Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đối với sinh trưởng và phát triển của địa lan kiếm Trần Mộng Xuân tại Lai Châu ..... - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đối với sinh
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHONG VĨNH CƯỜNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI ĐỊA LAN KIẾM
TRẦN MỘNG XUÂN (Cymbidium lowianum) TẠI LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀO THANH VÂN
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, có thực tiễn; chưa được bảo vệ ở bất kỳ một hội đồng khoa học hay học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đều đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Phong Vĩnh Cường
Trang 4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản Luận văn, trong quá trình thực tập tôi đã nhận được
sự giúp đỡ tận tình và tạo điều kiện thuận lợi của Phòng Đào tạo, Khoa Nông học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo: PGS TS Đào Thanh Vân đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành Luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo, các cán
bộ viên chức Khoa Nông học , Phòng đào ta ̣o - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới những người thân trong gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên và khích
lệ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành Luận văn
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Phong Vĩnh Cường
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở khoa ho ̣c của đề tài 5
1.1.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu vùng sinh thái và đặc điểm nông sinh học 5
1.1.2 Cơ sở khoa học của nghiên cứu thuốc bảo vệ thực vật 5
1.1.3 Cơ sở khoa học của nghiên cứu sử dụng phân bón lá 5
1.1.4 Cơ sở khoa học của nghiên cứu giá thể 7
1.2 Đặc điểm hình thái trong hệ thống phân loại 7
1.3 Yêu cầu về ngoại cảnh của cây lan 13
1.3.1 Nhu cầu về ánh sáng 13
1.3.2 Nhu cầu về nhiệt độ 16
1.3.3 Nhu cầu về độ ẩm 17
1.3.4 Nhu cầu về dinh dưỡng 20
1.3.5 Độ thông gió 23
1.4 Một số kỹ thuật trồng và chăm sóc địa lan 23
1.4.1 Kỹ thuật trồng cây con vào chậu 23
1.4.2 Kỹ thuật chuyển chậu 24
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.4.3 Kỹ thuật tưới nước cho cây 24
1.4.4 Kỹ thuật thúc mầm cây 24
1.4.5 Phòng trừ bệnh cho cây 25
1.4.6 Điều khiển cây ra hoa 25
1.5 Các nghiên cứu liên quan đến nội dung của đề tài 25
1.5.1 Các nghiên cứ u về bón phân qua lá 25
1.5.2 Các nghiên cứ u về giá thể 28
1.5.3 Các nghiên cứu về phòng trừ bê ̣nh thối nõn đi ̣a lan 28
1.6 Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giớ i và Viê ̣t Nam 30
1.6.1 Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới 30
1.6.2 Tình hình sản xuất hoa Lan ở Việt Nam 31
1.6.3 Tình hình sản xuất hoa trên địa bàn huyện Tam Đường 33
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng, vật liệu và phạm vi nghiên cứu 35
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 35
2.1.3 Phạm vi nghiên cứu 35
2.2 Nội dung nghiên cứu 36
2.3 Phương pháp nghiên cứu 36
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 36
2.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 39
2.3.3 Xử lý số liệu 41
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
3.1 Đánh giá khả năng thích ứng của Địa lan kiếm Trần Mộng Xuân tại một số vùng sinh thái tỉnh Lai Châu 43
3.1.1 Đánh giá khả năng thích ứng của Địa lan kiếm Trần Mộng Xuân tại một số vùng sinh thái tỉnh Lai Châu 43
3.1.2 Đặc điểm khí hậu các vùng nghiên cứu các năm 2014- 2015 44
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3.1.3 Ảnh hưởng của các vùng sinh thái đến sinh trưởng và phát triển
của cây địa lan kiếm TMX 45
3.1.4 Ảnh hưởng của các vùng sinh thái đến thời điểm ra hoa của cây địa lan kiếm TMX 46
3.1.5 Độ bền hoa tự nhiên của cây địa lan kiếm TMX 47
3.1.6 Chất lượng hoa của cây địa lan kiếm TMX tại Lai Châu 48
3.1.7 Tình hình sâu bệnh hại trên địa lan kiếm Trần Mộng Xuân ở các vùng sinh thái của tại Lai Châu 49
3.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng hoa địa lan kiếm Trần Mộng Xuân tại Lai Châu 50
3.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đối với sinh trưởng và phát triển của địa lan kiếm Trần Mộng Xuân tại Lai Châu 50
3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể đến sinh trưởng của địa lan kiếm Trần Mộng Xuân tại Lai Châu 56
3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số thuốc bảo vệ thực vật đối với phòng trừ bệnh địa lan Trần Mộng Xuân tại Lai Châu 62
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 64
1 Kết luận 64
2 Đề nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Nhu cầu ánh sáng của mô ̣t số nhóm loài lan 15Bảng 1.2 Các biện pháp chủ yếu tưới nước cho lan 19Bảng 3.1: Tình hình trồng địa lan kiếm Trần Mộng Xuân tại các vùng nghiên
cứu năm 2014 43Bảng 3.2: Đặc điểm khí hậu các vùng nghiên cứu các năm 2014 - 2015 44Bảng 3.3: Ảnh hưởng của các vùng sinh thái đến sinh trưởng và phát triển của
cây địa lan kiếm TMX 45Bảng 3.4: Ảnh hưởng của các vùng sinh thái đến thời điểm ra hoa của cây địa
lan kiếm TMX 46Bảng 3.5: Độ bền hoa của cây địa lan kiếm TMX 47Bảng 3.6: Chất lượng hoa của cây địa lan kiếm TMX tại Lai Châu 48Bảng 3.7: Tình hình sâu bệnh hại trên địa lan kiếm Trần Mộng Xuân ở các
vùng sinh thái của tỉnh Lai Châu 49Bảng 3.8: Ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và phát triển của cây
địa lan kiếm TMX 50Bảng 3.9: Ảnh hưởng của phân bón lá đến thời điểm ra hoa của cây địa lan
kiếm TMX 52Bảng 3.10: Ảnh hưởng của phân bón lá đến độ bền hoa tự nhiên của cây địa
lan kiếm TMX 53Bảng 3.11: Ảnh hưởng của phân bón lá đến chất lượng hoa của cây địa lan
kiếm TMX 54Bảng 3.12: Ảnh hưởng của một số phân bón lá đối với mô ̣t số loại sâu bệnh
hại địa lan kiếm Trần Mộng Xuân tại Lai Châu (%) 55Bảng 3.13: Ảnh hưởng của một số giá thể đến sinh trưởng và phát triển của
cây địa lan kiếm TMX 56
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của một số giá thể đến thời điểm ra hoa của cây địa
lan kiếm TMX 57Bảng 3.15: Ảnh hưởng của một số giá thể đến đô ̣ bền hoa tự nhiên của cây địa
lan kiếm TMX 59Bảng 3.16: Ảnh hưởng của một số giá thể đến chất lượng hoa của cây địa
lan TMX 60Bảng 3.17: Ảnh hưởng của một số loại giá thể đối với mô ̣t số loại sâu bệnh
hại địa lan kiếm Trần Mộng Xuân tại Lai Châu 61Bảng 3.18: Ảnh hưởng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với bệnh
thối nhũn chồi địa lan kiếm Trần Mộng Xuân tại Lai Châu 62Bảng 3.19: Đánh giá mức độ bệnh hại 63
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Hoa đi ̣a lan là mô ̣t trong những loa ̣i cây trồng có giá tri ̣ kinh tế cao ở
mô ̣t số nước trồng hoa trên thế giới như Mỹ , Thái lan, Đài Loan… Tại Việt Nam, trong khoảng 20 năm trở lại đây nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, hoa lan bắt đầu được nuôi trồng nhiều, nhiều loài lan mới có màu sắc đẹp, đa dạng
đã ra đời nhờ công nghệ lai giống, cấy ghép Khảo sát từ những khu vực trồng lan, các viện nghiên cứu, các trung tâm thì hoa lan được lai tạo đang ngày càng phong phú, đặc biệt là giống lan Hồ Điệp và Địa Lan Kiếm Lan Hồ Điệp màu mới có cánh hoa trắng họng tím, cánh tím đậm, họng vàng, cánh vàng nhạt, họng hồng, cánh cam, họng đỏ, cánh trắng, họng cam đang được sản xuất Địa lan kiếm cũng khoe đủ sắc mầu mới: hoa màu vàng cam pha xanh lá cây, hoa màu cam đất họng đỏ pha vàng, lục pha vàng, hoa có đài hồng bông tím, hoa đài hồng nhạt, cánh hồng đậm Đặc biệt là giống địa lan kiếm có hương thơm ngát với đài hoa màu nâu, bông hình chuông màu hồng Theo một số nhà vườn các giống hoa lan, đặc biệt là hoa địa lan kiếm có màu mới lai tạo có giá cao hơn 20-30% Dù giá thành có cao hơn so với các loài hoa khác nhưng hiện nay đang ngày càng có nhiều người thích chơi hoa lan nhờ các đặc tình nổi bật của nó như đa dạng về màu sắc, mùi hương quyến rũ, tuy khó trồng nhưng lại bền, đẹp hơn các loài hoa khác Đặc biệt những chậu địa lan kiếm Trần Mộng Xuân có hình dáng bề thế, lá cong rủ xuống trông thướt tha yêu kiều cho những bông hoa nở đúng vào dịp tết nguyên đán hết sức có giá trị đang rất được ưa chuộng và hấp dẫn người chơi bởi vẻ đẹp tự nhiên và hương thơm
Địa lan kiếm Trần Mộng Xuân (Cymbidium lowianum) là loại lan có
hoa rất đẹp, với vẻ đẹp của loài có hoa tự dài, hoa to và bền, màu sắc xanh
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
vàng, cánh môi vàng sẫm, số lượng hoa trên chùm có thể lên tới vài chục hoa Hoa nở đúng vào dịp tết Nguyên đán nên mang lại hiệu quả kinh tế rất cao Hiện nay, cây địa lan kiếm Trần Mộng Xuân đang được trồng với quy mô ngày càng lớn và đang trở thành cây làm giàu cho nhiều hộ nông dân Những năm gần đây trung bình mỗi chậu hoa địa lan kiếm Trần Mộng Xuân được bán ra thị trường với giá khoảng 800 nghìn đồng đến 1 triệu đồng, có những chậu được bán với giá hàng chục triệu đồng Do vậy, địa lan kiếm Trần Mộng Xuân ngoài tự nhiên đã trở thành đối tượng bị khai thác đem bán với tốc độ rất nhanh và ngày càng hiếm gặp ngoài tự nhiên Đồng thời, hiện nay trong gây trồng lan của người dân chủ yếu là tự phát, chưa có nhiều kinh nghiệm, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật và sử dụng các giá thể không phù hợp nên cây thường hay bị nhiễm bệnh, khả năng sinh trưởng và phát triển còn hạn chế, chưa khống chế, điều tiết thời điểm ra hoa vào đúng dịp tết cổ truyền của dân tộc nên giá trị chưa cao và chưa đáp ứng nhu cầu chơi hoa của người tiêu dùng
Đối với tỉnh Lai Châu, hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng trên 3.500 chậu địa lan, trong đó tập trung ở huyện Sìn Hồ khoảng 2.000 chậu với trên
120 hộ gia đình trồng, ở Thành phố Lai Châu và huyện Tam Đường có khoảng hơn 1.500 chậu trồng tập trung ở một số hộ gia đình với quy mô từ 50 chậu/hộ trở lên còn lại là nhân dân trồng rải rác ở một số bản vùng cao có điều kiện khí hậu phù hợp cho địa lan sinh trưởng và phát triển Trong những năm qua, việc nghiên cứu phát triển địa lan kiếm Trần Mộng Xuân đã được chính quyền địa phương quan tâm thực hiện một số đề tài như: Đề tài nghiên cứu việc trồng địa lan tại huyện Sìn Hồ; các giải pháp phòng, trị bệnh thối nõn trên hoa địa lan Tuy nhiên hiệu quả chưa được khẳng định rõ; nhiều nhà vườn được đầu tư nhưng vẫn do tự phát, phát triển chậm, trồng và chăm sóc
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
chưa đúng kỹ thuật, hoa ra không đúng thời điểm, đã có một số hộ dân mất trắng do bị sâu bệnh hại
Để có cơ sở phát triển sản xuất loài hoa có giá trị kinh tế này tại tỉnh Lai Châu cần phải nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc loại hoa lan này trên địa bàn nhằm phát huy lợi thế sẵn có của địa phương, mang lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất và địa phương
Từ những yêu cầu thiết thực đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu khả năng thích ứng và một số biện pháp kỹ thuật đối với Địa lan
kiếm Trần Mộng Xuân (Cymbidium lowianum) tại Lai Châu”
2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục tiêu
Nghiên cứu khả năng thích ứng của giống hoa địa lan kiếm Trần Xuân Mộng tại một số vùng sinh thái của tỉnh Lai Châu và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống hoa địa lan kiếm Trần Xuân Mộng trên địa bàn tỉnh
Xác định khả năng thích ứng của địa lan kiếm Trần Mộng Xuân với một số tiểu vùng sinh thái trên địa bàn của tỉnh Lai Châu
Xác định một số biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm nâng cao năng suất , chất lượng, đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất hoa địa lan kiếm Trần Mộng Xuân
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá khả năng thích ứng của cây Địa lan kiếm Trần Mộng Xuân tại một số vùng sinh thái tỉnh Lai Châu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đối với sinh trưởng và phát triển cây Địa lan kiếm Trần Mộng Xuân
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể đến sinh trưởng và phát triển của địa lan kiếm Trần Mộng Xuân
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số thuốc bảo vệ thực vật đối với phòng trừ bệnh thối nhũn chồi trên cây địa lan kiếm Trần Mộng Xuân
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Các kết quả nghiên cứu được áp dụng vào thực tiễn sản xuất và giúp giải quyết việc có định hướng cho quy hoạch vùng phát triển địa lan kiếm TMX; tác động bằng các biện pháp phù hợp đối với sinh trưởng và phát triển cây địa lan kiếm Trần mộng Xuân tại Lai Châu
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Nghiên cứu xác định các khả năng thích ứng của địa lan kiếm TMX đối với một số tiểu vùng khí hậu , các yếu tổ ảnh hưởng đến sinh trưởng , phát triển và chất lượng hoa địa lan kiếm Trần Mộng Xuân có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất phát triển nghề nuôi trồng hoa địa lan kiếm Trần Mộng Xuân tại Lai Châu
- Trên cơ sở nghiên cứu xác định các biện pháp kỹ thuật để tác động phù hợp vào quá trình sinh trưởng và phát triển, nâng cao chất lượng và đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất hoa địa lan kiếm Trần Mộng Xuân tại Lai Châu, góp phần chuyển đổi cơ cấu một số loại cây trồng phù hợp phát huy lợi thế của địa phương
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sơ ̉ khoa ho ̣c của đề tài
1.1.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu vùng sinh thái và đặc điểm nông sinh học
Cây trồng chịu ảnh hưởng rất rõ của các điều kiện ngoại cảnh và các ảnh hưởng đó được phản ánh ra trên bản thân của cây bằng những biểu hiện của sinh trưởng, phát triển, khả năng cho năng suất và chất lượng Cây lan nói chung và địa lan nói riêng khi trồng trong các điều kiện khác nhau về đất đai, khí hậu sẽ thể hiện bằng các phản ứng của cơ thể với môi trường để thích nghi với điều kiện sống đó Chính vì vậy việc nghiên cứu các đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng của cây địa lan kiếm Trần Mộng
Xuân (Cymbidium lowianum) tại một số vùng sinh thái của tỉnh Lai Châu có ý
nghĩa lớn trong khoa học và thực tiễn
1.1.2 Cơ sở khoa học của nghiên cứu thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc bảo vệ thực vật có vai trò quan trọng trong bảo vệ cây trồng Có nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật trong phòng trừ sâu bệnh hại, mỗi loại thuốc bảo vệ thực vật có tác dụng khác nhau và cơ chế tác động khác nhau đối với sâu bệnh trên cây trồng Chính vì vậy, việc nghiên cứu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đối với cây trồng hiện nay rất cần thiết và có hiệu quả cao trong sản xuất các cây trồng nông nghiệp nói chung và cây địa lan kiếm Trần Mộng
Xuân (Cymbidium lowianum) nói riêng
1.1.3 Cơ sở khoa học của nghiên cứu sử dụng phân bón lá
Bón phân qua lá là biện pháp phun một hay nhiều chất dinh dưỡng cho cây trồng lên các phần ở phía trên mặt đất của cây (lá, cuống, hoa, trái) với mục đích nâng cao sự hấp thu dinh dưỡng qua các phần trên không của cây
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
trồng Bón phân qua lá (BPQL) có một vai trò ngày càng gia tăng trong dinh dưỡng cây trồng và đã được áp dụng từ nhiều năm nay trên thế giới, đây là một phương pháp giảm giá thành đầu tư , dễ áp dụng và hiệu quả để gia tăng năng suất và chất lượng cây trồng dẫn đến gia tăng lợi nhuận nếu được áp dụng đúng cách
Quy trình sinh học của cơ chế hấp thu qua lá và phân phối dinh dưỡng bên trong cây trồng, thực hiện các nhiệm vụ bên trong lá hoặc vận chuyển các chất dinh dưỡng khoáng ra khỏi lá đến các bộ phận khác của
cây trồng và quy trình hấp thu thông qua màng tế bào (plasma
membrane), từ các không bào bên trong lá (apoplast) vào bên trong tế bào
(symplast) sẽ xảy ra
Phân bón có vai trò quan trọng đối với cây trồng, ngoài việc bón phân qua hệ rễ thì việc bón phân qua lá là biện pháp kỹ thuật quan trọng, có hiệu suất
sử dụng phân bón cao, cung cấp dinh dưỡng có hiệu quả, bổ sung kịp thời các nguyên tố dinh dưỡng cho cây trồng Khi bón phân qua lá, các chất dinh dưỡng được dẫn đến các tế bào mô cây qua hệ thống khí khổng ở bề mặt lá Trong thành phần chất dinh dưỡng của phân bón qua lá ngoài các nguyên tố đa lượng như đạm, lân, kali còn có các nguyên tố trung lượng và vi lượng như Fe, Zn,
Cu, Mg,… các nguyên tố này tuy có hàm lượng rất nhỏ nhưng lại giữ vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng Do đó, khi bổ sung các chất dinh dưỡng trực tiếp qua lá sẽ giúp đáp ứng đủ nhu cầu và cân đối dinh dưỡng tạo điều kiện cho cây phát triển đầy đủ trong từng giai đoạn sinh trưởng
Phân bón qua lá có tác dụng đặc biệt trong những trường hợp cần bổ sung khẩn cấp chất dinh dưỡng đạm, lân, kali hay các nguyên tố trung, vi lượng Ngoài ra, trong thành phần của phân bón qua lá còn có các chất điều hòa sinh trưởng, tăng khả năng hấp thụ dưỡng chất, kích thích đâm chồi, đẻ nhánh, ra hoa, đậu quả, giảm hiện tượng rụng trái non, tăng kích thước quả to đẹp, phẩm chất ngon và tăng cường khả năng đề kháng chống chịu sâu bệnh
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.1.4 Cơ sở khoa học của nghiên cứu giá thể
Giá thể là khái niệm dùng để chỉ tất cả các vật chất bao quanh bộ rễ của cây trồng Giá thể là loại vật liệu thường sử dụng trong trồng cây không đất,
có khả năng giữ nước, tạo độ ẩm cho cây trong thời gian dài và tạo độ thoáng khí Khả năng giữ nước và độ thoáng khí của giá thể được quyết định bởi những khoảng trống (khe, kẽ) trong nó Giá thể có những đặc điểm giữ nước cũng như thoáng khí, có pH trung tính và có khả năng ổn định pH, thấm nước
dễ dàng, bền và có khả năng tái sử dụng hoặc phân hủy ngoài môi trường, có trọng lượng nhẹ, rẻ và rất thông dụng Giá thể có nhiều loại như xơ dừa, trấu hun, mùn cưa, cát, sỏi vụn (cỡ hạt đậu), đá trân châu,…Có thể dùng đơn lẻ hoặc trộn lẫn lại với nhau để tận dụng ưu điểm từng loại Vì vậy, trồng cây trong giá thể, dinh dưỡng được cung cấp cho cây thông qua phân bón trộn trong giá thể và bón thúc Việc sử dụng các giá thể phù hợp có ý nghĩa đặc biệt đối với cây trồng Giá thể được sử dụng phổ biến hiện nay gồm: Than củi, gạch nung, rêu, xơ dừa, rễ bèo tây, vỏ cây, rễ dương xỉ, trấu hun, sỏi, đất,
bã nấm ,
1.2 Đặc điểm hình thái trong hệ thống phân loại
Họ Phong lan (Orchidaceae Juss.) thuộc Bộ Phong lan (Orchidales), trong Lớp một lá mầm (Monocotyledones) của Ngành thực vật Hạt kín (Angiospermae) Đây là một họ thực vật có nhiều đặc điểm hình thái, cấu
tạo hoa đa dạng và phức tạp Trong quá trình tiến hóa, Họ Phong lan đều
bắt nguồn từ tổ tiên kiểu Hypoxis có 6 mảnh bao hoa và 6 nhị đực (Võ Văn
Chi, 1978) [ 3], (Phạm Hoàng Hộ , 1993) [ 5], (Trần Hợp , 1968) [6] Tuy nhiên, sự thay đổi về hình dạng cánh hoa và vừa giảm bớt, vừa dính lại của nhị đực với bộ nhụy làm cho Họ Phong lan thành một họ có lối sinh sản chuyên hóa nhất của loài thực vật có hoa Quá trình tiến hóa này phân chia
họ Phong lan thành 5 họ phụ, trong đó: từ các loài nguyên thủy nhất có 2
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
đến 3 nhị đực rời nhau: Apostasioideae; sau đó là nhóm có 2 nhị:
Cypripedioideae và các loài chỉ có 1 nhị đực dính với bộ nhụy (chiếm 99%
tổng số loài của cả họ): Vanilloideae, Orchidoideae,
Cây lan được biết đến đầu tiên ở phương Đông, theo Bretchacider thì
từ đời vua Thần Nông (2800) trước Công nguyên, lan rừng này được dùng làm thuốc chữa bệnh Sau đó, Robut Bron (1773 - 1858) là người đầu tiên
đã phân biệt rõ ràng giữa Họ lan và các họ khác (Trần Hợp , 1990) [8] Đặt nền tảng cho môn học về Lan là Joanlind , năm 1836, ông công bố sắp xếp các tông họ lan (A tabuler view of the Tribes of Ochidalr ) tên của họ lan do ông đưa ra được dùng cho đến ngày nay (Phạm Hoàng Hộ , 1993) [5], (Trần Hợp, 2000) [9]
Ở Việt Nam, người đầu tiên có khảo sát về lan là Gioalas Noureiro - Nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, ông đã mô tả cây lan ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1789 trong cuốn “Flora cochin chinensis” gọi tên các cây lan trong cuộc hành trình đến Nam phần Việt Nam là Aerides, Phaius và Sarcopodium …mà đã được Ben Tham và Hooker ghi lại trong cuốn
“Genera plante rum” (1862 - 1883), chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam thì mới có những công trình nghiên cứu được công bố, đáng kể là F gagne pain và A gui llaumin mô tả 70 chi gồm 101 loài cho cả 3 nước Đông Dương trong bộ “Thực vật Đông Dương chí” (Flora Genera Indochine) do
H Leconte chủ biên xuất bản từ những năm 1932 - 1934 (Trần Hợp , 1990) [8], (Averyanov L.V, 1988) [31]
Họ Phong lan được biết đến như một họ thực vật hạt kín ở vào vị trí
“đỉnh cao của sự tiến hóa” của các cây có hoa Nó bao gồm 835 chi và 25.000
- 35.000 loài phân bố ở khắp mọi nơi trên trái đất , song tập trung nhất ở vùng nhiệt đới như: Châu Mỹ la tinh, Đông Nam Á (Trần Hợp, 2000) [9]
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Còn ở Việt Nam, số loài hiện đã biết là 897 loài thuộc 152 chi Chúng chiếm khoảng 80% số loài được biết đến (Trần Hợp, 1988) [7]
Ở họ Phong lan, ngoài các loài mọc ở đất chúng còn sống được trong các hốc đá, vách đá, sống phụ trên vỏ thân cây gỗ, sống trong mùn (xác thực vật) hay sống ký sinh trên rễ các cây ở trong rừng Do đa dạng về dạng sống, nên họ Phong lan có hình thái cấu tạo hết sức độc đáo Sơ bộ có thể mô tả các
cơ quan sinh dưỡng và sinh sản của Phong lan như sau:
Hệ rễ: Đối với các loài sống ở đất, chúng thường có củ nạc to nhỏ
không đều, hoặc rễ chùm xum xuê trên các thân, rễ bò dài hoặc ngắn Tuy nhiên, nét độc đáo của họ Phong lan là lối sống phụ bì (bì sinh), bám, treo lơ lửng trên các thân cây gỗ khác Chúng phát triển hệ rễ nạc dài, ngắn, mập hay mảnh mai tùy thuộc vào từng loài để đưa cơ thể bò đi xa hay chụm lại thành bụi dày Hệ rễ phát triển nhiều hay ít phụ thuộc vào hình dạng chung của cơ thể Ở các loài nhỏ bé, hệ rễ cũng nhỏ, đan thành búi, ngược lại, ở những loài
có kích thước lớn hay trung bình hệ rễ ký sinh phát triển rất phong phú, mọc rất dài, mập và khỏe vừa giữ cho cơ thể bám vững chắc vừa hấp thu nước lơ lửng trong không khí
Nhiều loài có hê ̣ rễ đan , bê ̣n chằng chi ̣t là nơi thu gom mùn từ vỏ cây gỗ hay cây bu ̣i , trong không khí để làm nguồn dự trữ chất dinh dưỡng cho cây Ngược la ̣i có loài mo ̣c bò dài , hê ̣ rễ có khi buông thõng xuống theo các đoa ̣n thân , cứng hoă ̣c mảnh mai , treo lơ lửng trong không khí hoă ̣c cắm thẳng xuống đất
Ở một số loài có thân , lá kém phát triển , hê ̣ rễ phát triển dày đă ̣c và kiêm nhiê ̣m luôn cả vai trò quang hợp , rễ có da ̣ng be ̣t , bò rất dài , màu xanh như lá Đặc biệt các loại Lan sống hoại, sống ký sinh, bô ̣ rễ có hình dạng, cấu trúc khá độc đáo , có dạng búi nhỏ với những vòi , giác hút ngắn , dầy đă ̣c để lấy dinh dưỡng từ những đám xác thực vâ ̣t thông qua hoa ̣t đô ̣ng của nấm Mă ̣c
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
dù có lối sống hoại, sống ký nhưng mô ̣t số loài có thể dài đến vài chu ̣c mét và
có khả năng leo, bò trên các thân cây cao
Thân cây: Thân Phong lan biến đổi rất đa dạng Theo M.E.Pfizer
(1882) đã sắp xếp chúng vào hai nhóm chính: nhóm đơn thân (Monopodial)
và nhóm đa thân (Sympodial) (Trần Hợp, 2007) [10]
Nhóm đơn thân gồm các chi: Dáng Hương (Aerides), Hồ Điệp
(Phalaennopsis), Phượng Vỹ (Renanthera), Ngọc Điểm (Rhynchostylis) đây
là nhóm gồm những cây chỉ tăng trưởng theo chiều dài
Nhóm đa thân: Đây là nhóm gồm những cây tăng trưởng liên tục và có
những kỳ nghỉ sau những mùa tăng trưởng như: Chi lan kiếm (Cymbidium), Chi lan Hoàng Thảo (Dendronbium)
Ở các loài Lan sống phụ , thân nhiều loài phình lớn ta ̣o thành củ giả , đó
là bộ phận dự trữ nước và chất dinh dưỡng đ ể nuôi cây trong hoàn cảnh khô hạn khi sống bám trên cao Củ giả rất đa dạng , hình cầu hoặc thuôn dài , xếp sát nhau hay rải rác hoặc xếp đều đặn trên thân , rễ hay hình tru ̣ xếp chồng chất lên nhau thành mô ̣t thân giả Kích thước của củ giả cũng rất biến động, từ
dạng củ rất nhỏ chỉ lớn bằng chiếc đầu kim như Bulbophyllum đến củ to bằng
cả chiếc mũ như Peristeria elata Đa số củ giả đều có màu xanh bóng , nên
cùng với lá nó cũng làm nhiệm vụ quang hợp (Lưu Chấn Long, 2003) [17]
Lá: Hình dạng và cách mọc của lá là một trong những tiêu chuẩn mang
lại giá trị thưởng thức của cây Phong lan, thường được phân thành 3 loại lá: lá đứng, lá nửa đứng, lá cong rũ Đa số các loài địa lan nhờ có hệ rễ dày đặc và thân rễ mập nên phát triển rất đầy đủ hệ thống lá Lá địa lan mềm mại và hấp dẫn, lá mọc đơn độc, hoặc xếp dày đặc ở gốc, hay xếp cách đều đặn trên thân,
rễ, củ giả Hình dáng lá thay đổi rất nhiều, từ loại lá mọng nước, nạc, dài hình kim, hình trụ với tiết diện tròn hay có rãnh, đến loại lá hình phiến mỏng, dài màu xanh bóng, đậm hay nhạt tùy theo vị trí, tất cả đều có gốc thuôn dài
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
thành bẹ ôm lấy cây, đôi khi phần lá dưới sát gốc tiêu giảm đi chỉ còn là những bẹ không có phiến lá hay giảm hẳn thành các vẩy
Các loài địa lan có số lá trên nhánh biến động rất lớn : loại có lá trên nhánh ít như Đông Lan (2-6 lá/ nhánh); trong khi đó Ba ̣c Lan
(Cerythrostylum) có số lá rất lớn (9,1 lá/nhánh) Độ dày và độ rộng của lá
cũng rất khác nhau , lá dài phải kể đến đó là Ngọc Bích (Cymbidium
Marles, Fitch, 1981) [34]
Về màu sắc, phiến lá thường có màu xanh bóng như các chi Lan Kiếm
như Ha ̣c Đính vàng (Phaius flavum), có loài lan lại có màu hồng và nổi lên các đường vẽ trắng theo các gân rất đe ̣p như chi Lan Gấm (Goodyera.R.Browm), Lan Sứa (Anoectochilus BL), Lan San Hô (Luisia Gaudisc)
Hoa: Cấu tạo của hoa lan cực kỳ phong phú và đa dạng, có thể gặp
nhiều loài hoa mà mỗi mùa chỉ có một đóa hoa nở hoặc có nhiều cụm hoa mà mỗi cụm chỉ ra một bông Mặc dù muôn hình muôn vẻ nhưng nếu quan sát hoa của bất kỳ loài Phong lan nào cũng có một tổ chức đồng nhất của hoa mẫu 3 là một kiểu hoa đặc trưng của lớp một lá mầm nhưng đã biến đổi rất nhiều để hoa có đối xứng qua một mặt phẳng (Trần Hợp, 1988) [7]
Mầm hoa của địa lan được hình thành từ đốt thứ 3, thứ 4 ở gần đáy của các củ Hoa đứng thẳng hay cong, thường dài và mang nhiều hoa; còn
ở các loài sống phụ, chồi hoa thường xuất hiện bên dưới củ giả, trong các nách lá, tách các bẹ già đâm ra bên ngoài Thông thường, mỗi củ giả chỉ cho hoa một lần Chồi hoa thường xuất hiện đồng thời với chồi thân , nhưng chồi hoa mập , tròn hơn , còn chồi thân hơi dẹp Các lá đầu tiên ở chồi thân mọc đâm ra hai phía hình đuôi cá , còn ở chồi hoa các lá bao hoa luôn ôm chặt quanh phát hoa (Trần Hợp , 1990) [8]
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Cuống chung cụm hoa không phân nhánh, dựng đứng hay buông thõng, chiều dài từ 10 đến hơn 100cm Cành hoa có một hay mang từ một đến vài chục búp hoa xếp luân phiên nhau theo hình xoắn ốc Búp hoa khi đã đủ lớn , cuống hoa bắt đầu dài ra và tách xa khỏi cuống chung
Như hoa Cymbidium có 5 cánh gần giống nhau nhưng thực ra chỉ có 2
cánh hoa ở bên trong , còn lại là 3 lá đài ở bên ngoài , có cấu trúc và mầu sắc giống cánh hoa Cánh hoa thứ 3 chuyển hóa thành cánh môi , mầu sắc să ̣c sỡ hơn xẻ thành 3 thùy tạo ra dạng nửa hình ống Hai thùy bên ôm lấy tru ̣ , thùy thứ 3 có dạng bầu hay nhọn tạo thành hình đáy thuyền là chỗ đậu cho côn trùng khi đến hút mật và thụ ph ấn cho hoa Giữa 2 cánh môi có nhiều gờ dọc song song mầu sắc tô điểm Tâ ̣n cùng bên trong có ho ̣ng mang mâ ̣t và đôi khi
có tuyến tiết mồ hôi Hoa Cybidium lưỡng tính nhi ̣ đực và nhu ̣y cái cùng gắn
chung trên mô ̣t cô ̣t hình tru ̣ hơi cong về phía trước Nhị ở trên cùng mang 2 khối phấn màu vàng có gót dính như keo Khối phấn được đâ ̣y bởi mô ̣t nắp dễ mở khi va cha ̣m và rời ra cô ̣t nhu ̣y cách với đầu nhu ̣y bởi mô ̣t gờ nổi lên Với cấu trúc này trong tự nhiên, hoa Lan chỉ thu ̣ phấn được nhờ côn trùng Sau khi hoa thu ̣ phấn , hoa xoay dần về vi ̣ trí cũ , bầu noãn phình to lên ta ̣o thành quả (Bernier and Sachs, 1981) [32]
Màu sắc của hoa rất sặc sỡ , với các màu khác nhau và mùi hương quyến rũ để hấp dẫn côn trùng Vì màu sắc să ̣c sỡ của hoa lan mà từ xưa đến
nay hoa lan được xếp vào loa ̣i hoa “Vương giả” Ngoài vẻ đẹp kiêu sa , hoa
lan còn tỏa nhiều hương hấp dẫn
Quả: Thuộc loại quả nang, nở ra theo 3 - 6 đường nứt dọc, quả có dạng
dài (Vanilla) đến dạng hình trụ trứng ngắn phình ở giữa Khi chín hạt thoát ra
từ các đường nứt để lại mảnh vỏ còn dính với nhau ở phần đỉnh và gốc Ở một
số loài quả chín nở theo 1- 2 khía dọc, thậm chí không nứt ra mà hạt chỉ ra khỏi vỏ quả khi vỏ này bị mục nát
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Hạt: Có rất nhiều hạt, kích thước nhỏ li ti, trong lượng rất nhẹ, toàn
bộ hạt trong một quả chỉ khoảng 1/10 - 1/1.000mg; trong đó không khí chiếm 76 - 96% thể tích của quả Hạt chỉ cấu tạo từ một khối phôi chưa phân hóa, trên một mạng lưới nhỏ xốp chứa đầy không khí Phần lớn hạt thường chết vì khó gặp nấm cộng sinh cần thiết để nảy mầm Chỉ ở trong những khu rừng già ẩm ướt , vùng ôn đới núi cao mới có thể đủ điều kiện để hạt nảy mầm (Trần Hợp , 2007) [10]
* Đặc điểm sinh học của cây địa lan Trần Mộng Xuân (Cymbidium lowianum)
Địa lan Trần Mộng Xuân có tên khoa học Cymbidium lowianum thuộc
Họ phong lan (Orchidaceae) Lan đất, củ giả tròn, lá hình dải hẹp dài từ 40 -
100cm, số lá trung bình/nhánh là 5,1 lá Chùm hoa dài từ 70 - 100cm thường dài hơn lá, với 20 - 45 hoa Hoa lớn dài 12cm màu vàng lục cánh môi chia ba thùy màu vàng, đỉnh môi màu đỏ hồng
Loại địa lan này chỉ đẻ 1 nhánh/năm, đẻ 2 đợt mầm trong năm vào tháng 3-4 và tháng 9-10 Những mầm đẻ vào tháng 9-10 thường là mầm sinh trưởng, phát triển kém, còi cọc, những mầm này khó có khả năng cho ra hoa Tốc độ sinh trưởng về chiều cao của địa lan chậm, nhanh nhất là tháng thứ 6 mới đạt chiều cao tối đa
1.3 Yêu cầu về ngoại cảnh của cây lan
Để sinh trưởng và phát triển tốt cần có yếu tố ngoại cảnh như nơi xuất
xứ Muốn nuôi dưỡng tốt hoa lan trước tiên chúng ta cần tìm hiểu đặc tính sinh trưởng của nó qua các yếu tố chủ yếu sau:
1.3.1 Nhu cầu về ánh sáng
Ánh sáng là điều kiện rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển thông qua quá trình quang hợp và hô hấp Đây cũng là yếu tố rất quan trọng cho sự tạo hoa của lan
nCO2 + nH2O as→ (CH2O)n + nO2
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chất diệp lục có trong lá, rễ, thân cây lan làm chức năng quang hợp (CH2O)n cùng với nước và muối khoáng do rễ và lá hấp thụ được tạo ra các chất hữu cơ cấu tạo nên tất cả các bộ phận của cây lan (Hoàng Minh Tấn
và cộng sự, 1994) [21]
Bản chất của hầu hết các loại lan rừng là sống dưới tán rừng , nơi ít có các tia nắng chiếu trực tiếp và liên tục , nhưng không phải loài nào cũng cần
có độ tàn che nhất định mà chúng cần có độ che bóng khác nhau
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của lan, ánh sáng là nhân tố rất quan trọng trong quá trình tạo mầm hoa và cũng có thể là nhân tố liên quan gây ra một số bệnh Cây thiếu ánh sáng thường có sức đề kháng kém nên dễ mắc một số bệnh như : Thán thư, thối nhũn chồi,… Nhưng nếu cường
độ ánh sáng cao quá sẽ dẫn đến cháy lá , vàng lá ,… ảnh hưởng đến vẻ đe ̣p quyến rũ chung của hoa lan Vì vậy, để đạt được mục tiêu có châ ̣u hoa lan đe ̣p thì cần đảm bảo ánh sáng là rất quan trọng Ở các nhà vườn không có cây xanh để che bóng người ta dùng lưới đen có đô ̣ cản quang khác nhau để làm mái che cho vườn lan, tuy nhiên viê ̣c xác đi ̣nh nhu cầu ánh s áng cho vườn lan chỉ ở mức tương đối
Dựa vào nhu cầu ánh sáng có thể chi thành ba nhóm chính như sau : nhóm trong bóng râm , nhóm trung tính và nhóm trong ánh nắng (Thiên Ân, 2000) [1], (Trần Duy Quý, 2005) [18]
Nhu cầu về ánh sáng của lan rừng có thể khái quát như sau:
- Nhóm Dendrobium nhu cầu ánh sáng khoảng 70%
- Nhóm Paphiopedium nhu cầu ánh sáng khoảng 30%
- Nhóm Cymbidium nhu cầu ánh sáng khoảng 60%
- Nhóm Calanthe nhu cầu ánh sáng khoảng 30%
- Nhóm Coelogyne nhu cầu ánh sáng khoảng 50%
- Nhóm Eria nhu cầu ánh sáng khoảng 60%
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Đối với mỗi loài lan lại có sự khác biệt tương đối trong từng nhóm
và cho dù trong điều kiện nuôi trồng nhân tạo cũng không thể tạo điều
kiê ̣n tuyê ̣t đối về mô ̣t nhu cầu sinh thái nào đó , mà chỉ là tương đối
(Nguyễn Công Nghiệp , 1986) [12]
Bảng 1.1 Nhu cầu ánh sáng của mô ̣t số nhóm loài lan
Nhu cầu
Ưa bóng 30 -
40%
Một số loài t huô ̣c chi Tai Dê (Liparis), Chi lan Sứ a
(Anoectochilus), Chi lan Bầu R ượu (Calanthe), Chi lan Luân (Eulophia), Hạt Đính (Phaius), Paphiopedilum,
Nhóm có thể sống trực tiếp dưới ánh sáng mặt trời : Chi lan sâ ̣y
Bạch Hạc (Thunia), các loài này khi gặp thời tiết nắng nóng
lá ngả màu vàng
Đối với nhóm Cymbidium nhu cầu ánh sáng tự nhiên là 60-70% (Trần
Duy Quý, 1996) [18] Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện thời tiết mà có thể điều chỉnh đô ̣ che bóng cho phù hợp Ở những nơi có độ ẩm cao , cường đô ̣ ánh sáng rất thấp (Miền núi phía Bắc ) từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Nhưng do đă ̣c điểm thời tiết này không kéo dài liên tu ̣c mà biến đổi thất
thường nên cần ta ̣o ra hê ̣ thống lưới đen có thể điều chỉnh được để có thể ta ̣o môi trường tương đối phù hợp với điều kiê ̣n ngoa ̣i cảnh ta ̣o điều kiê ̣n cho lan phát triển Đặc biệt chú ý những ngày nắng gắt bất thường phải bố trí hệ thống mái che
để tránh hiện tượng cháy lá, đây cũng là điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi để các mầm mống
bê ̣nh xuất hiê ̣n, gây nên mô ̣t số loa ̣i bê ̣nh thường gă ̣p (Trần Duy Quý, 2005) [19]
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Do đó cần đă ̣c biê ̣t chú ý tới ánh sáng cho tất cả các loài cây lan Cần thiết phải làm giàn che nắng cho cây , tùy thuộc vào từ ng loài mà có chế đô ̣ che nắng cho thích hợp Tuyê ̣t đối không để nắng chiếu trực tiếp vào cây , kể
cả những tia nắng xiên Khi chuyển châ ̣u , thì phải chuyển sang chỗ có ánh nắng nhiều hơn , nhưng không quá 60% đô ̣ nắng Tâ ̣n du ̣ng ánh nắng buổi sáng, hạn chế ánh nắng buổi chiều Nếu cần , che hoàn toàn ánh nắng buổi trưa, từ 12 đến 14 - 15 giờ vào những ngày quá nắng Đặc biệt đối với những cây lan dưới 2 tháng thì việc điều chỉnh cường độ và thời gian chiếu sáng trong ngày phải thực hiê ̣n chu đáo và linh hoa ̣t Phải cho chúng làm quen dần với ánh nắng ngày càng tăng đến mức phù hợp nhất (Nguyễn Công Nghiê ̣p, 1986) [12]
1.3.2 Nhu cầu về nhiệt độ
Khi nhiệt đô ̣ tăng lên 100
C thì tốc đô ̣ quang hợp sẽ tăng gấp đôi (Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch, Trần Văn Phẩm, 1994) [21] Điều này đúng trong giới ha ̣n pha ̣m vi cây cối sống tốt , thí du ̣ từ 150C đến 350
- Phản ứng quang hợp tăng nhanh do phải có nhiều hơi nước;
- Cây lan muốn bảo vê ̣ phải hút nhiều nước qua đường rễ và thoát nước
ra qua lá nhiều hơn bình thường;
- Phun nướ c vào giàn lan , phun xuống nền , lên cả cây ở các châ ̣u , các
cô ̣t của giàn để ha ̣ nhiê ̣t đô ̣ của cả giàn lan
Mô ̣t số loài lan thuô ̣c chi lan Cymbidium chỉ có thể ra nụ hoa khi nhiệt
đô ̣ xuống dưới 150
C vào ban đêm Vì vậy, ở một số khu vực vùng cao miền núi phía Bắc có nhiều hoa lan có giá trị nở hoa vào cuối năm
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Căn cứ vào đô ̣ cao người ta cũng đã phân loa ̣i ra làm 3 nhóm lan:
- Độ cao dưới 1.000 mét so với mặt nước biển (vùng nóng ):
Dendrobium, Aerides, Cleisostoma
- Độ cao từ 1.000m đến dướ i 2.000m so với mă ̣t nước biển (vùng trung
gian): Cymbidium, Coelogyne
- Độ cao trên 2.000m so vớ i mă ̣t nước biển (vùng lạnh): Cymbidium,
Coelogyne, Liparis
Yêu cầu nhiê ̣t đô ̣ của các loài lan do nguồn gốc phát sinh và sự phân bố tự nhiên trong quá trình sinh trưởng , phát triển đã quy thành các nhóm lan Vì vậy căn cứ vào điều kiện khí hậu những vùng xuất xứ các loài lan trên thế giới được chia thành 3 nhóm chính là nhóm lan ôn đới , nhóm lan
câ ̣n nhiê ̣t đới và nhóm lan nhiê ̣t đới Trong đó giống đi ̣a lan (Cymbidium)
được xếp vào nhóm lan ôn đới , chúng được phân bố từ vĩ độ 280
- 400 (Trần Duy Quý, 1996) [18]
Nhìn chung, nhiê ̣t đô ̣ đều ảnh hưởng cả quá trình sinh trưởng của cây , nhưng ở giai đoa ̣n phát du ̣c của mầm hoa thì nhiê ̣t đô ̣ ảnh hưởng là lớn nhất Thời kỳ phát du ̣c khác nhau thì chi ̣u ảnh hưởng của nhiê ̣t đô ̣ là khác nhau, trong tháng 7, tháng 8 ở các nước nhiệt đới có nhiệt độ cao thì mầm hoa sẽ được hình thành vào buổi tối, nhiê ̣t đô ̣ dao đô ̣ng quanh 150C rất thuâ ̣n lợi cho quá trình phát dục mầm hoa , nhưng nhiê ̣t đô ̣ >200
C thì hoa nở châ ̣m (Charles Marles, Fitch, 1981) [34]
Những mầm hoa hình thành sau tháng 10 gă ̣p nhiê ̣t đô ̣ ban đêm cao sẽ nở hoa càng nhanh Khi hình thành mầm hoa , cây gă ̣p nhiê ̣t đô ̣ >300
C trong thời gian dài sẽ dẫn đến khô héo, rụng hoa (Williams B et Kramer J, 1983) [37]
1.3.3 Nhu cầu về độ ẩm
Đây cũng là một yếu tố quan trọng đối với cây lan Trướ c hết , về nguyên tắc, chúng ta cần phân biệt 3 loại độ ẩm:
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Độ ẩm của vùng : là ẩm độ của khu vực rộng lớn , nơi mà ta thiê ̣t lâ ̣p vườn lan, ẩm độ này do điều kiện địa lý, đi ̣a hình nói chung quy đi ̣nh
- Độ ẩm của vườn : Là ẩm độ chính của vườn lan , độ ẩm này có thể cải tạo theo ý muốn của người trồng lan
- Độ ẩm trong chậu trồng lan : Gọi là ẩm độ cu ̣c bô ̣, do cấu ta ̣o của giá thể, thể tích châ ̣u , số lần tưới quyết đi ̣nh Ẩm độ này phụ thuộc hoàn toàn vào kỹ thuật của người trồng lan Đối với địa lan thì ẩm độ này vào khoảng 50 - 70% (Nguyễn Thiê ̣n Ti ̣nh và cô ̣ ng sự, 1996)[23]
Đối với lan tự nhiên, nhu cầu về độ ẩm thường dao động ở mức 70 - 90% nếu vượt ngưỡng này cây lan có thể bị ảnh hưởng đến sinh trưởng hoặc có thể bị chết Một cây lan muốn phát triển tốt phải điều hòa được các hoạt động như: quang hợp, hấp thụ nước , các muối khoáng và thoát nước qua lá cây , hô hấp Sự thoát nước của cây qua lá khá nhiều , phụ thuô ̣c vào nhiê ̣t đô ̣ , đô ̣ ẩm và đô ̣ mở của khí khổng Về mùa khô , mô ̣t số loài lan rụng lá để giảm bớt sự thoát hơi nước Các loài lan mọc trên cây
có lá mập và dày để trữ nước , ngoài ra còn một lớp cutin để ngăn bớt sự thoát hơi nước
Bộ rễ của lan không phát triển như những loài thực vật khác nên cần phải tưới nước thường xuyên và là khâu quan trọng Ngoài ra nếu không có điều kiện tưới nước thì có thể chọn giá thể giữ ẩm tốt như sơ dừa, vỏ cây dương xỉ, vỏ cây nghiền nhỏ
Thời điểm tưới nước cho lan cũng rất quan trọng vì nếu tưới nước vào buổi sáng hoặc buổi tối sẽ không phù hợp vì thời điểm này không khí có độ ẩm cao, nhiệt độ thấp, lan chưa cần nước, tưới vào thời điểm này độ ẩm trong chậu quá cao dễ sinh bệnh về nấm, mốc hư rễ, thối nõn (Delforge P, 1995) [35]
Nên tưới nước cho lan vào lúc 9 giờ sáng và 4 giờ chiều tùy vào thời tiết , khi trời mưa không tưới Vườn lan nơi thoáng gió cần tưới nhiều
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
hơn nơi kín gió Tưới cho lan đơn thân , lan sống trên cây nhiều hơn lan sống trong châ ̣u Tiêu chuẩn nước tưới phải sạch, không dùng nước cống rãnh, nước thải sinh hoạt
Tưới nư ớc cho lan nhiều hay ít phụ thuộc vào độ ẩm của không khí , sự thoáng gió , loại giá thể , loài lan , mùa tăng trưởng , nhiê ̣t đô ̣ , sự che sáng nơi trồng , mỗi điều kiê ̣n đều có cách tưới khác nhau tùy theo quy mô vườn lan (Lưu Chấ n Long, 2003)[17]
Thông thường có thể dùng một trong các biện pháp sau để tưới nước cho lan:
Bảng 1.2 Các biện pháp chủ yếu tưới nước cho lan
Không áp dụng được nếu các cây lan có dấu hiệu của sâu bệnh hại, khó thực hiện được với số lượng lớn Tốn nhiều thời gian,…
2 Vòi
phun mù
cố định
Vườn lan có quy
mô lớn, thời tiết
Ít gây tổn thương cho cây
Tạo được tiểu khí hậu mát rất phù hợp cho lan
Không tốn sức
Tốn kém về chi phí đầu tư lắp đặt Nếu thời tiết quá khắc nhiệt như gió to độ ẩm không khí thấp, nhiệt
độ cao thì hiệu quả không cao
tự nhiên dồi dào,…
Giảm được số lần thao tác
Rất hiệu quả trong thời điểm khô hanh, ít tốn sức
Tốn nước, có thể gây tổn thương cho cây con
4 Vòi
phun cầm
tay
Thường áp dụng
với vườn lan có
quy mô trung bình
Chủ động phân phối nước theo ý muốn có thể chủ động phân bổ lượng nước cho toàn vườn chánh được hiện tượng
“nơi thừa nơi thiếu”
Giảm chi phí
Không hiệu quả ở những vườn lan lớn mang tính công nghiệp Tốn nhiều công sức, không tiện dụng khi vận hành
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Khi tưới trực tiếp bằng vòi cần chú ý: tưới quá mạnh có thể làm gẫy cây hoặc thối đọt non Một biện pháp tốt là tưới bằng bép phun tự động cho các vườn lớn kinh doanh trên quy mô công nghiệp Bép phun được sử dụng rộng rãi vì nó tạo được các tia nước nhỏ và nhẹ nhàng Do đó dòng nước có mạnh như thế nào thì cũng không gây tổn thương cho lá và thân cây (Trần Duy Quý, 2005) [19]
Một vấn đề quan trọng khác cần phải lưu ý trong quá trình tưới cho cây lan là nguồn nước tưới Thông thường có thể dùng nước mưa, nước suối, nước giếng,… tùy vào điều kiện cụ thể có thể sử dụng nguồn nước nào cho hiệu quả Tuy nhiên nước tưới phải đảm bảo sạch, không có các yếu tố gây độc cho cây như nước nhiễm mặn, phèn, clo… Một vấn đề nữa cần phải quan tâm là độ pH của nước Thông thường mỗi loài tùy vào đặc điểm sinh thái mà phù hợp với
độ pH nhất định, để đảm bảo tưới chung cho toàn bộ vườn lan chúng ta nên sử dụng nước tưới có đô ̣ pH từ 6 - 8 (Vũ Văn Yến, 2000) [25]
Tùy thuộc vào điều kiện thời tiết, nếu những ngày khô hanh, nắng nóng thì nên tưới 2 lần trong ngày một lần vào sáng sớm và một lần vào lúc chiều mát… Tuyệt đối không tưới vào lúc nắng nóng để tránh nguy cơ vàng, cháy lá và nhiễm bệnh Để mỗi lần tưới nước đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu nước cho cây, người trồng lan cần phải theo dõi diễn biến thời tiết để có kế hoạch dự trữ nước và cung cấp đủ lượng nước cần thiết cho mỗi lần tưới (Nguyễn Côn g Nghiê ̣p , 1986) [12]
1.3.4 Nhu cầu về dinh dưỡng
Đối với nhóm Cymbidium, Anoectochilus nguồn dinh dưỡng chủ
yếu được chúng hấp thu từ hỗn hợp giá thể Tuy nhiên trong khi trồng để hạn chế mầm bệnh sau này người ta thường dùng giá thể sạch và có độ trơ cao (tỷ lệ Dương Xỷ cao) Để cây sinh trưởng và phát triển tốt người ta phải phun các loại dinh dưỡng cho cây dễ sử dụng như các loại phân bón
lá, phân nhả chậm,… (Ngọc Lan , 2003) [13]
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Cung cấp phân bón lá cho cây là rất cần thiết và quan trọng nhưng cung cấp loại gì, khi nào, bao nhiêu là thích hợp, là một vấn đề cần phải nghiên cứu kỹ về đặc điểm sinh thái của cây Từ thực tế cho thấy đối với nhiều loài thường dùng Yogen (loại 30:10:10) trong giai đoạn cây đang sinh trưởng mạnh (thường là mùa hè và sau mùa hè) và Yogen (loại 20:20:20) trước khi ra hoa 1 - 2 tháng, số lần phun là từ 7 - 10 ngày/lần Bên cạnh đó có rất nhiều cách để cung cấp các dinh dưỡng cần thiết và rất tốt cho cây mà chi phí lại thấp và dễ dàng tạo ra các chế phẩm này như nước đậu tương ngâm ủ trong thời gian từ 4 - 6 tháng với nồng độ 3 - 5ml/lít, tuy nhiên khi dùng đậu tương, xác động vật (ốc, cá,…) ngâm, cần lưu ý là cây sạch bệnh vì khi sử dụng loại phân này thường dễ gây bùng phát các loại bệnh do nấm, vi khuẩn Hoặc có thể dùng nước tiểu pha với nồng độ 10% để phun lên lá (Trần Duy Quý , 2005) [19]
Ngoài ra, để hạn chế sự phát sinh các nguồn bệnh có thể có đối với cây lan, người trồng lan có thể pha các dinh dưỡng tự chế từ tổng hợp các chất đa lượng, vi lượng cần thiết Phương pháp này khá an toàn với cây lan mà đảm bảo được các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây phát triển, tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi sự tỷ mỷ và cần phải có các công cụ hỗ trợ như cân phân tích, cân kỹ thuật và hàng loạt các hóa chất cần thiết (Hoàng Minh Tấn và cộng sự , 1994) [22]
Sử dụng dinh dưỡng hợp lý là một liệu pháp vô cùng quan trọng và có tác dụng nhiều mặt đối với cây trồng nói chung và các loài lan nói riêng: vừa tạo ra sự sinh trưởng và phát triển tốt nhất vừa tạo ra sản phẩm đáp ứng mục tiêu chăm sóc cây (lấy củ, quả, hoa,…) đặc biệt tăng sức đề kháng phòng ngừa sâu bệnh hại , chống chịu với thời tiết khi bất lợi (Nguyễn Ha ̣c Thúy , 2001) [24] Việc sử dụng phân bón phải căn cứ vào nhiều yếu tố thì mới phát huy hiệu quả Không riêng các loài lan mà tất cả các loài cây trong giai đoạn
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
sinh trưởng (mùa mưa) nhu cầu đạm tăng, vì vậy trong giai đoạn này cần lưu
ý sử dụng các loại phân có hàm lượng đạm cao như Yogen có tỷ lệ N:P:K là 30:10:10, hoặc các dung dịch có nồng độ đạm cao như nước đậu ngâm, các chất bài tiết của động vật…Đến trước khi cây chuyển sang giai đoạn phân hóa ngồng hoa cần phải tăng lượng Kali giảm lượng đạm khi đó nên sử dụng các hợp chất có nồng độ Kali cao như Yogen có tỷ lệ N:P:K là 20:20:20… Một nguyên tắc sử dụng phân bón hiệu quả và an toàn là nên pha loãng và dùng nhiều lần sẽ hiệu quả hơn pha đặc dùng ít lần (Ngọc Lan, 2005) [13]
Một trong những điều kiện cần thiết cho đời sống của thực vật nói chung và họ lan nói riêng là có kỳ nghỉ định kỳ hàng năm Khi nghỉ là thời kỳ
mà cây lan ngừng sinh trưởng, phát triển, thời kỳ này chuẩn bị sang giai đoạn trổ bông… Nắm bắt được giai đoạn này là yếu tố rất quan trọng để người trồng lan tạo điều kiện cần thiết để cây cho hoa (Brummitt R.K, (1992) [33]
Ở các nước có công nghiệp trồng lan phát triển người ta dùng nhiều loại phân bón, trong đó ngoài 3 chất chủ yếu là N (đạm), P (lân) và K (Kali), người ta còn bổ sung các nguyên tố đa lượng, vi lượng thích hợp với lan
Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu vấn đề dinh dưỡng cho lan rất kỹ
Họ khuyên nên bón nhiều N khi cây phát triển và khi kết thúc thời kỳ phát triển thì nên bón nhiều P và K Bón nhiều lần thật loãng bao giờ cũng tốt hơn bón ít lần đậm đặc (Nguyễn Xuân Linh và cô ̣ng sự, 2000) [15]
Ngoài ra, chế độ dinh dưỡng còn tùy thuộc vào các yếu tố khác, nếu ánh sáng đầy đủ, cây được quang hợp tốt thì cần nhiều chất dinh dưỡng hơn chỗ ánh sáng thiếu Thông thường, người ta xem màu sắc của lá và sự phát triển của bộ rễ và thân cây để quyết định nên tăng hay giảm liều lượng sử dụng N:P:K (Graf A.B, 1992) [36]
Về phân hữu cơ, các tác giả nước ngoài đều giới thiệu rất nhiều các loại khác nhau, kể cả máu khô, ốc ngâm, bột xương Có người dùng phân bò, phân
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
chim bồ câu ngâm nước vài ngày sau, khi chu trình lên men sắp kết thúc thì lấy ra lọc kỹ và pha loãng với nước, cho thêm P và K với tỉ lệ 1/1000 (1g cho 1lít nước) và tưới cho lan Ngoài ra có thể dùng phân chim cút, nhưng với tỉ lệ bằng 1/3 phân bò vì tỉ lệ đạm trong phân chim cút cao hơn nhiều (Nguyễn Xuân Linh, 1998) [14]
Đó là những loại phân hữu cơ đối với lan đã trưởng thành Còn đối với lan con, khi dùng phải thận trọng hơn nhiều, vì lá và rễ của lan con còn quá yếu, rất dễ sinh bệnh Nếu dùng phải lọc kỹ (bằng cát) và được diệt trùng bằng hóa chất Cũng như khi dùng phân vô cơ, ta cần tưới hết sức loãng, cây dễ tiếp thu, đồng thời phòng bệnh cả cho cây Khi có bệnh, phải chữa cho cây khỏi bệnh rồi mới tiếp tục bón phân (Nguyễn Thiện Tịnh và cộng sự , 1996) [23]
1.3.5 Độ thông gió
Nếu ở chỗ thường xuyên có những luồng gió (thí dụ gió mùa Đông Bắc
ở miền Bắc, gió Lào ở Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa), lan sẽ chết rất nhanh Nhưng
nếu ở nơi không khí tù hãm, lan cũng không lớn và không trổ bông được
Ở bất cứ lứa tuổi nào lan cũng cần được thoáng gió, do vậy lan thường sống cheo leo trên các vách đá, hoặc bám chót vót trên các ngọn cây cao Độ thoáng gió là một trong những đặc tính quan trọng về sinh thái của cây lan (Nguyễn Công Nghiệp, 1986) [12]
1.4 Một số kỹ thuật trồng và chăm sóc địa lan
1.4.1 Kỹ thuật trồng cây con vào chậu
Trước khi trồng cần chuẩn bị: Chậu được rửa sạch; giá thể phải được khử trùng, chế biến tùy theo công thức của từng người Nếu là các chất liệu như than củi, vỏ cây, rễ cây Dương xỉ thì chặt nhỏ kích thước 2 - 5cm; nếu là
sơ dừa thì xé ra cho tơi và cắt thành đoạn khoảng một đốt ngón tay
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Tuy không có công thức chung nhưng nguyên tắc chung là không được làm hỏng rễ, giá thể không được trùm lên ngọn, làm hỏng ngọn, đặt cây đứng thẳng, không nghiêng ngả, rễ được cố định tránh long gốc Chọn những cục than to hoặc vỏ cây, đá, mảnh sành kích thước 2-3cm đặt vào đáy chậu để giúp thoát nước và thông thoáng bộ rễ, chiếm khoảng 1/3 dung tích Sau đó rải giá thể lên trên rồi trồng cây con vào, giữ cho cây đứng thẳng, cho tiếp giá thể lên, chú ý đặt nhẹ nhàng cho rễ cây ở hết bên dưới giá thể và tránh làm gẫy và hư hại rễ Công việc này đòi hỏi làm hết sức nhẹ nhàng và tỷ mỷ (Nguyễn Công Nghiệp, 1986) [12]
1.4.2 Kỹ thuật chuyển chậu
Chậu cần có kích thước vừa phải, được rửa sạch, giá thể phải được khử trùng, xếp những cục to ở dưới Khi chuyển cần bảo vệ tốt bộ rễ, không trồng cây sâu quá che lấp gốc cây , cần trồng ngay ngắn vào giữa chậu để các mầm
có thể phát triển được ra tất cả các hướng (Ngọc Lan, 2005) [13]
1.4.3 Kỹ thuật tưới nước cho cây
Tưới nước cần căn cứ trên 2 nguyên tắc:
+ Nhu cầu về nước của cây dựa trên sinh lý, sinh thái cụ thể của chúng + Tình hình thực tế về khí hậu theo từng thời gian
Mỗi giống lan đều có nhu cầu nước khác nhau, khi tưới cần nhẹ nhàng, tránh làm long gốc, rễ khó bám vào giá thể và thành chậu, nên tưới phun mù
là tốt nhất Nước tưới phải đảm bảo sạch, có độ PH khoảng 5 là tốt nhất
1.4.4 Kỹ thuật thúc mầm cây
Được thực hiện vào mùa Xuân sẽ cho hiệu quả cao hơn là thực hiện vào mùa thu Chọn những cây khỏe mạnh để thúc mầm, có thể thực hiện một trong hai biện pháp sau:
+ Biện pháp cơ giới: Tách nhánh ép mầm, tách cụm để thúc cho mầm mới phát sinh
+ Biện pháp hóa học: Là sử dụng các chất kích thích mầm phát triển
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.4.5 Phòng trừ bệnh cho cây
Nên phun định kỳ 1 tháng 1 lần để diệt các loại sâu, rệp hại Lan Ngoài các bệnh do nấm, vi khuẩn và sâu, cũng cần đề phòng một số côn trùng khác như cuốn chiếu, giun, gián (ăn rễ lan), dế và nhất là các loại ốc sên Chú ý khi lan đang bị bệnh (do nấm hoặc vi khuẩn) tuyệt đối không cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây
1.4.6 Điều khiển cây ra hoa
Cây địa lan kiếm Trần Mộng Xuân là một loại hoa lan rất sai hoa (20 -
45 hoa/bông), có hoa to, đẹp, màu sắc hấp dẫn, cành hoa dài, cứng cáp thường
sử dụng trưng bày, để trang trí trong các ngày tết nguyên đán Mặc dù hoa thường nở vào dịp tết nhưng phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh và điều kiện chăm sóc
Để phân hóa mầm hoa, chúng cần biên độ nhiệt độ ngày và đêm trong khoảng 10oC, yêu cầu nhiệt độ ban ngày 20 - 25oC, ban đêm 10 - 15o
C và trong thân giả hành phải tích tụ đủ các chất quang hợp
Cymbidium là cây trung tính không chịu ảnh hưởng của độ dài ngày
Tuy nhiên, trong điều kiện ngày ngắn, quá trình phân hóa mầm hoa bị chậm lại và trong điều kiện dài ngày có thể hình thành mầm hoa sớm hơn
1.5 Các nghiên cứu liên quan đến nội dung của đề tài
Theo Romheld và El-Fouly, (1999) sự hấp thu dinh dưỡng qua lá có 5 bước như sau:
- Làm ướt bề mặt lá bằng dung dịch phân bón: vách ngoài của những
tế bào lá được bao phủ bởi lớp cutin và một lớp sáp có đặc tính chống thấm nước rất mạnh Để việc hấp thu các chất dinh dưỡng dễ dàng, ta có thể bỏ thêm các chất phụ gia (vào PBQL) để làm giảm sức căng bề mặt
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Sự thâm nhập xuyên qua lớp biểu bì của vách tế bào: Khi phun
phân bón qua lá lên bề mặt của lá cây, sự hấp thu có thể xảy ra theo ba cách sau đây:
+ Qua các lỗ nhỏ li ti trên bề mặt lớp ngoại bì và vách tế bào
+ Qua các thủy khổng ở giữa các vách tiếp giáp các tế bào
+ Qua khí khổng giữa các tế bào bảo vệ
Theo Eichert et al, (1998), sự xâm nhập của chất lỏng xuyên qua bề mặt
có sức căng cao và các khí khổng có thể xảy ra dưới một số các điều kiện Một trong những điều kiện này là tạo các giọt nhỏ liên kết với sự bốc hơi Khi
sự bốc hơi xảy ra, mức độ xâm nhập đạt cao nhất và sự hấp thu liên tục xảy ra với phần chất rắn còn lại
Những tác giả này cho rằng (về lý thuyết) những giới hạn vật lý chống lại sự xâm nhập qua khí khổng thì đúng đối với các hạt giọt lớn nhưng có thể không đúng đối với các phần rắn còn lại vì chúng liên kết thành một lớp mỏng trong quá trình bốc hơi nước Những màng mỏng này thâm nhập vào khí khổng và khích lệ sự trao đổi giữa bên trong và bên ngoài lá cây (Eichert and Kurkhardt, 1999)
- Sự xâm nhập chất dinh dưỡng vào các không bào bên trong lá cây:
Các không bào (apoplast) rất quan trọng để chứa các chất dinh dưỡng trước
khi chúng được hấp thu vào bên trong từng tế bào Các chất dinh dưỡng sẽ vào những không bào này sau khi xâm nhập từ bên ngoài qua lớp biểu bì lá cũng như được hấp thu từ rễ qua các mao mạch trong thân cây
- Sự hấp thu chất dinh dưỡng vào bên trong tế bào: Những nguyên tắc
chung về việc hấp thu chất dinh dưỡng khoáng từ các không bào vào bên trong từng tế bào lá cũng giống như sự hấp thu từ rễ
Khả năng hấp thu của các tế bào lá cây cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu
tố ngoại vi như độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Cơ chế tùy thuộc năng lượng để hấp thu dinh dưỡng xuyên qua màng vào bên trong tế bào được môi giới bởi các protein vận chuyển khác nhau như những chất chuyên chức năng chuyển tải hoặc các luồng tĩnh điện với ion H+
ATPasses Những sự kiện này làm gia tăng lực hấp thu bằng cách tạo nên độ chênh hóa tĩnh điện ở bề mặt màng tế bào
Sự hấp thu qua các tế bào lá có thể được điều khiển qua tình trạng dinh dưỡng của cây, nhưng đây không phải là quy luật chung mặc dù hiện tượng này đã được khám phá đối với sự hấp thu lân Việc hấp thu lân qua lá và vận chuyển xuống rễ xảy ra nhanh hơn đối với cây đang thiếu lân
Khi áp dụng những chất dinh dưỡng lưu động (mobile nutrients) cho
các lá non, lá còn đang phát triển thì sự chuyển dịch xuống rễ chậm hơn, điều này kích thích sự hấp thu dinh dưỡng từ rễ do bộ lá phát triển và quang hợp tốt hơn Đối với các lá già, lá đã ngưng phát triển thì sự chuyển dịch này xảy
ra nhanh hơn và có thể ngăn chặn tình trạng thiếu dinh dưỡng gây ra do sự hấp thu không đủ của bộ rễ
Các chất dinh dưỡng bất động (immobile nutrients) áp dụng trên cả lá
già và lá non sẽ chuyển dịch chậm xuống rễ, như vậy không gây nên sự thay đổi nào hoặc có thể làm gia tăng lượng dinh dưỡng hấp thu từ rễ
- Sự phân bố chất dinh dưỡng trong lá và chuyển dịch chúng ra ngoài: Sự phân bổ từng chất dinh dưỡng riêng biệt bên trong và chuyển
dịch chúng ra ngoài lá sau khi phun phân bón thì tùy thuộc vào từng mô
libe và tính cơ động của hệ mao dẫn Các chất dinh dưỡng lưu động libe (phloem mobile nutrients) như N, P, K, Mg được phân bố vào mỗi mô mao
dẫn cũng như mỗi mô libe bên trong lá cây, và một tỷ lệ lớn các chất dinh
dưỡng đã hấp thu sẽ được vận chuyển ra khỏi lá tới các bộ phận khác của cây nơi có nhu cầu cao Ngược lại các chất dinh dưỡng có khả năng cơ
động libe giới hạn (nutrients with a restricted phloem mobility) như Ca,
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Cu, Fe, Mn, Zn sẽ được phân bố chính cho mỗi mô mao dẫn bên trong lá cây và không có sự chuyển dịch đáng kể nào ra ngoài
Để sử dụng một giá thể để trồng cây trong chậu , luốn cần nghiên cứu
kỹ hơn về đặc tính vật lý của từng giá thể bao gồm : tính giữ ẩm và thông thoáng khí, khả năng trao đổi cation, pH, tính ổn định, tỷ lệ C/N…
Giá thể là nơi cung cấp cho rễ cả nước và không khí Những khoảng trống trong giá với những kích thước khác nhau cho phép một giá thể có thể thể hiện hai khả năng trên cùng một lúc Có hai loại nước tồn tại trong giá thể: loại sử dụng được ngay và một loại không sử dụng được Loại sử dụng được liên kết yếu ớt với các thành phần trong giá thể và được hấp thụ bởi rễ cây Loại không sử dụng được liên kết chặt với bề mặt hạt trong giá thể nên rễ cây không hút được Khi cây sử dụng hết lượng nước sử dụng được, cây sẽ bị héo
do đó trong quá trình lựa chọn giá thể cần lựa chọn những giá thể có khả năng giữ ẩm và thông khí tốt
Ở nước ta, sử dụng chế phẩm LipomycinM, sẽ tăng khả năng giữ ẩm lên 8-12% Đặc biệt nếu phối trộn với phân NPK thì hiệu quả giữ ẩm sẽ tăng lên 15-30% so với bình thường Ngoai ra, vi sinh LipoxinM có nhiều đặc tính quí như không gây hại cho hệ vi sinh vật đất , động vật đất cũng như đối với môi trường sinh thái, đồng thời không gây độc hại cho cây trồng
Các loại giá thể như than bùn , vecmiculite và các loại quả ngũ cốc nhiễm điện âm có thể hút những ion dương trong nước (cường độ trao đổi cation-CEC) CEC càng lớn các ion dinh dưỡng được giữ càng nhiều
Cũng như các loại cây trồng khác, cây hoa đi ̣a lan bi ̣ rất nhiều loa ̣i bê ̣nh tấn công như các bê ̣nh nấm đốm vàng lá (Fusarium spp), bệnh thán thư
(Glomerella sp), bê ̣nh thối đen (Pythium sp), bê ̣nh đốm hoa (Botrytis sp),
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
bê ̣nh thối cổ lá và thân (Sclerotium sp), bê ̣nh đốm vòng, khảm lá do virus gây
ra, gây thiệt ha ̣i đáng kể năng suất và chất lượng hoa
Trong các loa ̣i bê ̣nh thì bê ̣nh gây ha ̣i vùng rễ làm thối rễ chết cây con ,
thối củ do t ập hợp các loại nấm như Furarium spp, Pythium spp và vi khuẩn
gây nên là mô ̣t trong những loa ̣i bê ̣nh gây ha ̣i nguy hiểm , khó phòng trừ do tác nhân gây bệnh là những vi sinh vật tồn tại trong đất Bênh do nấm và vi khuẩn thường phát sinh và gây hại nặng khi trồng cây ở điều kiện ẩm ướt và
mâ ̣t đô ̣ cao Bê ̣nh do virus thường lan truyền do vector truyền bê ̣nh và đôi khi
là do các dụng cụ làm vườn bị nhiễm bệnh gây nên Sử du ̣ng di ̣ch chiết từ
gừng (1:50) và 50% thuốc Benomyl (1:1500) có thể hạn chế được bệnh đốm
vàng Ichikiwa Kazunori (2003) đã sử du ̣ng dòng nấm Fusarium sp HPF-1,
có độc tính yếu đối với hoa lan , để hạn chế sự gây hại của nấm Fusarium spp gây bê ̣nh đốm vàng Sử dụng nước chiết từ gừng và thuốc Prochloracz EC
(1:3000) cũng hạn chế được bệnh thán thư Đối với các bệnh vùng rễ thì việc tạo thoáng khô cho vườn , xử lý nước nóng , thuốc hóa ho ̣c Mafenoxam , Fosetyl-al…đối vớ i giá thể trồng lan, sử du ̣ng giá thể đảm bảo , vê ̣ sinh vườn đúng cách là những biê ̣n pháp hữu hiê ̣u để ha ̣n chế sự lây lan và gây ha ̣i của các loại vi sinh vật trong đất
Nguyên nhân gây thối nõn cây hoa đi ̣a lan kiếm TMX là do nấm
Phytophthora và Fusarium , sau khi gây bê ̣nh thì vi khuẩn Pseudomonas sp xâm nhâ ̣p gây thối , triê ̣u chứng đầu tiên là cây kém phát triển , bô ̣ lá mất dần màu xanh của lá , chuyển dần sang màu vàng khi dùng tay kéo ngo ̣n của cây thì thấy rấ t dễ đứt , quan sát phần gốc của nõn thì thấy có màu nâu khi bê ̣nh còn nhẹ và khi bệnh nặng có màu nâu đậm hoặc màu đen , ướt nhũn và có mùi thối, sau đó cây ru ̣ng lá và chết Khi cây chết bổ phần thân và đào phần gốc ,
rễ cây thì thấy toàn bộ bị thâm đen và có mùi thối
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Nguồn bê ̣nh từ tàn dư các cây bi ̣ bê ̣nh , nằm trong đất khi mưa bắn lên gây nhiễm bê ̣nh ở các bô ̣ phâ ̣n lá ở gần sát mă ̣t đất , đă ̣c biê ̣t là phần nõn của cây có chứa nhiều nước, đó là điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi cho nâm Phytophthora phát triển Trong đất, nguồn bê ̣nh tấn công vào bô ̣ phâ ̣n rễ , sau đó lên phần thân , nhất là phần nõn của cây Độ ẩm đất là một yếu tố môi trường quan trọng để cho nấm Phytop htora palmmivora sinh sống Do đó, bê ̣nh thường phát sinh nhanh trong mùa mưa, trong mùa khô bê ̣nh có xu hướng giảm
Bào tử nang có nhiều hình dạng, hầu hết là có da ̣ng hình e líp, ô van, có núm rõ rệt, hình thành trên các cuốn g bào tử Nhiều khi có khoảng 20 bào tử thể xuất hiê ̣n trên cùng mô ̣t tru ̣c sợi nấm Bào tử nang sớm rụng với cuống bào tử ngắn (khoảng 0,5µm) Kích thước bào tử nang có thể thay đổi nhưng trung bình chiều dài từ 10 - 60 µm và chiều rộng từ 25 - 35 µm với tỷ lê ̣ chiều dài và chiều rộng từ 1,4 đến 2,0 (Holiday, 1980)
1.6 Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giơ ́ i và Viê ̣t Nam
1.6.1 Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới
Hiện nay, sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển một cách mạnh mẽ
và đã trở thành một ngành thương mại có lợi nhuận cao Theo báo cáo năm
2005 của FAO, giá trị sản lượng hoa cây cảnh của toàn thế giới năm 1995 đạt
35 tỷ USD, đến năm 2014 tăng lên 56 tỷ USD (tốc độ tăng bình quân năm là 20%); trong đó giá trị xuất khẩu đạt từ 8,5-10 tỷ USD/năm
Sản xuất hoa đang mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế các nước trồng và xuất khẩu hoa Diện tích trồng hoa thế giới ngày càng được mở rộng
và không ngừng tăng lên Năm 1989 tổng giá trị về hoa, cây cảnh thế giới đạt 1,8 tỷ đô la , đến năm 1996 giá trị sản lượng đạt 20 tỷ đô la Trong đó Nhật Bản 3,7 tỷ đô la, Hà Lan 3,5 tỷ đô la, Mỹ 3,7 tỷ đô la (Sở NN&PTNT Thành phố Hải Phòng, 2003) [27]