với thương binh và người hưởng chính sách như thương binh thì tỷ lệMSLĐ dưới 80% là chủ yếu chiếm 43 người Trong đó thương binh MSLĐ từ21% - 40% có số lượng nhiều nhất là 22 người chiếm 13,3% và thương binh

Trang 31

MSLĐ trên 81% có số lượng thấp nhất là 2 người chiếm 1,21% là Ông MôngThế Tiều ở tổ 3 (xóm Bản Mới) và Ông Nguyễn Văn Túc ở tổ 2 (xóm BảnLằng) Đối với bệnh binh chiếm tỷ lệ nhiều nhất là bệnh binh MSLĐ từ 61% -80% với 30 người, chiếm 18,18%.

Như vậy, cơ cấu người có công tại Đề Thám chủ yếu là thương bệnh binh,tiếp theo là người thờ cúng và thân nhân liệt sỹ, các cán bộ lão thành cách mạng,cán bộ tiền khởi nghĩa Bởi vậy, chăm lo mọi mặt đời sống người có công ĐềThám cần được thực hiện một cách cụ thể, phù hợp với từng người phù hợp vớitình trạng thương tật, bệnh tật của người có công có như vậy công tác chăm sócNCC nói chung XHH chăm sóc NCC với cách mạng nói riêng mới đem lại hiệuquả cao

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, theotiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, biết bao người con Cao Bằng đã lên đườngnhập ngũ chiến đấu với chân lý “Không có gì quí hơn độc lập – tự do” Trong sốnhững anh lính trẻ trung gan dạ ấy đã có người ra đi mãi mãi, để lại bao nỗi tiếcthương cho người ở lại Biết ơn sâu sắc những người con quê hương đã hy sinhanh dũng, UBND phường Đề Thám trong những năm qua luôn chú trọng thựchiện các chế độ chính sách ưu đãi cho người có công, trong đó có thân nhân củangười có công với cách mạng là 15 người chiếm tỷ lệ 9,09%, người thờ cúng liệt

sỹ 46 người chiếm 27,87%

Nhân chứng sống của cuộc chiến tàn khốc, ác liệt ấy chính là nhữngthương binh, bệnh binh, người nhiễm chất độc hóa học, các cán bộ lão thànhcách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa Trải qua bao năm tháng cùng khói bom, lửađạn kẻ thù họ may mắn hơn so với những người đồng đội khác, nhưng nhữngvết thương nỗi ám ảnh của chiến tranh thì luôn theo họ suốt phần đời còn lại Đó

là những thương binh không còn lành lặn, họ bị mất một phần cơ thể hay nhữngmảnh đạn còn sót lại ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống hàng ngày của người cócông Như thương binh Vi Văn Thượng tổ 8 (xóm vò Nhạn), ông bị cụt tay phải,trên mình còn nhiều mảnh đạn vẫn ngày đêm giày xéo mỗi khi nắng gió trở trời.Nỗi đau thể xác đến rồi sẽ đi nhưng nỗi đau về tinh thần thì luôn giày xéo tâmcan mỗi người lính, bởi hàng ngày nhiều người có công vẫn phải chứng kiến dihọa của chiến tranh để lại, hậu quả của những ngày chiến đấu gian khổ, hứngchịu bao trận mưa chất hóa học, nỗi ám ảnh ấy sẽ không bao giờ vơi đặc biệt đối

Trang 32

với người bị nhiễm chất độc hóa học Hàng ngày họ đang phải đối diện vớinhững đứa con tật nguyền như ông Nông Văn Ang tổ 3 (xóm bản mới), ông có 3người con đứa đầu lòng may mắn lành lặn, đứa thứ hai được sinh ra sau khi ôngsuất ngũ tình trạng không minh mẫn, không thể làm chủ được bản thân, con trai

út của ông chịu ảnh hưởng nặng nề nhất dị dạng, dị tật bẩm sinh, tính tình hung

dữ hàng ngày ông đau đến thắt lòng khi phải để đứa con thân yêu sống trongcảnh xiềng xích

2.2 Thực trạng đời sống người có công

Sau những ngày lăn lội nơi chiến trường nay trở về với cuộc sống đờithường những người có công với cách mạng họ gặp nhiều khó khăn hơn để theokịp nhịp sống thay đổi từng ngày Bởi hầu hết họ tuổi đã cao, sức khỏe suy giảmnhiều vì thương tật, bệnh tật, thiếu thốn kinh nghiệm trong làm ăn, không cónguồn vốn để đầu tư, trình độ tay nghề thấp hoặc không có, chính vì vậy đờisống người và gia đình người có công với cách mạng hầu hết còn gặp nhiều khókhăn, mức sống của họ chưa thể bằng so với mức sống người dân nơi cư trú Kếtquả khảo sát bằng phiếu hỏi cho thấy 6/30 NCC cho rằng hoàn cảnh gia đìnhcòn khó khăn, 5/30 phiếu trả lời nhận định hoàn cảnh gia đình ở mức trung bình

Và chỉ có 3/30 NCC có hoàn cảnh gia đình mức khá giả

Với những nơi điều kiện kinh tế phát triển như các thành phố lớn, trungtâm huyện thị cơ hội việc làm cho người có công và thân nhân của họ mặc dùkhông lớn nhưng cũng đáp ứng phần nào nhu cầu làm việc và tạo ra thu nhập cho

họ Ở những nơi điều kiện kinh tế kém phát triển hơn như khu vực vùng sâu, vùng

xa, vùng điều kiện khó khăn thì việc làm không chỉ đối với người có công mà cảthân nhân của họ còn quá xa vời Cuộc sống của bản thân và gia đình chỉ có thểtrông chờ vào khoản trợ cấp hàng tháng ít ỏi so với những khoản chi tiêu hàngngày Đề Thám là một phường thuộc thị xã Cao Bằng, trước đây chưa sát nhập thị

xã điều kiện kinh tế còn kém phát triển, đời sống người dân còn nhiều khó khăn,NCC còn nhiều khó khăn hơn Trong hai năm trở lại đây, Đề Thám bước đầu pháttriển đời sống người dân được cải thiện, nhiều gia đình chính sách đã có điều kiệnphát triển kinh tế gia đình, tìm kiếm việc làm tạo ra thu nhập cho bản thân và giađình Kết quả nghiên cứu cho thấy 4/30 NCC chiếm 13,3% cho rằng có việc làmthường xuyên giúp tạo ra thu nhập ổn định cho chính bản thân và gia đình họ Tỷ

lệ này tuy chưa cao và còn 9/30 NCC chiếm 30% cho rằng không có việc làm

Trang 33

Nhưng những kết quả trên đã thể hiện được phần nào thực trạng đời sống của

NCC và gia đình chính sách có công với cách mạng

Để tìm hiểu thực trạng đời sống người có công với cách mạng tại Đề Thám

thị xã Cao Bằng, đề tài đã sử dụng phương pháp quan sát, phiếu hỏi với số lượng

30 phiếu được phát cho 30 đối tượng người có công khác nhau rải rác khắp 10 tổ

trên địa bàn phường, kết hợp với phỏng vấn sâu, từ đó thấy được sự đánh giá của

bản thân người có công với cuộc sống thực tại của họ, những tâm tư nguyện vọng

cũng như việc thực hiện các chính sách ưu đãi chăm sóc người có công ở địa

phương được thực hiện ra sao và hiệu quả mà nó đem lại như thế nào

2.2.1 Thực trạng về sức khỏe

Qua sự tiếp xúc quan sát tìm hiểu nghiên cứu về NCC với cách mạng hầu

hết NCC với cách mạng tại Đề Thám tuổi tác đã cao, đối với TB BB họ đã vào

khoảng 50, 60 tuổi, đối với các cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi

nghĩa với độ tuổi trung bình từ 70 đến 80 tuổi So với độ tuổi của mình phần lớn

NCC với cách mạng đều trở nên già hơn, ưu tư hơn vì những lo toan trong cuộc

sống, tuổi tác cao, lại mang thương tật bệnh tật nên sức khỏe họ giảm sút nhiều,

điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của chính những người có công.Theo

kết quả khảo sát bằng bảng hỏi, với số lượng 30 phiếu được phát cho 30 đối

tượng là người có công với cách mạng tại Đề Thám kết quả thu được như sau:

(Nguồn: Khảo sát, nghiên cứu)

Kết quả khảo sát cho thấy, tình trạng sức khỏe của người có công chủ yếu

là trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất 63%; lượng người có công có tình trạng ở

mức khỏe đạt 17% Tỷ lệ này tập trung chủ yếu ở các đối tượng là Thương binh

có tỷ lệ MSLĐ từ 21% - 40%, điều đó cho thấy mặt bằng chung của NCC tại Đề

Thám có tình trạng sức khỏe từ trung bình trở lên Còn lại tình trạng sức khỏe

Trang 34

yếu chiếm 13%; trung bình yếu chiếm tỷ lệ thấp nhất 7% Đây là những ngườithuộc nhóm đối tượng phần lớn là các cán bộ tiền khởi nghĩa, cán bộ lão thànhcách mạng và một số thương bệnh binh có tỷ lệ MSLĐ trên 81%.

NCC tự đánh giá sức khỏe của mình trong tình trạng yếu chiếm 13%,những người chọn đáp án này sức khỏe của họ đang ngày càng giảm, họ hầu nhưkhông thể tham gia lao động sản xuất như những người khác chủ yếu là cácCBLTCM, cán bộ TKN, thương bệnh binh có tỷ lệ MSLĐ từ 80% trở lên,những thương tật khiến họ càng yếu đi, các hoạt động chăm sóc hàng ngày đềuphải có người giúp đỡ Tuy nhiên, nhờ sự quan tâm của Nhà nước và cộng đồngtrong việc chăm sóc sức khỏe y tế thường xuyên thăm khám, theo dõi tình trạngsức khỏe nên nhìn chung tuổi cao sức yếu nhưng tình hình sức khỏe của họ phầnnào được ổn định

NCC với cách mạng ở Đề Thám chiếm tỷ lệ lớn nhất là thương binh, bệnhbinh có tỷ lệ MSLĐ chủ yếu là dưới 80%, những đối tượng này tình trạngthương tật, bệnh tật của họ ở mức thấp hơn chủ yếu từ 21 – 40% đối với thươngbinh và từ 41 – 60% đối với bệnh binh cho nên sức khỏe của họ tuy có giảmnhưng vẫn còn ở mức khỏe so với những người có công khác chiếm 7% Họ vẫncòn khả năng tham gia lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất cho gia đình và

xã hội Đây cũng là nguồn động viên của biết bao gia đình chính sách, bởi trong

số ít những người này vẫn có công ăn việc làm ổn định

Bên cạnh đó, chiếm tỷ lệ cao nhất 63% NCC đánh giá sức khỏe mình ởmức trung bình Đó là những thân nhân liệt sỹ, người thờ cúng liệt sỹ, và một sốthương binh có tỷ lệ MSLĐ ở mức thấp Bởi, hầu hết họ ít ảnh hưởng trực tiếpcủa chiến tranh, họ không có những vết thương thực thể, nhưng sức khỏe của họcũng giảm dần theo năm tháng

Với tình trạng sức khỏe như vậy khi được hỏi về chế độ chăm sóc sứckhỏe hầu hết NCC Đề Thám đều khẳng định họ có thẻ BHYT giành cho NCCvới cách mạng, cũng nhờ có thẻ BHYT mà họ có điều kiện thường xuyên tham

Từ ngày xuất ngũ có kết quả giám định thương tật, tôi bị MSLĐ 41%, tôi bị cụt 1/3 chân trái, tuổi già đã yếu nay càng yếu hơn đi lại khó khăn nên làm gì cũng vất vả (Tâm sự của thương binh T.V.Q tổ 2 phường Đề Thám).

Trang 35

gia khám sức khỏe tại các cơ sở trạm y tế phường, bệnh viện hơn Kết quả khảosát cho thấy tỷ lệ người có công tham gia khám chữa bệnh tại cơ sở y tế địaphương là 90%, còn lại 10% là không thường xuyên tham gia Nguyên nhân chủyếu dẫn đến tình trạng 10% không thường xuyên tham gia khám chữa bệnh tại

cơ sở y tế địa phương phần lớn là do tâm lý chủ quan của người có công

Mặt khác, với những vết thương thực thể, tuổi tác cao sức khỏe giảm dầnNCC hầu hết đều có tâm lý bất mãn nếu họ cảm thấy mình không được tôntrọng Do vậy, thái độ chất lượng phục vụ của các cán bộ y tế địa phương cũngrất quan trọng

(Nguồn: Khảo sát, nghiên cứu)

Theo kết quả khảo sát của đề tài cho thấy 6,7% người có công cho rằngthái độ cán bộ y tế phường thiếu nhiệt tình, khi người có công đến trạm y tế hoặcbệnh viện khám thường phải đợi rất lâu và thái độ của một vài y tá chưa đượctốt Thương binh Vi Văn Thượng tại tổ 8 (xóm Vò Dặm) cho biết, do bị cụt một

Tôi có tỷ lệ thương tật 21%, ít ốm đau nên bình thường tôi rất ít đi khám bệnh, thỉnh thoảng nắng mưa trở trời vết thương tái phát tôi mới đi khám lấy thuốc, chứ bệnh nhẹ thì chữa ở nhà cũng được (Thương binh

V.N.H tỷ lệ MSLĐ 21% tổ 7 xóm Bản Lày)

Trang 36

tay và còn nhiều mảnh đạn trong cơ thể, mỗi khi vết thương tái phát ông thườngphải xuống bệnh viện Tỉnh nhưng thái độ phục vụ ở đấy cũng không tốt:

Tuy nhiên, tỷ lệ này chiếm rất ít phần lớn người có công đánh giá thái độnhiệt tình chiếm tỷ lệ lớn nhất 60% và 33% cho rằng bình thường Bình thường

ở đây được hiểu là có tinh thần trách nhiệm trong công việc nhưng thiếu sự quantâm, nhiệt tình

Sức khỏe NCC nhìn chung đã suy giảm nhiều do thương tật, bệnh tật haytuổi tác, những vết thương của chiến tranh đã và đang giày xéo về thể xác lẫntinh thần đối với mỗi thương bệnh binh Đặc biệt là những người HĐKC bịnhiễm CĐHH như trường hợp ông Nông Văn Ang, hàng ngày phải chứng kiếnđứa con ngây dại, quằn quoại trong nỗi đau thể xác, còn nỗi đau nào hơn khichính bản thân ông bị nhiễm chất độc hóa học nhưng người gánh chịu hậu quảlại là những đứa con thân yêu

Bộ phận những người có công khác mặc dù thương tật, bệnh tật nhẹ hơnnhưng sức khỏe của họ cũng bị giảm sút do tuổi cao, sức đã yếu lại còn tìnhtrạng thương tật, bệnh tật do hậu quả chiến tranh để lại nên họ thường xuyênphải chịu những cơn đau mỗi khi trái gió, trở trời Bởi vậy, để chăm sóc tốt hơnđời sống cho NCC cần phải chú ý đến công tác chăm sóc sức khỏe, tổ chứckhám chữa bệnh định kỳ cho NCC trên địa bàn phường để họ ổn định sức khỏe

ổn định cuộc sống

Chăm lo cuộc sống cho NCC không chỉ những hỗ trợ về vật chất, tinhthần nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm bớt khó khăn, mà việc chăm losức khỏe cho họ chiếm một vị trí rất quan trọng trong việc thực hiện các chươngtrình chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng Bởi vậy, việc quan tâmchăm sóc đời sống vật chất, cũng như tinh thần, đặc biệt là sức khỏe của Người

có công là việc làm đòi hỏi sự chung tay, góp sức của cả cộng đồng Từ kết quảtrên ta thấy rằng thái độ phục vụ của các cán bộ y tế cấp cơ sở rất quan trọng, vìđây là khâu đầu tiên và cũng là trực tiếp khám và theo dõi, điều trị bệnh cho

Người ta cho ít tiền thì được khám, mổ trước, còn mình thì phải đợi, xếp hàng đến lượt, mình là người có công với nước chẳng nhẽ lại không bằng họ, vẫn phải mất tiền ư… (Thương binh V.V.T tổ 8 xóm Vò Nhạn phường Đề

Thám)

Trang 37

người có công Do đó, cần nâng cao hơn nữa chất lượng công tác phục vụ vàthái độ làm việc của cán bộ y tế địa phương.

2.2.2 Thực trạng về việc làm

Việc làm đối với người bình thường đã khó đối với NCC với cách mạngcòn khó khăn hơn, bởi để có một công việc cho thu nhập ổn định phụ thuộc vàorất nhiều yếu tố: sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ tay nghề, kinh nghiệmtrong công việc, tuổi tác phù hợp Chính những yếu tố này lại là những cản trởđối với người có công với cách mạng, họ có thể hy sinh cả tuổi thanh xuân cho

sự nghiệp cách mạng nhưng khi trở về với cuộc sống đời thường dường như khókhăn gian khổ nơi chiến trường cũng không bằng những vất vả cho cuộc sốngmưu sinh Chính vì vậy, việc làm là một vấn đề quá xa vời với hầu hết người cócông với cách mạng, đặc biệt là ở những khu vực vùng sâu, vùng xa như CaoBằng Ưu tiên đào tạo học nghề và tìm kiếm việc làm cho người có công vớicách mạng là một chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, vì việc làm có

ý nghĩa rất quan trọng đối với người và gia đình người có công Có việc làm sẽtạo ra thu nhập ổn định đồng thời khẳng định giá trị cống hiến của NCC khôngchỉ trong thời chiến mà còn trong thời kì xây dựng và phát triển đất nước Tuynhiên, giải quyết vấn đề việc làm cho người có công cần chú ý phù hợp với khảnăng lao động tình trạng thương tật bệnh tật của họ

Kết quả khảo sát cho thấy vấn đề việc làm của người có công với cáchmạng ở Đề Thám vẫn chưa được giải quyết triệt để

Bảng 2: Vấn đề việc làm của người có công

(Nguồn: Khảo sát nghiên cứu)

Số liệu trên cho thấy 4 người trong tổng số 30 người có công với cáchmạng chiếm 13,3% có việc làm, việc làm ở đây được hiểu là những công việc

mà NCC đang làm và nó tạo ra thu nhập ổn định cho người có công có thể từ 2

-3 triệu đồng/tháng, nhưng tỷ lệ này còn rất ít 9 phiếu trả lời trong tổng số -30

Việc làm của người có công Tần suất

Trang 38

phiếu được hỏi tương ứng với 30% NCC có ý kiến là không có việc làm Chia sẻ

về vấn đề này Bệnh binh Đoàn Văn Xô tổ 8 (xóm Vò Nhạn) cho biết:

Điều đó cho thấy giải quyết việc làm cho NCC tại Đề Thám trong nhữngnăm qua vẫn còn nhiều bất cập, chưa được giải quyết thỏa đáng dẫn đến một sốthương bệnh binh còn nhiều thắc mắc, chưa hài lòng

17/30 phiếu được hỏi chiếm 56,7% NCC trả lời có việc làm nhưng chỉ làviệc làm theo thời vụ Việc làm thời vụ ở đây được hiểu là những công việcmang tính chất mùa vụ diễn ra trong khoảng thời gian nhất định và thu nhậpđem lại ít và không cố định như: sửa xe, cắt tóc, làm thuê theo mùa vụ… trongkhi đó, nhu cầu việc làm của người có công là rất lớn đặc biệt là đối với nhữngthương bệnh binh còn khả năng lao động Không có việc làm hoặc có việc làmnhưng không ổn định sẽ ảnh hưởng đến thu nhập và chất lượng cuộc sống củangười và gia đình người có công

Việc làm không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với người có công mà thânnhân của họ cũng cần có việc làm, đặc biệt là con em gia đình chính sách Cóviệc làm mới tăng nguồn thu nhập cho từng thành viên trong gia đình họ, hơnnữa cũng tạo thêm động lực không chỉ đối với NCC mà còn cả gia đình họ cốgắng vươn lên, tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, xây dựng gia đìnhcách mạng gương mẫu, gia đình kiểu mẫu xứng đáng là những tấm gương sángcho người khác noi theo

Tuy nhiên, mặc dù tỷ lệ người có công Đề Thám có việc làm ít và không

có việc làm còn nhiều nhưng con em của họ lại được ưu tiên trong tuyển dụnglao động, việc làm nhưng con số này cũng chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ Vớinhững khó khăn vốn có hầu hết người có công với cách mạng không thể chăm lohết cho con cái của họ vì vậy ưu đãi trong giáo dục và đào tạo đối với con em

Những người Thương binh, bệnh binh như chúng tôi làm gì có việc làm

ổn định, bao năm nay cả gia đình tôi chỉ trông chờ vào đồng tiền kiếm được ngoài chợ Nói chung cũng tạm ổn chứ nhiều người thương binh ở đây họ còn không có đồng ra đồng vào đâu Mình phải tự lực thôi chờ Nhà nước thì lâu lắm, chính quyền họ nói sẽ giải quyết việc làm cho mình nhưng chờ mãi chẳng thấy đâu…(Bệnh binh Đ.V.X tổ 8 xóm Vò Nhạn phường Đề Thám)

Trang 39

gia đình chính sách là điều rất cần thiết Ưu đãi trong miễn giảm học phí, trangthiết bị đồ dùng sách vở học tập, trợ cấp hàng tháng cho con em gia đình chínhsách đang theo học tại các trường công lập, trường Cao Đẳng Đại học, trung cấpchuyên nghiệp vừa thể hiện trách nhiệm, tình cảm, lòng biết ơn, sự đền đáp đốivới công lao hy sinh của người có công và gia đình họ Tuy nhiên bên cạnh việcthực hiện ưu đãi trong giáo dục, Nhà nước và chính quyền các cấp cũng cần cócác qui định cụ thể ưu tiên giải quyết việc làm cho con em các gia đình chínhsách người có công với cách mạng.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng 30% người có công không có việc làm ở

Đề Thám chủ yếu là do họ không có tay nghề, không có bằng cấp, cùng tìnhtrạng sức khỏe giảm do thương tật, bệnh tật nên hầu hết người có công Đề Thámkhông có việc làm ổn định, phần lớn là những công việc mang tính thời vụ Mộtnguyên nhân nữa khiến NCC Đề Thám không có việc làm là do các doanhnghiệp, cơ quan ngại tuyển chọn lao động là NCC, họ lo ngại về tình trạng sứckhỏe cùng với tuổi tác đã cao, trình độ tay nghề, trình độ chuyên môn thấp, hơnnữa khả năng làm thêm của họ không có Do đó, để giải quyết việc làm choNgười có công cần phải lưu ý bởi hiện nay những người còn khả năng lao độngcũng đã vào độ tuổi trung niên cho nên, giải quyết việc làm cho người có côngđòi hòi các cấp chính quyền địa phương cần sắp xếp, bố trí những công việc phùhợp với tuổi tác và tình trạng thương tật

2.2.3 Thực trạng về thu nhập

Mức thu nhập ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người có công và gia đình

họ nhưng hiện nay, đại đa số đối tượng NCC Đề Thám đều dựa vào nguồn thunhập chính từ trợ cấp ưu đãi hàng tháng của nhà nước Một số đối tượng nhưngười thờ cúng liệt sỹ có 46 người chiếm tỷ lệ nhiều nhất 27,87% trong tổng sốNCC tại Đề Thám, đối tượng này lại không có trợ cấp hàng tháng bởi vậy điềukiện sống lại càng khó khăn hơn Và theo kết quả khảo sát cũng cho thấy ngoàikhoản trợ cấp, ưu đãi hàng tháng hầu hết người có công tại Đề Thám không cóthu nhập nào khác, các nguồn thu nhập thêm chỉ là từ làm kinh tế hộ gia đình,kinh doanh các dịch vụ nhỏ lẻ nhưng cũng không đảm bảo ổn định

Bảng 3: Nguồn thu nhập khác của NCC và gia đình

Trang 40

(Nguồn: Khảo sát, nghiên cứu)

Kết quả khảo sát cho thấy 3/30 người chiếm 10% NCC không có nguồnthu nhập nào khác ngoài các khoản trợ cấp Do tuổi tác cao, sức khỏe lại yếu,không có trình độ chuyên môn nên hầu hết NCC trong nhóm tỷ lệ này thườngsống phụ thuộc vào các khoản trợ cấp của nhà nước Đặc biệt là đối với nhữngthương bệnh binh nặng, cán bộ lão thành cách mạng, thân nhân Liệt sỹ, đây lànhóm đối tượng không có nguồn thu nhập thêm Chia sẻ của một thương binh ở

tổ 3:

Phần lớn NCC với cách mạng đều có nguồn thu nhập khác từ làm kinh tếgia đình 18/30 phiếu được hỏi tương ứng 60% trả lời rằng có thu nhập thêm dolàm kinh tế gia đình chăn nuôi, trồng trọt đem lại thu nhập cho bản thân và giađình họ góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống Một phần là do họ tự lực cánhsinh vay vốn để làm kinh tế gia đình (làm ruộng, nấu rượu và nuôi lợn) hay(trồng cây ăn quả, đào ao thả cá) và có sự hướng dẫn kĩ thuật, giúp đỡ của cácchi hội của địa phương Bên cạnh sự hỗ trợ từ phía nhà nước, mỗi NCC đều phải

tự nỗ lực vươn lên rất nhiều, ngoại trừ một số NCC có công ăn việc làm ổn định,

họ đều kiếm thêm thu nhập từ kinh doanh các dịch vụ nhỏ lẻ, buôn bán tạp hóavăn phòng phẩm hay chăn nuôi trồng trọt Tuy các hình thức có khác nhaunhưng tất cả những công việc trên đều tạo ra thu thập cho NCC và gia đình họ

Sinh viên thực hiện - Lớp D4CT2

Nguồn thu nhập khác Tần suất

Làm kinh tế cũng có thu nhập nhưng vất vả lắm, nhà tôi nuôi ong và thả

cá rô phi hàng năm cũng cho thu nhập dăm chục triệu nhưng trừ chi phí đầu

35

Ngày đăng: 19/11/2013, 01:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Qui mô, cơ cấu người có công với cách mạng phường Đề Thám - Thực trạng công tác xã hội hóa chăm sóc Người có công tại phường Đề Thám Thị xã Cao Bằng Tỉnh Cao Bằng
Bảng 1 Qui mô, cơ cấu người có công với cách mạng phường Đề Thám (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w