TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- NGUYỄN NGỌC HÙNG NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG CÀ CHUA NHẬP NỘI TRONG ĐIỀU KIỆN TRỒNG TRÁI VỤ Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TỈNH LÀO CA
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
NGUYỄN NGỌC HÙNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG CÀ CHUA NHẬP NỘI TRONG ĐIỀU KIỆN TRỒNG TRÁI VỤ
Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Thái Nguyên - 2019
Trang 2-
NGUYỄN NGỌC HÙNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG CÀ CHUA NHẬP NỘI TRONG ĐIỀU KIỆN TRỒNG TRÁI VỤ
Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TỈNH LÀO CAI
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số ngành: 8 62 01 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Mão
Thái Nguyên - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả công bố trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng bảo vệ một học vị nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn được ghi rõ nguồn gốc
Ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Hùng
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo, toàn thể gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn này, xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó
Tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy, cô giáo và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Hùng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học 4
1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu cà chua trên thế giới 5
1.2.1 Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới 5
1.2.2 Tình hình nghiên cứu cà chua trên thế giới 8
1.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu cà chua ở Việt Nam 8
1.3.1 Tình hình sản xuất cà chua ở Việt Nam 11
1.3.2 Tình hình nghiên cứu cà chua ở Việt Nam 13
1.4 Tình hình sản xuất và nghiên cứu cà chua ở Lào Cai: 22
1.4.1 Tình hình sản xuất cà chua ở Lào Cai: 22
1.4.2 Tình hình nghiên cứu cà chua ở Lào Cai: 23
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 25
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 27
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 27
2.2.2 Thời gian nghiên cứu: 28
2.3 Nội dung nghiên cứu 28
2.4 Phương pháp nghiên cứu 28
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 28
Trang 62.4.2 Các biện pháp kỹ thuật 29
2.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 31
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 35
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển và hình thái của các giống cà chua 36
3.1.1 Thời gian sinh trưởng, phát triển của các giống cà chua trong giai đoạn vườn ươm 36
3.1.2 Sinh trưởng, phát triển chiều cao cây của các giống cà chua trong giai đoạn vườn ươm 37
3.1.3 Sinh trưởng và phát triển của các giống cà chua thời kỳ ở ruộng sản xuất 38
3.1.4 Động thái tăng trưởng chiều cao và số lá của các giống cà chua trong thí nghiệm 43
3.2 Đặc điểm hình thái của các giống cà chua 56
3.2.1 Một số chỉ tiêu và đặc điểm hình thái cây cà chua 60
3.2.2 Một số chỉ tiêu và đặc điểm hình thái quả 53
3.3 Tình hình nhiễm sâu bệnh hại của các giống cà chua tham gia thí nghiệm 47
3.4 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 60
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 67
1 Kết luận 67
2 Đề nghị 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới trong những năm gần đây
2011 - 2017 6 Bảng 1.2 Sản lượng cà chua của một số nước sản xuất cà chua lớn nhất thế giới từ năm 2012 - 2017 7 Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng cà chua của các châu lục trên thế giới năm 2017 7 Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng cà chua của Việt Nam năm 2013 -
vụ Xuân Hè năm 2018 tại phường Nam Cường TP Lào Cai và xã Sa Pả huyện
Sa Pa 39 Bảng 3.4 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống cà chua vụ Xuân
Hè năm 2018 tại phường Nam Cường thành phố Lào Cai 44 Bảng 3.5 Động thái tăng trưởng chiều cao của các giống cà chua vụ Xuân Hè năm 2018 tại xã Sa Pả huyện Sa Pa 45 Bảng 3.6 Động thái tăng trưởng số lá trên thân chính của các giống cà chua
vụ Xuân Hè năm 2018 tại phường Nam Cường, thành phố Lào Cai 47 Bảng 3.7 Động thái tăng trưởng số lá trên thân chính của các giống cà chua
vụ Xuân Hè năm 2018 tại xã Sa Pả, huyện Sa Pa 46
Trang 8Bảng 3.8 Một số đặc điểm hình thái cây của các giống cà chua vụ Xuân Hè năm 2018 tại phường Nam Cường TP Lào Cai và xã Sa Pả huyện Sa Pa 58 Bảng 3.9 Một số đặc điểm hình thái quả của các giống cà chua vụ Xuân Hè
2018 tại phường Nam Cường TP Lào Cai và xã Sa Pả huyện Sa Pa 53 Bảng 3.10 Tình hình bệnh hại cây cà chua tại phường Nam Cường thành phố Lào Cai và xã Sa Pả huyện Sa Pa, vụ Xuân Hè năm 2018 49 Bảng 3.11 Tình hình sâu hại cây cà chua tại phường Nam Cường thành phố Lào Cai và xã Sa Pả huyện Sa Pa, vụ Xuân Hè năm 2018 61 Bảng 3.12 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống cà chua
vụ Xuân Hè 2018 tại phường Nam Cường thành phố Lào Cai 63 Bảng 3.13 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống cà chua
vụ Xuân Hè 2018 tại xã Sa Pả huyện Sa Pa 57 Bảng 3.14 Một số chỉ tiêu chất lượng quả vụ Xuân Hè 2018 tại phường Nam Cường TP Lào Cai và xã Sa Pả huyện Sa Pa 65
Trang 9MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cà chua (Lycopercicon esculentum Mill.) là nguồn thực phẩm cung cấp
dinh dưỡng rất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể con người như: -Caroten, chất khoáng Ca, Fe, P, S, K, Mg, Na , đường và các loại vitamin A, B, B2, C,
E và PP (Thế Mậu, 2003) [17] Ngoài ra nó còn có tác dụng chữa bệnh, chất
Licopen - thành phần tạo nên màu đỏ của cà chua có khả năng giúp giảm nguy
cơ mắc bệnh tim mạch, có khả năng ngăn ngừa sự hình thành các gốc tự do gây ung thư, đặc biệt là ung thư tuyến tiền liệt (Đỗ Tất Lợi, 1999) [13] Cà chua tươi và sản phẩm chế biến còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện điều kiện kinh tế cho người sản xuất
Tuy mới có mặt ở Việt Nam từ hơn 100 năm nay, nhưng do điều kiện ngoại cảnh thuận lợi kết hợp với hiệu quả kinh tế cao nên cây cà chua cũng khá phát triển ở nước ta, đặc biệt là ở các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ
Thời gian qua nhờ áp dụng những tiến bộ kỹ thuật về giống trong sản xuất cà chua đã chọn tạo ra được nhiều dòng, giống thích ứng được với điều kiện tự nhiên của các vùng trong cả nước Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh Lào Cai cũng như khu vực Đông Bắc Bộ, phần lớn diện tích trồng cà chua tập trung vào chính vụ (vụ Đông xuân), năng suất cao nhưng giá thấp, cung vượt quá cầu, tiêu thụ chậm, trong khi đó cà chua trái vụ như: vụ Hè Thu, vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè diện tích còn ít, nên chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ quanh năm Một trong những nguyên nhân là do thiếu bộ giống có khả năng trồng trong điều kiện bất thuận (trái vụ) Mặt khác, do ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu trên toàn cầu, thời tiết biến đổi thất thường, nhiệt độ tăng cao cùng với hạn hán và ngập úng bất thường xảy ra ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cà chua Chính vì vậy, việc lựa chọn giống cà chua có
Trang 10khả năng chịu nhiệt và phù hợp với điều kiện bất thuận của tỉnh Lào Cai là rất cần thiết
Trong những năm gần đây, cây cà chua bắt đầu được trồng phổ biến ở Lào Cai Năm 2018, diện tích trồng đạt 106 ha, năng suất đạt 12 tấn/ha, sản lượng xấp xỉ 1.300 tấn Tuy nhiên, so với các tỉnh khác, diện tích trồng và năng suất cà chua của tỉnh Lào Cai còn thấp, do chưa có bộ giống tốt, đặc biệt là các giống phù hợp với điều kiện trồng trái vụ Hiện nay, có nhiều giống cà chua mới được nghiên cứu chọn tạo trong nước cũng như nhập khẩu vào nước ta nhằm cải thiện bộ giống cà chua hiện có đặc biệt là các giống trồng trái vụ như giống Arka F, Lai F1 Vạn Xuân, Mongal T-11 Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh Lào Cai, những giống mới này chưa được nghiên cứu đánh giá về sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất trong điều kiện trái vụ Xuất phát từ yêu
cầu thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng
sinh trưởng, phát triển của một số giống cà chua nhập nội trong điều kiện trồng trái vụ ở một số địa phương tỉnh Lào Cai”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu
Trang 11- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống
cà chua trong vụ Xuân hè năm 2018
- Đánh giá chất lượng quả của các giống cà chua trong vụ Xuân hè năm 2018
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học
Cà chua là loại cây ôn đới, cho nên chúng được trồng chủ yếu vụ Đông Xuân, cây sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao nhưng giá thành thấp Vào các vụ Xuân Hè, Hè Thu diện tích trồng cà chua ít, năng suất thấp, nhiều sâu bệnh Một trong những nguyên nhân đó là do thiếu giống Bộ giống cà chua hiện tại khá nghèo nàn, năng suất, chất lượng chưa cao, dễ nhiễm sâu bệnh, chưa khắc phục được tính thích ứng và chống chịu với môi trường, đặc biệt là tính chịu nóng Chính vì vậy, việc tìm ra giống mới giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao và chịu được nóng là một yêu cầu hết sức cần thiết
Hiện nay một số giống cà chua nhập nội mới có khả năng chịu hạn và chịu nhiệt tốt khi trồng trong điều kiện trái vụ, cho năng suất chất lượng cao
đã và đang được trồng trên một số vùng chuyên canh ở nước ta
Trong sản xuất cà chua, giống có vai trò rất quan trọng góp phần nâng cao năng suất và sản lượng Với cây cà chua ở Việt Nam, ta có bộ giống được chọn tạo ra khá phong phú Trong những năm qua Bộ Nông nghiệp và PTNT
đã xét, công nhận được nhiều giống cà chua mới cho năng suất chất lượng cao
đã được công nhận giống quốc gia đang được trồng trên một số vùng chuyên canh ở nước ta như: Công ty Trang Nông có giống TN129, TN386, TN148,
TN 52, TN54 Công ty Hoa Sen có giống VL 2910, VL 2922, VL 2000, VL
2004, GS 1200 Viện nghiên cứu rau quả TW chọn tạo ra giống PT18, Lai số
4, Lai số 9, Lai số 1, B2M4, R5-18 Viện cây lương thực có giống C95, C155, VT3, Hồng Lan Học viện Nông nghiệp Việt Nam chọn tạo giống HT7, HT9 Ngoài ra, một số công ty TNHH trong và ngoài nước đã lai tạo và nhập nội liên tục các giống cà chua mới như: HT7, HT21, HT46, HT160, HT162 để tăng năng suất cũng như sản lượng, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước
Trang 13Cà chua được trồng chính vụ ở Lào Cai là vụ Thu Đông và Đông Xuân với tổng sản lượng lên đến 1.273 tấn Tuy nhiên, đây cũng là vụ thu hoạch cà chua chính của các vùng sản xuất cà chua trên cả nước Do đó, giá bán trên thị trường khá thấp, không đạt hiệu quả kinh tế Khắc phục khó khăn trên, người dân địa phương đã lựa chọn những giống cà chua chịu nhiệt để chuyển đổi thời vụ trồng cà chua từ chính vụ sang trái vụ nhằm mục đích rải vụ, nâng cao giá thành sản phẩm
Vụ Hè Thu nhiệt độ của thành phố Lào Cai khá cao (trung bình 31,80C), cây cà chua sinh trưởng phát triển kém, sâu bệnh phát triển mạnh, quả nhỏ và có mẫu mã kém
đã ảnh hưởng tới năng suất cũng như giá bán Người dân địa phương đã lựa chọn
vụ Xuân Hè để sản xuất cà chua trái vụ
Trên cơ sở yêu cầu sinh thái của cây cà chua, với điều kiện đất đai và khí hậu của tỉnh Lào Cai, những giống cà chua mới thích hợp trồng trong điều kiện trái vụ có thể sinh trưởng phát triển tốt và cho năng suất cao Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn tỉnh Lào Cai bộ giống cây cà chua sử dụng trồng trái vụ còn thiếu Chủ yếu người dân dùng giống Chanoka F1 trồng trong điều kiện trái vụ, nhưng năng suất thấp chưa đáp ứng được nhu cầu của người sản xuất cũng như người tiêu dùng Những lý do trên là cơ sở cho chúng tôi tiến hành thí nghiệm để lựa chọn giống cà chua có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện trái vụ tại Lào Cai
1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu cà chua trên thế giới
1.2.1 Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới
So với các cây trồng khác thì cây cà chua là cây trồng có lịch sử phát triển tương đối muộn Song với giá trị dinh dưỡng, hiệu quả kinh tế
và khả năng thích nghi cao, dễ canh tác, cà chua được phát triển khá nhanh chóng và ngày càng được chú trọng Qua bảng số liệu thống kê tình hình sản xuất cà chua trên thế giới trong những năm gần đây chúng ta có thể thấy rõ điều này
Trang 14Bảng 1.1 Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới trong những năm
gần đây 2011 - 2017
Năm Diện tích
(ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (tấn)
Nguồn: FAOSTAT - FAO statistic Division, 2019 [29]
Qua bảng 1.1 ta thấy: tình hình sản xuất cà chua trong những năm gần đây tăng dần về diện tích Từ năm 2011 đến năm 2016 diện tích cà chua tăng
từ 4.681.973 ha đến 5.786.746 ha, tăng 1.104.773 ha Năng suất cà chua năm
2012 giảm so với năm 2011 nhưng không đáng kể Từ năm 2012 đến năm
2016 năng suất cà chua liên tục tăng, trung bình cao nhất đạt 40,34 tấn/ha năm 2016 và thấp nhất là 32,85 tấn/ha năm 2012 Do diện tích sản xuất cà chua tăng lên hàng năm, cộng thêm năng suất bình quân khá cao và ổn định nên hàng năm thế giới thu được sản lượng cà chua khá lớn, dao động từ 158.231.067 tấn năm 2011 đến 233.466.175 tấn năm 2016 So với năm 2011 thì đến năm 2016 sản lượng cà chua đã tăng lên xấp xỉ 75 triệu tấn Theo tổ chức nông lương thế giới (FAO), năm 2016 diện tích trồng cà chua trên thế giới đạt gần 5,8 triệu ha, sản lượng đạt hơn 233 triệu tấn, cao nhất từ trước tới nay Đến năm 2017, cà chua trên thế giới giảm cả về diện tích, năng suất và sản lượng Tổng diện tích đạt 4.848.354 ha, năng suất đạt 37,6 tấn/ha và sản lượng là 182.301.395 tấn (giảm hơn 51 triệu tấn so với năm 2016)
Trang 15Bảng 1.2 Sản lượng cà chua của một số nước sản xuất cà chua lớn nhất
Ấn Độ 18.653.000 18.227.000 18.735.910 16.385.000 18.399.000 20.768.000 Italia 5.592.302 5.321.219 5.624.245 6.410.249 6.437.572 6.015.868
Ai Cập 8.625.291 8.290.551 8.288.043 7.737.827 7.943.285 7.297.108 Tây Ban Nha 4.046.400 3.772.864 4.888.880 4.832.700 4.671.807 5.163150 Braxin 3.873.985 4.187.646 4.302.777 4.187.729 4.167.629 4.230.150 Iran 5.470.006 5.649.999 5.973.275 6.013.142 6.372.633 6.177.290 Mêhico 3.433.567 3.282.583 3.536.305 3.782.314 4.047.171 4.165.350
Nguồn: FAO STAT Statistics Division 2019 [29]
Qua bảng 1.2 ta thấy, trong các nước trồng cà chua trên thế giới thì Trung Quốc là nước đứng đầu cả về diện tích và sản lượng Trong vòng 6 năm từ năm 2012 đến năm 2017 Trung Quốc là nước có sản lượng cà chua cao nhất trong 10 nước đứng đầu thế giới, đồng thời sản lượng tăng liên tục từ 48,17 triệu tấn năm 2012 đến 59,63 triệu tấn năm 2017 Ấn Độ, Mỹ, Thổ Nhĩ
Kỳ, Ai Cập… có sản lượng cà chua hàng năm đạt thấp hơn Trung Quốc
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng cà chua của các châu lục trên
thế giới năm 2017
Châu Diện tích
(ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (tấn)
Nguồn: FAO STAT Statistics Division 2019 [29]
Trang 16Qua bảng 1.3 ta thấy, châu Á là châu lục có sản lượng cà chua lớn nhất 111.424.985 tấn với diện tích 2.604.901 ha Sau đó mới tới châu Âu và các châu lục khác Mặc dù châu Phi có tổng diện tích trồng cà chua đứng thứ 2 sau châu Á, nhưng do năng suất thấp nhất 16,40 tấn/ha nên sản lượng gần như
là thấp nhất
Về mặt sản lượng, cà chua chiếm 1/6 tổng sản lượng rau hàng năm trên toàn thế giới và luôn đứng ở vị trí số một Qua đây có thể thấy cà chua có vị trí quan trọng như thế nào Châu Á tuy là châu lục sản xuất cà chua nhiều nhất trên thế giới (chiếm 22%) nhưng hàng năm vẫn phải nhập khẩu trên 21 triệu tấn cà chua tươi, chiếm hơn 60% lượng cà chua nhập khẩu của toàn thế giới Đứng đầu trong các nước nhập khẩu cà chua là: Anh, Đức, Hà Lan… (Trần Khắc Thi và Mai Phương Anh, 2003) [20]
Do có giá trị kinh tế cao và khả năng thích nghi cao, dễ canh tác, cà chua nhanh chóng trở thành cây trồng được ưa chuộng ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia thuộc châu Á vì đây là khu vực có điều kiện khí hậu tương đối phù hợp cho cà chua sinh trưởng phát triển và cho năng suất cao Mặt khác, do khả năng tiêu thụ mặt hàng này là khá tốt với một thị trường rộng lớn và ổn định cây cà chua đã nhanh chóng trở thành một trong những cây trồng chính ở nhiều quốc gia trên thế giới
1.2.2 Tình hình nghiên cứu cà chua trên thế giới
Về tình hình nghiên cứu cà chua trên thế giới hiện nay vẫn chủ yếu tập trung về lĩnh vực chọn tạo giống có khả năng cho năng suất, chất lượng cao,
có khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận Các nhà khoa học đã sử dụng nguồn gen của các loài cà chua hoang dại và bán hoang dại, bằng nhiều con đường khác nhau như: lai tạo, chọn lọc, gây đột biến… để tạo ra các giống cà chua có nhiều đặc điểm như mong muốn
Bên cạnh các thành tựu về gen, việc ứng dụng hiệu quả ưu thế lai vào
cà chua được phát triển mạnh ở thế kỷ 20 Hiện nay ưu thế lai được ứng dụng
Trang 17rộng rãi trong sản xuất do con lai có những ưu điểm vượt trội so với bố mẹ như: chỉ số chín sớm, chất lượng, năng suất, độ đồng đều của quả cao, có khả năng chống chịu sâu bệnh hại và điều kiện bất thuận của môi trường tốt
Đối với cà chua trái vụ thì nhiệt độ và mưa nhiều là hai yếu tố chính hạn chế sản xuất cà chua trái vụ ở vùng nhiệt đới Nhiệt độ cao ảnh hưởng đến quá trình ra hoa, kết quả làm giảm tỷ lệ đậu quả ở hầu hết các giống; mưa nhiều làm nứt quả hoặc kìm hãm sự phát triển của quả, làm giảm chất lượng quả (Kuo et al., 1998) [30]
Từ năm 1972, Trung Tâm Rau Châu Á (AVRDC) đã bắt đầu chương trình lai tạo giống với mục đích tăng cường sự thích ứng của cây cà chua với vùng nhiệt đới nóng ẩm Giai đoạn đầu tiên của chương trình này (1973 - 1980) tập trung phát triển các dòng lai tạo có tính chịu nóng tốt và chống chịu bệnh héo xanh vi khuẩn Hai tính trạng này quan trọng cần phải có trong các giống mới để thích ứng với vùng nhiệt đới Từ năm 1980, các giống cà chua nhiệt đới đã được cải tiến thêm các tính trạng khác, cải thiện kích thước quả, năng suất, hình thái, độ cứng và chống nứt quả
Chọng giống cây cà chua có khả năng sinh trưởng bình thường và ra hoa đậu quả ở nhiệt độ cao, có ý nghĩa vô cùng lớn trong cung cấp cà chua quanh năm Mục tiêu của dự án phát triển của cà chua của Trung tâm rau Châu Á (AVRDC, 1986) đối với chọn giống cà chua là: chọn giống năng suất cao, thịt quả dày, màu sắc thích hợp, khẩu vị ngon, chất lượng cao, chống nứt quả, đậu quả tốt ở điều kiện nhiệt độ và độ ẩm cao, tiến hành chọn giống chống chịu
Nhiều nghiên cứu về chọn lọc các giống cà chua chịu nóng đã được tiến hành ở Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc và Mỹ cũng như một số nước khác trên thế giới Ở Ấn Độ, trong điều kiện mùa hè nhiệt độ ngày đêm là
40OC/25OC đã xác định các dòng có tỷ lệ đậu quả cao từ 60 - 83% là EC
50534, EC 788, EC 455, EC 276, EC 10306, EC 2694, EC 4207 dùng làm các vật liệu lai tạo giống chịu nhiệt Trong điều kiện nhiệt độ ngày đêm là 35,9OC/23,7OC tại Tamil Nadu (Ấn Độ), 124 dòng cà chua đã được đánh giá chịu nhiệt trong đó 2 dòng là LE.12 và LE.36 có tỷ lệ đậu quả cao
Trang 18Trường Đại Học Nông Nghiệp Punjab ở Ludhiana - Ấn Độ, năm 1981
đã chọn tạo ra giống Punjab chhuhara có năng suất cao (75 tấn/ha) với chất lượng quả tốt, quả to trung bình, rất chắc chắn, không hạt, không chua, thịt quả dày, quả chín đỏ đều, đặc biệt có thể duy trì chất lượng thương phẩm trong thời gian dài ở điều kiện mùa hè, rất thích hợp cho việc thu hoạch cơ giới, vận chuyển và bảo quản lâu dài Năm 1983, Viện nghiên cứu Nông nghiệp Ấn Độ ở New Delhi chọn tạo ra giống Pusa Gaurav cũng mang đặc điểm tương tự Punjab chhuhara, thích hợp cho cả ăn tươi lẫn chế biến, chịu vận chuyển và bảo quản lâu dài (Kiều Thị Thư, 1998) [23]
Đánh giá 9 dòng cà chua về khả năng chịu nóng, Abdul baki (1995) [28] đã rút ra những ưu thế của nhóm chịu nóng ở một loạt các tính trạng: đậu quả, nở hoa, năng suất quả, số hạt/quả Các dòng chọn lọc trong thí nghiệm
có tỷ lệ đậu quả và năng suất cao hơn giống chịu nóng đối chứng (tương ứng
là 70% và 52%) Nhiệt độ cao đã làm giảm năng suất, độ nở hoa và tỷ lệ đậu quả, đồng thời làm tăng phạm vi dị dạng của quả như: nứt quả, đốm quả, mô mọng nước, quả nhỏ và không thành thục Khả năng sản xuất hạt dưới nhiệt
độ cao bị giảm hoặc bị ức chế toàn bộ
Công ty giống rau quả Technisen của Pháp năm 1992 đã đưa ra nhiều giống cà chua tốt như: Roma VF, Rossol VFA, Rio Gramde, 1370, F1 campa… Các giống này có đặc điểm chung là chịu nhiệt, năng suất cao, quả chắc, hàm lượng chất khô cao, chịu vận chuyển và bảo quản lâu, chất lượng cảm quan tốt, chống chịu sâu bệnh (Trần Thị Minh Hằng, 1999) [12]
Trong chọn lọc giống cà chua thích ứng, ngoài việc tiến hành so sánh năng suất của các dòng chọn lọc với đối chứng về tính chịu nóng, các tác giả
còn chú ý đến tính kháng bệnh: bệnh héo vi khuẩn (Pseudomonas solanacearum), kháng chủng 3 Fusarium oxysporum Kết quả chọn lọc được
dòng chịu nóng Fla.7324 và các con lai F1 của nó; dòng kháng héo vi khuẩn Fla.7421 (Trần Thị Minh Hằng, 1999) [12]
Kết quả thử nghiệm 156 giống so sánh nhập nội, Jiulong, Dahong đã đưa ra giống Flora 544 và Heise 6035 có năng suất vượt đối chứng tương ứng
là 38% và 84%, giống chế biến Ohio 823 vượt đối chứng 29% Cả 3 giống này đều có khả năng chịu nóng cao Giống FL.7221 được chọn là giống có
Trang 19chất lượng cao, đồng thời có khả năng thương mại tốt
Ở Mỹ từ năm 1970 trở lại đây công tác chọn tạo giống cà chua phát triển mạnh với hướng cơ bản là chọn giống có phẩm chất cao, chống chịu sâu bệnh tốt Phần lớn các giống cà chua được tạo ra ở Mỹ đều chống chịu tốt với bệnh héo rũ, TMV, Fusarium, tuyến trùng… Các giống này có thể đạt năng suất 80 - 100 tấn/ha
Điển hình như giống Xiri, VE-145, Xiri UC, đặc biệt các giống
UC-105, UC-134, UC-82 mang nhiều đặc tính tốt có giá trị cao như chịu nứt quả
và độ cứng quả (Hồ Hữu An, 1996) [1]
Ở Indonexia, các thí nghiệm khảo nghiệm đánh giá từ những năm 1989
- 1991 đã chọn được một số dòng chịu nóng, chịu bệnh héo xanh vi khuẩn Các giống chịu nóng và cho năng suất cao như: FMTT138F, PT-4225F1
Giống cà chua chín sớm “Zoren” nhận được từ cặp lai Minsk early x Liniya 78, được tiến hành chọn lọc cá thể theo tính trạng chất lượng quả, độ cứng và hương vị quả, chín sớm, cao 55 - 60cm , khối lượng trung bình quả
90 - 100g, nhiều ngăn hạt, hàm lượng chất khô 5 - 6%, hàm lượng đường 3,1 - 3,3%, axít acorbic 15,6 - 20,3%, năng suất 62,9 tấn/ha (Kravchenco, 1987)
Kết quả đánh giá các nguồn gen chịu nóng và đậu quả trong điều kiện nhiệt độ cao ở Ai Cập cho thấy: Trong số 4050 mẫu giống trong tập đoàn
giống thế giới, dưới 15 giống có khả năng chịu nóng tốt, và đều thuộc loài Lycopersicom esculentum Điển hình là các mẫu giống Gamad, Hotset, Porter,
Saladette và BL6807 (Trần Thị Minh Hằng, 1999) [12]
1.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu cà chua ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình sản xuất cà chua ở Việt Nam
Lịch sử phát triển cà chua ở Việt Nam so với thế giới còn rất trẻ Cây
cà chua tuy mới được trồng ở Việt Nam khoảng hơn 100 năm, nhưng đến nay
đã được trồng rộng rãi trong cả nước, đặc biệt là các tỉnh đồng bằng Trung Du Bắc Bộ, Đà Lạt (Trần Khắc Thi và Mai Phương Anh, 2003) [20]
Sản xuất cà chua của nước ta tăng mạnh cả về diện tích trồng và sản lượng Trên thực tế, diện tích trồng cà chua tăng mạnh trong giai đoạn này là
Trang 20do tăng nhanh về diện tích trồng cà chua trái vụ (vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè), mà trong đó vai trò của các giống chịu nhiệt trồng trái vụ là rất rõ ràng
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng cà chua của Việt Nam năm
2013 - 2017
(ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (tấn)
Nguồn: Số liệu của Tổng Cục Thống kê 2018[25]
Phần lớn ở nước ta cà chua được trồng ở các tỉnh phía Bắc, hiện nay vẫn tập trung lớn ở đồng bằng Sông Hồng như: Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Tây, Nam Định,… chiếm trên 60% diện tích của cả nước Tại các tỉnh phía Nam ước đạt 9.000 ha, chiếm khoảng 40% diện tích trồng cà chua cả nước được trồng nhiều ở các tỉnh như: Lâm Đồng, An Giang, TP Hồ Chí Minh, Bình Thuận Trong đó, Lâm Đồng chiếm diện tích lớn nhất, khoảng 7.000
ha, năng suất trung bình đạt từ 50-60 tấn/ha (Nguyễn Thế Nhuận, 2016) [22] Hiện nay, cùng với chính sách mở cửa, hoà nhập vào thương mại quốc
tế, xuất khẩu của Việt Nam nói chung và ngành rau quả nói riêng đã có những chuyển biến mới Mục tiêu sản xuất cà chua không những đáp ứng nhu cầu nội tiêu mà còn tạo ra sản lượng lớn để phục vụ xuất khẩu ra thị trường thế giới Muốn đạt được mục tiêu này ngoài việc tiếp thị và xúc tiến thương mại chúng ta còn phải làm tốt công tác khoa học công nghệ, tạo ra các sản phẩm
có sức cạnh tranh cao, cần có bộ giống tốt cho từng thời vụ trồng và từng vùng sinh thái tạo cho cây có khả năng chống chịu tốt đối với điều kiện ngoại
Trang 21cảnh cũng như sâu bệnh hại, có quy trình canh tác thích hợp cho từng vùng, mỗi vụ trồng và các giống khác nhau để phát huy tối đa tiềm năng năng suất của giống làm giảm chi phí sản xuất, sẽ cho năng suất, chất lượng bảo đảm vệ sinh thực phẩm theo hướng sản xuất an toàn Hình thành vùng sản xuất hàng hóa lớn cho xuất khẩu và chế biến công nghiệp
1.3.2 Tình hình nghiên cứu cà chua ở Việt Nam
Một số nhà nghiên cứu cho rằng cà chua bắt đầu xuất hiện ở nước ta
từ thời kì thực dân Pháp xâm lược và chiếm đóng Đến nay đã hơn 100 năm, cây cà chua ngày càng được ưa chuộng và sử dụng rộng rãi khắp cả nước Nhu cầu tiêu dùng và đòi hỏi ngày càng cao của thị trường đã đặt ra vấn đề cấp thiết cần chọn tạo bộ giống thích hợp nhằm phát huy hết tiềm năng của giống trong điều kiện sinh thái nước ta Công tác chọn tạo giống cà chua ở Việt Nam bắt đầu từ nửa sau thế kỷ 20 và hiện nay đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ
Trong điều tra của TS Phạm Đồng Quảng và cộng sự [19], hiện nay cả nước có khoảng 115 giống cà chua được gieo trồng, trong đó có 10 giống được gieo trồng với diện tích lớn 6.259 ha, chiếm 55% diện tích cả nước Giống M386 được trồng nhiều nhất (khoảng 1.432 ha), tiếp theo là các giống
cà chua Pháp, VL200, TN002, Red Crown, …
Ở nước ta, công tác nghiên cứu chọn tạo giống cà chua được thực hiện bởi các Viện, Trường, Trung tâm…Trong đó có một số đơn vị chủ lực như Học viện Nông nghiệp Việt Nam mà đại diện là Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển giống rau chất lượng cao, Viện Nghiên cứu Rau quả, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Viện Di truyền nông nghiệp…
Theo Nguyễn Hồng Minh, 2006 [16], công tác nghiên cứu chọn tạo giống cà chua ở nước ta có thể được chia thành các giai đoạn sau:
- Giai đoạn trước 1985: Sản xuất cà chua còn nhỏ lẻ, sử dụng chủ yếu
là giống cà chua múi Bên cạnh đó một số giống cà chua được du nhập như
Ba Lan ngày càng mở rộng diện tích Một số cơ sở nghiên cứu trong nước triển khai các nghiên cứu về thu thập tài liệu (nhập nội), chọn lọc, đánh giá, lai tạo Cà chua sản xuất chủ yếu ở vụ Thu đông, những năm cuối 1970 đầu
Trang 221980 các nghiên cứu về thời vụ (Tạ Thu Cúc và Nguyễn Thành Quỳnh, 1983) [8], đề xuất ở miền Bắc có thể trồng được vụ cà chua xuân hè để mở rộng thời
gian cung cấp sản phẩm
- Giai đoạn 1986 - 1995: Các nghiên cứu về chọn tạo giống cà chua đã
thu được kết quả và đi theo hai hướng:
(1) Các giống trồng trong điều kiện vụ đông “truyền thống” như các giống số 7, 214, Hồng Lan (Viện CLT&CTP)…
(2) Các nghiên cứu về chọn giống cà chua chịu nóng để phục vụ cho trồng cà chua trái vụ Do điều kiện nóng ẩm đặc thù của nước ta nên tới năm 1994 - 1995 nước ta vẫn chưa đưa ra được giống cà chua chịu nóng đảm bảo chất lượng thương phẩm để đưa ra sản xuất Học viện Nông nghiệp Việt Nam là cơ quan nghiên cứu về chọn tạo giống cà chua chịu nóng có hệ thống ở nước ta Năm 1995 đã chọn tạo ra giống MV1 có khả năng chịu nóng và đáp ứng được các yêu cầu về năng suất, chất lượng thương phẩm Tới năm 1997, giống MV1 được công nhận là giống quốc gia, được phát triển trên diện tích đại trà (Nguyễn Hồng Minh và Kiều Thị Thư, 2006) [15], đây là giống cà chua chịu nóng, trồng trái vụ đầu tiên chọn tạo ở nước ta trồng trên diện tích lớn ở vụ sớm và vụ muộn xuân hè
- Giai đoạn 1996 - 2005: Các giống cà chua lai nước ngoài nhập vào
nước ta ngày càng ồ ạt Chọn tạo giống cà chua trong nước đứng trước những
thách thức cạnh tranh lớn
Tạo giống cà chua lai và công nghệ sản xuất giống lai cà chua được triển khai nghiên cứu hệ thống và nhiều hơn cả là Học viện Nông nghiệp Việt Nam với quy trình công nghệ sản xuất hạt giống cà chua lai quy mô đại trà đầu tiên ở nước ta vào năm 1997 - 1998 Từ năm 1998 giống cà chua lai HT7 của Học viện Nông nghiệp Việt Nam bắt đầu mở rộng diện tích sản xuất đại trà Tháng 9 năm 2000, tại hội nghị khoa học, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn đã công nhận chính thức giống cà chua lai HT7 là giống quốc gia Năm 2004 đã đưa ra một số giống cà chua lai mới công nhận tạm thời HT21 (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) (Nguyễn Hồng Minh và Kiều Thị Thư,
2006 [15]) và VT3 (Viện CLT & CTP) Từ 2005 - 2006, nhiều giống cà chua lai của Học viện Nông nghiệp Việt Nam có khả năng cạnh tranh với các giống
Trang 23ngoại nhập như: HT42, HT160, … Bên cạnh đó, một số giống cà chua tự thụ chọn lọc (giống thuần) phục vụ chế biến được đưa ra như PT18 (Viện nghiên cứu rau quả)
- Giai đoạn từ 2005 - 2006 trở đi: Giai đoạn này, những nghiên cứu về
chọn tạo giống chống chịu bệnh virus đang bắt đầu được triển khai ở nhiều cơ
sở nghiên cứu của nước ta trong đó có Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Ở giai đoạn này sản xuất cà chua mini (quả nhỏ) ở nước ta đã có được
sự khởi sắc về diện tích (phục vụ chủ yếu cho đóng hộp xuất khẩu) Năm
2004 - 2005 đã hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất hạt giống cà chua lai quả nhỏ trên quy mô đại trà, đã tạo ra bộ giống cà chua lai quả nhỏ chất lượng cao phát triển cho sản xuất: năm 2007, giống cà chua lai quả nhỏ HT144 đã phát triển diện tích sản xuất đại trà lớn, phục vụ cho nội tiêu và xuất khẩu (đóng hộp nguyên quả) HT144 là giống cà chua lai quả nhỏ đầu tiên của Việt Nam chất lượng cao cạnh tranh thành công với các giống thế giới để phát triển sản xuất lớn Với thành công đó đã xây dựng được thương hiệu giống rau lai HT, đây là thương hiệu giống rau lai đầu tiên của Việt Nam cạnh tranh được với giống rau lai tiên tiến thế giới để phát triển sản xuất lớn Bên cạnh đó mới đây trung tâm nghiên cứu và phát triển giống rau Học viện Nông nghiệp Việt Nam còn đưa ra 2 giống cà chua lai HT42 và HT160 là những giống cho năng suất cao trên đơn vị diện tích HT42 là giống ngắn ngày, nhanh chín, thời gian từ trồng tới thu lứa quả đầu 55-60 ngày Giống có khả năng sinh trưởng tốt, ra hoa, đậu quả tốt ở nhiều điều kiện thời tiết bất thuận (đặc biệt điều kiện nhiệt độ cao, nhiệt độ thấp, ánh sáng ít), có khả năng chống chịu tốt bệnh chết héo cây (do vi khuẩn) HT160 phục vụ cho trồng ở các vụ sớm, đông sớm, đông chính, đông muộn, năng suất cao: 50-68 tấn/ha
Có thể nói điểm trọng yếu trong chiến lược nghiên cứu, phát triển sản xuất
cà chua ở nước ta là mở rộng quy mô ngày càng lớn các giống cà chua lai chất lượng cao, nhằm mở rộng các sản phẩm tiêu dùng phục vụ cho nhu cầu ngày
càng tăng và đa dạng ở trong nước và xuất khẩu
Như vậy, trung tâm Nghiên cứu và phát triển giống rau chất lượng cao Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam là cơ sở hàng đầu nước ta về tạo ra các
Trang 24-giống cà chua lai (các -giống cà chua lai mang thương hiệu HT - thương hiệu giống rau lai đầu tiên của Việt Nam cạnh tranh được với các thương hiệu giống rau lai trên thế giới), và các công nghệ phát triển giống, thâm canh trên diện tích lớn Các nghiên cứu của Trung tâm đã tạo nên bước tiến bộ nhảy vọt, đột phá chưa từng có trong phát triển ngành rau ở Việt Nam Các bộ giống của trung tâm tạo ra đa dạng, có khả năng cạnh tranh với các giống ngoại nhập, phá vỡ sự độc quyền về các giống rau lai tiên tiến của các tập đoàn tư bản nước ngoài nhập vào nước ta Các giống cà chua HT có thời gian sinh trưởng ngắn và chất lượng tốt, chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh, khắc phục được những nhược điểm của các giống ngoại nhập để phát triển sản xuất
Nhờ thành tựu nghiên cứu chọn lọc, lai tạo giống nước ta đã tạo được các giống cà chua như: HP-1, HP-2, HP-3… từ tập đoàn cà chua nhập nội của Nhật Bản, được tiến hành tại trại giống rau Hồng Phong - Hải Phòng Trong
đó nổi trội hơn cả là giống HP-5, với đặc điểm năng suất cao, khả năng chống chịu khá, tuy nhiên nhược điểm của giống này là khi chín vẫn có chỗ còn xanh
Ở Việt Nam nguồn vật liệu khởi đầu cà chua được thu thập từ nhiều nguồn như nhập nội, các giống địa phương, các dạng cà chua dại và bán hoang dại… Những dạng này sẽ được chọn lọc và lai tạo với nhau nhằm thu được các giống tổng hợp, có các tính trạng tốt để phục vụ sản xuất Các giống nhập nội thường có ưu điểm về năng suất, các giống địa phương thường có thế mạnh về chất lượng, còn các giống hoang dại và bán hoang dại thì thế mạnh chủ yếu là khả năng thích nghi và tính chống chịu cao Hàng năm các
cơ sở nghiên cứu đã lai tạo được hàng trăm cặp lai cà chua và chọn lọc hàng ngàn cá thể từ con lai của các cặp lai khác nhau Công sức của các nhà khoa học bỏ ra đã được đền đáp xứng đáng, nhiều giống cà chua mới đã được tạo ra
và được công nhận là giống quốc gia Nhiều giống đã được khu vực hóa và nhiều giống đang tiếp tục trong giai đoạn khảo nghiệm đánh giá (Trần Khắc Thi và Mai Phương Anh, 2003) [20]
Trang 25Trong khuôn khổ một chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau đậu châu Á, Viện nghiên cứu rau quả và Học viện Nông nghiệp Việt Nam Các nhà khoa học đã tiến hành đánh giá và tuyển chọn giống cà chua có khả năng chịu bệnh héo xanh vi khuẩn Kết quả sau khi đánh giá 15 giống đã thu được các giống như: CHX-1, CLN-1462, CLN-1464, CLN-5915… ngoài khả năng kháng bệnh héo xanh vi khuẩn còn
có một số đặc điểm khá tốt như khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của nước ta, tỷ lệ đậu quả tương đối cao và năng suất đạt khá Trong đó giống CHX-1 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép khu vực hóa năm 2002 (Trần Khắc Thi và Mai Phương Anh, 2003) [20]
Trong chương trình phát triển cà chua chế biến, Viện nghiên cứu rau quả đã chọn ra giống cà chua PT- 18 từ nguồn vật liệu ban đầu là 180 mẫu giống nhập nội từ nước ngoài Giống này thuộc loại hình sinh trưởng hữu hạn, chiều cao cây trong vụ Đông xuân đạt 80- 100cm, vụ Xuân hè là 90- 110cm Thân cây mập, lá màu xanh nhạt, tỷ lệ đậu quả khá cao, trọng lượng trung bình quả đạt 70- 75g/quả, số quả trên cây đạt cao từ 18- 25 quả/cây, năng suất 25- 48 tấn/ha Giống cũng đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho phép khu vực hóa (Trần Khắc Thi và Mai Phương Anh, 2003) [20]
Với mục tiêu chọn lọc giống cà chua có năng suất cao trên 30 tấn/ha, khối lượng quả trung bình lớn hơn 50g, có khả năng kháng một số bệnh trong điều kiện trồng trái vụ Trong giai đoạn 1997 - 2002, các nhà khoa học đã tiến hành tuyển chọn các giống cà chua nhập từ Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau đậu châu Á Kết quả cho thấy đã thu được giống HX-5 với thời gian sinh trưởng từ 130 - 140 ngày, năng suất trong vụ Đông xuân 45 - 55 tấn/ha,
vụ Xuân hè 30 - 40 tấn/ha, có khả năng chống chịu tốt với một số bệnh như: héo xanh vi khuẩn, đốm vòng,… thích hợp trồng trái vụ trong điều kiện khí hậu miền Bắc nước ta Giống HX-5 đã được khu vực hóa năm 2002
Trang 26Trong một chương trình hội thảo gần đây về nghiên cứu và phát triển
cà chua ở Việt Nam, rất nhiều giống cà chua mới lần đầu tiên được đưa ra giới thiệu như: C50, C90 của Viện cây Lương thực và Thực phẩm, các giống VL2000, VL2500, VL2910… do Công ty Giống cây trồng Hoa Sen giới thiệu Các giống này nhìn chung đều có nhiều đặc tính tốt về sinh trưởng, chống chịu, năng suất và chất lượng Bên cạnh đó còn đáp ứng ngày càng cao hơn về khả năng chịu nhiệt, sinh trưởng thích nghi với trồng trái vụ trong điều kiện khí hậu miền Bắc nước ta
Không chỉ các cơ quan chuyên môn trong nước, đặc biệt là từ khi chuyển sang kinh tế thị trường với nên kinh tế nhiều thành phần, nhiều công
ty giống tư nhân đã hình thành ở nước ta và họ cũng đã và đang tham gia tích cực cho quá trình chọn tạo giống cà chua cho sản xuất Với việc chọn lọc lai tạo, nhập nội sản xuất thử, các Công ty Đông Tây, Hoa Sen, Trang Nông… đã đưa được nhiều giống góp phần làm phong phú bộ giống cà chua ở nước ta Trong số này phải kể đến các giống có khả năng chịu nóng như BM199, VL200, TN30, TN24, TN19,… đã được trồng rộng rãi ở các vùng sản xuất, góp phần tăng nhanh diện tích sản xuất nhất là diện tích trồng cà chua trái vụ Tuy nhiên các giống nhập nội thường hạn chế về chất lượng quả và kém ổn định về năng suất, bên cạnh đó giá bán hạt giống rất cao
Trong những năm gần đây, nhiều giống mới được nhập khẩu từ Thái Lan, Hàn Quốc, Ấn Độ qua các Công ty trách nhiệm hữu hạn (Sygenta, Vina Asean) và được khảo nghiệm trong nước cũng đã góp phần làm phong phú thêm bộ giống cà chua tốt ở Việt Nam Cụ thể các giống TN129, TN148 đã được khảo nghiệm trong 2 năm tại Thái Nguyên có khả năng cho năng suất cao (trên 50 tấn/ha), có khả năng kháng bệnh mốc sương và héo xanh tốt (Nguyễn Thị Mão, 2009) [14]
Tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên vào năm 2014 kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Ánh về khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng của một số dòng, giống cà chua trồng trong nhà có mái che tại Thái Nguyên
Trang 27Đã đưa ra kết luận ở vụ Thu Đông 2013 và Xuân Hè năm 2014 có dòng CH3
là dòng ưu tú nhất với khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, tỉ lệ đậu quả cao, năng suất cao chống chịu tốt… Dòng CH3 là dòng thích hợp nhất để phát triển sản xuất trong nhà có mái che (Vũ Thị Ánh, 2014) [3]
Tại Lâm Đồng từ năm 2012 đến 2016 có “Nghiên cứu chọn tạo giống
cà chua lai năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp cho các tỉnh phía Nam” do Thạc Sĩ Nguyễn Thế Nhuận làm chủ nhiệm cho kết luận Giống cà chua F1 (phù hợp với điều kiện canh tác ngoài đồng hoặc trong nhà): giống sinh trưởng bán hữu hạn hoặc vô hạn, trồng ngoài đồng tại Lâm Đồng năng suất đạt 50 - 70 tấn/ha, tại các tỉnh khác đạt 30 - 40 tấn/ha, giống trồng trong nhà tại Lâm Đồng đạt 150 - 200 tấn/ha, tại các tỉnh khác đạt 70 - 100 tấn/ha Khả năng chống chịu sâu bệnh và một số chỉ tiêu chất lượng tương đương giống nhập nội đang sản xuất phổ biến tại các tỉnh phía Nam
Quy trình sản xuất hạt lai F1: quy trình áp dụng tại Lâm Đồng hoặc nơi
có khí hậu tương đương, đảm bảo năng suất, chất lượng hạt giống (năng suất
30 - 35 kg/hạt/ha, độ nảy mầm >80%), giá hạt chỉ bằng 50 - 60% giá giống phải nhập nội từ nước ngoài
Quy trình thâm canh cà chua: phù hợp với thực tế, năng suất giống trồng ngoài đồng tại Lâm Đồng đạt 50 - 70 tấn/ha, tại các tỉnh khác đạt 30 -
40 tấn/ha, giống trồng trong nhà tại Lâm Đồng đạt 150 - 200 tấn/ha, tại các tỉnh khác đạt 70 - 100 tấn/ha, đảm bảo chất lượng sản phẩm an toàn (Nguyễn Thế Thuận, 2016) [22]
Năm 2016 tại Lâm Đồng có đề tài “Nghiên cứu đánh giá ưu thế lai chọn lọc các tổ hợp lai cà chua có triển vọng tại Lâm Đồng” do Nguyễn Thế Thuận và cộng sự thực hiện đã kết kết luận: Nghiên cứu đã đánh giá được UTL của 45 tổ hợp lai cà chua trong điều kiện sản xuất cà chua tại vùng Lâm Đồng, trong đó có 4 tổ hợp lai có UTL chuẩn đạt giá trị dương so với giống Anna gồm NT1, NT2, NT3 và NT4 (đạt từ +0,04% đến +24,34%), trong đó
Trang 28cao nhất là tổ hợp lai NT3 Duy nhất chỉ có tổ hợp lai NT3 có giá trị UTL chuẩn so với giống Lahay, đạt giá trị +3,37%, còn lại tất cả các tổ hợp lai đều
có giá trị âm Kết quả khảo nghiệm đã xác định 3 tổ hợp có tiềm năng năng suất cao, có giá trị UTL chuẩn đạt giá trị dương so với giống đối chứng Anna
Tổ hợp lai NT2 đạt năng suất đạt 80,43 - 85,05 tấn/ha có UTL chuẩn so với giống đối chứng Anna từ +1,46% đến +3% Tổ hợp lai NT4 đạt 84,13 - 89,72 tấn/ha và có UTL chuẩn so với giống đối chứng Anna từ +6,25% đến +11,39% Tổ hợp lai NT3 đạt 118,37 - 132,36 tấn/ha có ưu thế lai chuẩn so với giống đối chứng Anna từ +49,50% đến +57,27% Tuy nhiên, xét về các đặc điểm hình thái quả, độ cứng quả và một số chỉ tiêu sinh hóa thì tổ hợp lai NT2 được xem là có triển vọng nhất cho sản xuất tại vùng Lâm Đồng (Nguyễn Thế Thuận, 2016) [22]
Kết quả nghiên cứu một số dòng cà chua triển vọng trong vụ Xuân Hè tại Thừa Thiên Huế đã kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy các giống kết thúc thu hoạch sớm gồm G5, CLN2001A và CLN1621L từ 106 đến 108 ngày Tất cả các giống trong nghiên cứu có cấu trúc thân lá thích nghi tốt với điều kiện Thừa Thiên Huế Tỷ lệ đậu quả của giống CLN1621L cao nhất đạt 57,72% Các giống CLN2001A, CLN2418A, CLN1621L và CLN5915 có năng suất thực thu cao trên 40 tấn/ha, trong đó cao nhất là CLN2001A đạt 41,9 tấn/ha và chất lượng quả tương đối tốt Các giống triển vọng là CLN2001A, CLN2418A, CLN1621L và CLN5915 (Trương Thị Hồng Hải và
1 Đề tài đã thu thập, đánh giá trên 800 nguồn vật liệu khởi đầu và có
kế thừa một số vật liệu từ giai đoạn trước Tiến hành nghiên cứu phân lập
Trang 29dòng và chọn tạo được 105 dòng cà chua thuần mang nhiều tính trạng quý phục vụ cho nghiên cứu chọn tạo giống cà chua lai mới Phân tích đa dạng di truyền 105 vật liệu chọn giống Trong đó 26 mẫu giống nghiên cứu phân lập thành 5 nhóm có khoảng cách di truyền khác nhau và 79 mẫu giống phân lập thành 4 nhóm có khoảng cách di truyền khác nhau Phân tích chỉ thị phân tử của 26 dòng cà chua thuần, xác định 4 dòng D10, D12, D13 và D15 mang gen kháng bệnh virus xoăn vàng lá TYCLT Nghiên cứu đánh giá khả năng kết hợp chung đã xác định 26 dòng cà chua thuần có khả năng kết hợp chung cao
2 Trong 5 năm (2011-2015), đề tài đã lai tạo và đánh giá được 960 tổ hợp lai cà chua mới, trong đó có 179 tổ hợp lai cho cà chua trồng ngoài đồng
và 220 tổ hợp lai cà chua trồng trong nhà lưới Có 201 tổ hợp lai dạng quả nhỏ và 759 tổ hợp lai dạng quả to Ở ngoài đồng ruộng, có 44 tổ hợp lai quả nhỏ đạt 40 - 50 tấn/ha và có 522 tổ hợp lai quả to năng suất đạt 40 - 80 tấn/ha Trong nhà lưới: dạng quả to có 54 tổ hợp lai năng suất đạt 80 - 100 tấn/ha và
26 tổ hợp lai đạt 100 - 150 tấn/ha Dạng quả nhỏ đạt năng suất 45 - 50 tấn/ha
3 Đề tài đã chọn tạo thành công 7 giống cà chua lai mới trồng ngoài đồng ruộng Trong đó 3 giống được công nhận sản xuất thử (VT5, VT10 và GL1-5) và 4 giống khảo nghiệm (VT4, HT156, DT-F1, VT8) Các giống cà chua lai tạo ra có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, năng suất cao, chất lượng đáp ứng yêu cầu tiêu thụ nội địa: ăn tươi, nấu nướng và chế biến tốt Giống tạo ra có khả năng chống chịu bệnh héo xanh vi khuẩn và virus xoăn vàng lá khá
4 Đề tài chọn tạo và khả nghiệm cơ bản, khảo nghiệm sản xuất 2 giống
cà chua lai trồng trong nhà lưới là: Hoàng anh 1 và Quả cầu đỏ VC1
5 Đề tài xây dựng được 7 quy trình kỹ thuật (4 quy trình kỹ thuật sản xuất hạt giống và 3 quy trình kỹ thuật thâm canh) Quy trình sản xuất hạt giống đạt năng suất hạt lai 50 - 60 kg/ha,chất lượng hạt giống tốt Quy trình
Trang 30kỹ thuật thâm canh cho năng suất vượt so với quy trình cũ 13 - 15% (Đoàn
Xuân Cảnh, 2015) [6]
Trong vụ Thu Đông và Xuân Hè 2016 - 2017, tác giả Nông Ngọc Tuân
đã lựa chọn được giống cà chua nhập nội của Hàn Quốc: Hero 95 có các ưu điểm vượt trội so với đối chứng (Nông Ngọc Tuân, 2017) [24]
Qua các kết quả rất đáng khích lệ về tình hình nghiên cứu và phát triển
cà chua trong nước, chúng ta hoàn toàn tin tưởng trong tương lai không xa việc nghiên cứu áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất cà chua nói riêng sẽ còn đạt được nhiều thành công hơn nữa, phục vụ tốt hơn cho sản xuất của nước ta Hướng nghiên cứu cà chua trong những năm tới vẫn là tập trung vào chọn tạo các giống cà chua năng suất cao phục vụ công nghiệp chế biến và các giống cà chua chịu nhiệt để phục vụ sản xuất cà chua trái vụ
1.4 Tình hình sản xuất và nghiên cứu cà chua ở Lào Cai:
1.4.1 Tình hình sản xuất cà chua ở Lào Cai:
Từ năm 2011, cây cà chua bắt đầu được trồng phổ biến ở tỉnh Lào Cai Tuy về diện tích, năng suất cũng như sản lượng còn đạt thấp song đây là một trong những loại rau có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, ngoài ra còn có tác dụng như một loại dược phẩm sử dụng trong đời sống hàng ngày Vì vậy, diện tích cũng như năng suất càng ngày càng được cải thiện qua các năm, chúng ta có thể thấy rõ điều này qua bảng số liệu dưới đây
Trang 31Bảng 1.5 Tình hình sản xuất cà chua trên địa bàn tỉnh Lào Cai
trong những năm gần đây 2011 - 2018
(ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (tấn)
Nguồn: Số liệu Cục Thống kê tỉnh Lào Cai [26]
Qua bảng 1.4 ta thấy, tình hình sản xuất cà chua trong những năm gần đây tăng dần về diện tích Từ năm 2011 đến năm 2018 diện tích cà chua tăng
từ 46 ha đến 106 ha, tăng 60 ha Năng suất cà chua qua các năm tương đối ổn định, dao động từ 10,96 tấn đến 12,2 tấn/ha Do diện tích sản xuất cà chua có
sự gia tăng, cộng thêm năng suất tương đối ổn định nên hàng năm sản lượng
cà chua của Lào Cai dao động từ 556,6 tấn năm 2011 đến 1.273 tấn năm
2018 So với năm 2011 thì đến năm 2018 sản lượng cà chua đã tăng lên xấp xỉ 716,4 tấn
Trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giống cà chua được trồng phổ biến là các giống M386, tiếp theo là các giống VL200, TN002, Red Crown, …
1.4.2 Tình hình nghiên cứu cà chua ở Lào Cai:
Ở Lào Cai, tình hình nghiên cứu cà chua mới chỉ dừng ở việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trên thế giới và của các Viện, các trung tâm lớn trên toàn quốc Một số giống mới được các tổ chức đưa vào khảo nghiệm đều có các đặc tính vượt trội so với các giống đã có mặt trên địa bàn tỉnh về khả năng
Trang 32chống chịu sâu bệnh, chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận, cũng như cho năng suất cao, chất lượng tốt, có thể áp dụng nhiều biện pháp canh tác và ứng dụng khoa học công nghệ đem lại giá trị kinh tế cao
Năm 2011, Trung tâm Nghiên cứu và phát triển Cây ôn đới Sa Pa đã đưa vào khảo nghiệm và tuyển chọn 8 giống cà chua (giống DV2962; giống VL2200; giống VL2000; giống VL2004; giống TROPIC; giống DA15; giống DX03-04; giống CS1) và đưa ra khuyến cáo lựa chọn các giống cà chua mới trồng trên địa bàn tỉnh gồm giống VL2000, VL2002, VL2004, VL2400, BM199 Tuy nhiên, những giống cà chua này chủ yếu được gieo trồng trong
vụ Đông Xuân do không phù hợp với điều kiện trái vụ, hiện đang giảm dần trong cơ cấu giống của tỉnh
Năm 2017, Sở Khoa học và Công nghệ đã triển khai dự án “Ứng dụng khoa học công nghệ xây dựng mô hình trồng thương phẩm cà chua Tomato Monaco bằng công nghệ cao (trồng trong nhà màng và tưới nhỏ giọt)
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là 6 giống cà chua mới có nguồn gốc từ Ấn Độ, Thái Lan, Pháp (đây là 6 giống cà chua mới chưa được trồng và khảo nghiệm trên địa bàn tỉnh Lào Cai) và giống Chanoka có nguồn gốc từ Ấn Độ (là giống đang được trồng phổ biến tại vùng sản xuất rau của tỉnh Lào Cai) làm đối chứng
Bảng 2.1 Nguồn gốc các giống cà chua tham gia thí nghiệm
TT Tên giống Nguồn gốc Một số đặc tính
- Giống: Bán hữu hạn
- Chiều cao cây: 120 - 200cm
- Thời vụ: Trồng từ tháng 7 đến
tháng 3 năm sau
- Thời gian thu hoạch: 65-70
ngày sau khi trồng
- Độ thuần: >98%
- Tỷ lệ nảy mầm: >80%
- Đặc điểm: Giống cà chua sinh
trưởng bán hữu hạn Có khả năng kháng bệnh virus xoăn đầu rất tốt Trái tròn trứng, thịt dày cứng, chắc, chín đỏ đẹp Trọng lượng trái nặng 90-100 g Năng suất đạt
từ 35 tấn/ha
2 Arka F1
Nhập khẩu từ Ấn
Độ do Công ty TNHH giống cây trồng Lucky cung
- Đặc điểm: Cây sinh trưởng phát
triển khỏe, chịu nóng, kháng bệnh
Trang 34virut, kháng bệnh héo xanh vi khuẩn Trái chín đỏ đẹp Trọng lượng trái nặng 100 - 110 g Năng suất đạt từ 45 tấn/ha
3 Lai F1
Vạn Xuân
Nhập khẩu từ Ấn
Độ do Công ty TNHH giống cây trồng Bắc Việt cung
cấp
- Giống: Bán hữu hạn
- Chiều cao cây: 120 - 160cm
- Thời vụ: Trồng quanh năm
- Thời gian thu hoạch: 60-70
ngày sau trồng
- Độ thuần: ≥98%
- Tỷ lệ nảy mầm: ≥85%
- Đặc điểm: Cây sinh trưởng phát
triển khỏe, chịu nhiệt tốt, kháng xoăn Trái chín đỏ tươi Trọng lượng trái nặng 90 - 100 g Năng suất đạt từ 40 tấn/ha
4 Mongal
T-11
Nhập khẩu từ Pháp
do Công ty TNHH sản xuất thương mại xanh cung cấp
- Đặc điểm: Cây sinh trưởng phát
triển khỏe, chịu nhiệt, kháng bệnh héo xanh tốt Trái tròn dẹp, chín
đỏ tươi Trọng lượng trái nặng
120 - 140 g Năng suất đạt từ 50 tấn/ha
5 TV-05
Messi
Nhập khẩu từ Thái Lan do Công ty Cổ phần hạt giống Tre Việt cung cấp
- Đặc điểm: Cây sinh trưởng phát
triển khỏe, chịu nóng tốt, kháng xoăn Trái chín đỏ tươi, chất lượng tốt Trọng lượng trái nặng
Trang 35100 - 110 g Năng suất đạt từ 45 tấn/ha
6 TV-01
Savi
Nhập khẩu từ Thái Lan do Công ty Cổ phần hạt giống Tre Việt cung cấp
- Đặc điểm: Cây sinh trưởng phát
triển khỏe, chịu nóng tốt, kháng xoăn Trái dạng vuông tròn, chín
đỏ tươi, chất lượng tốt Trọng lượng trái nặng 100 - 110 g Năng suất đạt từ 45 tấn/ha
7 Lai F1
Nhập khẩu từ Ấn
Độ do Công ty TNHH hạt giống A.B cung cấp
- Đặc điểm: Cây sinh trưởng phát
triển khỏe, chịu nhiệt, kháng xoăn Trái tròn, chín đỏ tươi, chất lượng tốt Trọng lượng trái nặng
100 g Năng suất đạt từ 55 tấn/ha
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chống chịu tốt của các giống cà chua mới để lựa chọn bộ giống cà chua thích ứng với điều kiện trái vụ cho tỉnh Lào Cai
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Thí nghiệm được thực hiện tại phường Nam Cường thành phố Lào Cai và xã Sa Pả huyện Sa Pa
Trang 362.2.2 Thời gian nghiên cứu:
Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Xuân hè năm 2018
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng của các giống cà chua trong vụ Xuân
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống
cà chua trong vụ Xuân hè năm 2018
- Đánh giá chất lượng quả của các giống cà chua trong vụ Xuân hè năm 2018
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 07 công thức được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại (Phạm Tiến Dũng, 2008) [10]
- Diện tích ô thí nghiệm: 1,2m x 6m = 7.2m2 (cả rãnh)
- Diện tích toàn ô thí nghiệm: 1,2m x 6m x 3 x 7 = 151,2m2
- Các công thức thí nghiệm: Mỗi công thức thí nghiệm tương ứng với một giống
Trang 372.4.2.1 Giai đoạn vườn ươm
Hạt được gieo trên khay xốp, gieo ngày 01và ngày 02 tháng 1 năm
2018
- Chuẩn bị giá thể: đất thịt nhẹ tơi xốp (60%), phân lân 5%, phân chuồng hoai mục 25%, rơm hoặc rạ mục 10% Trộn đều và cho vào các lỗ trên khay xốp
- Ngâm hạt giống trong nước nóng 540C, sau 4 tiếng vớt ra để ủ đến khi nứt nanh thì đem gieo
- Hạt được gieo trên mặt lỗ, sau đó lấp hỗn hợp giá thể lên ở độ sâu 0,5-1cm
- Sau khi gieo hạt được phủ một lớp vỏ trấu trên mặt khay để tránh bắn hạt khi tưới
- Tưới nước đủ ẩm (70%) từ khi gieo đến trước khi trồng
- Khi cây giống có 4 - 5 lá thật thì đem trồng (khoảng 25 - 30 ngày sau gieo)
Trang 38- Cây giống đủ tiêu chuẩn là cây có thân cứng, mập, khoảng cách lá ngắn, không bị sâu, bệnh hại Tuyệt đối không được trồng những cây đã có triệu chứng bệnh xoăn lá
2.4.2.2 Giai đoạn trồng ra ruộng sản xuất
- Sau khi trồng ra ruộng cần tưới nước mỗi ngày 02 lần (sáng, chiều) Đảm bảo cho cây hồi xanh trong tuần đầu, sau đó tùy điều kiện thời tiết mà có lượng tưới, cách tưới khác nhau
- Làm đất: Thí nghiệm được trồng trên đất thịt nhẹ, cày bừa kỹ và sạch cỏ dại
- Lên luống: Rộng 120cm, cao 26 - 30cm
- Mật độ trồng: 35.714 cây/ha
- Khoảng cách trồng: Trồng 2 hàng/luống theo kiểu nanh sấu, hàng cách hàng 70 cm, cây cách cây 40cm
- Bón phân: Quy trình bón phân cho 01 ha:
+ Phân bón nền: Lượng phân bón/ha: 25 tấn phân chuồng hoai mục + 120kg N + 100kg P2O5 + 150kg K2O + 800kg vôi bột
+ Cách bón:
- Vôi bột: 800 kg/ha, rắc trong khi làm đất
Bón lót: Toàn bộ phân chuồng + toàn bộ lân + 20% đạm + 30%
phân kali
Bón thúc: Chia làm 4 thời kỳ bón
Bón thúc lần 1: Sau khi hồi xanh 7 - 8 ngày sau trồng, bón 10% đạm;
Bón thúc lần 2: Khi cây ra nụ: 20% đạm, 20% kali;
Bón thúc lần 3: Khi cây ra quả rộ: 30% đạm, 30% kali;
Bón thúc lần 4: Sau khi thu quả đợt 1 Bón nốt lượng phân còn lại
- Chăm sóc:
+ Vun xới:
Lần 1: Vun xới và làm cỏ sau khi cây hồi xanh;
Trang 39Lần 2: Làm cỏ và vun gốc kết hợp bón phân lần 2
+ Làm cỏ: Làm sạch cỏ sau khi vun xới
+ Làm giàn, buộc dây và tỉa cành: Khi cây đạt chiều cao 30 - 40 cm thì làm giàn (căng dây)
+ Buộc dây: Dùng dây mềm buộc cây vào giàn
+ Tỉa cành: Tỉa bỏ những nhánh mọc từ nách lá để tập trung dinh dưỡng cho thân chính và cành cấp 1 ra hoa, quả, đồng thời tạo sự thông thoáng cho luống
- Phòng trừ sâu bệnh hại chính cho cây cà chua như sâu xanh, sâu đục quả, bệnh héo xanh vi khuẩn, bệnh xoăn lá, bệnh mốc sương cà chua
2.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Thí nghiệm được theo dõi theo Quy chuẩn kỹ thuật của Bộ NN&PTNT